Chánh văn:
Chín thứ diệu môn trước đều là tướng tu nhân, nghĩa gồm chứng quả, nhưng nói không đầy đủ. Phần này sẽ phân biệt lại tướng chứng của Lục diệu môn. Lục diệu môn chứng có bốn thứ:
Một, thứ lớp chứng.
Hai, hỗ chứng.
Ba, triển chuyển chứng.
Bốn, viên đốn chứng.
Như phần “Đối riêng qua các pháp thiền” thứ nhất trước đã nói và trong phần “Lục diệu môn thứ lớp cùng sanh” đã lược nói thứ lớp chứng tướng, xét kỹ tự biết, ở đây không nói riêng.
Đây là y cứ phần thứ ba “Tùy tiện nghi”, phần thứ tư “Đối trị”, phần thứ năm “Nhiếp nhau”, phần thứ sáu “Quán chung”, trong bốn thứ diệu môn luận chứng tướng. Vì sao? Bốn thứ diệu môn này phương tiện tu hành không nhất định thứ lớp, nên chứng cũng lẫn nhau không định. Như hành giả khi Sổ tức phát lộ mười sáu thứ xúc v.v… các món thầm chứng, chìm lặn không nhớ những pháp cấu nhiễm v.v… Thiền này thể là tướng chứng của Sổ tức mà đây không nhất định.
Hoặc có hành giả ở trong pháp Sổ tức thấy khắp thân các lỗ chân lông thưa rỗng, thấy rõ ba mươi sáu vật trong thân; ấy là trong Sổ tức mà chứng Tùy môn.
Có hành giả trong khi Sổ tức chứng được định Không tịnh, do biết thân tâm lặng lẽ không có duyên niệm, khi nhập định này tuy cạn sâu có khác, mà đều là tướng không tịch; đó là trong Sổ tức chứng Chỉ môn thiền định.
Có hành giả chính khi Sổ tức thấy trong ngoài đều bất tịnh, tử thi sình trương, rục rã và xương trắng v.v… định tâm an ổn; đó là trong Sổ tức chứng được Quán môn thiền định.
Có hành giả khi Sổ tức phát trí tuệ, Không, Vô tướng, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ đế, Mười hai nhân duyên v.v… xảo tuệ phương tiện, tâm suy xét phát khởi, phá dẹp các pháp, phản bản hoàn nguyên, đây là trong Sổ tức chứng Hoàn môn thiền.
Hành giả khi Sổ tức thân tâm vắng lặng không thấy các pháp, vọng cấu không sanh, phân biệt không khởi, tâm tưởng yên lặng, biết rõ pháp tướng không chỗ nương tựa; ấy là trong Sổ tức chứng Tịnh môn thiền.
Đã nói lược trong Sổ tức lẫn phát tướng Lục môn thiền, hoặc có trước sau không nhất định, không hẳn như ở đây nói. Các pháp Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh mỗi mỗi lần chứng thiền tướng cũng như thế. Sở dĩ có lẫn chứng các thiền là do hai ý:
Một là vì khi tu các thiền lẫn nhau tu, nên khi phát cũng tùy lẫn nhau, ý như bốn thứ tướng tu Lục diệu môn trước.
Hai là do thiện căn nghiệp duyên đời trước phát hiện, thế nên lẫn phát không nhất định. Nghĩa như trong “Tọa thiền nội phương tiện nghiệm thiện ác căn tánh” có nói rộng.
Đây chính y phần thứ bảy “Lục diệu môn triển chuyển” tu mà phát hiện. Nói chứng tướng có hai thứ: Chứng triển chuyển giải và Chứng triển chuyển hạnh.
Thế nào gọi là chứng triển chuyển giải phát tướng? Hành giả trong Sổ tức xảo tuệ triển chuyển tu tập, khi ấy hoặc chứng thâm thiền định, hoặc chứng thiền định. Ở trong các định này rỗng suốt tâm tuệ khai phát, lần lượt hiểu biết lý giải không ngăn ngại, không do tâm niệm, thầm lặng triển chuyển hiểu biết các pháp môn.
Triển chuyển có hai thứ: Tổng tướng triển chuyển và Biệt tướng. Tổng tướng lại có hai: Giải chân tổng tướng và Giải tục tổng tướng. Biệt tướng cũng có hai: Giải chân biệt tướng và Giải tục biệt tướng. Ở trong một pháp tổng tướng triển chuyển lý giải tất cả pháp. Biệt tướng cũng như vậy.
Thế nào là tướng chứng triển chuyển hạnh? Hành giả như chỗ mình hiểu, tâm không trái với lời nói, tâm khẩu tương ưng, pháp môn hiện tiền, tâm hạnh kiên cố, thầm lặng tăng trưởng không do niệm lực, các công đức thiện tự sanh, các pháp ác tự dứt; tổng tướng, biệt tướng đều như trước nói, chỉ có tương ưng và nhập cảnh giới các pháp môn hiển bày có khác. Đây là lược nói chứng triển chuyển hạnh. Trong một môn Sổ tức đủ cả hai thứ chứng triển chuyển. Các môn Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh cũng như thế. Vì lược nói không đầy đủ hết, tự phải khéo suy nghĩ nhận ý so sánh các pháp môn khác.
Lục diệu môn chứng triển chuyển tức là được Triền đà-la-ni, gọi là vô ngại biện tài xảo tuệ phương tiện, ngăn các ác không cho sanh khởi, gìn giữ các công đức không cho rơi mất. Trụ pháp môn này quyết định không bao lâu sẽ vào vị Bồ-tát, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hành giả nhân pháp “Quán tâm” phần thứ tám, “Viên quán” phần thứ chín, dùng hai pháp Lục diệu môn làm phương tiện, khi quán thành tựu liền phát hiện viên chứng. Chứng có hai thứ:
– Giải chứng: Xảo tuệ vô ngại không do tâm niệm, tự nhiên viên chứng. Vì biết cả pháp giới, gọi là giải chứng.
– Hội chứng: Diệu tuệ sáng suốt khai phát soi sáng cả pháp giới, thông đạt không ngại.
Chứng tướng có hai thứ:
– Tương tự chứng tướng: Như trong kinh Pháp Hoa nói sáu căn thanh tịnh.
– Chân thật chứng tướng: Như trong kinh Hoa Nghiêm nói tướng sơ phát tâm viên mãn công đức trí tuệ.
a. Thế nào là Lục diệu môn tương tự viên chứng?
Như trong kinh Pháp Hoa nói trong nhãn căn thanh tịnh hay một thời đếm hết số lượng phàm thánh, sắc tâm v.v… khắp cả mười phương, cho nên gọi là Sổ môn. Tất cả sắc pháp tùy thuận nhãn căn, nhãn căn không trái với sắc pháp, cùng tùy thuận nhau, gọi là Tùy môn. Khi thấy như thế, nhãn căn và thức vắng lặng không động gọi là Chỉ môn. Không dùng nhị tướng (tổng tướng, biệt tướng) thấy các cõi Phật thông đạt vô ngại, khôn khéo phân biệt chiếu rõ pháp tánh, gọi là Quán môn. Quay về cảnh giới nhãn căn thông đạt cảnh giới các căn nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý thảy đều minh liễu không ngại vì không có tướng một khác, gọi là Hoàn môn. Tuy rõ ràng thông đạt thấy những việc như thế mà không khởi vọng tưởng phân biệt, biết bản tánh thường tịnh, không pháp có thể nhiễm ô, không trụ không trước, không khởi yêu mến pháp, gọi là Tịnh môn. Đây là lược nói tướng chứng tương tợ của Lục diệu môn trong nhãn căn thanh tịnh, ngoài ra năm căn khác cũng như thế, như trong kinh Pháp Hoa nói rộng.
b. Thế nào là Lục diệu môn chân thật viên chứng?
Có hai thứ: biệt đối và thông đối.
– Biệt đối: Hàng Thập trụ là Sổ môn. Thập hạnh là Tùy môn. Thập hồi hướng là Chỉ môn. Thập địa là Quán môn. Đẳng giác là Hoàn môn. Diệu giác là Tịnh môn.
– Thông đối: Có ba thứ chứng là Sơ chứng, Trung chứng, Cứu cánh chứng.
+ Sơ chứng
Có Bồ-tát nhập Sơ môn cũng gọi là sơ phát tâm trụ, được tuệ Chân vô sanh pháp nhẫn. Khi ấy hay ở trong một tâm niệm đếm hết các tâm niệm của chư Phật Bồ-tát, Thanh văn Duyên giác và vô lượng pháp môn khắp thế giới như số vi trần không thể kể nói, gọi là Sổ môn. Hay ở trong một tâm niệm tùy thuận những sự nghiệp khắp pháp giới, gọi là Tùy môn. Hay ở trong một tâm niệm nhập trăm ngàn Tam muội và tất cả Tam-muội, hư vọng và tập nhiễm đều dứt sạch, gọi là Chỉ môn. Hay ở trong một tâm niệm biết rõ tất cả pháp tướng, đầy đủ các thứ trí tuệ quán chiếu, gọi là Quán môn. Hay ở trong một tâm niệm thông đạt các pháp rõ ràng rành mạch, thần thông chuyển biến hàng phục chúng sanh, phản bản hoàn nguyên, gọi là Hoàn môn. Hay ở trong một tâm niệm thành tựu sự nghiệp như trên đã nói mà tâm không nhiễm trước, không bị các pháp làm nhiễm ô, cũng hay làm thành tựu cõi Phật, khiến chúng sanh nhập Tam thừa tịnh đạo, gọi là Tịnh môn. Sơ tâm Bồ-tát vào pháp môn này như trong Kinh nói: “Cũng gọi là Phật, đã được Bát-nhã chánh tuệ, nghe Như Lai tạng, hiển chân pháp thân, đủ Thủ-lăng-nghiêm, thấy rõ Phật tánh, trụ Đại Niết-bàn, nhập Pháp Hoa tam-muội bất tư nghì nhất thật cảnh giới.” Như trong kinh Hoa Nghiêm có nói rộng, đó là Sơ trụ chứng bất khả tư nghì Lục diệu môn.
+ Trung chứng
Các bậc Cửu trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác đều gọi là Trung chứng bất khả tư nghì Lục diệu môn.
+ Cứu cánh chứng
Hậu tâm Bồ-tát nhập Cứu cánh môn được tuệ nhất niệm tương ưng, diệu giác hiện tiền, chiếu cùng tột pháp giới, nơi sáu thứ pháp môn cứu cánh thông đạt, công dụng khắp đủ không có chỗ khuyết giảm, tức là Cứu cánh viên mãn Lục diệu môn vậy.
Phân biệt tướng chứng của các pháp Sổ, Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh ý không khác trước, chỉ có khác ở chỗ viên cực. Cho nên kinh Anh Lạc chép: “Bậc tam hiền thập thánh cùng đi con đường nhẫn, chỉ có Phật là người đến cùng tột.” Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ có Phật với Phật mới hay cùng tột thật tướng của các pháp.”
Đó là căn cứ sự tu hành dạy đạo mà nói như thế, nếu lấy lý mà luận thì pháp giới viên thông, pháp môn của chư Phật Bồ-tát chứng trước sau không hai. Cho nên kinh Đại Phẩm nói: “Ban đầu chữ A (Sơ phát tâm), sau chữ Trà (Cứu cánh tâm) ý vẫn không khác. Kinh Niết-bàn nói: “Sơ tâm và cứu cánh tâm không khác, như thế hai tâm, tâm trước là khó.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Từ Sơ địa đã đầy đủ tất cả công đức của các địa.” Kinh Pháp Hoa nói: “Như thế gốc ngọn rốt ráo là đồng.”
Giảng:
Chín thứ diệu môn trước đều là tướng tu nhân, nghĩa gồm chứng quả, nhưng nói không đầy đủ. Phần này sẽ phân biệt lại tướng chứng của Lục diệu môn. Lục diệu môn chứng có bốn thứ:
Một, thứ lớp chứng.
Hai, hỗ chứng.
Ba, triển chuyển chứng.
Bốn, viên đốn chứng.
Như phần “Đối riêng qua các pháp thiền” thứ nhất trước đã nói và trong phần “Lục diệu môn thứ lớp cùng sanh” đã lược nói thứ lớp chứng tướng, xét kỹ tự biết, ở đây không nói riêng.
Đây là y cứ phần thứ ba “Tùy tiện nghi”, phần thứ tư “Đối trị”, phần thứ năm “Nhiếp nhau”, phần thứ sáu “Quán chung”, trong bốn thứ diệu môn luận chứng tướng. Vì sao? Bốn thứ diệu môn này phương tiện tu hành không nhất định thứ lớp, nên chứng cũng lẫn nhau không định. Như hành giả khi Sổ tức phát lộ mười sáu thứ xúc v.v… các món thầm chứng, chìm lặn không nhớ những pháp cấu nhiễm v.v… Thiền này thể là tướng chứng của Sổ tức mà đây không nhất định.
Hoặc có hành giả ở trong pháp Sổ tức thấy khắp thân các lỗ chân lông thưa rỗng, thấy rõ ba mươi sáu vật trong thân; ấy là trong Sổ tức mà chứng Tùy môn.
Các pháp tu Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh, tuy tu thứ lớp như vậy, nhưng nếu tu Sổ tức mà không hiệu quả thì tu Tùy tức, nếu Tùy tức không có hiệu quả thì tu Chỉ hoặc tu Quán v.v… có thể linh động mà tu, chứ không cố định theo thứ lớp, khi chứng cũng linh động không có thứ tự. Như người tu Sổ tức khi đếm hơi thở mà thấy những lỗ chân lông ra hơi thở, biết rõ trong thân có ba mươi sáu vật bất tịnh, ấy là trong Sổ tức mà chứng Tùy môn . Nên nói hỗ chứng, tức lẫn nhau mà chứng.
Có hành giả trong khi Sổ tức chứng được định Không tịnh, do biết thân tâm lặng lẽ không có duyên niệm, khi nhập định này tuy cạn sâu có khác, mà đều là tướng không tịch; đó là trong Sổ tức chứng Chỉ môn thiền định.
Có hành giả chính khi Sổ tức thấy trong ngoài đều bất tịnh, tử thi sình trương, rục rã và xương trắng v.v… định tâm an ổn; đó là trong Sổ tức chứng được Quán môn thiền định.
Có hành giả khi Sổ tức phát trí tuệ, Không, Vô tướng, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ đế, Mười hai nhân duyên v.v… xảo tuệ phương tiện, tâm suy xét phát khởi, phá dẹp các pháp, phản bản hoàn nguyên, đây là trong Sổ tức chứng Hoàn môn thiền.
Hành giả khi Sổ tức thân tâm vắng lặng không thấy các pháp, vọng cấu không sanh, phân biệt không khởi, tâm tưởng yên lặng, biết rõ pháp tướng không chỗ nương tựa; ấy là trong Sổ tức chứng Tịnh môn thiền.
Khi tu đếm hơi thở được định, được tịnh, tức biết trong Sổ tức chứng Chỉ môn thiền định. Nếu thấy thân nhớp nhúa, lúc chết sình trương v.v… đó là trong Sổ tức chứng Quán môn thiền định. Lúc đếm hơi thở mà phát trí tuệ, thấy Không, Vô tướng, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo v.v… đó là trong Sổ tức chứng Hoàn môn thiền định. Hoặc tâm được thanh tịnh vắng lặng, biết rõ các pháp tướng không chỗ nương tựa, đó là trong Sổ tức chứng Tịnh môn thiền. Như vậy từ pháp đầu mà chứng pháp cuối, chứ không đi theo thứ lớp nào.
Đã nói lược trong Sổ tức lẫn phát tướng Lục môn thiền, hoặc có trước sau không nhất định, không hẳn như ở đây nói. Các pháp Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh mỗi mỗi lần chứng thiền tướng cũng như thế. Sở dĩ có lẫn chứng các thiền là do hai ý:
Một là vì khi tu các thiền lẫn nhau tu, nên khi phát cũng tùy lẫn nhau, ý như bốn thứ tướng tu Lục diệu môn trước.
Hai là do thiện căn nghiệp duyên đời trước phát hiện, thế nên lẫn phát không nhất định. Nghĩa như trong “Tọa thiền nội phương tiện nghiệm thiện ác căn tánh” có nói rộng.
Tu chứng sai biệt bởi hai lý do: Thứ nhất là do tu lẫn nhau, pháp này không có kết quả lẫn sang pháp kia, cho nên sự chứng cũng lẫn nhau. Thứ hai là do thiện căn đời trước tu pháp đó, ví dụ hiện đang tu Sổ tức mà vẫn thấy quán bất tịnh, đó là do đời trước đã có tu tập quán bất tịnh.
Đây chính y phần thứ bảy “Lục diệu môn triển chuyển” tu mà phát hiện. Nói chứng tướng có hai thứ: Chứng triển chuyển giải và Chứng triển chuyển hạnh.
Thế nào gọi là chứng triển chuyển giải phát tướng? Hành giả trong Sổ tức xảo tuệ triển chuyển tu tập, khi ấy hoặc chứng thâm thiền định, hoặc chứng thiền định. Ở trong các định này rỗng suốt tâm tuệ khai phát, lần lượt hiểu biết lý giải không ngăn ngại, không do tâm niệm, thầm lặng triển chuyển hiểu biết các pháp môn.
Triển chuyển có hai thứ: Tổng tướng triển chuyển và Biệt tướng. Tổng tướng lại có hai: Giải chân tổng tướng và Giải tục tổng tướng. Biệt tướng cũng có hai: Giải chân biệt tướng và Giải tục biệt tướng. Ở trong một pháp tổng tướng triển chuyển lý giải tất cả pháp. Biệt tướng cũng như vậy.
Triển chuyển chứng, tức là lần lượt tiến lên không có nhất định. Như khi tu pháp môn này mà lại thông suốt những pháp môn khác, đó là do trí tuệ của mình thông suốt mà được như vậy.
Thế nào là tướng chứng triển chuyển hạnh? Hành giả như chỗ mình hiểu, tâm không trái với lời nói, tâm khẩu tương ưng, pháp môn hiện tiền, tâm hạnh kiên cố, thầm lặng tăng trưởng không do niệm lực, các công đức thiện tự sanh, các pháp ác tự dứt; tổng tướng, biệt tướng đều như trước nói, chỉ có tương ưng và nhập cảnh giới các pháp môn hiển bày có khác. Đây là lược nói chứng triển chuyển hạnh. Trong một môn Sổ tức đủ cả hai thứ chứng triển chuyển. Các môn Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh cũng như thế. Vì lược nói không đầy đủ hết, tự phải khéo suy nghĩ nhận ý so sánh các pháp môn khác.
Chứng trong các pháp tu thiền này, tức là khi tu được kết quả định hay quán thành công, tự nhiên có được một sức thầm lặng. Như trước đây tham lam, nóng nảy, dễ tức giận, hay buồn phiền, bây giờ không những hết sạch mà còn vui vẻ. Do tu được kết quả nên những cái xấu dở tự hết, tạm gọi là chứng. Trong lúc tu mình không cố tình trừ dẹp, mà khi công phu đủ rồi thì những thứ xấu dở đó tự hết tự sáng, chứ không phải đối trị dẹp riêng từng thứ.
Lục diệu môn chứng triển chuyển tức là được Triền đà-la-ni, gọi là vô ngại biện tài xảo tuệ phương tiện, ngăn các ác không cho sanh khởi, gìn giữ các công đức không cho rơi mất. Trụ pháp môn này quyết định không bao lâu sẽ vào vị Bồ-tát, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu sáu pháp môn này lần lượt thành tựu được Triền đà-la-ni, tức là Tổng trì, gọi là vô ngại biện tài xảo tuệ phương tiện, ngăn các ác không cho sanh khởi, gìn giữ các công đức không cho rơi mất. Nhờ thành tựu Triển đà-la-ni nên phát ra trí sáng, được biện tài vô ngại, ngôn ngữ nói năng đều hợp pháp, đúng sự thật, các pháp ác không còn khởi nữa, quyết định sẽ tiến lên vị Bồ-tát, rốt sau sẽ thành tựu quả Phật không nghi.
Hành giả nhân pháp “Quán tâm” phần thứ tám, “Viên quán” phần thứ chín, dùng hai pháp Lục diệu môn làm phương tiện, khi quán thành tựu liền phát hiện viên chứng. Chứng có hai thứ:
– Giải chứng: Xảo tuệ vô ngại không do tâm niệm, tự nhiên viên chứng. Vì biết cả pháp giới, gọi là giải chứng.
– Hội chứng: Diệu tuệ sáng suốt khai phát soi sáng cả pháp giới, thông đạt không ngại.
Giải chứng là do trí tuệ vô ngại khéo léo hiểu biết, tự nhiên thấu suốt các pháp thế gian rõ ràng đúng như thật.
Hội chứng là được trí tuệ sáng suốt, soi thấu cùng khắp cả pháp giới không bị trở ngại.
Chứng tướng có hai thứ:
– Tương tự chứng tướng: Như trong kinh Pháp Hoa nói sáu căn thanh tịnh.
– Chân thật chứng tướng: Như trong kinh Hoa Nghiêm nói tướng sơ phát tâm viên mãn công đức trí tuệ.
Tu đến lúc sáu căn không còn nhiễm nhơ nữa, gọi là tương tự chứng. Vừa phát tâm tu, tất cả công đức đều được viên mãn, gọi là chân thật chứng.
a. Thế nào là Lục diệu môn tương tự viên chứng?
Như trong kinh Pháp Hoa nói trong nhãn căn thanh tịnh hay một thời đếm hết số lượng phàm thánh, sắc tâm v.v… khắp cả mười phương, cho nên gọi là Sổ môn. Tất cả sắc pháp tùy thuận nhãn căn, nhãn căn không trái với sắc pháp, cùng tùy thuận nhau, gọi là Tùy môn. Khi thấy như thế, nhãn căn và thức vắng lặng không động gọi là Chỉ môn. Không dùng nhị tướng (tổng tướng, biệt tướng) thấy các cõi Phật thông đạt vô ngại, khôn khéo phân biệt chiếu rõ pháp tánh, gọi là Quán môn. Quay về cảnh giới nhãn căn thông đạt cảnh giới các căn nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý thảy đều minh liễu không ngại vì không có tướng một khác, gọi là Hoàn môn. Tuy rõ ràng thông đạt thấy những việc như thế mà không khởi vọng tưởng phân biệt, biết bản tánh thường tịnh, không pháp có thể nhiễm ô, không trụ không trước, không khởi yêu mến pháp, gọi là Tịnh môn. Đây là lược nói tướng chứng tương tợ của Lục diệu môn trong nhãn căn thanh tịnh, ngoài ra năm căn khác cũng như thế, như trong kinh Pháp Hoa nói rộng.
Lục diệu môn tương tợ viên chứng, là nói về chỗ tương tợ chứng của người tu Lục diệu môn. Khi tu chứng được tới chỗ cứu cánh, từ nhãn căn thanh tịnh thấu suốt tất cả pháp phàm thánh không lầm, gọi là Sổ tức môn. Từ nhãn căn thanh tịnh biết rõ các pháp cùng tùy thuận nhau, gọi là Tùy môn. Khi thấy như thế, nhãn căn và thức vắng lặng không động, gọi là Chỉ môn. Không dùng hai tướng, tổng tướng và biệt tướng, thấy các cõi Phật thông đạt vô ngại, khôn khéo phân biệt biết rõ, gọi là Quán môn v.v…
Phần này những vị tu chứng mới biết, còn chúng ta chưa chứng gì hết nên nghe cũng như không, do đó tôi chỉ nói lược qua. Chúng ta ráng tu, chừng nào chứng tới đây thì sẽ hiểu thấu được chỗ hay của người xưa chỉ dạy.
b. Thế nào là Lục diệu môn chân thật viên chứng?
Có hai thứ: biệt đối và thông đối.
– Biệt đối: Hàng Thập trụ là Sổ môn. Thập hạnh là Tùy môn. Thập hồi hướng là Chỉ môn. Thập địa là Quán môn. Đẳng giác là Hoàn môn. Diệu giác là Tịnh môn.
Biệt đối là chỉ cho chỗ chứng riêng. Người tu chứng Sổ môn gọi là hàng Thập trụ Bồ-tát. Tùy môn là Thập hạnh Bồ-tát. Chỉ môn là Thập hồi hướng Bồ-tát. Quán môn là Thập địa Bồ-tát. Hoàn môn là Đẳng giác. Tịnh môn là Diệu giác, tức là Phật.
Như vậy, nhờ pháp tu này mà từ phàm lần lần tiến lên chứng được quả vị Bồ-tát cho tới Phật quả, chứ không riêng ở một bậc.
– Thông đối: Có ba thứ chứng là Sơ chứng, Trung chứng, Cứu cánh chứng.
+ Sơ chứng
Có Bồ-tát nhập Sơ môn cũng gọi là sơ phát tâm trụ, được tuệ Chân vô sanh pháp nhẫn. Khi ấy hay ở trong một tâm niệm đếm hết các tâm niệm của chư Phật Bồ-tát, Thanh văn Duyên giác và vô lượng pháp môn khắp thế giới như số vi trần không thể kể nói, gọi là Sổ môn. Hay ở trong một tâm niệm tùy thuận những sự nghiệp khắp pháp giới, gọi là Tùy môn. Hay ở trong một tâm niệm nhập trăm ngàn Tam muội và tất cả Tam-muội, hư vọng và tập nhiễm đều dứt sạch, gọi là Chỉ môn. Hay ở trong một tâm niệm biết rõ tất cả pháp tướng, đầy đủ các thứ trí tuệ quán chiếu, gọi là Quán môn. Hay ở trong một tâm niệm thông đạt các pháp rõ ràng rành mạch, thần thông chuyển biến hàng phục chúng sanh, phản bản hoàn nguyên, gọi là Hoàn môn. Hay ở trong một tâm niệm thành tựu sự nghiệp như trên đã nói mà tâm không nhiễm trước, không bị các pháp làm nhiễm ô, cũng hay làm thành tựu cõi Phật, khiến chúng sanh nhập Tam thừa tịnh đạo, gọi là Tịnh môn. Sơ tâm Bồ-tát vào pháp môn này như trong Kinh nói: “Cũng gọi là Phật, đã được Bát-nhã chánh tuệ, nghe Như Lai tạng, hiển chân pháp thân, đủ Thủ-lăng-nghiêm, thấy rõ Phật tánh, trụ Đại Niết-bàn, nhập Pháp Hoa tam-muội bất tư nghì nhất thật cảnh giới.” Như trong kinh Hoa Nghiêm có nói rộng, đó là Sơ trụ chứng bất khả tư nghì Lục diệu môn.
+ Trung chứng
Các bậc Cửu trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác đều gọi là Trung chứng bất khả tư nghì Lục diệu môn.
+ Cứu cánh chứng
Hậu tâm Bồ-tát nhập Cứu cánh môn được tuệ nhất niệm tương ưng, diệu giác hiện tiền, chiếu cùng tột pháp giới, nơi sáu thứ pháp môn cứu cánh thông đạt, công dụng khắp đủ không có chỗ khuyết giảm, tức là Cứu cánh viên mãn Lục diệu môn vậy.
Phân biệt tướng chứng của các pháp Sổ, Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh ý không khác trước, chỉ có khác ở chỗ viên cực. Cho nên kinh Anh Lạc chép: “Bậc tam hiền thập thánh cùng đi con đường nhẫn, chỉ có Phật là người đến cùng tột.” Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ có Phật với Phật mới hay cùng tột thật tướng của các pháp.”
Đó là căn cứ sự tu hành dạy đạo mà nói như thế, nếu lấy lý mà luận thì pháp giới viên thông, pháp môn của chư Phật Bồ-tát chứng trước sau không hai. Cho nên kinh Đại Phẩm nói: “Ban đầu chữ A (Sơ phát tâm), sau chữ Trà (Cứu cánh tâm) ý vẫn không khác. Kinh Niết-bàn nói: “Sơ tâm và cứu cánh tâm không khác, như thế hai tâm, tâm trước là khó.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Từ Sơ địa đã đầy đủ tất cả công đức của các địa.” Kinh Pháp Hoa nói: “Như thế gốc ngọn rốt ráo là đồng.”
Đây nói về chỗ chứng của Bồ-tát tu Lục diệu môn, tôi chỉ đọc qua thôi chứ không nói kỹ, vì những chỗ này chúng ta tu chưa chứng tới, nếu nói nhiều mà không biết thì cũng chỉ là nói rỗng, không ích lợi gì.
Sự tu chứng Lục diệu môn từ Bồ-tát cho đến quả Phật, các công dụng đó rất mầu nhiệm không thể kể hết. Có thể nói rằng, y cứ Lục diệu môn tu có thể đạt đến Phật quả, chứ không phải chỉ trừ vọng tưởng mà thôi.