Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải

VIII. Phẩm Đốn Tiệm



Chánh văn:

Khi y T chùa Bo Lâm ti Tào Khê, còn Thn Tú đại sư chùa Ngc Tuyn ti Kinh Nam. By gi hai tông thnh hóa, người đều gi là Nam Năng Bc Tú nên có hai tông Nam Bc, chia ra đốn tim, mà người hc không biết tông thú. T bo chúng rng:

– Pháp vn mt tông, người có Nam Bc, pháp tc là mt th, thy có mau và ch Sao gi là đốn tim? Pháp không có đốn tim, người có li căn, độn căn, nên gi là đốn tim.

Nhưng đồ đệ ca ngài Thn Tú thường chê T sư Nam tông là không biết mt ch, có cái gì hay. Thn Tú nói rng:

– Kia (t Hu Năng) được trí vô sư, thâm ng được pháp thượng tha, tôi không bng vậy.

V li Thy tôi là Ngũ T, chính ngài truyn y pháp, há li suông ư? Tôi hn không th đi xa để thân cn, lung th ân quc vương, vy nhng người các ông không nên kt đây, nên đến Tào Khê tham hi.

Mt hôm ngài sai đệ t là Chí Thành rng:

– Ông thông minh nhiu trí, nên vì tôi mà đến Tào Khê nghe pháp, nếu nghe được điu gì, hết lòng ghi ly, tr v nói cho tôi nghe.

Chí Thành vâng mnh đến Tào Khê, theo chúng tham thnh, không nói t đâu đến. Khi y Lc T bo chúng rng:

– Ngày nay có người trm pháp đang n trong hi này.

Chí Thành lin ra l bái và thưa đầy đủ vic ca ông. T bo:

– Ông t Ngc Tuyn li nên là k do thám.

Chí Thành đáp:

– Không phải.

T hi:

– Sao được không phi?

Chí Thành thưa:

– Chưa nói là phi, đã thưa ri là không phải.

T bo:

– Thy ông dùng cái gì ch dy chúng?

Chí Thành thưa:

– Thường ch dy đại chúng tr tâm quán tnh, thường ngi chng nằm.

T bo:

– Tr tâm quán tnh là bnh ch không phi thin, thường ngi là câu chp nơi thân, đối vi lý có li ích gì.

Hãy lng nghe bài k ca tôi đây:

Khi sng ngi không nm,

Khi chết nm không ngi,

Vn là đầu xương thúi,

Vì sao lp công khóa.

(Sanh lai ta bt nga,

T kh nga bt ta,

Nguyên th xú ct đầu,

Hà vi lp công khóa.)

Chí Thành li l bái thưa rng:

– Đệ t ch đại sư Thn Tú, hc đạo chín năm mà không được khế ng. Ngày nay nghe Hòa thượng nói mt bài k lin khế ng được bn tâm. Sanh t là vic ln, đệ t xin Hòa thượng vì lòng đại bi ch dy thêm.

T bo:

– Tôi nghe Thy ông dy hc nhân pháp gii định tu, chưa biết Thy ông nói gii định tu, hành tướng như thế nào, ông vì tôi nói xem.

Chí Thành thưa:

– Đại sư Thn Tú nói: “Các điu ác ch làm gi là gii, các điu thin vâng làm gi là tu, t tnh ý mình gi là đị” Ngài Thn Tú nói như thế, chưa biết Hòa thượng ly pháp gì dy người?

T bo:

– Nếu tôi nói có pháp cho người tc là nói di ông, ch tùy phương m trói, gi danh là tam-mu Như Thy ông nói gii định tu tht là không th nghĩ bàn, nhưng ch thy gii định tu ca tôi li khác.

Chí Thành thưa:

– Gii định tu ch là mt th vì sao li có khác?

T bo:

– Thy ông nói gii định tu là tiếp người Đại tha, còn tôi nói gii định tu là tiếp người Ti thượng tha, ng hiu chng đồng, thy có mau và chm; ông nghe tôi nói cùng vi kia đồng hay chăng? Tôi nói pháp chng lìa t tánh, lìa th nói pháp thì gi là nói tướng, t tánh thường mê, phi biết tt c muôn pháp đều t nơi t tánh khi dng, y là pháp chân gii, chân định, chân tu, hãy lng nghe tôi nói k đây:

Đất tâm không li t tánh gii,

Đất tâm không si t tánh tu,

Đất tâm không lon t tánh định.

Chng tăng chng gim t kim cang,

Thân đến thân đi vn tam-mui.

(Tâm địa vô phi t tánh gii,

Tâm địa vô si t tánh tu,

Tâm địa vô lon t tánh định,

Bt tăng bt gim t kim cang,

Thân kh thân lai bn tam-mui.)

Chí Thành nghe k ri hi t, mi trình mt bài k:

Năm un thân huyn hóa,

Huyn làm sao cu cánh,

Xoay li tìm chân như,

Pháp tr thành bt tnh.

(Ngũ un huyn thân,

Huyn hà cu cánh,

Hi thú chân như,

Pháp hoàn bt tnh.)

T lin n kh đó, li bo Chí Thành rng:

– Gii định tu ca Thy ông là khuyên dy người tiu căn tiu trí, còn gii định tu ca tôi là dy người đại căn đại trí. Nếu ng được t tánh cũng chng lp Bđề, Niết-bàn, cũng chng lp gii thoát tri kiến, không mt pháp có th được mi hay dng lp muôn pháp. Nếu hiu được ý này cũng gi là thân Pht, cũng gi là Bđề Niết-bàn, cũng gi là gii thoát tri kiế Người thy tánh lp cũng được, không lp cũng được, đi li t do, không b tr ngi, ng dng tùy vic làm, nói năng tùy đáp, khp hin hóa thân, chng lìa t tánh, lin được t ti thn thông, du hý tam-mui, y gi là kiến tánh.

Chí Thành li thưa:

– Thế nào là nghĩa chng lp?

T bo:

– T tánh không li, không si, không lon, nim nim Bát-nhã quán chiếu, thường lìa pháp tướng, t do t ti, dc ngang trn được, có gì nên lp? T tánh t ng, đốn ng, đốn tu cũng không th lp, cho nên chng lp tt c pháp. Các pháp là lng l, có th lp gì?

Chí Thành lin l bái, nguyn làm người hu h, sm chiu không lười mi. Chí Thành là người Thái Hòa, Cát Châu.

Tăng Chí Trit, quê Giang Tây, h Trương tên Hành Xương, thu nh là mt hip khách. T khi chia ra hai tông Nam Bc, hai v Tông ch tuy quên b ngã, nhưng đồ chúng tranh nhau khi yêu ghét. Khi y đệ t ca Bc tông t lp ngài Thn Tú làm t th sáu mà k (vì) Lc T được truyn y, mi người đều nghe nên mi dy Hành Xương đến ám sát Lc T. T tâm thông d biết vic y nên lin để mười lượng vàng dưới tòa. Khi y ban đêm Hành Xương vào trong tht toan mun hi T, T đưa c cho chém, Hành Xương lin vung kiếm cht ba ln đều không thương tn. T bo:

– Kiếm chánh chng tà, kiếm tà chng chánh, ch n vàng ca ông, không n mng ca ông.

Hành Xương hong ht té xu, giây lâu mi tnh, cu xin sám hi, lin nguyn xut gia. T lin cho vàng bo:

– Ông hãy đi, e đồ chúng tr li hi ông, mt ngày khác ông có th đổi hình dáng mà tr li, tôi s nhn ông.

Hành Xương vâng li dy, gia đêm trn đi, sau theo tăng xut gia, th gii C túc, tinh cn tu hành. Mt hôm ông nh li li T, t xa đến l ra mt T. T bo:

– Tôi nh ông đã lâu, sao ông đến mun vy?

Hành Xương thưa:

– Trước nh ơn Hòa thượng xá ti, ngày nay tuy xut gia kh hnh, trn khó đền đáp ân đức, đâu mong được truyn pháp độ sanh ư? Đệ t thường xem kinh Niết-bàn, chưa hiu được nghĩa thường và vô thường, cúi xin Hòa thượng t bi lược vì gii nói.

T bo:

– Vô thường tc là Pht tánh, hu thường tc là tâm phân bit tt c pháp thin ác vậy.

Hành Xương thưa rng:

– Hòa thượng nói pháp rt trái vi văn kinh.

T bo:

– Ta được truyn tâm n ca Pht, đâu dám trái vi kinh Phật.

Hành Xương thưa:

– Kinh nói Pht tánh là thường, Hòa thượng li nói là vô thường, các pháp thin ác cho đến tâm Bđề đều là vô thường mà Hòa thượng li nói là thường, đây tc trái nhau, khiến cho hc nhân càng thêm nghi ng.

T bo:

– Kinh Niết-bàn thu xưa tôi có nghe ni Vô Tn Tng đọc mt ln lin vì bà ging nói, không có mt ch, mt nghĩa nào không hp vi văn kinh, cho đến vì ông nói cũng trn không có hai thuyết.

Hành Xương thưa:

– Hc nhân thc lượng cn ti, cúi mong Hòa thượng lượng theo mà t bi khai th.

T bo:

– Ông biết chăng, Pht tánh nếu thường li nói gì là các pháp thin ác, cho đến cùng kiếp không có mt người phát tâm Bđề, nên tôi nói là vô thường, mà chính là đạo chân thường ca Pht nói. Li tt c pháp nếu là vô thường, tc mi vt đều có t tánh, dung th sanh t mà tánh chân thường có ch bt biến, nên tôi nói thường chính là Pht nói nghĩa chân vô thườ Pht xưa vì phàm phu ngoi đạo chp tà thường, còn các hàng Nh tha thường mà chp là vô thường, công thành tám th điên đảo, nên trong giáo lý liu nghĩa kinh Niết-bàn phá thiên kiến kia mà hin bày chân thường, chân lc, chân ngã, chân tnh. Nay ông y theo li nói mà trái vi nghĩa, dùng đon dit vô thường và xác định cái t thường mà lm hiu li nói mu nhim viên diu ti hu ca Pht, dù có xem mt ngàn biến kinh thì có li ích gì?

Hành Xương bng nhiên đại ng, lin nói k rng:

Vì gi tâm vô thường,

Pht nói có tánh thường,

Không biết được phương tin,

Như ao xuân mò gch.

Nay tôi chng thi công,

Mà Pht tánh hin tin,

Không phi thy trao cho,

Tôi cũng không s đắc.

(Nhân th vô thường tâm,

Pht thuyết hu thường tánh,

Bt tri phương tin gi,

Do xuân trì thp lch.

Ngã kim bt thi công,

Pht tánh nhi hin tin,

Phi sư tương th d,

Ngã dic vô s đắc.)

T bo: – Nay ông mi trit vy, nên đặt tên ông là Chí Trit.

Chí Trit l t mà lui.

Có mt chú bé tên là Thn Hi Tương Dương, con nhà h Cao, mười ba tui, t chùa Ngc Tuyn đến tham l.

T hi:

– Tri thc t xa nhc nhn đến li đem được cái gc đến chăng? Nếu có gc thì nên biết được Ông ch, th nói xem?

Thn Hi thưa:

– Ly vô tr làm gc, thy tc là ch.

T bo:

– Ông Sa-di này đâu nên nói như thế.

Thn Hi lin hi:

– Hòa thượng ta thin li thy hay chng thy?

T cm gy đánh ba gy hi:

– Tôi đánh ông đau hay chng đau?

Thn Hi đáp:

– Cũng đau cũng không đau.

T bo:

– Tôi cũng thy cũng chng thấy.

Thn Hi hi:

– Thế nào là cũng thy cũng chng thy?

T bo:

– Ch thy ca tôi thường thy nhng li lm nơi tâm mình, không thy phi quy tt xu ca người khác, y do cũng thy mà cũng chng th Ông nói cũng đau cũng chng đau là thế nào? Nếu ông chng đau thì đồng như cây đá, nếu ông đau thì đồng vi phàm phu, tc khi sân hn, ông v trước thy và chng thy là hai bên, đau chng đau là sanh dit, ông t tánh li chng thy mà dám đùa vi người.

Thn Hi lin l bái sám hi. T li nói:

– Tâm ông nếu mê chng thy thì hi thin tri thc để tìm đường, còn tâm ông nếu ng tc t thy tánh, y pháp tu hành, ông t mê không thy tâm mình, tr li hi ta thy cùng chng th Ta thy thì t biết há thay cái mê cho ông, nếu ông t thy cũng chng thay được cái mê cho ta, sao chng t biết t thy mà hi ta thy cùng chng thy.

Thn Hi li l hơn mt trăm ly, xin sám hi ti li ri siêng năng hu h bên cnh không ri.

Mt hôm T bo chúng:

– Tôi có mt vt không đầu, không đuôi, không danh, không t, không lưng, không mt, các người li biết chăng?

Thn Hi bước ra nói rng:

– Ấy là bn nguyên ca chư Pht, là Pht tánh ca Thn Hội.

T bo:

– Tôi đã nói vi ông không danh không t, ông lin gi là bn nguyên, là Pht tánh, ông nhm đi ly c tranh che đầu, cũng ch thành cái hng tông đồ ca tri giải.

Sau khi T dit độ, ngài Thn Hi vào Kinh Lc[1], hong truyn pháp đốn giáo Tào Khê, viết quyn Hin Tông Ký, thnh hành đời, gi là thin sư Hà Trch.

T thy các tông nn vn nhau, đều khi tâm ác, phn nhiu nhóm dưới tòa ca T, ngài thương xót mi bo rng:

– Người hc đạo, tt c nim thin, nim ác nên phi dp sch, không tên có th gi, y gi là t tánh, tánh không hai y gi là tht tánh, trên tht tánh dng lp tt c giáo môn, ngay li nói lin phi t thấy.

Các người nghe nói, thy đều làm l, xin th ngài làm thy.

Giảng:

Khi y T chùa Bo Lâm ti Tào Khê, còn Thn Tú đại sư chùa Ngc Tuyn ti Kinh Nam. By gi hai tông thnh hóa, người đều gi là Nam Năng Bc Tú nên có hai tông Nam Bc, chia ra đốn tim, mà người hc không biết tông thú. T bo chúng rng:

– Pháp vn mt tông, người có Nam Bc, pháp tc là mt th, thy có mau và ch Sao gi là đốn tim? Pháp không có đốn tim, người có li căn, độn căn, nên gi là đốn tim.

Đến phẩm thứ tám nói về đốn và tiệm.

Về tông thú tức về sự tu hành không có chia ra Nam Bắc, đốn tiệm. Đốn là nhanh, tiệm là chậm, là thứ lớp. Sở dĩ có thứ lớp là tại sao? Vì căn cơ của người, người thông minh nghe ít hiểu nhiều, còn người tối tăm nghe nhiều hiểu ít; nghe nhiều hiểu ít phải tu từ từ, phải từ thấp đi lên lần lần. Còn người thông minh nghe liền hiểu, hiểu liền ứng dụng được thì đâu có từ từ, vì thế nói căn cơ lợi và độn; lợi căn tu nhanh, tiến nhanh nên gọi là đốn, còn độn căn thì chậm nên gọi là tiệm, đốn tiệm chia ra là tại căn cơ người, chứ không phải tại pháp chia ra như thế.

Nhưng đồ đệ ca ngài Thn Tú thường chê T sư Nam tông là không biết mt ch, có cái gì hay.

Dưới ngài Thần Tú có người đệ tử lớn là Phổ Tịch, kiêu ngạo, muốn làm tổ thứ bảy, thành ra muốn đưa thầy ông lên làm tổ thứ sáu, nhưng thầy ông không được truyền y bát nên ông bực tức nói tổ Huệ Năng dốt không biết chữ, không có gì hay, chỉ thầy ông mới là giỏi là hay v.v… xứng đáng làm tổ, do đó mới sanh ra sự tranh chấp. Không phải người lớn tranh chấp, đó là đồ đệ ở dưới tranh chấp.

Thn Tú nói rng:

– Kia (t Hu Năng) được trí vô sư, thâm ng được pháp thượng tha, tôi không bng vy. V li Thy tôi là Ngũ T, chính ngài truyn y pháp, há li suông ư?

Ngài Thần Tú thật rất tốt, chính ngài nhận rằng tổ Huệ Năng được trí vô sư, còn ngài học nhiều nhưng là trí hữu sư, tổ Huệ Năng đã thâm ngộ được pháp thượng thừa còn ngài không bằng; và chính Ngũ Tổ truyền y bát cho tổ Huệ Năng thì đâu phải là chuyện nói suông! Như vậy ông thầy thì hiểu, nhưng học trò vì ngô ngã nên sanh việc chia rẽ khinh chê.

Tôi hn không th đi xa để thân cn, lung th ân quc vương, vy nhng người các ông không nên kt đây, (tức là không nên ngưng trệ ở đây), nên đến Tào Khê tham hi.

Như vậy thì quá tốt, sánh với hiện nay có ai bì nổi ngài Thần Tú không? Có ai dám bảo học trò đi nơi khác học không? Hay là bảo: “Thôi ở đây tôi dạy cho đủ rồi đi đâu làm chi, bỏ thầy đi là bất hiếu v.v…”

Mt hôm ngài sai đệ t là Chí Thành rng:

– Ông thông minh nhiu trí, nên vì tôi mà đến Tào Khê nghe pháp, nếu nghe được điu gì, hết lòng ghi ly, tr v nói cho tôi nghe.

Chí Thành vâng mnh đến Tào Khê, theo chúng tham thnh, không nói t đâu đến.

Chí Thành đến Tào Khê nhưng không có trình, không xin chi cả, cứ theo chúng vào học.

Khi y Lc T bo chúng rng:

– Ngày nay có người trm pháp đang n trong hi này.

Chí Thành lin ra l bái và thưa đầy đủ vic ca ông. T bo:

– Ông t Ngc Tuyn li nên là k do thám.

Chí Thành đáp:

– Không phải.

T hi:

– Sao được không phi?

Chí Thành thưa:

– Chưa nói là phi, đã thưa ri là không phải.

Tức là ngài nói rõ đến mà làm thinh là ăn trộm, còn đã thưa trình rồi thì không còn là ăn trộm nữa.

T bo:

– Thy ông dùng cái gì ch dy chúng?

Chí Thành thưa:

– Thường ch dy đại chúng tr tâm quán tnh, thường ngi chng nằm.

Trụ tâm quán tịnh là trụ tâm lại và nhìn thấy chỗ lặng lẽ đó và thường ngồi thiền chứ không có nằm.

T bo:

– Tr tâm quán tnh là bnh ch không phi thin, thường ngi là câu chp nơi thân, đối vi lý có li ích gì.

Hãy lng nghe bài k ca tôi đây:

Sanh lai ta bt nga,

T kh nga bt ta,

Nguyên th xú ct đầu,

Hà vi lp công khóa.

Khi sống ngồi thiền mãi không nằm, khi chết nằm luôn không ngồi, có ai chết rồi mà ngồi dậy không? Như vậy vốn là một khúc xương thúi, vì sao mà lập công khóa? Nằm và ngồi chẳng qua là xương sống dựng đứng lên hay nằm ngã xuống, dựng lên gọi là ngồi, ngã xuống gọi là nằm. Như vậy nằm ngồi vốn là một khúc xương thúi, là cái hình thức, đâu có gì quan trọng mà lấy đó làm công phu tu hành. Tu hành là điểm nào nữa kia, chứ không phải hình thức đó, nhưng hiện nay thấy ai ngồi được nhiều thì thiên hạ phục lắm. Thế nên ở đây tuy dạy tu thiền nhưng ngồi tối đa là hai giờ rồi xả, chứ không ngồi hoài vì chúng ta tu cũng phải có chút ít công khóa chừng mực, nhưng thật ra chủ tâm là làm sao ngộ được đạo, chứ không phải lấy việc ngồi làm sở trường.

Chí Thành li l bái thưa rng:

– Đệ t ch đại sư Thn Tú, hc đạo chín năm mà không được khế ng. Ngày nay nghe Hòa thượng nói mt bài k lin khế ng được bn tâm. Sanh t là vic ln, đệ t xin Hòa thượng vì lòng đại bi ch dy thêm.

T bo:

– Tôi nghe Thy ông dy hc nhân pháp gii định tu, chưa biết Thy ông nói gii định tu, hành tướng như thế nào, ông vì tôi nói xem.

Chí Thành thưa:

– Đại sư Thn Tú nói: “Các điu ác ch làm gi là gii, các điu thin vâng làm gi là tu, t tnh ý mình gi là đị” Ngài Thn Tú nói như thế, chưa biết Hòa thượng ly pháp gì dy người?

Hiện nay thường trên lá phái bằng chữ nho, chúng ta thấy có mấy câu: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.” Đây là bốn câu kệ của Phật Ca-diếp, đó là lời dạy chung của chư Phật. Ngài Thần Tú cũng dạy chư ác mạc tác là giới, chúng thiện phụng hành là tuệ, vì có trí tuệ mới biết điều thiện mà làm, tự tịnh kỳ ý là định.

T bo:

– Nếu tôi nói có pháp cho người tc là nói di ông, ch tùy phương m trói, gi danh là tam-mu Như Thy ông nói gii định tu tht là không th nghĩ bàn, nhưng ch thy gii định tu ca tôi li khác.

Chí Thành thưa:

– Gii định tu ch là mt th vì sao li có khác?

T bo:

– Thy ông nói gii định tu là tiếp người Đại tha, còn tôi nói gii định tu là tiếp người Ti thượng tha, ng hiu chng đồng, thy có mau và chm; ông nghe tôi nói cùng vi kia đồng hay chăng? Tôi nói pháp chng lìa t tánh, lìa th nói pháp thì gi là nói tướng, t tánh thường mê, phi biết tt c muôn pháp đều t nơi t tánh khi dng, y là pháp chân gii, chân định, chân tu, hãy lng nghe tôi nói k đây:

Tâm địa vô phi t tánh gii,

Tâm địa vô si t tánh tu,

Tâm địa vô lon t tánh định,

Bt tăng bt gim t kim cang,

Thân kh thân lai bn tam-mui.

Ngay nơi đất tâm mình mà không có lỗi gọi là t tánh gii; đất tâm không si tức là ngay nơi bản tâm mình mà hằng giác hằng liễu gọi là t tánh tu, chứ không phải vâng làm những điều lành mới là tuệ; ngay nơi tâm mình không loạn gọi là t tánh định. Ba điểm này để tâm nghiệm xét thì thấy hai bên dạy khác nhau. Không làm các điều ác gọi là giới; làm các điều ác là thân làm, khẩu làm, thân và khẩu là tướng bên ngoài, ngoài thân hành động, miệng nói năng mới gọi là phạm, thân khẩu ngừa tránh làm những điều ác gọi là giới. Còn Tổ bảo: Ngay nơi tâm mình không dấy niệm ác đó là giới, vừa dấy niệm ác thì đã phạm giới; thành ra một bên ở ngoài ngọn, một bên đi tận gốc. Thế nên nói kia là tướng, đây là tánh, rõ ràng như vậy. Vâng làm các điều lành là tuệ, nói và làm những điều lành tức là hành động, cũng là tướng bên ngoài; lựa điều lành mà làm thì tuệ đó là tuệ của suy tư, của phán xét, tuệ của cái động bên ngoài; còn ngay trong tâm mình hằng liễu liễu thường tri thì tuệ đó là sẵn ở trong tâm, đó mới thật là tuệ. Chúng ta thấy rõ một bên thuộc về tướng, một bên thuộc về tánh. Tướng là ở ngoài hành động, tánh là đi thẳng vào cội nguồn của tâm. Định của ngài Thần Tú dạy là trụ tâm quán tịnh để định, như vậy lấy cái lặng lẽ làm cảnh để quán, định đó có cảnh bị quán và người hay quán; còn ngay nơi tâm mình không dấy loạn đó là định thì định đó không còn năng sở nữa. Như vậy chúng ta thấy Lục Tổ chỉ thẳng chỗ tột cùng, nên nói kia tiếp người Đại thừa, đây là tiếp người Tối thượng thừa. Tóm lại, người Đại thừa làm những điều lành, nói những điều lành, cứu giúp người, ví như nói bố thí, trì giới, nhẫn nhục v.v… nhưng vẫn còn là ở hình tướng, còn Tối thượng thừa là bất cứ điều gì cũng không lìa tâm tánh, ngay nơi tâm tánh mà ứng dụng tu, ngay nơi tâm tánh mà sống. Hiểu như thế mới không lầm lẫn, mới hiểu tại sao ngài nói ngài là Tối thượng thừa, bên kia là Đại thừa, tức là thấp hơn ngài một bậc. Thấp tại chỗ nào? Vì bên kia ở ngoài tướng, còn đây là ngay trong tâm tánh, pháp Tối thượng thừa là pháp chỉ thẳng tâm tánh.

Chng tăng chng gim t kim cang, tự thể kim cang của mình là không thêm không bớt, vừa thêm vừa bớt tức là có sai biệt, có biến động, còn thể đó như như, không tăng không giảm, gọi là kim cang. Thân đến thân đi vn tam-mui, nếu nơi tâm mình hằng không thêm, không bớt, không động, không tịnh thì dù thân này tới lui qua lại nhưng vẫn ở trong chánh định, chánh định đó không xuất không nhập. Trái lại nếu ngồi kìm mới được định, buông ra thì loạn, đó là có xuất có nhập, mà có xuất có nhập tức không phải là đại định.

Chí Thành nghe k ri hi t, mi trình mt bài k:

Ngũ un huyn thân,

Huyn hà cu cánh,

Hi thú chân như,

Pháp hoàn bt tnh.

Như vậy nghe Tổ nói, Chí Thành liền tỉnh ngộ. Nơi ngài Thần Tú, Chí Thành thấy ngài dạy về hình thức, bắt ngồi nhiều, bắt làm lành và giữ không làm ác, tức là căn cứ trên thân ngũ uẩn, nhưng thân ngũ uẩn là thân huyễn hóa, nếu y cứ vào thân huyễn hóa tu thì làm sao được cứu cánh? Nếu xoay lại để tìm chân như thì pháp trở thành bất tịnh, quán để cầu tịnh thì tịnh đó mất rồi! Tóm lại, hai câu trên là căn cứ vào thân tướng mà tu nên chưa phải là cứu cánh; hai câu sau là tìm chân như, mà quán tịnh thì trở thành bất tịnh. Như vậy là Chí Thành hiểu được ý của Lục Tổ, nên Lục Tổ liền ấn khả.

T lin n kh đó, li bo Chí Thành rng:

– Gii định tu ca Thy ông là khuyên dy người tiu căn tiu trí, còn gii định tu ca tôi là dy người đại căn đại trí. Nếu ng được t tánh cũng chng lp Bđề, Niết-bàn, cũng chng lp gii thoát tri kiến, không mt pháp có th được mi hay dng lp muôn pháp. Nếu hiu được ý này cũng gi là thân Pht, cũng gi là Bđề Niết-bàn, cũng gi là gii thoát tri kiế Người thy tánh lp cũng được, không lp cũng được, đi li t do, không b tr ngi, ng dng tùy vic làm, nói năng tùy đáp, khp hin hóa thân, chng lìa t tánh, lin được t ti thn thông, du hý tam-mui, y gi là kiến tánh.

Chí Thành li thưa:

– Thế nào là nghĩa chng lp?

T bo:

– T tánh không li, không si, không lon, nim nim Bát-nhã quán chiếu, thường lìa pháp tướng, t do t ti, dc ngang trn được, có gì nên lp? T tánh t ng, đốn ng, đốn tu cũng không th lp, cho nên chng lp tt c pháp. Các pháp là lng l, có th lp gì?

Chúng ta thấy Tổ dạy thật là thấu đáo. Tôi nhắc lại để thấy điểm Tổ nói. Tổ bảo: Nếu ngộ tự tánh mà tu thì không lập Bồ-đề, không lập Niết-bàn, không lập chân như, giải thoát gì cả. Tại sao không lập? Vì ngay thể đó là như vậy, nó không có tên, bởi không tên nên không lập, nhưng vì tùy duyên muốn cho người ta hiểu nên lập Bồ-đề, chân như, Niết-bàn, vì thế lập cũng được, không lập cũng được. Còn người học đạo không hiểu cứ chấp theo danh từ Bồ-đề, chân như, Niết-bàn, nghe Tổ nói cái đó không tên thì giật mình. Hiểu thì lập cũng được, không lập cũng được, còn không hiểu, quen lập rồi nay nghe nói chỗ đó không có chân như, Niết-bàn, liền hoảng hốt sợ tu đến đó không có gì cả. Nhưng không ngờ khi thấy được cái thật thì cái thật đó nguyên là không tên, sở dĩ có tên là tùy duyên lập để cho người ta hiểu thôi, chứ đâu phải tên đó là thật! Cũng như mỗi người mang một cái tên, tên đó là do bản chất của mình mà thành hay là cái tên giả đặt bên ngoài? Tên là cái giả đặt bên ngoài, còn bản chất là cái của mình. Khi nói đến ai nếu không nói tên, người ta thấy như khó hiểu, nên tên chỉ là giả danh để giản trạch người A khác với người B, người C… Nghĩa là mỗi người khác nhau trên danh tự, chứ sự thật bản chất của mỗi người tự là như thế, không có tên. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy chủ yếu của Tổ dạy là đi thẳng vào tâm tánh, người ngộ được tâm tánh thì lập cũng được, không lập cũng được, còn không ngộ tâm tánh nghe nói tu không cần Bồ-đề thì hoảng sợ, vì không cần Bồ-đề thì tu làm chi, chứ không ngờ đến được chỗ đó rồi thì tên không còn quan trọng nữa. Người đến được chỗ đó thì đi lại tự do không bị trệ ngại, ứng dụng thì tùy tác, nếu ai hỏi gì liền đối đáp không cần phải suy nghĩ; nếu nhận được rồi thì không nói sai, còn chúng ta hiện nay vì không thấy, vì chưa nhận được, dù suy nghĩ để nói cho đúng nhưng rồi cũng sai. Thí dụ người ta hỏi “tự tánh như thế nào”, chúng ta suy nghĩ một lúc rồi nói “chắc tự tánh như thế này, như thế kia v.v…” nhưng càng nói thì càng sai vì chúng ta chưa thấy, còn người thấy rồi nói cách nào cũng được, có khi nạt, có khi hét, có khi đánh, làm thế nào cũng đúng cả. Hiểu như thế chúng ta mới thấy sự tự tại của chư tổ.

Trở về tự tánh rồi thì tự tánh là Bát-nhã, là không si, không loạn, không có lỗi, không kẹt với các tướng nên nói thường lìa pháp tướng, đạt đến đó thì tung hoành tự do. Như vậy là chỗ tu, không có gì là thứ lớp, ngay nơi đó là thể, không có dấy niệm xấu đó là giới, hằng sáng suốt đó là tuệ, hằng yên lặng đó là định, chứ không có thêm cái gì bên ngoài cả. Người tu thường nói tu phải đủ giới định tuệ, nếu chúng ta hướng về tự tánh thì tự tánh đầy đủ giới định tuệ có thiếu sót gì đâu. Nhưng đa số người cứ lập giới tướng, cho đó là tối thượng mà quên ngay bản tánh! Nếu người nào giữ suốt ngày không dấy niệm ác thì người đó có giữ giới chưa? Những giới tướng Phật chế ra đối với người đó là dư rồi! Nếu người đó hằng ngày, hằng giờ hằng sáng suốt thì đó là tuệ; còn tâm họ hằng lặng lẽ, đi, đứng, nằm, ngồi vẫn lặng lẽ thì đó là định, đâu cần phải ngồi mới là định. Hiểu như thế chúng ta mới thấy giới định tuệ sẵn nơi bản tâm, người biết tu hướng về đó sống thì lúc nào cũng có đủ giới định tuệ. Trái lại người không biết cứ chạy theo giới tướng, mà chạy theo giới tướng nếu có giới nào giữ không được thì sầu khổ. Thí dụ như giới gần nhất là Tỳ-kheo không rời ba y, giả sử có người cần đi đâu gấp, không kịp mang theo đủ ba lá y thì sầu khổ vì phạm giới mất y. Nếu hướng về giới tánh mà sống, chúng ta thấy nhẹ nhàng thảnh thơi, nghĩa là luôn luôn giữ tâm không dấy niệm ác, đó là giữ giới, như vậy ai tu cũng được, xuất gia tại gia đều tu được cả, vì thế Tổ bảo rằng tại gia, xuất gia đều tu được không phải đợi xuất gia mới tu.

Chí Thành lin l bái, nguyn làm người hu h, sm chiu không lười mi. Chí Thành là người Thái Hòa, Cát Châu.

Nghe được những lời dạy này, ngài Chí Thành ngộ, nên đảnh lễ Tổ một lần nữa và nguyện làm người hầu hạ sớm chiều không lười mỏi. Lúc này ngài quên về trình lại thầy tức ngài Thần Tú.

Thiền sư Chí Triệt:

Tăng Chí Trit, quê Giang Tây, h Trương tên Hành Xương, thu nh là mt hip khách. T khi chia ra hai tông Nam Bc, hai v Tông ch tuy quên b ngã, nhưng đồ chúng tranh nhau khi yêu ghét. Khi y đệ t ca Bc tông t lp ngài Thn Tú làm t th sáu mà k (vì) Lc T được truyn y, mi người đều nghe nên mi dy Hành Xương đến ám sát Lc T.

Người tu mà cũng còn có những việc làm như vậy, giữ giới mà đi giết Tổ thì thế nào? Thế nên nhiều khi ái pháp quá cũng thành bệnh nặng, tức là mình quý thầy của mình, muốn đưa thầy mình lên, nhưng có ông thầy khác hơn thầy mình thì không bằng lòng, muốn giết đi nên trở thành người ác, đó là tâm bệnh của người tu.

T tâm thông d biết vic y nên lin để mười lượng vàng dưới tòa. Khi y ban đêm Hành Xương vào trong tht toan mun hi T, T đưa c cho chém, Hành Xương lin vung kiếm cht ba ln đều không thương tn. T bo:

– Kiếm chánh chng tà, kiếm tà chng chánh, ch n vàng ca ông, không n mng ca ông.

Hành Xương hong ht té xu, giây lâu mi tnh, cu xin sám hi, lin nguyn xut gia. T lin cho vàng bo:

– Ông hãy đi, e đồ chúng tr li hi ông, mt ngày khác ông có th đổi hình dáng mà tr li, tôi s nhn ông.

Thật lòng đại từ đại bi không thể kể xiết! Nếu có ai hại chúng ta như vậy, mình không đánh đuổi đi là may rồi. Đây Tổ còn đem cho vàng, bảo đi đi, khi nào đổi hình dáng trở lại Tổ độ cho. Sở dĩ Tổ từ bi như thế là do ngài thấy được nguyên nhân, quả báo từ đời trước nợ nần với nhau thế nào, ngài thấy rõ không lầm nên dặn khi khác trở lại.

Hành Xương vâng li dy, gia đêm trn đi, sau theo tăng xut gia, th gii C túc, tinh cn tu hành. Mt hôm ông nh li li T, t xa đến l ra mt T. T bo:

– Tôi nh ông đã lâu, sao ông đến mun vy?

Lời này nếu không phải là thánh thì không nói được! Người hại mình khi trở lại cho mình độ thì lễ năm lần mười lượt mình mới tiếp, chứ đâu có nói: Tôi trông ông đã lâu, sao ông đến muộn vậy? Thật là lòng đại bi không có giới hạn, dù người hại mình nhưng vẫn nhớ độ họ không quên, đó mới thật là đại bi.

Hành Xương thưa:

– Trước nh ơn Hòa thượng xá ti, ngày nay tuy xut gia kh hnh, trn khó đền đáp ân đức, đâu mong được truyn pháp độ sanh ư? Đệ t thường xem kinh Niết-bàn, chưa hiu được nghĩa thường và vô thường, cúi xin Hòa thượng t bi lược vì gii nói.

T bo:

– Vô thường tc là Pht tánh, hu thường tc là tâm phân bit tt c pháp thin ác vậy.

Tổ nói như thế, ai mà không nghi? Kinh Niết-bàn nói: Niết-bàn là thường, các pháp là vô thường, nhưng nay hỏi thì Tổ bảo Phật tánh là vô thường, còn tâm phân biệt tất cả pháp thiện ác là thường.

Hành Xương thưa rng:

– Hòa thượng nói pháp rt trái vi văn kinh.

T bo:

– Ta được truyn tâm n ca Pht, đâu dám trái vi kinh Phật.

Hành Xương thưa:

– Kinh nói Pht tánh là thường, Hòa thượng li nói là vô thường, các pháp thin ác cho đến tâm Bđề đều là vô thường mà Hòa thượng li nói là thường, đây tc trái nhau, khiến cho hc nhân càng thêm nghi ng.

T bo:

– Kinh Niết-bàn thu xưa tôi có nghe ni Vô Tn Tng đọc mt ln lin vì bà ging nói, không có mt ch, mt nghĩa nào không hp vi văn kinh, cho đến vì ông nói cũng trn không có hai thuyết.

Hành Xương thưa:

– Hc nhân thc lượng cn ti, cúi mong Hòa thượng lượng theo mà t bi khai th.

T bo:

– Ông biết chăng, Pht tánh nếu thường li nói gì là các pháp thin ác, cho đến cùng kiếp không có mt người phát tâm Bđề, nên tôi nói là vô thường, mà chính là đạo chân thường ca Pht nói.

Nếu Phật tánh thường thì làm sao nói các pháp từ tự tánh sanh, tự tánh tức là Phật tánh, nếu thường thì đâu sanh các pháp. Nhưng nó sanh các pháp tức là vô thường, cho đến cùng kiếp không có ai phát Bồ-đề tâm, có phát Bồ-đề tâm tức là vô thường, nghĩa là có ác rồi mới phát tâm lành, nếu luôn lành thì có phát tâm lành chi nữa. Chúng ta thường nói: tôi phát Bồ-đề tâm để học đạo, là vì trước không có nay mới có, như thế là vô thường chứ không phải thường. Nhưng Tổ lại bảo tiếp: “Tôi nói vô thường mà chính là đạo chân thường của Phật nói!” Chúng ta nên hiểu rằng Phật nói Phật tánh là thường là y cứ trên thể mà nói, còn Tổ nói vô thường là y cứ trên dụng mà nói. Hành Xương nghe trong kinh Niết-bàn nói thì quen chấp theo thể, nay ngược lại Tổ nói cái dụng cho ông thấy. Nói thể nói dụng là phương tiện, đâu có thật, đây là cái khéo của Tổ.

Li tt c pháp nếu là vô thường, tc mi vt đều có t tánh, dung th sanh t mà tánh chân thường có ch bt biến, nên tôi nói thường chính là Pht nói nghĩa chân vô thường.

Ngài nói tất cả pháp nếu vô thường thì mỗi vật đều có tự tánh, tuy là thọ nhận sanh tử, có biến hoại nhưng trong đó vẫn có một cái thường, vì có tánh thường mới hiện ra được. Chúng ta có thể tạm ví dụ như làm thành bình, nồi, lò, lu v.v… là từ đất, như vậy bình, lò, nồi, lu v.v… có hình, có tướng, có hình có tướng thì phải hoại, những hình tướng đó hoại rồi, đất có mất hay không? Tất cả hình tướng đó là vô thường nhưng đất là thường, dù khi chưa làm thành bình, đất vẫn là đất, khi tan rã cũng trở về đất, có đổi thay chi đâu, đổi thay chỉ là đổi hình tướng của nồi lu v.v… Cũng vậy, tất cả pháp sanh ra, tuy hình tướng là vô thường nhưng thể của pháp có cái chân thường ở trong, vì vậy nên ngài nói thẳng vào thể nó là thường.

Trong đoạn trước bàn về Phật tánh, kinh nói Phật tánh là thường là đứng về thể, ngược lại đứng về dụng ngài nói Phật tánh là vô thường, vì nếu là thường tại sao có sanh thiện ác, có phát Bồ-đề tâm v.v…? Nếu có sanh thiện ác, có phát Bồ-đề tâm tức là vô thường. Như vậy người ta chỉ nhận được cái thể trong kinh nói mà không nhận được cái dụng, nên ngài lấy dụng để cho người ta hiểu thể, thể dụng đối lập để phương tiện giáo hóa. Đến đoạn này người ta chấp trên tướng trên dụng là vô thường thì ngài nói có tánh thường, đó là lối nói khéo của ngài.

Pht xưa vì phàm phu ngoi đạo chp tà thường, còn các hàng Nh tha thường mà chp là vô thường, cng thành tám th điên đảo, nên trong giáo lý liu nghĩa kinh Niết-bàn phá thiên kiến kia mà hin bày chân thường, chân lc, chân ngã, chân tnh. Nay ông y theo li nói mà trái vi nghĩa, dùng đon dit vô thường và xác định cái t thường mà lm hiu li nói mu nhim viên diu ti hu ca Pht, dù có xem mt ngàn biến kinh thì có li ích gì?

Tôi giải thích rõ đoạn này. Tổ bảo xưa đức Phật vì phàm phu và Nhị thừa chấp tám thứ điên đảo. Phàm phu có bốn điên đảo, đó là gì? Thân ngũ uẩn vô thường mà chấp là thường. Chúng ta có chấp nó là thường không? Nếu ai cũng biết thân này là vô thường thì đâu có chấp thường. Nếu ai cũng thấy nó vô thường thì lúc nào cũng phải có niệm mạng sống chỉ trong hơi thở, nhưng chúng ta có thấy như vậy không? Chúng ta còn tính kế trăm năm. Vì tính kế trăm năm nên chúng ta thấy nó là thường, nếu biết nó vô thường thì tính kế trăm năm làm gì. Trên lý, nghe Phật nói vô thường chúng ta cũng hiểu vậy, nhưng trong cuộc sống, chúng ta vẫn tính kế lâu dài, tính năm nay làm việc gì, năm tới, năm tới nữa làm việc gì v.v… như thế là chúng ta đâu thấy nó vô thường. Thế nên thấy dường như chúng ta không chấp, nhưng sự thật chúng ta luôn luôn chấp thân là thường. Thân vô thường mà chấp là thường, đó là cái điên đảo thứ nhất.

Đã là vô thường tức là đổi thay, là bại hoại nên gọi là khổ, nhưng chúng ta lại thấy lúc nào cũng vui, nên mở miệng ra là nói hạnh phúc v.v… Hãy kiểm lại xem một ngày chúng ta vui được bao nhiêu giờ? Độ vài tiếng đồng hồ! Vì là vô thường nên gốc là khổ, không phải vui mà chúng ta lại tưởng là vui, khổ mà tưởng là lạc, đó là cái điên đảo thứ hai.

Thân này nhơ nhớp nhưng chúng ta có nghĩ nó nhơ nhớp đâu. Có ai lúc nào cũng nhớ thân mình nhơ nhớp không? Tắm rửa, chải đầu v.v… thấy mình cũng đẹp cũng sạch sẽ, nếu ai chê mình dơ, hôi hám… là nổi giận liền. Nếu biết mình dơ thì người chê mình dơ, mình đâu có giận. Trong nhà Phật thường nói thất khiếu cửu huyệt tức là bảy lỗ hoặc chín lỗ thường rịn ra những chất, những chất đó sạch không? Rịn ra mũi, nước mũi sạch không? Rịn ra tai sạch không? Đến khối ghèn ở mắt có sạch không? Đó là nói phần trên mặt mà chúng ta còn không ưa nổi, huống nữa là những cặn bã đi xuống, nếu thân sạch thì đâu có những chuyện đó. Rõ ràng như thế mà lúc nào cũng thấy thân là sạch, thấy trái với lẽ thật không phải điên đảo là gì? Bất tịnh mà tưởng là tịnh, đó là cái điên đảo thứ ba.

Lại chấp tứ đại, thân xác thịt là ta, nhưng khi hỏi trong tứ đại cái gì là ta thì không ai đáp được. Đến phần tinh thần, hỏi thọ tưởng hành thức, cái nào là ta cũng không nói được. Như vậy chỉ là một hợp thể gồm nhiều thứ, tùy duyên hợp lại thành một khối tạm gọi là ta mà chúng ta lại chấp thật mình có chủ tể, lúc nào cũng nói tôi, tôi làm chủ. Vô ngã tưởng là ngã, không có chủ tể tưởng là có chủ tể là cái điên đảo thứ tư.

Tóm lại trong nhà Phật gọi bốn cái chấp điên đảo của phàm phu là vô thường chấp thường, khổ chấp lạc, bất tịnh chấp tịnh, vô ngã chấp là ngã.

Trái lại hàng Nhị thừa thấy thân này là vô thường, thân này là khổ, thân này là bất tịnh, thân này là vô ngã nên các vị chán sợ mà nhập Niết-bàn, vì thế Phật nói đó cũng là bốn cái điên đảo. Tại sao? Tuy thân này vô thường, nhưng trong cái vô thường đó có cái chân tánh thường; thân này là khổ, nhưng nếu ngộ được chân tánh thì là lạc; thân này tuy bất tịnh, nhưng ngộ được chân tánh thì là tịnh; thân này là vô ngã, nhưng chân tánh là chủ thể, là ngã. Như khi chúng ta nhận được cái hằng liễu tri của mình, thử hỏi cái đó tịnh hay bất tịnh? Nó là thanh tịnh nên nói pháp thân thanh tịnh, pháp thân là ngã chứ gì, làm sao mất được. Như vậy đối với phàm phu, các hàng Nhị thừa thấy đúng lẽ thật, nhưng thấy đúng lẽ thật trên tướng mà không nhận ra tánh nên đó cũng là điên đảo.

Bốn điên đảo của Nhị thừa cộng với bốn điên đảo của phàm phu thành ra bát đảo. Phật nói pháp là vì phá cái chấp của phàm phu, rồi đến phá chấp của Nhị thừa, để đưa đến Niết-bàn đầy đủ bốn đức: thường, lạc, ngã, tịnh. Đó là yếu chỉ của kinh Niết-bàn.

Hành Xương bỗng nhiên đại ngộ, liền nói kệ rằng:

Nhân th vô thường tâm,

Pht thuyết hu thường tánh,

Bt tri phương tin gi,

Do xuân trì thp lch.

Ngã kim bt thi công,

Pht tánh nhi hin tin,

Phi sư tương th d,

Ngã dic vô s đắc.

Vì giữ tâm vô thường nên Phật nói có tánh thường, tức là vì hàng Nhị thừa thấy các pháp là vô thường nên đức Phật chỉ có tánh thường ở trong; không biết được phương tiện của Phật nói, ví như mùa xuân nhảy xuống ao để mò gạch. Đây là thí dụ trong kinh Niết-bàn để phân biệt hàng Nhị thừa với Bồ-tát. Vào một mùa xuân có một nhóm người bơi thuyền dạo chơi trên hồ nước trong, có người cầm viên ngọc bất chợt sẩy tay ngọc rớt xuống nước, ông ta hối bảo những người trên thuyền nhảy xuống hồ mò tìm. Những người ấy nhảy ùm xuống quơ mò được hòn gạch liền nắm lấy đưa lên nói được ngọc rồi, nhưng khi mở tay ra chỉ là hòn gạch. Khi ấy có một người trí chờ nước lóng trong, thấy rõ viên ngọc nằm chỗ nào, mới từ từ lặn xuống, nhẹ nhẹ đưa tay đến chỗ viên ngọc, nắm lấy đem lên. Hàng Nhị thừa giống như những người nhảy xuống ao lượm gạch đưa lên nói là ngọc, vì cứ nghĩ dưới ao có ngọc nên vội nhảy xuống, lượm được cái gì thì tin cái đó là ngọc, thật sự không phải ngọc mà lầm tưởng là ngọc. Hàng Bồ-tát như người khôn ngoan kia, đợi thấy rõ viên ngọc ở đâu mới từ từ lượm nó đem lên, đó mới là ngọc thật. Hàng Bồ-tát nhận được Phật tánh rồi mới tiến tu đến chỗ giác ngộ không lầm, còn hàng Nhị thừa chấp vào phương tiện Phật dạy để được định rồi hài lòng nơi đó, nhưng không ngờ là chưa đến cứu cánh. Thế nên người không hiểu phương tiện của Phật cũng chấp như người nhảy xuống ao lượm gạch vậy.

Nay tôi chẳng cần thực hiện công phu mà Phật tánh được hiện tiền, không phải thầy trao cho, tôi cũng không sở đắc.

T bo: – Nay ông mi trit vy, nên đặt tên ông là Chí Trit.

Chí Trit l t mà lui.

Thiền sư Thần Hội:

Có mt chú bé tên là Thn Hi Tương Dương, con nhà h Cao, mười ba tui, t chùa Ngc Tuyn đến tham l.

T hi:

– Tri thc t xa nhc nhn đến li đem được cái gc đến chăng? Nếu có gc thì nên biết được Ông ch, th nói xem?

Thn Hi thưa:

– Ly vô tr làm gc, thy tc là ch.

Ông Sa-di này có vẻ cứng cỏi rồi!

T bo:

– Ông Sa-di này đâu nên nói như thế.

Thn Hi lin hi:

– Hòa thượng ta thin li thy hay chng thy?

Tức là Hòa thượng tọa thiền lại thấy tánh hay không thấy tánh, rõ ràng là trẻ con, nếu không thấy tánh sao được truyền y làm Tổ.

T cm gy đánh ba gy hi:

– Tôi đánh ông đau hay chng đau?

Thần Hội cũng thật là gan.

Thn Hi đáp:

– Cũng đau cũng không đau.

Giả sử hiện nay mấy chú Sa-di bị đánh ba gậy thì cứ khóc thôi, chứ còn nói gì nữa!

T bo:

– Tôi cũng thy cũng chng thấy.

Thn Hi hi:

– Thế nào là cũng thy cũng chng thy?

T bo:

– Ch thy ca tôi thường thy nhng li lm nơi tâm mình, không thy phi quy tt xu ca người khác, y do cũng thy mà cũng chng thấy.

Vì là Sa-di nên Tổ phải dạy như thế.

Ông nói cũng đau cũng chng đau là thế nào? Nếu ông chng đau thì đồng như cây đá, nếu ông đau thì đồng vi phàm phu, tc khi sân hn, ông v trước thy và chng thy là hai bên, đau chng đau là sanh dit, ông t tánh li chng thy mà dám đùa vi người.

Tổ quở nặng.

Thn Hi lin l bái sám hi. T li nói: Tâm ông nếu mê chng thy thì hi thin tri thc để tìm đường, còn tâm ông nếu ng tc t thy tánh, y pháp tu hành, ông t mê không thy tâm mình, tr li hi ta thy cùng chng thy. Ta thy thì t biết há thay cái mê cho ông, nếu ông t thy cũng chng thay được cái mê cho ta, sao chng t biết t thy mà hi ta thy cùng chng thy.

Tổ quở thêm một lần nữa. Ngài Thần Hội mới mười ba tuổi nhưng thông minh, có lẽ cũng hơi hiểu nên tới lễ Tổ, khi Tổ hỏi thì đáp có vẻ cứng cỏi, nhưng đến khi hỏi Tổ ngồi thiền có thấy tánh hay không, liền hiện ra tướng con nít nên bị Tổ ra oai đập ba gậy. Người xưa đi học đạo là xem thường sự sống chết nên dù bị đánh cũng vẫn đối đáp như thường, còn chúng ta hiện nay nếu bị đánh như vậy thì khóc mướt rồi, đó là điểm đặc biệt.

Thn Hi li l hơn mt trăm ly, xin sám hi ti li ri siêng năng hu h bên cnh không ri.

Mt hôm T bo chúng:

– Tôi có mt vt không đầu, không đuôi, không danh, không t, không lưng, không mt, các người li biết chăng?

Thn Hi bước ra nói rng:

– Ấy là bn nguyên ca chư Pht, là Pht tánh ca Thn Hội.

Vì ngài còn trẻ, khi hiểu lời nói thì không thể làm thinh, nên đứng ra nói liền: Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.

T bo:

– Tôi đã nói vi ông không danh không t, ông lin gi là bn nguyên, là Pht tánh, ông nhm đi ly c tranh che đầu, cũng ch thành cái hng tông đồ ca tri giải.

Danh tự cũng như là một mớ cỏ che ngoài đầu chứ không phải là cái thật, phải thấy cái thật đó chứ đừng dùng danh tự.

Sau khi T dit độ, ngài Thn Hi vào Kinh Lc, hong truyn pháp đốn giáo Tào Khê, viết quyn Hin Tông Ký thnh hành đời, gi là thin sư Hà Trch.

T thy các tông nn vn nhau, đều khi tâm ác, phn nhiu nhóm dưới tòa ca T, ngài thương xót mi bo rng:

Người hc đạo, tt c nim thin, nim ác nên phi dp sch, không tên có th gi, y gi là t tánh, tánh không hai y gi là tht tánh, trên tht tánh dng lp tt c giáo môn, ngay li nói lin phi t thy.

Tổ thấy các tông phái khác nhau như về Thiền thì có Nam Bắc, hoặc là Tịnh hoặc là Mật tông v.v… phần nhiều nhóm họp dưới tòa của Tổ, vì họ thường nạn vấn nhau, đều khởi tâm ác, nên Tổ thương xót bảo cho tất cả biết rằng còn có một niệm thiện hay một niệm ác cũng phải dẹp sạch, cái không tên có thể gọi mới gọi là tự tánh; nếu còn nói đây là đốn, kia là tiệm, đây là Không tông, kia là Hữu tông v.v… còn chấp vào danh tự thì chưa phải là cái thật. Tánh không hai ấy gọi là thật tánh, trên thật tánh đó dựng lập các giáo môn, ngay đó mình phải thấy được tự tánh chứ đừng chấp.

Các người nghe nói, thy đều làm l, xin th ngài làm Thy.

——-

[1] Kinh Lạc tức là Lạc Dương, kinh đô nước Tàu về đời Hán.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.