Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán giảng giải

Phần Chánh Tông - Chương 4: Điều Hòa -



Chánh văn:

Hành giả mới học tọa thiền muốn tu theo giáo pháp của mười phương chư Phật, trước phải phát đại thệ nguyện, độ thoát tất cả chúng sanh, nguyện cầu Phật đạo vô thượng, tâm kiên cố như kim cang, tinh tấn dũng mãnh không tiếc thân mạng. Nếu thành tựu tất cả Phật pháp, hoàn toàn không thối chuyển rồi, nhiên hậu trong khi tọa thiền chánh niệm suy nghĩ tướng chân thật của các pháp. Nghĩ rằng: Pháp thiện, ác, vô ký, trong, ngoài, căn, trần, thức, tất cả pháp phiền não hữu lậu, pháp hữu vi, nhân quả, sanh tử trong tam giới đều nhân tâm mà có. Cho nên kinh Thập Địa chép: “Tam giới không riêng có, chỉ do nhất tâm tạo tác. Nếu biết tâm không tánh thì các pháp không thật.” Tâm không nhiễm trước thì tất cả hạnh nghiệp sanh tử đều dứt. Quán như thế rồi, kế nên theo thứ lớp khởi hạnh tu tập.

Thế nào là điều hòa? Dùng ví dụ để so sánh cho dễ hiểu. Ví như người thợ gốm khéo trộn nước, đất nhồi thành mềm dẻo, sau mới để lên khuôn mà nặn. Như cây đàn cầm, trước phải điều hòa dây, không dùn không thẳng, sau mới khảy ra những bản nhạc âm thanh vi diệu. Hành giả tu tâm cũng như vậy, khéo điều năm việc khiến được hòa thích thì chánh định dễ sanh. Nếu có việc không điều thì sanh nhiều chướng nạn, căn lành khó phát sanh. Điều năm việc:

  1. Trong sinh hoạt

I- Điều hòa sự ăn uống

Sự ăn uống cốt để nuôi thân tiến tu đạo nghiệp. Nếu ăn no quá thì bao tử đầy, hơi thở gấp, trăm mạch không thông, tâm bị bế tắc, ngồi niệm không yên. Nếu ăn quá ít thì thân gầy, bao tử lỏng lẻo, ý lao lự xao động không vững. Hai việc này đều không được định. Nếu ăn những vật trọc uế khiến tâm thức phải hôn mê. Nếu ăn những vật không thích nghi hay khơi bệnh cũ, khiến tứ đại chống nghịch nhau. Người mới tập tu thiền định phải dè dặt tránh những điều này. Cho nên kinh chép: “Thân yên thì đạo đầy đủ, ăn uống có tiết độ, thường ưa ở chỗ vắng vẻ, tâm lặng ưa tinh tấn, ấy là lời dạy của chư Phật.”

II- Điều hòa sự ngủ nghỉ

Ngủ là bị vô minh che đậy, không nên ngủ nhiều. Nếu người ngủ nhiều quá, không những bỏ bê sự tu hành, lại mất hết những công phu, khiến tâm ám muội, căn lành tan mất. Phải giác ngộ lý vô thường, điều phục sự ngủ nghỉ để tinh thần trong sáng, tâm niệm minh tịnh. Được thế mới có thể gá tâm nơi thánh cảnh, chánh định hiện tiền. Cho nên kinh chép: “Đầu hôm và buổi khuya cũng chớ bỏ phế, không do nhân duyên ngủ nghỉ để một đời luống trôi qua, không được gì cả. Phải nghĩ rằng ngọn lửa vô thường thiêu cả thế gian, sớm cầu tự độ chớ nên ngủ nghỉ.”

  1. Khi tọa thiền

Phương pháp điều thân, điều hơi thở, điều tâm, ba việc này phải hợp nhau dùng, không thể nói riêng. Nhưng pháp hành có trước, giữa và sau không đồng. Do đó tướng nhập, trụ và xuất cũng có khác nhau.

III- Điều thân

Hành giả muốn nhập chánh định phải áp dụng phương pháp điều thân. Khi ở ngoài định, đi đứng nằm ngồi và mọi hành động thảy đều nhẹ nhàng thư thả, nếu hành động gấp gáp, nặng nề thì hơi thở hổn hển, hơi thở hổn hển thì tâm tán loạn khó kìm chế, đến khi ngồi bứt rứt tâm không thư thái. Do đó tuy chưa nhập định hành giả vẫn phải dụng ý, sớm tìm phương tiện hạn chế nó dần. Lúc nhập định phải khéo an thân cho được định.

Khi đến chỗ ngồi thiền, trước phải ngồi yên, mỗi bộ phận đều nghe yên ổn, lâu lâu thấy không có gì chướng ngại, mới bắt đầu sửa soạn chân. Nếu ngồi bán già thì lấy chân trái để trên đùi mặt, kéo sát vào thân, để bàn chân trái bằng với đùi mặt, bàn chân mặt bằng với đùi trái. Nếu ngồi toàn già phải kéo chân mặt để lên đùi trái. Nới rộng dây lưng và cổ áo, sửa cho ngay thẳng. Lấy bàn tay trái để lên lòng bàn tay mặt và các ngón tay chồng lên nhau, trừ ngón cái, rồi đặt trên bàn chân, kéo sát vào thân. Thân ngay thẳng, chuyển động thân và các chi tiết bảy lần, giống như pháp xoa bóp, không cho tay chân xê dịch. Như thế rồi giữ xương sống cho thẳng không để cong vẹo. Cổ sửa cho ngay, đầu hơi cúi, giữ chót mũi ngay rốn không chinh không vạy, không ngước không cúi, gương mặt bình thản ngồi yên. Kế dùng miệng thở hơi ô trọc ra, khi thở há miệng cho hơi ra, đừng mạnh cũng đừng gấp, phải đều đều nhẹ nhẹ, hơi vô tưởng không khí trong sạch vào khắp trong thân, những chỗ không thông đều theo hơi thở mà được lưu thông, rồi há miệng thở hơi ra sạch hết. Thở như thế đến ba lần, nếu khi thân và hơi thở đã điều hòa thì thở một lần cũng được. Thở xong ngậm miệng lại môi và răng vừa khít nhau, lưỡi để lên ổ gà. Con mắt nhắm vừa khuất ánh sáng bên ngoài thôi. Thân ngồi phải ngay thẳng như tấm vách đá. Thân và chân tay không được cử động. Đó là phương pháp ban đầu khi nhập thiền định điều thân. Tóm lại, không hoãn mà cũng không gấp, đó là tướng trạng thân điều hòa.

IV- Điều hơi thở

Hơi thở có bốn tướng:

1- Tướng phong.

2- Tướng suyễn.

3- Tướng khí.

4- Tướng tức.

Ba tướng trước không điều hòa, tướng sau mới điều hòa. Thế nào là tướng phong, tướng suyễn v.v…?

Khi ngồi thiền, hơi thở ra vào trong mũi nghe có tiếng, là tướng phong; hơi thở tuy không có tiếng mà ra vào ngăn trệ không thông, là tướng suyễn, hơi thở tuy không có tiếng, không ngăn trệ, mà ra vào không nhẹ nhàng, là tướng khí; hơi thở không có tiếng, không bị ngăn và không thô, ra vào nhẹ nhẹ như còn như mất, tinh thần an ổn thư thái, ấy là tướng tức. Nếu bị bệnh phong thì tán loạn, bị bệnh suyễn thì ngăn trệ, bị bệnh khí thì nhọc nhằn, chỉ được tướng tức là an định. Khi ngồi thiền có ba tướng phong, suyễn, khí gọi là không điều hòa; khi ấy nếu dụng tâm thì hại tâm, tâm khó được định.

Nếu muốn điều hòa phải y ba pháp:

1- Chuyên tưởng tâm ở tại rốn.

2- Buông thả thân thể một cách tự tại.

3- Tưởng khắp lỗ chân lông hơi thở ra vào thông đồng không ngăn ngại.

Nếu tâm được vi tế thì hơi thở nhẹ nhàng. Hơi thở điều hòa thì các bệnh không sanh, tâm dễ được định. Ấy gọi là phương pháp điều hòa hơi thở, khi hành giả mới tập ngồi thiền. Tóm lại, hơi thở nhẹ nhẹ, dài và đều là tướng điều hòa.

V- Điều tâm

Điều tâm có ba cách: Nhập, Trụ và Xuất.

  1. Nhập: Nhập có hai ý:
  2. Điều phục loạn tưởng không cho buông lung.
  3. Phải điều hòa giữa phù, trầm, khoan, cấp.

Thế nào là tướng Trầm? Nếu trong khi ngồi tâm mờ mịt, không ghi nhớ chi cả, đầu ưa gục xuống, ấy là tướng trầm. Khi ấy phải chú tâm tại chót mũi, khiến tâm duyên trong một cảnh, không cho ý phân tán, đây là trị bệnh trầm.

Thế nào là tướng Phù? Nếu khi ngồi tâm ưa phóng túng loạn động, thân cũng không yên, nhớ những việc đâu đâu, đó là tướng phù. Khi ấy nên tưởng tâm tại rốn, ngăn các loạn niệm, tâm liền dừng trụ, dễ được an tịnh. Tóm lại, không trầm không phù là tướng điều hòa.

Tâm định ấy cũng có tướng Khoan, Cấp. Tướng bệnh định tâm cấp, do trong khi ngồi dụng niệm nhiếp tâm mà được vào định. Thế nên hơi xông lên trên hông, ngực đau nhói, phải buông xả tâm ấy, tưởng hơi đều dồn xuống, bệnh liền được lành. Nếu tâm mắc bệnh khoan thì tâm chí tản mác, thân ưa xiêu vẹo, hoặc trong miệng chảy nước miếng, hoặc khi ấy mờ mịt. Bấy giờ phải thúc liễm thân và tâm chuyên niệm, khiến tâm trụ trong một chỗ, thân thể kìm giữ nhau, lấy đó mà trị bệnh. Tâm có tướng thô phù hay trầm lặng, cứ xét nơi đó có thể biết. Ấy là phương pháp điều tâm khi mới vào định.

Phàm nhập định là từ thô vào tế, thân là thô, hơi thở là trung bình, tâm là tế nhị, nên điều từ thô đến tế khiến tâm được an tịnh, đó là phương tiện ban đầu vào định. Đây gọi là khi nhập định điều hòa được hai việc.

  1. Trụ: Hành giả trong thời gian tọa thiền tùy dài hay ngắn, hoặc một đến hai ba giờ trong mười hai giờ nhiếp niệm dụng tâm. Trong ấy phải khéo biết thân, hơi thở, tâm được điều hòa hay không điều hòa. Nếu khi ngồi tuy điều thân xong, nhưng thân hoặc buông thả, hoặc kìm thúc, hoặc nghiêng, cong, cúi, ngước không ngay thẳng, biết rồi liền sửa cho thẳng khiến được an ổn. Sửa thân bậc trung không kìm, không thả, bình thường ngay thẳng an trụ.

Lại nữa, trong thời gian ngồi thiền, thân tuy điều hòa mà hơi thở không điều hòa. Tướng hơi thở không điều hòa như trước đã nói, hoặc phong, suyễn, khí, hoặc trong thân đầy hơi, phải dùng những phương pháp ở trước tùy bệnh mà trị khiến hơi thở êm, dài như có như không.

Thứ đến, trong thời gian ngồi thiền, thân, hơi thở tuy điều hòa mà tâm hoặc phù, trầm, khoan, cấp không định. Khi ấy, nếu biết nên dùng những phương pháp ở trước điều hòa khiến được thích ứng bậc thường.

Ba việc này không nhất định trước sau, tùy cái nào không điều hòa sửa cho được điều hòa, khiến thời gian ngồi, thân, hơi thở và tâm, ba cái đều điều hòa thích ứng, không để trái nhau, dung hòa không hai. Thế là hay trừ được bệnh trước, những chướng ngại không sanh, pháp thiền định quyết định được.

  1. Xuất: Hành giả nếu tọa thiền sắp xong khi muốn xuất định, nên trước phóng tâm duyên cảnh khác, tụng bài hồi hướng, dùng mũi hít hơi vào đầy khắp thân, tưởng khắp trăm mạch máu đều theo hơi thở mà lưu chuyển. Thở ra bằng miệng, tưởng tất cả phiền não bệnh hoạn và hơi xú uế đều ra ngoài hết. Nhiên hậu nhẹ nhẹ động thân, kế động vai, bắp tay (chỗ con chuột); lần lượt đến tay, đầu, cổ và sau động hai chân, tất cả đều phải êm ái, rốt sau lấy tay xoa khắp lỗ chân lông, rồi hai tay xoa nhau cho nóng áp lên hai con mắt, sau mới mở mắt, đợi sức nóng trong người tan hết mới tùy ý ra đi. Nếu không đúng như vậy, khi ngồi được trụ tâm mà khi xuất buông xả mau quá thì phần vi tế chưa tan, trụ lại trong thân khiến người nhức đầu, trăm lóng xương cứng đờ như mắc chứng phong lao; về sau trong khi tọa thiền bứt rứt không yên. Thế nên muốn xuất định, mỗi việc đều phải lưu ý. Đây là phương pháp điều thân, hơi thở và tâm, từ tế đến thô.

Thế gọi là khéo Nhập, Trụ và Xuất, như bài kệ:

Tiến dừng có thứ tự, 

Thô tế không trái nhau, 

Ví như khéo tập ngựa, 

Tùy ý muốn đứng đi.

Kinh Pháp Hoa chép: “Đại chúng và chư Bồ-tát v.v… ở hội này, đã trong vô lượng ức kiếp chỉ vì Phật đạo, siêng tu tinh tấn, khéo nhập, trụ, xuất được vô lượng trăm ngàn muôn ức chánh định, được đại thần thông, đã lâu tu hạnh thanh tịnh, khéo hay thứ tự lập các pháp lành.”

Giảng:

Hành giả mới học tọa thiền muốn tu theo giáo pháp của mười phương chư Phật, trước phải phát đại thệ nguyện, độ thoát tất cả chúng sanh, nguyện cầu Phật đạo vô thượng, tâm kiên cố như kim cang, tinh tấn dũng mãnh không tiếc thân mạng.

Phần này tối thiết yếu của người tu thiền, bởi vì tu thiền mà không nắm vững được đường lối, phương pháp tọa thiền, thì sự tu khó có kết quả. Đây không những chỉ rõ cách thức tọa thiền thế nào cho đúng pháp, khỏi bị bệnh trong lúc tu, mà còn có nhiều lợi ích như giảm được một số bệnh hoạn. Vì vậy chúng ta phải đọc hiểu thật kỹ để ứng dụng tu không bị sai lầm.

Hành giả mới học tọa thiền, trước tiên là nguyện độ thoát tất cả chúng sanh , chứ không chỉ nghĩ tu cho riêng mình được bình an thôi. Chúng ta tu mục tiêu cứu cánh là thành Phật chứ không phải tu để được quả này quả kia. Độ thoát chúng sanh và cầu Phật đạo vô thượng thì tâm phải kiên cố như kim cang và tinh tấn dũng mãnh, đối với sự còn mất không tiếc thân mạng, như vậy mới gọi là đại nguyện. Người tu không phát nguyện thì sẽ yếu đuối, việc thực hành khó có kết quả, nên khi phát tâm tu phải phát đại nguyện như thế. Dũng mãnh tiến mãi, giữ tâm không đổi dời, luôn luôn vững chắc, dù phải mất thân mạng cũng không tiếc, đó là thệ nguyện lớn.

Nếu thành tựu tất cả Phật pháp, hoàn toàn không thối chuyển rồi, nhiên hậu trong khi tọa thiền chánh niệm suy nghĩ tướng chân thật của các pháp.

Phát nguyện đầy đủ quyết tâm không lui sụt, từ đó bắt đầu tọa thiền chánh niệm suy nghĩ về tướng chân thật của các pháp mà tiến lên, chứ không đi theo con đường nào khác.

Nghĩ rằng: Pháp thiện, ác, vô ký, trong, ngoài, căn, trần, thức, tất cả pháp phiền não hữu lậu, pháp hữu vi, nhân quả, sanh tử trong tam giới đều nhân tâm mà có.

Vô ký là không thiện không ác. Trong là chỉ cho bản thân, ngoài là ngoại cảnh. Căn là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trần là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức là sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức. Chúng ta phải suy nghĩ quán chiếu về tướng chân thật của các pháp, tất cả thiện ác, căn trần thức, trong ngoài, cho đến phiền não hữu lậu hữu vi, nhân quả sanh tử trong tam giới, đều từ tâm mà có. Nói các pháp do nhân duyên sanh nghe dễ hiểu, còn nói tất cả pháp đều từ tâm hiện ra thì khó hiểu, nhưng nếu hiểu rồi thì mới biết được lẽ thật của sự vật trên thế gian này, tất cả đều từ tâm biến hiện.

Cho nên kinh Thập Địa chép: “Tam giới không riêng có, chỉ do nhất tâm tạo tác. Nếu biết tâm không tánh thì các pháp không thật.” Tâm không nhiễm trước thì tất cả hạnh nghiệp sanh tử đều dứt. Quán như thế rồi, kế nên theo thứ lớp khởi hạnh tu tập.

Tam giới không thật chỉ do tâm tạo ra, mà tâm không có tánh cố định nên nó không thật có. Nếu tâm không dính với tất cả pháp thì mọi hạnh nghiệp theo đó dứt.

Chúng ta thường nghĩ rằng tất cả cảnh tượng, sự vật là tự thiên nhiên có sẵn, chứ không ai nghĩ từ tâm mình mà ra. Nhưng chư Phật cho đến chư tổ trong nhà thiền lại nói các pháp không thật, từ tâm mà ra. Vậy ra bằng cách nào? Nếu nói từ tâm mình ra, sẽ có người hỏi cây xoài, cây ổi, núi sông, biển cả… đều từ tâm ra phải không? Điều này rất khó giải thích cho những người nặng về vật chất. Thế nên tôi giải thích kỹ để chúng ta nhận định cho chín chắn và thấy rõ được tầm vóc quan trọng của tâm. Tâm có hai phần: Tâm sanh diệt và tâm vô sanh. Trong nhà thiền gọi tâm sanh diệt là tâm vọng tưởng, tâm vô sanh là tâm chân thật, tạm gọi là chân tâm hay chân như.

Đứng về tâm sanh diệt mà bàn, thì tâm đó có tạo tác ra được cảnh vật không? Trong nhà Phật thường nói, tất cả y báo từ chánh báo mà ra. Y báo là cảnh, chánh báo là con người. Trong chánh báo có thân, mà thân là công cụ của tâm. Thân nếu không có sự suy nghĩ khôn ngoan khéo léo, thì nó có thể làm được gì không? Sở dĩ chúng ta làm được những điều hay đẹp… đều từ tâm ra. Tâm nghĩ suy khôn ngoan khéo léo, sai khiến thân làm việc này việc kia, tâm đó thuộc về tâm sanh diệt.

Tất cả sự vật là do nơi thấy biết của chúng ta mà hiện thành hay là nó tự có sẵn? Đây có hai mặt: Một là do tâm mình có những niệm tốt xấu hay dở, tạo thành nghiệp dẫn tới những chỗ tốt xấu. Tạo nghiệp lành thì đến cõi lành, tạo nghiệp dữ thì đến cõi dữ. Như chúng ta đang ở hành tinh nào thì hành tinh đó là do nghiệp tạo, cảnh tốt xấu mà chúng ta thấy hiện ra đều từ tâm của mình dẫn dắt đưa tới, chứ không phải bỗng dưng mà có.

Hai là khi tới cảnh giới tốt xấu rồi, chúng ta bày biện sắp đặt muôn sự, tên này tên kia sai biệt… Tất cả sự khác nhau đó cũng từ tâm ra chứ đâu có cái gì thật. Ví dụ ở Đà Lạt có nhiều lan rừng. Hoa lan trong rừng có tên gì không? Không. Người vào rừng tìm được lan gỡ đem về bán, người chơi lan đặt cho nó cái tên. Nào là Hồ Điệp, Vương Hài v.v… cả trăm tên khác nhau. Lan tự nó đâu có tên, do vọng tưởng của con người đặt ra. Một trăm thứ lan thì có một trăm cái tên. Cũng vậy, tất cả sự vật trên đời này đều từ tâm ra, tùy theo vọng tưởng khen chê, uốn nắn của con người mà thành. Tâm đó không có tánh cố định, nên nói tâm không tánh.

Tâm đã không tánh thì mọi sự vật do nó sắp đặt có cố định thật không? Tâm đặt tên, rồi bám vào tên đó mà phân biệt. Như người ta đặt tên lan gì đó kêu lâu thành quen, nếu ai gọi khác thì mình nói sai rồi. Tên gọi đều từ tâm tưởng của con người tạo ra, tâm tưởng đã không thật thì những thứ do nó tạo đều không thật. Biết được tâm tánh không thật thì biết muôn sự muôn vật cũng không thật. Khi nghe người ta gọi hoa lan tên gì đó, chúng ta biết nó không thật thì chắc rằng không mê. Nếu không biết, nghe tên hấp dẫn quá say sưa đi tìm với giá rất đắt, vậy là bị dính mắc rồi.

Thế nào là điều hòa? Dùng ví dụ để so sánh cho dễ hiểu. Ví như người thợ gốm khéo trộn nước, đất nhồi thành mềm dẻo, sau mới để lên khuôn mà nặn. Như cây đàn cầm, trước phải điều hòa dây, không dùn không thẳng, sau mới khảy ra những bản nhạc âm thanh vi diệu. Hành giả tu tâm cũng như vậy, khéo điều năm việc khiến được hòa thích thì chánh định dễ sanh. Nếu có việc không điều thì sanh nhiều chướng nạn, căn lành khó phát sanh.

Nói về điều hòa có hai ví dụ: Một, như người thợ gốm muốn làm ra cái nồi, cái ơ, cái niêu… thì họ phải nhồi đất, trộn nước cho mềm, sau đó để vào khuôn nặn ra những thứ đồ dùng. Hai, như cây đàn cầm trước phải điều hòa dây, sau đó mới khảy ra âm thanh vi diệu.

Nếu chúng ta khéo điều hòa thì diệu dụng rất hay, rất thích ứng, còn không biết sẽ không làm được điều gì hết. Sự tu cũng vậy, không khéo điều hòa thì sự tu cũng không tiến, không đạt được kết quả.

Điều năm việc:

  1. Trong sinh hoạt

I- Điều hòa sự ăn uống

Sự ăn uống cốt để nuôi thân tiến tu đạo nghiệp. Nếu ăn no quá thì bao tử đầy, hơi thở gấp, trăm mạch không thông, tâm bị bế tắc, ngồi niệm không yên. Nếu ăn quá ít thì thân gầy, bao tử lỏng lẻo, ý lao lự xao động không vững. Hai việc này đều không được định. Nếu ăn những vật trọc uế khiến tâm thức phải hôn mê. Nếu ăn những vật không thích nghi hay khơi bệnh cũ, khiến tứ đại chống nghịch nhau. Người mới tập tu thiền định phải dè dặt tránh những điều này. Cho nên kinh chép: “Thân yên thì đạo đầy đủ, ăn uống có tiết độ, thường ưa ở chỗ vắng vẻ, tâm lặng ưa tinh tấn, ấy là lời dạy của chư Phật.”

Thứ nhất là điều hòa sự ăn uống. Đừng ăn quá no cũng đừng để quá đói. Ăn quá no ngồi thiền không khỏe, ví dụ bảy tám giờ ngồi thiền mà sáu giờ ăn quá no, thì lúc ngồi thiền bao tử đầy, hơi thở gấp, trăm mạch không thông, tâm bị bế tắc, ngồi niệm không yên. Có người cực đoan nói rằng, như vậy không ăn để bụng đói ngồi chắc tốt. Nhưng như đây nói, nếu ăn quá ít thì thân gầy, bao tử lỏng lẻo, ý lao lự xao động không vững. Cho nên phải tránh cả hai trường hợp, quá no và quá đói.

Ở thiền viện buổi chiều tôi cho tăng ni ăn nhẹ, cháo lỏng hoặc uống bột gạo lứt cho ấm bao tử, ngồi thiền mới khỏe, chứ để đói quá cũng không được. Còn Phật tử tại gia đi làm về mệt phải ăn uống đầy đủ, ăn no rồi ngồi thiền mệt, cho nên tối chỉ tụng kinh hoặc sám hối, khuya hãy ngồi thiền. Nhưng khi ăn cũng không nên ăn những vật trọc uế như hành hẹ tỏi nén, thịt trâu thịt chó… là những thứ khiến cho tâm thức phải hôn mê, không tốt cho sự tu.

Nếu ăn những vật không thích nghi hay khơi bệnh cũ, khiến tứ đại chống nghịch nhau. Ví dụ người có bệnh, bác sĩ dặn không được ăn thứ gì đó mà vì thèm nên ăn, khiến bệnh cũ tái phát. Thế nên người tu phải điều hòa sự sống của mình cho yên cho tốt thì tu mới có kết quả.

Kinh chép: “Thân yên thì đạo đầy đủ, ăn uống có tiết độ, thường ưa ở chỗ vắng vẻ, tâm lặng ưa tinh tấn, ấy là lời dạy của chư Phật.” Người tu phải điều hòa thân tâm cho kỹ, không để gây trở ngại cho sự tu. Đó là điều thứ nhất nói về sự ăn uống.

II- Điều hòa sự ngủ nghỉ

Ngủ là bị vô minh che đậy, không nên ngủ nhiều. Nếu người ngủ nhiều quá, không những bỏ bê sự tu hành, lại mất hết những công phu, khiến tâm ám muội, căn lành tan mất. Phải giác ngộ lý vô thường, điều phục sự ngủ nghỉ để tinh thần trong sáng, tâm niệm minh tịnh.

Điều hòa sự ngủ nghỉ của người xuất gia và tại gia có khác. Chỗ này tôi nhắc lại. Người xuất gia một đêm ngủ chừng năm tiếng hoặc năm tiếng rưỡi thôi, quá nữa là không tốt. Bởi vì khi ngủ như chết không biết gì hết, nên đây nói ngủ là bị vô minh che đậy, không nên ngủ nhiều. Người tại gia ngủ bao nhiêu tiếng là đủ? Nếu đầu hôm xem ti vi rồi ngủ đủ tám tiếng nữa thì hết thời giờ tu. Như vậy, người xuất gia ngủ năm tiếng thì các vị cư sĩ tại gia nên ngủ sáu hoặc bảy tiếng thôi, để còn giờ ngồi thiền. Vì ngày bận lo kinh tế, đêm lo ngủ cho đủ thì còn giờ đâu mà tu. Nếu ngủ đủ, thì suốt đêm bị vô minh của sự ngủ che khuất, cho nên phải dành ít nhất một giờ để tu. Thay vì ngủ tới sáu giờ, bây giờ năm giờ lo thức trước để tọa thiền, xong rồi tập thể dục là vừa. Như vậy mới có thời giờ tu hành, nếu không thì sẽ bị thiệt thòi.

Nếu người ngủ nhiều quá, không những bỏ bê sự tu hành, lại mất hết những công phu, khiến tâm ám muội, căn lành tan mất. Bởi không làm gì lợi ích, nên mất hết căn lành. Phải giác ngộ lý vô thường, điều phục sự ngủ nghỉ để tinh thần trong sáng, tâm niệm minh tịnh. Giác ngộ lý vô thường để điều phục sự ngủ nghỉ. Chúng ta phải nghĩ rằng ngày nay còn mạnh khỏe, sống bình yên như vầy thì ráng dành thời giờ tu, mai mốt thân bệnh hay chết rồi làm sao tu cho kịp.

Được thế mới có thể gá tâm nơi thánh cảnh, chánh định hiện tiền. Cho nên kinh chép: “Đầu hôm và buổi khuya cũng chớ bỏ phế, không do nhân duyên ngủ nghỉ để một đời luống trôi qua, không được gì cả. Phải nghĩ rằng ngọn lửa vô thường thiêu cả thế gian, sớm cầu tự độ chớ nên ngủ nghỉ.”

Thánh cảnh là cảnh nào? Nghe nói gá tâm nơi thánh cảnh, chúng ta tưởng đâu ở cõi trời hay cõi Phật. Thánh cảnh là cảnh do quán xét đúng như thật cuộc đời của con người. Như đoạn trước đã nói, biết tất cả pháp trên thế gian này không thật, do nghiệp duyên tạo nên, mà nghiệp duyên là do từ tâm tạo. Thấy tất cả pháp không thật, biết như vậy là chúng ta gá tâm ở cảnh thánh, được chánh định hiện tiền.

Phải nghĩ rằng ngọn lửa vô thường thiêu cả thế gian, sớm cầu tự độ chớ nên ngủ nghỉ. Chúng ta phải nhớ một đời người mấy mươi năm, mà chỉ vì ăn ngủ không làm được gì cho mình, cho người, đó là bỏ qua một cuộc đời. Vậy nên luôn luôn dùng lý vô thường đánh thức, cảnh tỉnh, đừng cho mê ngủ.

  1. Khi tọa thiền

Phương pháp điều thân, điều hơi thở, điều tâm, ba việc này phải hợp nhau dùng, không thể nói riêng. Nhưng pháp hành có trước, giữa và sau không đồng. Do đó tướng nhập, trụ và xuất cũng có khác nhau.

Phần này là phần điều hòa thân, điều hòa hơi thở, điều hòa tâm trong lúc ngồi thiền. Điều hòa được đó là lợi ích lớn cho sự tu hành, nếu ham ngồi thiền mà không biết ba thứ này thì dễ sanh bệnh, trở thành hại chứ không có lợi.

Trong điều hòa năm việc, hai việc đầu là điều hòa sự ăn uống và ngủ nghỉ không quan trọng lắm, điều hòa ba việc sau đây mới là tối quan trọng.

III- Điều thân

Hành giả muốn nhập chánh định phải áp dụng phương pháp điều thân. Khi ở ngoài định, đi đứng nằm ngồi và mọi hành động thảy đều nhẹ nhàng thư thả, nếu hành động gấp gáp, nặng nề thì hơi thở hổn hển, hơi thở hổn hển thì tâm tán loạn khó kìm chế, đến khi ngồi bứt rứt tâm không thư thái.

Muốn nhập chánh định phải áp dụng phương pháp điều thân, muốn điều thân thì trước đó trong mọi hành động thảy đều nhẹ nhàng thư thả. Ở chùa dễ sắp đặt, chiều ăn ít, gần tới giờ tọa thiền mọi hành động đều thư thả, nên ngồi thiền buổi tối, buổi khuya đều được, không có gì khó khăn trở ngại. Nếu làm việc nặng nề mệt nhọc thì ngồi thiền tâm dễ bị tán loạn. Ví dụ còn nửa tiếng đến giờ ngồi thiền, mà đi vác mang, làm việc này việc kia nặng quá, thì khi vào ngồi hơi thở hổn hển không yên. Nhiều người ham tu, đang làm những việc nặng nhọc, đến giờ buông xuống chạy vào ngồi thiền. Ngồi như vậy chỉ lo thở thôi không được gì hết. Vì lý do đó nên tôi thường khuyên Phật tử ngồi thiền vào buổi khuya. Buổi khuya ngủ mới thức dậy tỉnh táo, ngồi một giờ hay nửa giờ đều có lợi ích, còn buổi chiều đi làm về mệt, ăn no ngồi thiền sẽ gục liên miên, không có kết quả lại uổng phí thời giờ.

Do đó tuy chưa nhập định hành giả vẫn phải dụng ý, sớm tìm phương tiện hạn chế nó dần. Lúc nhập định phải khéo an thân cho được định.

Lúc chưa nhập định cũng phải hạn chế nó để khi vào định mới được yên ổn. Chúng ta ngồi trên xe ô-tô đang chạy, muốn dừng lại phải thắng từ từ rồi mới dừng hẳn, vậy là an ổn; thắng gấp quá thì dễ bị sự cố. Cũng vậy, muốn cho thân ngồi yên thì trước đó phải từ từ cho nó nhẹ nhàng, rồi ngồi yên mới có kết quả. Đó là phần căn bản.

Khi đến chỗ ngồi thiền, trước phải ngồi yên, mỗi bộ phận đều nghe yên ổn, lâu lâu thấy không có gì chướng ngại, mới bắt đầu sửa soạn chân. Nếu ngồi bán già thì lấy chân trái để trên đùi mặt, kéo sát vào thân, để bàn chân trái bằng với đùi mặt, bàn chân mặt bằng với đùi trái. Nếu ngồi toàn già phải kéo chân mặt để lên đùi trái.

Phần này đáng lý tôi phải ngồi hướng dẫn cho thấy từng động tác trong khi tọa thiền, nhưng vì không có điều kiện nên ở đây tôi chỉ nói qua thôi. Nếu có người cần học cách ngồi thiền kỹ, thì đến những đạo tràng hoặc các thiền viện, để được hướng dẫn cho đúng cách.

Khi đến chỗ ngồi thiền, trước phải ngồi yên, mỗi bộ phận đều nghe yên ổn, lâu lâu thấy không có gì chướng ngại, mới bắt đầu sửa soạn chân. Chúng ta mới ngồi xuống không nên kéo chân lên liền, để bồ đoàn tọa cụ xong rồi ngồi nghe thư thả yên ổn, không có sự gì trở ngại, sau đó mới kéo chân lên. Nếu ngồi bán già thì lấy chân trái để trên đùi mặt, kéo sát vào thân, để bàn chân trái bằng với đùi mặt, bàn chân mặt bằng với đùi trái. Chỗ này có nhiều người thắc mắc, vì kéo chân trái lên không được nên kéo chân mặt để lên trên, vậy có đúng không? Ngồi bán già có hai cách: Một là thế ngồi kiết tường, kéo chân trái để lên đùi mặt. Hai là thế ngồi hàng ma, kéo chân mặt để lên đùi trái. Hai thế này ngồi theo thế nào cũng được. Bởi vì theo thói quen hoặc những người chân bị bệnh, đổi qua đổi lại cho tiện không có gì trở ngại.

Toàn già còn gọi là kiết già, theo dưỡng sinh thì gọi là thế ngồi hoa sen. Muốn ngồi toàn già thì kéo chân trái để lên đùi mặt, chân mặt để lên đùi trái, hai chân ngang nhau và sát với hông của mình. Hồi xưa tôi thấy ngồi bán già hay kiết già cũng như nhau, nhưng qua kinh nghiệm nhiều năm tôi lại thấy khác. Ngồi bán già thì một chân bị đè dưới đùi, ngồi lâu dễ bị tê, một đầu gối sát còn một đầu gối bị chân kia để lót phía dưới nên không sát được, vì vậy không vững bằng ngồi kiết già. Ngồi kiết già hai chân kéo lên hết nên quân bình, ban đầu nghe đau nhưng ngồi lâu thì rất vững, vì hai gối đều sát dưới bồ đoàn. Hơn nữa ngồi bán già sức ấm không nhiều, còn ngồi kiết già thì sức ấm rất mạnh.

Ngồi thiền cũng là một cách trị bệnh. Lúc ở thất ngoài Vũng Tàu, tôi nghe hơi cảm số mũi muốn ho, liền vô ngồi thiền. Ngày thường ngồi một giờ hôm nay ngồi thêm mười lăm phút hoặc hơn. Ngồi lâu mồ hôi toát ra giống như xông vậy, xả thiền nghe bớt cảm. Cho nên lúc đó tôi hơi tự cao nói sẽ cho bác sĩ thất nghiệp, vì mình có thể điều hòa được thân bệnh, tròn năm không bị cảm. Nhưng bây giờ thì tôi chịu thua, già rồi lại vừa tu vừa làm nhiều việc quá, nên không được như lúc còn trẻ chỉ tu thôi.

Nới rộng dây lưng và cổ áo, sửa cho ngay thẳng. Lấy bàn tay trái để lên lòng bàn tay mặt và các ngón tay chồng lên nhau, trừ ngón cái, rồi đặt trên bàn chân, kéo sát vào thân.

Kéo chân lên ngồi yên rồi, kế nới rộng dây lưng và cổ áo sửa cho ngay thẳng, để cho máu huyết lưu thông dễ dàng. Lấy bàn tay trái để lên lòng bàn tay mặt, hay ngược lại cũng được. Các ngón tay chồng lên, đặt trên bàn chân kéo sát vào thân, hai đầu ngón cái vừa đụng nhau, thư thả đừng kìm quá không tốt.

hân ngay thẳng, chuyển động thân và các chi tiết bảy lần, giống như pháp xoa bóp, không cho tay chân xê dịch.

Thân ngay thẳng, chuyển động thân bảy lần. Lần thứ nhất nhẹ, lần thứ hai mạnh một chút, lần thứ ba mạnh hơn, cho đến lần thứ bảy thật mạnh cho toàn thân gân cốt được lưu thông tốt, không trở ngại, giống như cả người đều được xoa bóp. Khi chuyển động thân đừng để cho tay chân bị xê dịch, dời chỗ.

Như thế rồi giữ xương sống cho thẳng không để cong vẹo.

Nếu ngồi một hồi nghe phía sau thắt lưng hơi đau, đó là cong. Vì ngồi khòm khòm nên đau lưng, ngồi thẳng lên thì hết.

Cổ sửa cho ngay, đầu hơi cúi, giữ chót mũi ngay rốn không chinh không vạy, không ngước không cúi, gương mặt bình thản ngồi yên.

Ngồi thẳng giữ chót mũi ngay chiều với rốn thì đầu không bị nghiêng, hai trái tai ngang bả vai thì đầu không bị cúi cũng không ngước, vì nếu cúi xuống thì trái tai lùi lại sau, ngước lên thì trái tai đưa ra trước. Đó là chỗ rất thiết yếu. Các Phật tử khéo nhớ để trong lúc ngồi tại nhà không bị sai lệch. Có người ngồi ngoẻo đầu hoặc gục xuống trông không nghiêm chỉnh, hoặc ngồi kìm quá mặt mày nhăn nhó, con mắt trợn lên trông dữ dằn như sửa soạn đánh nhau thì không được. Nên nhớ, lúc ngồi thiền nên để gương mặt bình thản, giữ cho đầu vai ngay thẳng, ngồi thản nhiên tự tại mới tốt.

Kế dùng miệng thở hơi ô trọc ra, khi thở há miệng cho hơi ra, đừng mạnh cũng đừng gấp, phải đều đều nhẹ nhẹ, hơi vô tưởng không khí trong sạch vào khắp trong thân, những chỗ không thông đều theo hơi thở mà được lưu thông, rồi há miệng thở hơi ra sạch hết. Thở như thế đến ba lần, nếu khi thân và hơi thở đã điều hòa thì thở một lần cũng được.

Ngồi xong xuôi nghiêm chỉnh rồi tới hơi thở. Hít vào bằng mũi, tưởng như không khí trong sạch vào khắp trong thân, những chỗ không thông đều theo hơi thở mà được lưu thông. Thở ra bằng miệng, tưởng những phiền não uế trược trong thân theo hơi thở ra ngoài. Hít thở như vậy ba lần. Khi thân và hơi thở đã điều hòa thì thở nhè nhẹ, không cần há miệng nữa.

Thở xong ngậm miệng lại môi và răng vừa khít nhau, lưỡi để lên ổ gà.

Ngậm miệng lại, môi răng vừa khít thôi đừng cắn răng. Lưỡi để trên ổ gà, tức là để lên trên chứ không phải cong lại. Có người nói họ ngồi theo tiên, để lưỡi cong lại để chờ nước cam lồ xuống, còn chúng ta là chỉ để lưỡi lên phía trên thôi.

Con mắt nhắm vừa khuất ánh sáng bên ngoài thôi.

Con mắt nhắm vừa khuất ánh sáng bên ngoài, thường gọi là nhắm hờ. Chỗ này phải hiểu cho kỹ mà linh động để tu. Vì khi ngồi thiền, mắt hơi nhắm thì tâm dễ định, mà cũng dễ ngủ. Còn mở mắt thì dễ thấy cảnh bên ngoài, ít bị ngủ gục nhưng khó điều hơi thở, tâm khó định. Vì vậy lúc ngồi thiền mắt nhắm hờ, nhưng khi nào buồn ngủ quá thì mở ra. Nếu mở ra một lúc thấy mắt hơi cay thì phải nhắm lại. Đối với tăng ni còn trẻ, tôi bắt mở mắt chứ không cho nhắm, vì dễ bị ngủ gục. Chúng ta khéo linh động, đừng cố chấp sanh ra trở ngại cho việc tu tập.

Thân ngồi phải ngay thẳng như tấm vách đá. Thân và chân tay không được cử động. Đó là phương pháp ban đầu khi nhập thiền định điều thân. Tóm lại, không hoãn mà cũng không gấp, đó là tướng trạng thân điều hòa.

Ngồi thiền thân phải ngay thẳng nghiêm trang, không được cử động. Có một ít người ngồi đầu lắc lư như lên đồng, cho rằng như vậy là tự nhiên của nó, không nên ngăn không nên dừng. Thật ra đó là không làm chủ được mình. Người tu thiền theo Phật phải làm chủ thân và tâm, nghiêm trang tề chỉnh, không cho lắc lư. Người nào ngồi lắc lư là không tốt, phải điều chỉnh lại cho đàng hoàng. Đừng hoãn cũng đừng gấp. Hoãn tức là chậm, gấp là nhanh, muốn thân điều hòa thì phải lìa hai thứ bệnh này. Đó là nói về cách ngồi điều thân.

IV- Điều hơi thở

Hơi thở có bốn tướng:

1- Tướng phong.

2- Tướng suyễn.

3- Tướng khí.

4- Tướng tức.

Ba tướng trước không điều hòa, tướng sau mới điều hòa. Thế nào là tướng phong, tướng suyễn v.v…?

Khi ngồi thiền, hơi thở ra vào trong mũi nghe có tiếng, là tướng phong; hơi thở tuy không có tiếng mà ra vào ngăn trệ không thông, là tướng suyễn, hơi thở tuy không có tiếng, không ngăn trệ, mà ra vào không nhẹ nhàng, là tướng khí; hơi thở không có tiếng, không bị ngăn và không thô, ra vào nhẹ nhẹ như còn như mất, tinh thần an ổn thư thái, ấy là tướng tức.

Hơi thở có bốn tướng: tướng phong, tướng suyễn, tướng khí, tướng tức. Ba tướng trước không điều hòa, chỉ có tướng tức mới điều hòa.

Khi ngồi thở nghe trong mũi có tiếng khò khè lớn hoặc nhè nhẹ, đó là tướng phong. Hơi thở tuy không có tiếng khò khè, nhưng ngăn trệ, nghe nặng ngực, hơi thở không xuống được, không thông, là tướng suyễn. Hơi thở không có tiếng cũng không ngăn trệ, nhưng nghe cũng còn nặng nề chưa nhẹ, đó là tướng khí. Ba tướng này chưa ổn, vì không điều hòa.

Khi ngồi thiền không có ba tướng kia, mà chỉ có hơi thở ra vào nhè nhẹ, như còn như mất có khi như không thở, đó là tướng tức. Đây là tướng tốt của người tu thiền.

Nhiều Phật tử ngồi thiền được yên, rồi nghe hơi thở dường như không có, sợ quá tới hỏi, lúc đó con không có thở vậy con có chết không? Chỗ này không có gì phải lo sợ. Người ngồi thiền tâm sắp định, tinh thần an ổn thư thái, nên tướng hơi thở rất nhẹ như có như không. Đó là tướng tức, là tướng tốt hơn hết.

Nếu bị bệnh phong thì tán loạn, bị bệnh suyễn thì ngăn trệ, bị bệnh khí thì nhọc nhằn, chỉ được tướng tức là an định. Khi ngồi thiền có ba tướng phong, suyễn, khí gọi là không điều hòa; khi ấy nếu dụng tâm thì hại tâm, tâm khó được định.

Nếu muốn điều hòa phải y ba pháp:

1- Chuyên tưởng tâm ở tại rốn.

2- Buông thả thân thể một cách tự tại.

3- Tưởng khắp lỗ chân lông hơi thở ra vào thông đồng không ngăn ngại.

Phần này dạy cách trị bệnh.

1- Chuyên tưởng tâm ở tại rốn. Nếu khi ngồi mà nghe hơi thở có tiếng, nên hướng sự chú ý để cho hơi thở xuống rốn. Muốn tưởng tâm tại rốn thì phải nhắm mắt, nhớ hít vô tới rốn thở ra sạch dài, chậm mà nhẹ nhàng. Hít vô thở ra nghe động ở rốn, một lát thì được thông, không ngăn trở. Hoặc nghe nặng ngăn ở ngực thì hít vô đưa hơi thở tới rốn nghe như rốn động, thở ra chú ý cái động ở rốn, một lát hơi thở xuống thì hết nặng ngực.

2- Buông thả thân thể một cách tự tại. Khi ngồi bực bội ngăn trệ không thông thì nên thư giãn, buông lỏng nhẹ nhàng đừng kìm thì sẽ không còn bứt rứt khó chịu hay bị ngăn trệ ở ngực nữa. Áp dụng như vậy mà vẫn chưa ổn thì dùng phương pháp thứ ba.

3- Tưởng khắp lỗ chân lông hơi thở ra vào thông đồng không ngăn ngại. Hít vô thở ra tưởng như hơi thở ra khắp lỗ chân lông, chỗ nào cũng đều thở. Có người ngồi không nghe mũi thở tưởng đâu mình hết hơi, nhưng lúc đó là các lỗ chân lông đều thở thế cho mũi, rất khỏe không có các thứ bệnh.

Nếu tâm được vi tế thì hơi thở nhẹ nhàng. Hơi thở điều hòa thì các bệnh không sanh, tâm dễ được định. Ấy gọi là phương pháp điều hòa hơi thở, khi hành giả mới tập ngồi thiền. Tóm lại, hơi thở nhẹ nhẹ, dài và đều là tướng điều hòa.

Hơi thở của người ngồi thiền nhẹ và dài là tốt, đừng để thở gấp, đừng cho ngăn trệ, nặng nề, nếu không được như vậy thì phải điều chỉnh lại.

Như vậy ba cách này là để trị ba bệnh, bệnh phong thì tưởng ở rốn, bệnh suyễn tưởng buông xả thân thể, bệnh khí tưởng hơi thở ra vào khắp lỗ chân lông. Người ngồi thiền nếu bị bệnh nào trong ba bệnh này thì nhớ áp dụng để trị. Đó là nói về điều hơi thở, chúng ta nương theo đây để biết cách trị bệnh trong lúc ngồi thiền.

V- Điều tâm

Điều tâm có ba cách: Nhập, Trụ và Xuất.

  1. Nhập: Nhập có hai ý:
  2. Điều phục loạn tưởng không cho buông lung.
  3. Phải điều hòa giữa phù, trầm, khoan, cấp.

Điều tâm có ba cách là nhập, trụ và xuất. Nhập có hai cách: Một là điều phục loạn tưởng không cho buông lung. Hai là điều hòa giữa phù, trầm, khoan, cấp.

Thế nào là tướng Trầm? Nếu trong khi ngồi tâm mờ mịt, không ghi nhớ chi cả, đầu ưa gục xuống, ấy là tướng trầm. Khi ấy phải chú tâm tại chót mũi, khiến tâm duyên trong một cảnh, không cho ý phân tán, đây là trị bệnh trầm.

Ngồi thiền một hồi yên yên dường như quên hết, đầu gục xuống như muốn ngủ là tướng trầm. Khi ấy phải chú ý chỗ sáng ở chót mũi, không cho ý phân tán để trị bệnh trầm.

Thế nào là tướng Phù? Nếu khi ngồi tâm ưa phóng túng loạn động, thân cũng không yên, nhớ những việc đâu đâu, đó là tướng phù. Khi ấy nên tưởng tâm tại rốn, ngăn các loạn niệm, tâm liền dừng trụ, dễ được an tịnh. Tóm lại, không trầm không phù là tướng điều hòa.

Bệnh này nhiều người bị lắm, ngồi ở đây mà nhớ chuyện bên tây bên tàu, đó là tướng phù. Gặp trường hợp này nên tưởng tâm tại rốn, ngăn các loạn niệm. Chúng ta nhớ: bệnh trầm thì trụ tâm ở chót mũi, bệnh phù thì trụ tâm ở rốn. Như vậy là được điều hòa.

Tâm định ấy cũng có tướng Khoan, Cấp. Tướng bệnh định tâm cấp, do trong khi ngồi dụng niệm nhiếp tâm mà được vào định. Thế nên hơi xông lên trên hông, ngực đau nhói, phải buông xả tâm ấy, tưởng hơi đều dồn xuống, bệnh liền được lành.

Bệnh tâm cấp là khi ngồi cố gắng kìm thúc cho được yên, do cố gắng quá nên nghe ngực nhói tưởng như bị đau tim, đây là bệnh cấp. Biết rồi thì liền xả, xả đây không phải xả thiền mà là buông xả đừng kìm, thả lỏng thân nhẹ nhàng đừng để hơi xông lên nhiều, từ từ sẽ hết. Lúc xả tưởng hơi thở dồn xuống dưới đan điền, còn gọi là huyệt khí hải, dồn xuống hết thì bệnh cấp được khỏi.

Nếu tâm mắc bệnh khoan thì tâm chí tản mác, thân ưa xiêu vẹo, hoặc trong miệng chảy nước miếng, hoặc khi ấy mờ mịt. Bấy giờ phải thúc liễm thân và tâm chuyên niệm, khiến tâm trụ trong một chỗ, thân thể kìm giữ nhau, lấy đó mà trị bệnh. Tâm có tướng thô phù hay trầm lặng, cứ xét nơi đó có thể biết. Ấy là phương pháp điều tâm khi mới vào định.

Khi ngồi lâu tâm trí tản mác không nhớ gì hết, thân nghiêng bên này hoặc bên kia, trong miệng chảy nước miếng, khi ấy mờ mịt, đó là bệnh khoan. Khoan là thưa thớt, không được vững, không cố gắng. Chúng ta ngồi thiền mà nghe nước miếng chảy thì biết mình đang mắc bệnh khoan. Lúc đó phải chỉnh người cho ngay thẳng, tâm chuyên niệm, kìm giữ cho nghiêm trang, đầu cổ không xiêu vẹo. Có sức kìm giữ mạnh thì nước miếng không chảy ra nữa, một lát sẽ qua.

Đó là phương pháp điều tâm khi mới vào định. Khi ngồi thiền không mắc bệnh này cũng mắc bệnh nọ, nên chúng ta cần phải biết rõ để điều trị.

Phàm nhập định là từ thô vào tế, thân là thô, hơi thở là trung bình, tâm là tế nhị, nên điều từ thô đến tế khiến tâm được an tịnh, đó là phương tiện ban đầu vào định. Đây gọi là khi nhập định điều hòa được hai việc.

Khoan có tính cách trầm lặng, cấp có tính cách thô phù. Chúng ta mới vào định, nếu biết rõ tâm có tướng thô phù hay trầm lặng thì điều hòa được thân tâm mình. Tôi nhắc lại bốn bệnh phù trầm khoan cấp trước đã nói, để người học thiền nhớ kỹ, khi tu gặp những bệnh này thì biết mà khéo điều trị.

– Tướng bệnh trầm là mờ mịt không nhớ gì, đầu ưa gục xuống. Vị giám thiền thấy người nào ngồi gục đầu xuống là biết người đó bị bệnh trầm, phải làm cho tỉnh lại. Người gặp bệnh này thì nhớ chú tâm vào chót mũi, vì nhớ chót mũi thì mắt không nhắm được, dần dần một lát sẽ hết.

– Tướng bệnh phù là ngồi mà tâm tán loạn, nghĩ đủ thứ chuyện đông tây. Bệnh này phải trụ tâm ở rốn để trị.

– Tướng bệnh cấp là khi ngồi nhiếp niệm, cố gắng kìm chế quá mức nên ran ngực, nhói tim. Bệnh này phải nhớ dồn hơi thở xuống huyệt khí hải dưới đan điền thì sẽ hết.

– Tướng bệnh khoan là lúc ngồi thiền tâm trí mờ mịt, thân xiêu vẹo hoặc nghiêng qua nghiêng lại, miệng chảy nước miếng… Lúc đó phải thúc liễm chuyên tâm trụ một chỗ, để thân thể kìm giữ ngay ngắn. Có người ngồi mơ mơ nửa ngủ nửa thức, đến hỏi tôi vậy lúc đó là định hay không định? Mơ mơ thì sao gọi là định. Tâm trí tản mác không làm chủ được, đó là bệnh khoan chứ không phải yên ổn.

Chúng ta khi tu cần nhớ những bệnh này để tự điều hòa thân tâm, khỏi thắc mắc đi kiếm người khác hỏi.

  1. Trụ: Hành giả trong thời gian tọa thiền tùy dài hay ngắn, hoặc một đến hai ba giờ trong mười hai giờ nhiếp niệm dụng tâm. Trong ấy phải khéo biết thân, hơi thở, tâm được điều hòa hay không điều hòa. Nếu khi ngồi tuy điều thân xong, nhưng thân hoặc buông thả, hoặc kìm thúc, hoặc nghiêng, cong, cúi, ngước không ngay thẳng, biết rồi liền sửa cho thẳng khiến được an ổn. Sửa thân bậc trung không kìm, không thả, bình thường ngay thẳng an trụ.

Lại nữa, trong thời gian ngồi thiền, thân tuy điều hòa mà hơi thở không điều hòa. Tướng hơi thở không điều hòa như trước đã nói, hoặc phong, suyễn, khí, hoặc trong thân đầy hơi, phải dùng những phương pháp ở trước tùy bệnh mà trị khiến hơi thở êm, dài như có như không.

Thứ đến, trong thời gian ngồi thiền, thân, hơi thở tuy điều hòa mà tâm hoặc phù, trầm, khoan, cấp không định. Khi ấy, nếu biết nên dùng những phương pháp ở trước điều hòa khiến được thích ứng bậc thường.

Ba việc này không nhất định trước sau, tùy cái nào không điều hòa sửa cho được điều hòa, khiến thời gian ngồi, thân, hơi thở và tâm, ba cái đều điều hòa thích ứng, không để trái nhau, dung hòa không hai. Thế là hay trừ được bệnh trước, những chướng ngại không sanh, pháp thiền định quyết định được.

Phải giữ như những điều chỉ dạy ở trên mà trụ, giữ sao cho được bình thường đừng có cái gì sai chạy. Ngồi thiền mà trừ được những bệnh đó, chắc chắn sẽ đạt kết quả tốt, không nghi ngờ.

  1. Xuất: Hành giả nếu tọa thiền sắp xong khi muốn xuất định, nên trước phóng tâm duyên cảnh khác, tụng bài hồi hướng, dùng mũi hít hơi vào đầy khắp thân, tưởng khắp trăm mạch máu đều theo hơi thở mà lưu chuyển. Thở ra bằng miệng, tưởng tất cả phiền não bệnh hoạn và hơi xú uế đều ra ngoài hết.

Xả thiền cũng phải rất cẩn thận. Trước hết khởi tâm tụng hồi hướng, đó là xả tâm. Kế đến dùng mũi hít vô đầy khắp thân, tưởng như không khí trong sạch vô khắp châu thân, các mạch máu theo đó lưu chuyển, hoặc tưởng các mạch máu trong cơ thể theo hơi thở mà lưu chuyển. Thở ra bằng miệng tưởng tất cả phiền não, bệnh hoạn, xú uế đều ra ngoài. Nhớ là hít vô bằng mũi, thở ra bằng miệng.

Nhiên hậu nhẹ nhẹ động thân, kế động vai, bắp tay (chỗ con chuột); lần lượt đến tay, đầu, cổ và sau động hai chân, tất cả đều phải êm ái, rốt sau lấy tay xoa khắp lỗ chân lông, rồi hai tay xoa nhau cho nóng áp lên hai con mắt, sau mới mở mắt, đợi sức nóng trong người tan hết mới tùy ý ra đi. Nếu không đúng như vậy, khi ngồi được trụ tâm mà khi xuất buông xả mau quá thì phần vi tế chưa tan, trụ lại trong thân khiến người nhức đầu, trăm lóng xương cứng đờ như mắc chứng phong lao; về sau trong khi tọa thiền bứt rứt không yên. Thế nên muốn xuất định, mỗi việc đều phải lưu ý. Đây là phương pháp điều thân, hơi thở và tâm, từ tế đến thô.

Trước xả tâm, tiếp đến là động thân, động hai bả vai, cổ, đầu v.v… rồi xoa khắp châu thân. Tại sao phải xoa khắp châu thân? Vì khi chúng ta tưởng hơi thở theo lỗ chân lông ra, nên lúc đó lỗ chân lông hở, nếu không xoa khắp cho khít lại thì gặp gió dễ sanh cảm, nên phải biết xoa bóp cho thật kỹ.

Nếu chúng ta xả đúng cách thì bệnh không xảy ra. Nhiều người ngồi lâu quen, xả ra không bị tê nên đứng dậy đi liền, tưởng vậy là hay mà không biết đó là gốc của bệnh. Tại sao? Vì đứng dậy đi liền hơi nóng trong người chưa tan, nên lâu ngày bị nhức đầu. Đi vội quá chân không xoa bóp, gân không được mềm, lâu ngày bị cứng như lao gân, nên phải cẩn thận. Xả thiền xoa bóp kỹ, nghe mát rồi mới đứng dậy. Ở các thiền viện tôi dạy sau khi xả ra xoa bóp xong, đứng dậy tụng Bát-nhã hồi hướng rồi mới được đi, để đủ thời gian cho cơ thể mát dịu lại. Đó là chỗ quan trọng, quý Phật tử phải hiểu cho kỹ để ứng dụng tu không bị sai lầm. Cách điều hòa từ thô đến tế hay từ tế đến thô, đây nói rõ ràng không có gì nghi ngờ. Chúng ta phải ứng dụng cho đúng thì sẽ hữu ích vô cùng.

Thế gọi là khéo Nhập, Trụ và Xuất, như bài kệ:

Tiến dừng có thứ tự, 

Thô tế không trái nhau, 

Ví như khéo tập ngựa, 

Tùy ý muốn đứng đi.

Điều hòa thân tâm giống như điều khiển con ngựa chứng, phải khéo điều hòa nó, chừng nào thuần là thành công, không khéo sẽ thất bại, đó là gốc của sự tu.

Kinh Pháp Hoa chép: “Đại chúng và chư Bồ-tát v.v… ở hội này, đã trong vô lượng ức kiếp chỉ vì Phật đạo, siêng tu tinh tấn, khéo nhập, trụ, xuất được vô lượng trăm ngàn muôn ức chánh định, được đại thần thông, đã lâu tu hạnh thanh tịnh, khéo hay thứ tự lập các pháp lành.”

Đây dẫn kinh Pháp Hoa để làm chứng rằng người tu từ trước đến giờ cũng đều khéo nhập trụ xuất đúng cách mà được trăm ngàn muôn ức chánh định… Chúng ta cũng vậy, khi ngồi thiền khéo biết ứng dụng tu cho được hữu ích thì sự tu hành sẽ được an ổn, có kết quả tốt.

Chúng ta tu nhiều khi thấy hơi trì trệ, ngồi hoài không an lại nghe khó chịu, đau chân tức ngực v.v… rồi hết muốn tu. Những lúc ấy phải khéo điều hòa đúng phương pháp cho thân tâm được an nhàn tự tại. Ngồi càng lâu tâm càng định trí càng sáng là tu có kết quả tốt. Chúng ta cứ tu như vậy mãi cho tới khi nào thành Phật mới thôi. Phật còn phải tu vô số kiếp, bây giờ chúng ta hơn Phật hay sao mà đòi cho mau. Đời này cố gắng tu là hay, nhưng định thời kỳ thì không được.

Tất cả tăng ni và Phật tử đều có túc duyên, cho nên chịu khó nhọc đến nghe pháp và tập tu như thế, thật là quý báu. Tuy nhiên nghiệp chướng của chúng ta sâu nặng, nên đừng bao giờ để tâm tự mãn cho rằng tu bao nhiêu đó là đủ rồi, mà lúc nào cũng phải cố gắng tiến lên. Phát nguyện thành Phật đạo, chứ không phải phát nguyện thành những bậc thường thường. Nghĩ rằng tu chút chút là đủ, là khá lắm rồi, tự mãn như vậy không tốt. Phải tu đến nơi đến chốn, đừng nghĩ rằng ba tháng bảy tháng hay một đời, mà cứ tu hoài. Con đường dài muốn đi đến đích, không phải một ngày tới được, mà phải nhiều ngày, nhiều tháng nhiều năm. Nghĩ không lui không dừng thì có ngày đến được. Vì vậy chúng ta cứ nỗ lực mỗi ngày, cố gắng tiến tu cho tới bao giờ mọi phiền não sạch, trí tuệ được tròn sáng, chừng đó mới xong việc.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.