Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải

I. Phẩm Hành Do



Chánh Văn:

Khi y Đại sư đến chùa Bo Lâm ti Thiu Châu, th s Vi C cùng vi quan liêu vào núi thnh Sư đến trong thành, chùa Đại Phm, ti ging đường vì chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Th s quan liêu hơn ba mươi người, Nho tông hc sĩ hơn ba mươi người, tăng ni đạo tc hơn mt ngàn người đồng thi làm l, nguyn được nghe pháp yếu. Lc T bo chúng rng:

Này Thin tri thc, Bđề t tánh xưa nay thanh tnh, ch dùng tâm này, thng đó trn được thành Pht. Này Thin tri thc, hãy lng nghe Hu Năng nói v hành do được pháp.

Nghiêm ph ca Hu Năng bn quán Phm Dương, b giáng đày ra Lĩnh Nam, làm thường dân Tân Châu. Thân này bt hnh, cha li mt sm, m góa con côi di đến Nam Hi, gian nan nghèo kh, thường ra ch bán ci. Khi y có mt người khách mua, bo gánh đến khách điếm, khách nhn ci xong, Hu Năng lãnh tin, lui ra khi ca, thy mt người khách tng kinh, Hu Năng mt phen nghe li kinh, tâm lin khai ng, bèn hi khách tng kinh gì, khách bo: “Kinh Kim Cang.” Hu Năng li hi: “ đâu đến th trì kinh này?”

Khách bo: “Tôi t chùa Đông Thin, huyn Hoàng Mai, K Châu đến. Chùa y do Ngũ t Hong Nhn đại sư làm ch giáo hóa, đệ t có hơn mt ngàn người, tôi đến đó l bái, nghe nhn kinh này. Đại sư thường khuyên k tăng người tc ch trì kinh Kim Cang lin được thy tánh, thng đó thành Pht.” Hu Năng nghe nói, do đời trước có duyên, mi được mt người khách cho Hu Năng mt s bc là mười lượng để giúp nuôi dưỡng m già và bo đến Hoàng Mai tham vn Ngũ T.

Hu Năng an trí m xong lin t giã ra đi, không hơn ba mươi ngày lin đến Hoàng Mai l bái Ngũ T. T hi: “Ngươi t phương nào đến, mun cu vt gì?” Hu Năng đáp: “Đệ t là dân Tân Châu thuc Lĩnh Nam, t xa đến l Thy, ch cu làm Pht, ch không cu gì khác!” T bo: “Ngươi là người Lĩnh Nam, li là người quê mùa làm sao kham làm Pht?” Hu Năng lin đáp: “Người tuy có Nam Bc nhưng Pht tánh vn không có Nam Bc, thân quê mùa này cùng vi Hòa thượng chng đồng, nhưng Pht tánh đâu có sai khác.” Ngũ T mun cùng tôi nói chuyn, li thy đồ chúng hai bên đông, mi bo theo chúng làm công tác. Hu Năng thưa: “Hu Năng xin bch Hòa thượng, t tâm đệ t thường sanh trí tu, không lìa t tánh tc là phước đin, chưa biết Hòa thượng dy con làm vic gì?” T bo: “K nhà quê này, căn tánh rt lanh li, ông ch nói na, xung nhà trù đi.” Hu Năng lui li nhà sau, có mt người cư sĩ sai Hu Năng ba ci giã go, tri hơn tám tháng. Mt hôm, T cht thy Hu Năng, mi bo: “Ta nghĩ ch thy ca ngươi có th dùng, nhưng s có người ác hi ngươi, nên không nói cùng ngươi, ngươi có biết chăng?” Hu Năng thưa: “Đệ t cũng biết ý ca Thy nên không dám đến nhà trên, để người không biết.”

Mt hôm, Ngũ T bo các đệ t: “Tt c hãy đến, ta nói vi các ông: Người đời sanh t là vic ln, các ông trn ngày ch cu phước đin, chng cu ra khi bin kh sanh t, t tánh nếu mê thì phước nào có th cu? Các ông, mi người hãy đi, t xem trí tu ca mình, nhn ly tánh Bát-nhã nơi bn tâm mình, mi người làm mt bài k đến trình cho ta xem, nếu ng được đại ý thì ta trao y pháp làm t th sáu. Phi nhanh đi, không được chm tr, suy nghĩ tc là không trúng. Người kiến tánh ngay li nói phi thy, nếu như người này dù khi múa đao gia trn cũng được thy tánh[1].”

Chúng được ch dy, tr v hp bàn vi nhau: “Tt c chúng ta không cn phi lng lòng dng ý làm k để trình Hòa thượng, đâu có li ích gì? Thượng ta Thn Tú, hin làm Giáo th sư, t là người được, chúng ta có gng làm k tng cũng ung dng tâm lc.” Mi người nghe li này, thy đều đồng ý nói: “Chúng ta v sau y ch thượng ta Thn Tú, nhc gì phi làm k.”

Thn Tú suy nghĩ: “Các người đều không trình k vì ta làm Giáo th sư cho h, ta cn phi làm k trình lên Hòa thượng; nếu không trình k thì Hòa thượng đâu biết được kiến gii trong tâm ta cn hay sâu? Ý ta trình k cu pháp thì tt, cu làm t thì xu, vì đồng vi tâm ca k phàm, mun cướp được ngôi v thánh không khác! Nếu chng trình k thì trn không được pháp. Rt khó! Rt khó!”

Trước nhà ca Ngũ T có mt hành lang ba gian, Ngũ T nghĩ mi ông cung phng Lư Trân đến v Lăng-già biến tướng và Ngũ T huyết mch đồ[2] để lưu truyn cúng dường. Ngài Thn Tú làm k ri, my phen mun trình, đi đến nhà trước thì trong tâm hong ht, khp thân đổ m hôi, nghĩ trình chng được. Trước sau tri qua bn ngày, đến mười ba ln, trình k không được. Thn Tú mi suy nghĩ: “Chng bng đến dưới hành lang viết (bài k), Hòa thượng đi qua xem thy, nếu cht bo rng hay thì mình ra l bái thưa ca Thn Tú làm; nếu nói không kham, tht ung công núi my năm, th người l bái, li tu đạo gì?” Canh ba đêm y, không cho người biết, ngài t cm đèn viết bài k vách phương nam để trình ch tâm mình thy được. Bài k rng:

Thân là ci bđề,

Tâm như đài gương sáng.

Luôn luôn phi lau chùi,

Ch để dính bi bm.

(Thân th bđề th,

Tâm như minh cnh đài.

Thi thi cn pht thc,

Vt s nh trn ai.)

Ngài Thn Tú viết k xong, lin tr v phòng, mi người đều chng biết. Thn Tú li suy nghĩ: “Ngày mai Ngũ T thy bài k, nếu hoan h tc ta cùng pháp có duyên, nếu nói không kham, t là ta mê, nghip duyên đời trước nng n, không hp được pháp, tht là thánh ý khó lường.” Trong phòng suy nghĩ, ngi nm chng an cho đến canh năm.

Ngũ T đã biết Thn Tú vào ca chưa được, không thy t tánh. Sáng hôm sau, T gi ông Lư cung phng đến hành lang phía nam để v đồ tướng trên vách, cht thy bài k, ngài bo Cung phng rng: “Thôi chng cn phi v, nhc công ông t xa đến. Trong kinh có nói: phàm nhng gì có tướng đều là hư vng, ch để li mt bài k này cho người tng đọc th trì, y bài k này tu thì khi đọa trong ác đạo, y bài k này tu thì được li ích ln.” Khiến đồ đệ thp hương l bái cung kính và tng đọc bài k này tc được thy tánh. Môn nhân tng bài k đều khen: “Hay thay!”

Đến canh ba, T mi gi Thn Tú vào trong tht hi: “K đó, phi ông làm chăng?” ngài Thn Tú thưa: “Tht là con làm, chng dám vng cu t v, ch mong Hòa thượng t bi xem đệ t có chút ít trí tu chăng?” T bo: “Ông làm bài k này chưa thy được bn tánh, ch đến ngoài ca, chưa vào được trong ca, kiến gii như thế tìm Vô thượng Bđề, trn không th được. Vô thượng Bđề phi được ngay nơi li nói mà biết bn tâm mình, thy được bn tánh mình chng sanh chng dit, đối trong tt c thi mi nim mi nim t thy, muôn pháp đều không kt, mt chân tt c đều chân, muôn cnh t như như, tâm như như đó tc là chân tht. Nếu thy được như thế tc là t tánh Vô thượng Bđề. Ông hãy đi, mt hai ngày sau, suy nghĩ làm mt bài k khác đem li tôi xem, bài k ca ông nếu vào được ca, s trao y pháp cho ông.” Ngài Thn Tú làm l lui ra, tri qua my ngày, làm k cũng không thành, trong tâm hong ht, thn tư bt an, ví như trong mng, đi ngi không vui.

Li hai ngày sau, có mt chú bé đi qua ch giã go, đọc bài k này. Hu Năng va nghe lin biết bài k này chưa thy được bn tánh. Tuy chưa nh ch dy mà sm đã biết được đại ý, bèn hi chú bé: “Tng đó là k gì?” Chú bé đáp: “Cái ông nhà quê không biết”, Đại sư nói: Người đời sanh t là vic ln, mun được truyn y pháp, khiến đệ t làm k trình ngài xem, nếu ng được đại ý, lin trao y pháp làm t th sáu. Thượng ta Thn Tú viết bài k Vô tướng vách hành lang phía nam, Đại sư khiến người đều đọc, y k này tu s khi đọa đường ác, y k này tu s có li ích ln.

Hu Năng thưa: “Thượng nhân, đã hơn tám tháng, tôi nhà trù giã go, chưa tng đến nhà trên, mong Thượng nhân dn tôi đến trước bài k l bái[3].” Chú bé dn ngài đến trước bài k l bái. Hu Năng bo: “Hu Năng không biết ch, nh Thượng nhân vì tôi đọc.” Khi y có quan Bit giá Giang Châu h Trương tên Nht Dng lin to tiếng đọc. Hu Năng nghe ri bèn nói: “Tôi cũng có mt bài k, mong Bit giá vì tôi viết.” Quan Bit giá nói: “Ông cũng làm k na sao? Vic này tht ít có!” Hu Năng nói vi Bit giá rng: “Mun hc đạo Vô thượng Bđề, không được khinh người mi hc. K h h cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên ti.” Quan Bit giá nói: “Ông ch tng k, tôi vì ông viết. Ông nếu được pháp, trước phi độ tôi, ch quên li này!” Hu Năng đọc bài k:

Bđề vn không cây,

Gương sáng cũng chng đài.

Xưa nay không mt vt,

Ch nào dính bi bm?

(Bđề bn vô th,

Minh cnh dic phi đài.

Bn lai vô nht vt,

Hà x nh trn ai?)

Khi viết bài k ri, đồ chúng thy đều kinh hoàng, không ai mà chng xuýt xoa, mi người bo nhau rng: “L thay! Không th do tướng mo mà đoán người, đã bao lâu nay sai nhc thân B-tát làm vic.” T thy c chúng đều kinh ngc, s có người làm hi, mi ly giày xóa hết bài k, nói: “Cũng chưa thy tánh.” Chúng cho là đúng. Ngày kế, T thm đến ch giã go thy Hu Năng đeo đá giã go, mi bo rng: “Người cu đạo vì pháp quên mình đến thế ư?” T li hi: “Go trng hay chưa?” Hu Năng thưa: “Go trng đã lâu, còn thiếu gin sàng.” T ly gy gõ vào ci ba tiếng ri đi. Hu Năng lin hi được ý T, đến khi trng đổ canh ba lin lén vào tht. T ly ca-sa che chung quanh không để người thy, vì nói kinh Kim Cang, đến câu “ưng vô s tr nhi sanh k tâm”, Hu Năng ngay li đó đại ng, thy tt c muôn pháp chng lìa t tánh, lin thưa T rng:

Đâu ng t tánh vn t thanh tnh,

Đâu ng t tánh vn không sanh dit,

Đâu ng t tánh vn t đầy đủ,

Đâu ng t tánh vn không dao động,

Đâu ng t tánh hay sanh muôn pháp!

Ngũ T biết Hu Năng đã ng được bn tánh mi bo: “Chng biết bn tâm, hc pháp vô ích, nếu biết được bn tâm mình, thy được bn tánh mình, tc gi là Trượng phu, là Thy ca tri người, là Pht.” Canh ba th pháp, người trn không biết, T lin truyn pháp đốn giáo và y bát, nói rng: “Ngươi là v T đời th sáu, khéo t h nim, rng độ chúng hu tình, truyn khp đời sau, không khiến cho đon tuyt. Nghe ta nói k:

Hu tình đến gieo ging,

Nhân đất qu li sanh.

Vô tình cũng không ging,

Không tánh cũng không sanh.”

(Hu tình lai h chng,

Nhân địa qu hoàn sanh.

Vô tình dic vô chng,

Vô tánh dic vô sanh.)

T li bo: “Xưa đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên mi truyn y này để làm tín th, đời đời truyn nhau, pháp thì dùng tâm truyn tâm, đều khiến cho t ng t gii.

T xưa Pht Pht ch truyn bn th, thy thy thm trao bn tâm, y là đầu mi ca s tranh giành, nên dng ngay nơi ngươi, ch truyn na. Nếu truyn y này thì mng ca người nhn y cũng như si ch mành. Ông phi đi nhanh e người hi ông.” Hu Năng thưa: “Bây gi con phi đi đâu?” T bo: “Gp p Hoài thì dng, gp p Hi thì n.” Hu Năng canh ba lãnh được y bát, thưa: “Hu Năng vn là người min Nam, không biết đường đi, làm sao ra được bến đò?” Ngũ T bo: “Ông chng phi lo, ta t đưa ông đi.” T lin đưa đến bến đò Cu Giang, T bo lên thuyn, Ngũ T bèn cm chèo t chèo. Hu Năng thưa: “Thnh Hòa thượng ngi, để đệ t chèo.” T bo: “Phi là ta độ ông.” Hu Năng thưa: “Khi mê thì Thy độ, ng ri thì t độ. “Độ” tên tuy là mt nhưng ch dùng không đồng. Hu Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không đúng, nh Thy truyn pháp nay đã được ng, ch nên t tánh t độ.” T bo: “Như thế, như thế! V sau Pht pháp do ông mà được thnh hành, ông đi ba năm, ta s th thế. Nay ông đi an vui, n lc hướng v Nam, không nên nói pháp sm, Pht pháp s gp tai nn.” Hu Năng t giã Ngũ T ri ct bước đi v phương Nam, trong khong hai tháng đến ngn núi Đại Du.

Ngũ T tr v, my ngày không thượng đường, chúng nghi mi đến hi: “Hòa thượng có ít bnh, ít não chăng?” Ngài đáp: “Bnh thì không, mà y pháp đã v Nam ri.” Chúng hi: “Ai là người được truyn?” T bo: “Người có kh năng thì được.” Chúng lin biết. Khi đó vài trăm người đui theo, mun cướp y bát, mt v tăng h Trn, tên Hu Minh, trước là tướng quân bc T phm, tánh hnh thô tháo, hết lòng theo tìm, chy trước mi người, đui kp Hu Năng. Hu Năng để y bát trên bàn thch nói: “Y này là biu tín, có th dùng sc mà tranh sao!” Hu Năng lin n trong lùm c, Hu Minh đến cm y lên mà không nhúc nhích, mi kêu rng: “Cư sĩ, cư sĩ! Tôi vì pháp mà đến ch không phi vì y.” Hu Năng bèn bước ra ngi trên bàn thch. Hu Minh lin làm l thưa: “Mong cư sĩ vì tôi nói pháp.” Hu Năng bo: “Ông đã vì pháp mà đến thì nên dt sch các duyên, ch sanh mt nim, tôi vì ông nói.” Hu Minh im lng giây lâu. Hu Năng bo: “Không nghĩ thin, không nghĩ ác, chính khi y cái gì là bn lai din mc ca thượng ta Minh?” Hu Minh ngay câu nói đó lin đại ng. Li hi: “Ngoài mt ng, mt ý trên, còn có mt ý khác chăng?” Hu Năng bo: “Vì ông nói tc không phi mt vy, ông nếu phn chiếu thì mt bên ông.” Hu Minh thưa: “Hu Minh tuy Hoàng Mai, tht chưa có tnh din mc ca chính mình, nay nh ch dy như người ung nước lnh nóng t biết. Nay cư sĩ tc là thy ca Hu Minh.” Hu Năng bo: “Ông nếu như thế thì tôi cùng ông đồng th thy Hoàng Mai, khéo t h trì.” Hu Minh li thưa: “Hu Minh t nay v sau nhm ch nào đi?” Hu Năng bo: “Gp Viên thì dng, gp Mông thì .”

Hu Minh lin l t. Hu Minh tr v, xung núi bo nhng người đui theo: “Đi trên nhng đồi núi này trn không tìm ra tung tích, phi đi qua đường khác tìm.” C chúng đui theo đều cho là đúng. Hu Minh v sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh ch đầu ca tên Thy.

Hu Năng sau đến Tào Khê li b bn người ác tìm đui mi nơi T Hi[4] t nn trong đám th săn, tri qua mười lăm năm, khi đó cùng nhng người th săn tùy nghi nói pháp. Nhng người th săn thường bo gi ging lưới, khi Hu Năng thy nhng con vt mc lưới đều th. Mi khi đến ba ăn, hái rau gi luc trong ni tht, hoc có người hi thì đáp: “ch ăn rau bên tht.” Mt hôm, mi suy nghĩ: “Thi hong pháp đã đến, không nên trn trn lánh.” Hu Năng lin đến chùa Pháp Tánh Qung Châu, gp pháp sư n Tông đang ging kinh Niết-bàn. Khi y có gió thi, lá phướn động, mt v tăng nói gió động, mt v tăng nói phướn động, hai người cãi nhau không thôi. Hu Năng tiến ti nói: “Không phi gió động, không phi phướn động, tâm nhân gi động.” C chúng đều ngc nhiên. n Tông mi Hu Năng đến chiếu trên gn hi áo nghĩa[5], thy Hu Năng đối đáp, li nói gin d mà nghĩa lý rt đúng, không theo văn t. n Tông nói: “Cư sĩ quyết định không phi là người thường, đã lâu nghe y pháp ca Hoàng Mai đi v phương Nam, đâu chng phi là cư sĩ?” Hu Năng nói: “Chng dám.” n Tông lin làm l, xin đưa y bát đã được truyn cho đại chúng xem. n Tông li thưa: “Hoàng Mai phó chúc, vic ch dy như thế nào?” Hu Năng bo: “Ch dy tc không, ch lun v kiến tánh, chng lun thin định gii thoát.” n Tông thưa: “Sao chng lun thin định gii thoát?” Hu Năng bo: “Vì y là hai pháp, không phi là Pht pháp. Pht pháp là pháp chng hai.” n Tông li hi: “Thế nào Pht pháp là pháp chng hai?” Hu Năng bo: “Pháp sư ging kinh Niết-bàn, rõ được Pht tánh, y là Pht pháp là pháp chng hai. Như B-tát Cao Quý Đức Vương bch Pht: Phm t trng cm, to ti ngũ nghch và nht-xin-đề v.v… s đon thin căn Pht tánh chăng? Pht bo: Thin căn có hai, mt là thường, hai là vô thường, Pht tánh chng phi thường, chng phi vô thường, thế nên chng đon, gi là chng hai; mt là thin, hai là chng thin, Pht tánh chng phi thin, chng phi chng thin, y là chng hai; un cùng vi gii, phàm phu thy hai, người trí rõ thu tánh nó không hai, tánh không hai tc là Pht tánh.” n Tông nghe nói hoan h chp tay thưa: “Tôi ging kinh ví như ngói gch, nhân gi lun nghĩa ví như vàng ròng.” Khi y vì Hu Năng co tóc, nguyn th làm thy.

Hu Năng bèn dưới cây bđề khai pháp môn Đông Sơn. Hu Năng được pháp Đông Sơn, chu tt c nhng điu cay đắng, mng ging như si ch mành. Ngày nay được cùng vi S quân, quan liêu, tăng ni, đạo tc đồng trong hi này đâu không phi là duyên ca nhiu kiếp, cũng là trong đời quá kh cúng dường chư Pht, đồng gieo trng căn lành mi nghe cái nhân được pháp môn đốn giáo này. Giáo y là các v thánh trước đã truyn, không phi t trí Hu Năng được, mong nhng người nghe các v thánh trước dy, mi người khiến cho tâm được thanh tnh, nghe ri mi người t tr nghi, như nhng v thánh đời trước không khác.

C chúng nghe pháp đều hoan h làm l ri lui.

Giảng:

Khi y Đại sư đến chùa Bo Lâm ti Thiu Châu, th s Vi C cùng vi quan liêu vào núi thnh Sư đến trong thành, chùa Đại Phm, ti ging đường vì chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Th s quan liêu hơn ba mươi người, Nho tông hc sĩ hơn ba mươi người, tăng ni đạo tc hơn mt ngàn người đồng thi làm l, nguyn được nghe pháp yếu.

Trong phẩm này Lục Tổ thuật lại cho toàn chúng nghe về sự tích đắc đạo của ngài. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của ngài, Đại sư tức chỉ Lục Tổ. Lần đăng tòa đầu tiên này, kể số chúng dự nghe gồm quan liêu hơn ba mươi người, học sĩ hơn ba mươi người, đó là trên sáu mươi người rồi. Còn tăng ni đạo tục, đạo tức là người xuất gia, tc là cư sĩ, tất cả cộng lại hơn một ngàn người, tức là thời thuyết pháp đầu tiên hơn một ngàn chúng. Khi đó tất cả đều lễ bái cầu được nghe pháp yếu.

Lc T bo chúng rng:

Này Thin tri thc, Bđề t tánh xưa nay thanh tnh, ch dùng tâm này, thng đó trn được thành Pht.

Ngài nói tự tánh Bồ-đề của mình, xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm Bồ-đề của mình mà tu thì sẽ thẳng đến thành Phật không nghi. Ngài nói thẳng cho chúng ta biết, ai ai cũng có tánh Bồ-đề, nếu biết ứng dụng tu hành sẽ được thành Phật không nghi gì cả.

Này Thin tri thc, hãy lng nghe Hu Năng nói v hành do được pháp. Nghiêm ph ca Hu Năng bn quán Phm Dương, b giáng đày ra Lĩnh Nam, làm thường dân Tân Châu. Thân này bt hnh, cha li mt sm, m góa con côi di đến Nam Hi, gian nan nghèo kh, thường ra ch bán ci. Khi y có mt người khách mua, bo gánh đến khách điếm, khách nhn ci xong, Hu Năng lãnh tin, lui ra khi ca, thy mt người khách tng kinh, Hu Năng mt phen nghe li kinh, tâm lin khai ng, bèn hi khách tng kinh gì.

Tiếp đến ngài yêu cầu chúng lắng nghe ngài kể lại sự tích, lý do về việc ngài được pháp. Thuở trước ông thân ngài cũng làm quan, sau bị cách chức đày ra Lĩnh Nam làm dân thường tại Tân Châu. Bất hạnh, cha mất sớm, mẹ già dời về Nam Hải, thật là gian nan nghèo khổ. Ngài thường ra chợ bán củi, một hôm có người khách mua củi, bảo ngài gánh đến tiệm, nhận tiền xong vừa ra khỏi cửa ngài thấy một người khách tụng kinh. Một phen nghe lời kinh, tâm liền khai ngộ. Thảnh thơi quá, không có cực như chúng ta hiện nay phải không?

Chúng ta nghe năm này sang năm khác mà không khai ngộ chi cả. Ngài chỉ cần nghe người ta tụng liền khai ngộ, mới hỏi khách tụng kinh gì. Chưa biết tên kinh mà đã ngộ rồi!

Khách bo: “Kinh Kim Cang.” Hu Năng li hi: “ đâu đến th trì kinh này?” Khách bo: “Tôi t chùa Đông Thin, huyn Hoàng Mai, K Châu đến. Chùa y do Ngũ t Hong Nhn đại sư làm ch giáo hóa, đệ t có hơn mt ngàn người, tôi đến đó l bái, nghe nhn kinh này. Đại sư thường khuyên k tăng người tc ch trì kinh Kim Cang lin được thy tánh, thng đó thành Pht.” Hu Năng nghe nói, do đời trước có duyên, mi được mt người khách cho Hu Năng mt s bc là mười lượng để giúp nuôi dưỡng m già và bo đến Hoàng Mai tham vn Ngũ T.

Trong đoạn trên ngài kể lý do đi tìm Ngũ Tổ, chúng ta thấy túc duyên của ngài quá dày, sau này ngài thường được gọi là nhục thân Bồ-tát. Sanh trong hoàn cảnh cơ cực nghèo khốn, mồ côi sớm lại dốt nát vì không được học hành, nhưng vừa nghe một câu kinh liền ngộ, tại sao thế? Thường chúng ta cho rằng người có phước duyên mới được sanh trong những gia đình giàu có, mới thông minh học giỏi. Còn sanh trong gia đình nghèo, lại mồ côi sớm, không được học hành thì gọi là vô phước. Tại sao vô phước mà nghe một câu kinh liền ngộ, còn những người có phước nghe hoài mà không ngộ? Như vậy ai hơn ai? Ai có phước hơn ai? Đó là điều chúng tôi muốn nhắc cho tất cả quý vị hiểu để khỏi thắc mắc. Nếu nói một đời này, ra đời, nghe một câu kinh liền ngộ, như trong kinh thường nói: nhất văn thiên ngộ (một nghe ngàn ngộ) thì đã là bậc Bồ-tát rồi. Đã là Bồ-tát, tại sao lại thiếu phước phải sanh trong cảnh côi cút, nghèo nàn, dốt nát? Như vậy Bồ-tát kém phước hơn mình sao? Đó là điều chúng ta thấy đáng hoài nghi, nhưng sự thật không có gì đáng hoài nghi cả. Chúng ta đã nói ngài là một vị nhục thân Bồ-tát, mà Bồ-tát giáo hóa chúng sanh luôn luôn tùy nguyện. Có vị sanh trong cung vua có kẻ hầu người hạ rồi chán đời đi tu, như thế để cho người đời thấy rằng cảnh vương giả không câu thúc được các ngài, các ngài vẫn từ bỏ tất cả để đi tu và những người sống trong hoàn cảnh sang cả trông gương đó mà phát tâm. Có khi các ngài sanh trong gia đình trung lưu, học hành chút ít rồi phát tâm xuất gia, như thế những người hạng trung lưu thấy các ngài ở trong hoàn cảnh đó mà tu được thì mình cũng tu được. Có khi các ngài nguyện sanh trong cảnh nghèo nàn, dốt nát mà đi tu để những người nghèo nàn dốt nát thấy mình cũng đồng hoàn cảnh với các ngài thì mình cũng đi tu được.

Tóm lại, Bồ-tát muốn cho tất cả chúng sanh đều phát Bồ-đề tâm, nên có khi thị hiện trong cảnh sang cả, có khi ở trong cảnh bần cùng, nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào Bồ-tát cũng tu được cả, đó là việc tùy duyên hóa độ của các ngài. Chúng ta đừng nghĩ rằng ngài ít phước hơn mình, không phải thế, đó là vì nguyện của Bồ-tát, cốt làm sao cho tất cả chúng sanh đều tin rằng mình tu được. Thế là các ngài mãn nguyện. Chúng ta đọc sử thấy có những vị trong gia đình trưởng giả phát tâm tu, có những vị trong gia đình bần hàn phát tâm tu, có vị bỏ quan đi tu v.v… như thế để hiểu ý nghĩa Bồ-tát, chứ không nên cố chấp bảo rằng ngài thiếu phước mà tại sao ngài lại mau ngộ. Đó là hiện tượng thị hiện của chư Bồ-tát tùy bản nguyện. Sau khi phát tâm tu, liền có một người bạn giúp ngài một số tiền để nuôi mẹ. Quý vị thấy, nếu theo thế gian thì ngài phạm lỗi bất hiếu phải không? Vì có một mẹ một con mà nay bỏ mẹ đi tu, đó là bất hiếu. Như thế chúng ta thấy nếu giữ chữ hiếu thì ngài không đi tu được, không thể đem lợi ích cho chúng sanh được. Thế nên ngài phải nhờ người giúp một số tiền gửi lại nuôi mẹ già. Nếu bất hiếu thì buổi đầu ngài đâu có gánh củi bán để nuôi mẹ, chỉ vì khi ngộ đạo rồi, thấy chỗ cao siêu của đạo, ngài mới quyết tâm đi học đạo để tự giác ngộ và giác ngộ chúng sanh, vì thế ngài phải cam nhận lỗi không tròn chữ hiếu.

Hu Năng an trí m xong lin t giã ra đi, không hơn ba mươi ngày lin đến Hoàng Mai l bái Ngũ T.

Ngài từ giã mẹ ra đi, không quá một tháng thì đến Hoàng Mai lễ bái Ngũ Tổ. Ngày xưa người đi tầm đạo chỉ đi bộ nên đi từ tỉnh này đến tỉnh kia phải cả tháng trời, còn chúng ta hiện nay đi từ đây ra Huế khoảng một tuần lễ là nhiều, vậy mà còn than khổ, than cực. Đối với tâm cầu đạo, chúng ta thật không thể sánh với người xưa.

T hi: “Ngươi t phương nào đến, mun cu vt gì?” Hu Năng đáp: “Đệ t là dân Tân Châu thuc Lĩnh Nam, t xa đến l Thy, ch cu làm Pht, ch không cu gì khác!” T bo: “Ngươi là người Lĩnh Nam, li là người quê mùa, làm sao kham làm Pht?”

Quý vị thấy Ngũ Tổ là một vị Tổ mà sao ngài nói bất công vậy? Ngài dư biết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật, thế tại sao đối với người tới học đạo ngài lại khinh miệt, bảo rằng ngươi là người Lĩnh Nam, là người ở nơi rừng núi, người quê mùa dốt nát, đâu thể kham làm Phật. Tại kiểu cách phong kiến của ngài như thế hay là ngài có ý gì? Đó là cách ngài dọ thử xem sự hiểu biết của người cầu thành Phật này ra sao, nên mới có thái độ như thế.

Hu Năng lin đáp: “Người tuy có Nam Bc nhưng Pht tánh vn không có Nam Bc, thân quê mùa này cùng vi Hòa thượng chng đồng, nhưng Pht tánh đâu có sai khác.”

Như thế do ngài nghe một câu mà ngộ, biết được Phật tánh của tất cả đều đồng nhau.

Ngũ T mun cùng tôi nói chuyn, li thy đồ chúng hai bên đông, mi bo theo chúng làm công tác.

Qua câu đối đáp, Ngũ Tổ đã biết khả năng của ngài như thế nào rồi, nên muốn cùng ngài nói chuyện, nhưng thấy chung quanh quá đông, đang lắng nghe, e bại lộ rồi hại cho ngài nên bảo ngài đi xuống làm công tác, nhưng ngài chưa vừa ý nên lý luận thêm:

Hu Năng thưa: “Hu Năng xin bch Hòa thượng, t tâm đệ t thường sanh trí tu, không lìa t tánh tc là phước đin, chưa biết Hòa thượng dy con làm vic gì?” T bo: “K nhà quê này căn tánh rt lanh li, ông ch nói na, xung nhà trù đi.”

Bấy giờ Ngũ Tổ nạt “kẻ nhà quê lanh lợi, xuống nhà trù đi”, vì Tổ thấy nói thêm là có hại.

Hu Năng lui li nhà sau, có mt người cư sĩ sai Hu Năng ba ci giã go, tri hơn tám tháng.

Ngài Huệ Năng mới lui lại nhà sau, có một cư sĩ sai ngài giã gạo. Có quyển sách khác kể thêm: Một hôm Ngũ Tổ xuống thấy ngài giã gạo, cột sợi dây ngang lưng đèo thêm một viên đá, vì ngài ốm quá không đủ sức nặng cho cái chày đạp cất lên, nên phải đeo thêm một viên đá, thấy thế Tổ mới than: “Người cầu đạo quên mình đến thế ư?” Như vậy chúng ta mới thấy công tám tháng giã gạo của ngài. Trong tám tháng giã gạo, ngài đã quên mình, làm việc cực nhọc không kể đến thân. Có nơi còn tô điểm thêm rằng: Khi giã gạo ngài đeo đá nên sợi dây siết vô thịt, lâu ngày thịt bị thúi có giòi, khi ngài giã gạo, sợi dây chạm vào, giòi rớt ra, ngài lượm bỏ lên. Những lời này e hơi quá đáng, còn việc ngài đeo đá giã gạo thì các sách đều có nói.

Mt hôm, T cht thy Hu Năng, mi bo: “Ta nghĩ ch thy ca ngươi có th dùng, nhưng s có người ác hi ngươi, nên không nói cùng ngươi, ngươi có biết chăng?” Hu Năng thưa: “Đệ t cũng biết ý ca Thy nên không dám đến nhà trên, để người không biết.”

Như thế là thầy trò cảm thông nhau. Nhưng quý vị có thắc mắc về điểm này hay không? Thầy trò nói chuyện thì cứ nói, tại sao lại sợ có người hại? Ở chùa chứ đâu phải ở chỗ tranh giành quyền thế mà sợ bị hại? Thuở trước khi đọc tới chỗ này tôi cũng ngạc nhiên, tại sao nói chuyện đạo lý mà phải sợ có người hại? Sau này tôi mới biết sự thật là như vậy. Bởi vì đồ chúng của Ngũ Tổ, cả cư sĩ và học chúng khoảng hơn một ngàn người, riêng chư tăng khoảng năm trăm người, có sách nói bảy trăm vị, ở đấy đã nhiều năm, trong đó lại có ngài Thần Tú là vị Giáo thọ sư, giảng kinh cho học chúng. Cả năm trăm người, Ngũ Tổ chưa chấp nhận một người nào, nay một người cư sĩ quê mùa, từ xa mới đến, nếu được Ngũ Tổ truyền y bát thì thế nào? Cả năm trăm tăng chúng nghĩ sao? Dĩ nhiên là không chấp nhận được, thế nên sợ hại là vì lý do đó. Cũng vì thế sau này chư tổ không truyền y bát nữa, nếu còn truyền y bát chắc cái hại cũng còn kéo dài. Tại sao? Vì người được truyền y bát là người xứng đáng làm Tổ. Nhưng tăng chúng ở chùa đã mấy mươi năm, tu học đã lâu, nay một cư sĩ quê mùa vừa mới đến lại được làm Tổ thì tăng chúng nghĩ sao? Có tức hay không? Thế nên họ không thể chấp nhận được, mà không chấp nhận được thì phải hành động như thế nào? Phải thủ tiêu! Nếu trong chúng có người tu học lâu, hiểu đạo sâu, nay được Tổ truyền y bát thì không có gì phải nghi ngờ, cũng không sợ bị ai hại vì người đó được chúng kính phục, xứng đáng làm thầy. Nhưng đây là một cư sĩ, lại quê mùa nữa, đủ điều kiện để người ta khinh bỉ mà thình lình được làm Tổ thì không ai chấp nhận, thế nên có thể phải bị hại. Ngũ Tổ hiểu hoàn cảnh đó, ngài biết người cư sĩ này xứng đáng kế thừa ngài mà ngài không dám để cho chúng biết. Nếu như ngài Thần Tú có khả năng như thế, chắc không có gì khó khăn cả. Trường hợp của ngài Huệ Năng rất đặc biệt, nên Ngũ Tổ dè dặt bảo: “Theo ngôn ngữ của ngươi, ta biết ngươi có thể dùng được nhưng e có người ác hại ngươi, nên không nói chuyện với ngươi, ngươi biết chăng?” Lục Tổ thưa: “Con biết ý của Thầy nên con không dám lên nhà trên.” Con biết phận con nên chỉ ở nhà dưới giã gạo. Như vậy quý vị thấy ông thầy biết hoàn cảnh của người học trò, mà người học trò cũng biết được hoàn cảnh của mình, do đó mới đánh lừa được cả chúng, chứ nếu trong hai người, có một người không biết được hoàn cảnh đó thì có thể bị chúng phát giác sớm rồi.

Mt hôm, Ngũ T bo các đệ t: “Tt c hãy đến, ta nói vi các ông: Người đời sanh t là vic ln, các ông trn ngày ch cu phước đin, chng cu ra khi bin kh sanh t, t tánh nếu mê thì phước nào có th cu? Các ông, mi người hãy đi, t xem trí tu ca mình, nhn ly tánh Bát-nhã nơi bn tâm mình, mi người làm mt bài k đến trình cho ta xem, nếu ng được đại ý thì ta trao y pháp làm t th sáu. Phi nhanh đi, không được chm tr, suy nghĩ tc là không trúng. Người kiến tánh ngay li nói phi thy, nếu như người này dù khi múa đao gia trn cũng được thy tánh.”

Chúng được ch dy, tr v hp bàn vi nhau: “Tt c chúng ta không cn phi lng lòng dng ý làm k để trình Hòa thượng, đâu có li ích gì? Thượng ta Thn Tú hin làm Giáo th sư, t là người được, chúng ta có gng làm k tng cũng ung dng tâm lc.” Mi người nghe li này, thy đều đồng ý nói: “Chúng ta v sau y ch thượng ta Thn Tú, nhc gì phi làm k.” Tất cả đều đinh ninh là về sau sẽ y chỉ vị Giáo thọ sư nên không nhọc công làm kệ trình.

Tôi nhắc lại ý nghĩa lời dạy của Ngũ Tổ. Điểm thứ nhất Ngũ Tổ dạy: Người đời sanh tử là việc lớn, phải tìm cách thoát khỏi biển khổ sanh tử, chứ trọn ngày mải lo làm việc phước điền thì phước đó không thể nào cứu được mình, khi mình chưa thấy đạo, phước đó chưa giúp mình giải thoát. Không cứu được là không cứu cho mình giải thoát sanh tử. Muốn ra khỏi biển khổ sanh tử, mỗi người phải tự phát trí tuệ của chính mình, trí tuệ đó phát khởi mới thoát khỏi biển khổ sanh tử; nếu chúng ta mải lo việc phước điền thì phước điền đó chỉ giúp chúng ta bớt nghèo bớt khổ ở trong sanh tử thôi, chứ không giải thoát sanh tử. Tổ bảo tiếp: Như vậy mỗi người phải về làm một bài kệ đến trình, nếu người nào làm bài kệ đúng ý, ta sẽ truyền y pháp làm tổ thứ sáu. Nghe như thế cả đại chúng đều xôn xao. Tại sao các năm về trước ngài không bảo trình kệ mà ngay lúc này ngài bảo trình kệ? Quý vị thấy ý gì trong việc đó chưa? Trước khi vị cư sĩ này tới hỏi đạo, ngài không bảo chúng trình kệ, khi có vị cư sĩ này thì ngài lại bảo chúng trình kệ. Dĩ nhiên chúng ta thấy rõ ý của ngài. Khi biết có người xứng đáng kế thừa, ngài mới bảo chúng trình kệ để thử xem mọi người trình như thế nào để ngài chọn. Thế nên đại chúng xôn xao bàn tán phải trình kệ như thế nào. Vì vậy tiếp theo Tổ dạy thật là kỹ.

Điểm thứ hai Ngũ Tổ bảo rằng: Người thấy tánh dù ở trong chỗ binh đao vẫn thấy tánh chứ không mất. Người thật tình được đạo thì ở chỗ nào cũng thấy đạo, chứ không phải nói rằng ngồi chỗ vắng mới thấy đạo, đến chỗ ồn thì hết thấy, như thế chưa phải là thấy đạo. Quý vị phải nhớ như vậy. Dù ở cảnh nào, thấy đạo cũng vẫn là thấy đạo, vì đạo ở ngay nơi mình. Mình thấy nó thì ở đâu cũng thấy. Ngồi chỗ vắng cũng có nó, đến chỗ ồn cũng có nó, chứ đâu phải chỗ ồn không có đạo, chỗ vắng mới có đạo. Sở dĩ đến chỗ ồn không thấy đạo là vì mình thấy ồn. Thấy ồn tức thấy ở ngoài, chứ thật tình chúng ta thấy cái chân thật của mình thì ở đâu cũng có đạo, không phải đợi đến chỗ vắng vẻ mới có. Quý vị phải nhớ kỹ như vậy. Đó là chỗ Ngũ Tổ chỉ dạy cho tất cả chúng, nhất là ngài bảo: Nếu suy nghĩ thì không trúng. Làm kệ mà ngồi cắn bút, bóp trán suy nghĩ thì điều đó không đúng rồi. Vì thế gần đây tôi hay chê những vị mới tu học sơ sơ hay làm thơ. Tại sao? Các tổ ngày xưa không phải là nhà văn, nhà thơ chi cả, nhưng mỗi hành động đều đúng với lẽ thật nên vừa xuất khẩu là hợp ý Tổ, không phải ngồi bóp đầu bóp trán, vì vừa ngồi bóp đầu bóp trán là sai rồi. Khổ nỗi hiện nay có một số người tu thiền sơ sơ, lâu lâu tổ chức uống trà, người này làm thơ đưa người kia xem, người kia làm thơ trình người nọ xem rồi phê bình nhau v.v… và cho đó là mình làm thơ thiền, làm kệ thiền… Đó là thiền gì? Là thiền loạn tưởng chứ không phải thật là thiền. Thật là thiền thì khi đối cảnh liền phát hiện chứ không đợi suy nghĩ. Vì người thấy được lẽ thật nói điều gì cũng đúng lẽ thật, còn người chưa thấy lẽ thật dù suy nghĩ thế nào cũng không đúng. Thí dụ như chúng ta có đôi mắt sáng nhìn thấy rõ bình bông trên bàn, nếu có người hỏi bình bông như thế nào, dù chúng ta không tả rõ tất cả chi tiết, nhưng chúng ta nói bình bông màu xanh, màu vàng… chúng ta cũng nói đúng. Trái lại, nếu tôi hỏi một người mù bình bông trên bàn như thế nào thì dù họ suy nghĩ thế mấy cũng không đúng, dù có nghe người ta nói họ suy nghĩ theo cũng không đúng. Thế nên đã thấy thì dù nói đơn sơ cũng đúng, còn không thấy dù cố suy nghĩ thế mấy cũng vẫn không đúng. Chỗ này không phải chỗ suy nghĩ mà được, nhưng nhiều người lại chuộng suy nghĩ, cho suy nghĩ ra được lẽ đạo. Đó là điều lầm lẫn lớn. Thế nên cái thấy đạo là tự thấy, chứ không phải suy nghĩ, do đó Ngũ Tổ mới quở: Không nên có dụng tâm, nếu người thấy tánh dù ở giữa trận cũng thấy.

Sau khi nghe Ngũ Tổ dạy, tất cả chúng đều xôn xao bàn với nhau, chúng ta có một vị Giáo thọ sư, trên là Tổ, dưới là vị Giáo thọ sư, Tổ chọn vị này dạy chúng ta, hẳn nhiên vị này phải như thế nào rồi, người dạy chúng ta sẽ là người được kế thừa không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng ta đã học với ông ấy tức nhiên ông ấy đâu có dở, dù chúng ta có làm cũng vô ích, hãy nhường ông ấy cho xong. Đó là một cái thế dồn vị Giáo thọ sư này đến chỗ bất khả kháng. Ông không muốn trình, nhưng toàn chúng đều không làm thì làm sao? Hoàn cảnh đã đưa Thần Tú đến một cái thế khó xử, vì chính ngài cũng còn nghi ngờ không chắc là ngài sẽ được Tổ chấp nhận.

Thn Tú suy nghĩ: Các người đều không trình k vì ta làm Giáo th sư cho h, ta cn phi làm k trình lên Hòa thượng; nếu không trình k thì Hòa thượng đâu biết được kiến gii trong tâm ta cn hay sâu.

Ý ta trình k cu pháp thì tt, cu làm T thì xu, vì đồng vi tâm ca k phàm, mun cướp được ngôi v thánh không khác! Nếu chng trình k thì trn không được pháp. Rt khó! Rt khó!

Đó là ngài tự lượng ý ngài: Nếu trình kệ để cầu được pháp đó là điều tốt, nếu trình kệ để cầu làm Tổ đó là xấu vì còn ham danh, ham lợi không khác kẻ phàm phu. Thật là khó vì nếu không trình kệ thì thầy không biết ý mình làm sao thầy truyền pháp, nhưng làm kệ, xem như mình muốn làm Tổ!

Trước nhà ca Ngũ T có mt hành lang ba gian, Ngũ T nghĩ mi ông cung phng Lư Trân đến v Lăng-già biến tướng và Ngũ T huyết mch đồ để lưu truyn cúng dường. Ngài Thn Tú làm k ri, my phen mun trình, đi đến nhà trước thì trong tâm hong ht, khp thân đổ m hôi, nghĩ trình chng được. Trước sau tri qua bn ngày, đến mười ba ln, trình k không được.

Tại sao? Ai ngăn mà trình không được? Đó là tại nghi bài kệ của mình chưa chắc là được, vì mình không có tự ngộ, do suy lý mà nói thì không tin lời mình là đúng nên muốn trình lại ngại, vì thế trong bốn ngày, mười ba lần đến cửa rồi thối lui, không trình được, như vậy cái khổ của ngài lúc đó thật vô cùng!

Thn Tú mi suy nghĩ: “Chng bng đến dưới hành lang viết (bài k), Hòa thượng đi qua xem thy, nếu cht bo rng hay thì mình ra l bái thưa ca Thn Tú làm; nếu nói không kham, tht ung công núi my năm, th người l bái li tu đạo gì?”

Bởi vì ngài bán tín bán nghi chưa tin mình được đạo, nay phải trình thẳng, ngài sợ nếu Ngũ Tổ bảo chưa được thì còn gì thể diện, nên kế hay nhất là nơi hành lang Ngũ Tổ thường đi qua, ngài lén viết bài kệ lên đó. Nếu Ngũ Tổ xem rồi hỏi ai làm bài kệ hay quá thì ngài ra đảnh lễ thưa: Bạch con làm! Còn nếu Ngũ Tổ chê thì lánh mặt cho rồi, mặt mũi nào nhìn đại chúng. Thật là uổng công ở núi! Ngài nghĩ đó là kế an toàn nhất. Thế nên người dở mà ở địa vị thấp thì thật dễ, còn ở địa vị cao thật khó xử vô cùng. Người ta đã suy tôn mình làm thầy, nếu mình làm không tròn trách nhiệm, mặt mũi nào nhìn học trò. Đó là cái khổ tâm của người lớn mà chưa thật lớn!

Canh ba đêm y, không cho người biết, ngài t cm đèn viết bài k vách phương nam để trình ch tâm mình thy được. Bài k rng:

Thân là ci bđề,

Tâm như đài gương sáng.

Luôn luôn phi lau chùi,

Ch để dính bi bm.

Thế thì thật hay! Ví dụ thân mình như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng, cũng hay chứ! Và đài gương sáng muốn cho sáng mãi thì phải làm thế nào? Phải lau, phải chùi, chớ để dính bụi. Như vậy trên phương diện tu hành, bài kệ này thật là hay. Người mới đọc qua thì thấy bài kệ thật hay, nào những hình ảnh cụ thể, thân mình giống cây bồ-đề, tâm mình như đài gương sáng, nào khuyên mình tu một cách cụ thể, hằng ngày lau gương đừng để dính bụi. Nhưng đối với người thấy tánh thì bài kệ này chưa thấy tánh. Tại sao? Gương mờ phải lau, đang lau thì làm sao thấy tánh? Nếu thấy tánh thì không còn lau nữa. Tại sao? Vì Thể tánh đó bụi không dính được, còn nghĩ như mặt gương phải lau mãi là chưa thấy tánh. Chúng ta dốt mà đọc qua còn biết ngài chưa thấy tánh.

Ngài Thn Tú viết k xong, lin tr v phòng, mi người đều chng biết. Thn Tú li suy nghĩ: “Ngày mai Ngũ T thy bài k, nếu hoan h tc ta cùng pháp có duyên, nếu nói không kham, t là ta mê, nghip duyên đời trước nng n, không hp được pháp, tht là thánh ý khó lường.” Trong phòng suy nghĩ, ngi nm chng an cho đến canh năm.

Như thế là suốt đêm ngài trằn trọc mãi, không ngủ được. Viết bài kệ rồi ngài cũng vẫn bất an, thật là khổ tâm, vì không biết ngày mai Ngũ Tổ khen hay chê, khen thì còn được, nếu chê thì còn mặt mũi nào, thế nên ngồi nằm không an mãi đến canh năm.

Ngũ T đã biết Thn Tú vào ca chưa được, không thy t tánh.

Thật ra thầy lúc nào cũng biết rõ học trò, nên tuy bảo làm Giáo thọ dạy chúng, nhưng biết là ngài Thần Tú chưa vào cửa nổi. Vì biết rõ như thế nên tuy bảo làm kệ nhưng thật ra Ngũ Tổ không nhắm vào ngài Thần Tú, mà Tổ có chỗ nhắm khác. Để cho công bằng Tổ phải tuyên bố cho tất cả chúng trình kệ, nếu không như thế mà riêng truyền y pháp cho một người nào khác thì chúng sẽ thắc mắc. Khi nào chúng trình kệ không được, Tổ truyền y pháp cho người khác, họ mới không thắc mắc.

Sáng hôm sau, T gi ông Lư cung phng đến hành lang phía nam để v đồ tướng trên vách, cht thy bài k, ngài bo Cung phng rng: “Thôi chng cn phi v, nhc công ông t xa đến. Trong kinh có nói phàm nhng gì có hình tướng đều là hư vng, ch để li mt bài k này cho người tng đọc th trì, y bài k này tu thì khi đọa trong ác đạo, y bài k này tu thì được li ích ln.” Khiến đồ đệ thp hương l bái cung kính và tng đọc bài k này tc được thy tánh. Môn nhân tng bài k đều khen: “Hay thay!”

Đây là kế của Ngũ Tổ, nếu Tổ không khen thì không làm sao biết được tác giả vì dưới bài kệ đâu có ký tên, thế nên Tổ mới khéo bày kế đánh lừa mọi người. Tổ bảo: Nhọc công Cung phụng từ xa đến, kinh Kim Cang có nói, phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng, thôi ông không cần phải vẽ đồ tướng, hãy để bài kệ này cho chúng đọc, người nào y đó tu hành sẽ khỏi đọa trong ba đường ác, sẽ được lợi ích, sẽ thấy tánh. Tổ lại bảo đồ đệ đốt hương kính cẩn lễ bái bài kệ. Nghe như thế dĩ nhiên là ngài Thần Tú mừng không kể xiết, ngài phải nhận là của ngài làm chứ đâu còn ẩn tránh nữa, vậy là ngài đã mắc kế của Ngũ Tổ rồi! Khi đó tất cả môn nhân đều tụng và đều khen bài kệ hay. Đệ tử thì thường như thế. Thầy khen điều gì hay là đồ đệ cũng khen theo, chứ không biết hay ở điểm nào, nghe thầy tán dương việc gì thì đệ tử cũng tán dương theo, đó là bệnh chung!

Người học trò luôn luôn lệ thuộc thầy, nói theo thầy chứ không biết rõ đâu là đúng, đâu là sai.

Đến canh ba, T mi gi Thn Tú vào trong tht hi: “K đó, phi ông làm chăng?” Ngài Thn Tú thưa: “Tht là con làm, chng dám vng cu t v, ch mong Hòa thượng t bi xem đệ t có chút ít trí tu chăng?”

Ngài nghĩ rằng Ngũ Tổ khen như vậy là chấp nhận ngài làm Tổ rồi, nhưng vì khiêm nhường nên ngài thưa: Bạch con làm, nhưng con không dám mong cầu tổ vị, chỉ trình để Thầy xem con có chút ít trí tuệ chăng? Đó là lời nói khiêm nhường, không ngờ:

T bo: “Ông làm bài k này chưa thy được bn tánh, ch đến ngoài ca, chưa vào được trong ca, kiến gii như thế tìm Vô thượng Bđề, trn không th được. Vô thượng Bđề phi được ngay nơi li nói mà biết bn tâm mình, thy được bn tánh mình chng sanh chng dit, đối trong tt c thi mi nim mi nim t thy, muôn pháp đều không kt, mt chân tt c đều chân, muôn cnh t như như, tâm như như đó tc là chân tht. Nếu thy được như thế tc là t tánh Vô thượng Bđề. Ông hãy đi, mt hai ngày sau, suy nghĩ làm mt bài k khác đem li tôi xem, bài k ca ông nếu vào được ca, s trao y pháp cho ông.” Ngài Thn Tú làm l lui ra, tri qua my ngày, làm k cũng không thành, trong tâm hong ht, thn tư bt an, ví như trong mng, đi ngi không vui.

Như thế là Ngũ Tổ thật khéo, thật tâm lý, nếu không thì việc lớn hỏng hết. Nếu buổi sáng giữa đông đảo chúng vừa khen bài kệ xong, Ngũ Tổ gọi ngài Thần Tú lại hỏi: “phải ông làm bài kệ này không”, dĩ nhiên ngài Thần Tú sẽ thưa: “bạch con làm”, lúc ấy Ngũ Tổ bảo rằng: “bài kệ này không vào cửa được” thì còn gì thể diện của ngài Thần Tú. Tuy khen bài kệ, tuy biết tác giả mà Tổ không hỏi liền, đợi đến canh ba vắng vẻ Tổ mới gọi ngài Thần Tú vào hỏi. Khi ngài Thần Tú nhận là bài kệ của ngài, Tổ mới bảo ông chưa vào cửa được. Lúc đó ngài mới kinh ngạc, tuy kinh ngạc mà không mất thể diện với đồ chúng. Đó là cái khéo của Ngũ Tổ, thật là khéo! Thế nên người lớn muốn cho vẹn toàn với đồ đệ cũng là cực lắm. Nếu người nóng nảy thì gọi ra hỏi và phê bình ngay giữa đồ chúng đông đảo, như thế chắc ngài Thần Tú không chịu đựng nổi sự hổ thẹn. Tổ bảo tiếp: Thôi ông trở về, vài ngày làm một bài kệ khác đem đến trình, nếu được ta sẽ trao y pháp cho. Ngài Thần Tú lễ rồi lui ra. Bấy giờ ngài còn tinh thần nào làm kệ nữa. Bao nhiêu cố gắng mới làm được bài kệ đó, nay Ngũ Tổ không chấp nhận thì còn tinh thần nào để làm bài kệ thứ hai.

Li hai ngày sau có mt chú bé đi qua ch giã go, đọc bài k này. Hu Năng va nghe lin biết bài k này chưa thy được bn tánh.

Người đến được cảnh đó nghe bài kệ liền biết tác giả bài kệ chưa vô cửa được. Đó là đệ tử mà còn biết, huống nữa là ông thầy!

Tuy chưa nh ch dy, mà sm đã biết được đại ý, bèn hi chú bé: “Tng đó là k gì?” Chú bé đáp: “Cái ông nhà quê không biết”, Đại sư nói: Người đời sanh t là vic ln, mun được truyn y pháp, khiến đệ t làm k trình ngài xem, nếu ng được đại ý, lin trao y pháp làm t th sáu. Thượng ta Thn Tú viết bài k Vô tướng vách hành lang phía nam, Đại sư khiến người đều đọc, y k này tu s khi đọa đường ác, y k này tu s có li ích ln. Hu Năng thưa: “Thượng nhân, đã hơn tám tháng, tôi nhà trù giã go, chưa tng đến nhà trên, mong Thượng nhân dn tôi đến trước bài k l bái.”

Thật là lời nói khiêm nhường! Chú bé mà ngài gọi là thượng nhân. Ngài nói: Tôi ở đây làm công quả hơn tám tháng trời, chưa lên tới nhà trên, nay nhờ thượng nhân dẫn tôi đến lễ bái bài kệ để kết duyên. Dĩ nhiên là chú bé thích rồi.

Chú bé dn ngài đến trước bài k l bái. Hu Năng bo: “Hu Năng không biết ch, nh Thượng nhân vì tôi đọc.” Khi y có quan Bit giá Giang Châu h Trương tên Nht Dng lin to tiếng đọc. Hu Năng nghe ri bèn nói: “Tôi cũng có mt bài k, mong Bit giá vì tôi viết.” Quan Bit giá nói: “Ông cũng làm k na sao? Vic này tht ít có!” Hu Năng nói vi Bit giá rng: “Mun hc đạo Vô thượng Bđề, không được khinh người mi hc. K h h cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên ti.” Quan Bit giá nói: “Ông ch tng k, tôi vì ông viết! Ông nếu được pháp, trước phi độ tôi, ch quên li này.”

Quan Biệt giá ban đầu ngạc nhiên nên nói: Ông cũng có kệ nữa sao? Thấy quan Biệt giá ngạc nhiên, ngài Huệ Năng biết ông này khinh người, cho mình là quê mùa dốt nát nên ngài mới bảo: Kẻ hạ hạ cũng có trí thượng thượng, còn người được xem là thượng thượng cũng không có ý trí, đừng tưởng người ở cấp cao là người hay. Nghe thế quan Biệt giá liền bảo: Ông nói đi, tôi viết cho nhưng phải nhớ là ông được pháp thì độ tôi trước. Thành ra cũng là tham phải không? Khi giúp người cũng đòi quyền lợi trước!

Huệ Năng đọc bài kệ:

Bđề vn không cây,

Gương sáng cũng chng đài.

Xưa nay không mt vt,

Ch nào dính bi bm?

Bồ-đề chỉ cho tánh giác, tánh giác không có hình tướng thì không phải là cây, đây là bác câu thân là cây bđề. Ngài Thần Tú nói thân này là cây bồ-đề, ngài nói trái lại: Bồ-đề là tánh giác, tánh giác thì đâu có hình tướng mà nói là cây. Câu thứ nhất bác hình thức cây bồ-đề. Đến câu thứ hai ngài Thần Tú nói: tâm như đài gương sáng, như vậy đài gương sáng là gương sáng hay đài sáng? Nếu nói đài gương sáng thành ra nhấn mạnh chữ đài. Gương là tự nó sáng không cần có đài mới sáng, nếu nói đài gương sáng là đã lầm cái hình thức thứ hai. Đến hai câu sau xưa nay không mt vt, ch nào dính bi bm, tức là chỗ chân thật đó xưa nay không một vật huống nữa là dính bụi bặm? Ngài Thần Tú nói luôn luôn phi lau chùi, ch để dính bi bm, nhưng xưa nay nó không dính một vật thì chùi cái gì? Đã không có một vật thì có gì dính bụi? Như thế rõ ràng ngài Huệ Năng thấy được bản tánh xưa nay không có một hình trạng, không có một tướng mạo, chính bản tánh đó tự thanh tịnh, không cần lau chùi mới thanh tịnh. Đó là ngài đã thấy được, còn ngài Thần Tú không thấy được nên suy nghĩ theo lối tu nặng về hình thức: cái gương có bụi dính nay ráng chùi cho hết bụi, đó là chưa thấy được bản tánh thật vì tánh giác không tướng mạo, đã không tướng mạo thì có gì nhiễm, có gì dính được nó, thấy rõ được như vậy thì không bao giờ lầm, không phải lau chùi gì cả. Lau chùi là chỉ hình thức bên ngoài, chứ tánh giác không có tướng mạo nên nó hằng thanh tịnh, hằng thanh tịnh thì chỗ nào dính bụi mà phải lau chùi? Như vậy qua bài kệ này mọi người thấy rõ là ngài đã vô cửa, còn bài kệ của ngài Thần Tú chưa vô cửa.

Khi viết bài kệ rồi, đồ chúng thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt xoa, mọi người bảo nhau rằng: L thay! Không th do tướng mo mà đoán người, đã bao lâu nay sai Nhc thân B-tát làm vic!

Thế nên, ai đọc bài kệ này cũng giật mình, cả chúng đều ngạc nhiên, thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt xoa. Đồ chúng bảo nhau thật không ngờ, không nên xem tướng mà đoán người, vì chúng ta thường có bệnh xem tướng đoán người, ai ăn mặc tề chỉnh, gương mặt sáng sủa thì cho người đó là thông minh, ai ăn mặc lôi thôi, gương mặt hơi khờ thì cho đó là người quê dốt. Nay chúng mới ngạc nhiên không ngờ mấy tháng nay mình sai vị Nhục thân Bồ-tát làm việc. Như thế là họ hốt hoảng cho ngài là Bồ-tát. Nhưng trong đoạn tiếp theo, chúng ta sẽ thấy Ngũ Tổ thật là người hiểu tâm lý.

T thy c chúng đều kinh ngc, s có người làm hi, mi ly giày xóa hết bài k, nói: “Cũng chưa thy tánh.” Chúng cho là đúng.

Người học trò thường như thế. Khi mới đọc bài kệ thì thấy hay hơn bài kệ trước. Tự biết như vậy, nhưng khi nghe vị thầy bảo cũng chưa thấy tánh và lấy giày xóa thì cũng nói theo: À, phải rồi cũng chưa thấy tánh và cũng yên tâm như vậy! Thế nên người học đạo khi nghe ai bảo điều gì là phải mà mình thấy rõ chưa phải thì vẫn biết là chưa phải, ai nói điều gì là sai mà mình xét thấy đúng vẫn biết là đúng, như thế mới có lập trường. Còn người ta bảo “phải” mình thưa phải, người ta nói “sai” mình cũng dạ sai, rồi theo đó mà khen mà chê là không có lập trường, đó là cái hại. Nhất là khi đọc sách, người hướng dẫn hoặc người viết sách khen điều gì, ta cũng khen theo, chê điều gì, ta cũng chê theo, mà không biết hay dở ở điểm nào, đó là khuyết điểm lớn của người học.

Ngày kế, T thm đến ch giã go thy Hu Năng đeo đá giã go, mi bo rng: “Người cu đạo vì pháp quên mình đến thế ư?”

Thật cũng khổ sở! Tổ thấy ngài Huệ Năng đeo đá giã gạo mới bảo: Người cầu đạo vì pháp quên mình đến như thế ư? Tức là nếu cần làm thì cứ làm chẳng nghĩ đến thân, còn chúng ta như thế nào? Vào chùa, khi làm việc gì nặng là than ngay: Ôi, tôi làm không nổi, một mình tôi làm không nổi, phải hai, ba người mới được; còn ngài nếu một mình không nổi thì đeo thêm một viên đá cho đủ sức nặng, đó là vì đạo quên mình. Trái lại nếu vì mình thì thế nào? Nơi nào dù có đạo mà cực quá thì bỏ đi tìm chỗ sung sướng hơn; thế nên vì mình thì quên đạo, còn vì đạo thì quên mình. Người cầu được đạo thì dù khổ cực thế mấy cũng chấp nhận, người vì mình thì dù nơi có đạo lý nhưng cực nhọc quá cũng bỏ đi tìm nơi khác sung sướng hơn. Vậy người học đạo phải lấy đây làm gương. Thật ra trong chúng mấy trăm người, nếu mình yếu không đủ sức nặng để giã gạo thì kêu thêm một người nữa, đâu có hại gì, nhưng ngài không cần, ví dụ phải sáu mươi ký mới cất nổi cái chày mà ngài chỉ có bốn mươi ký thì ngài đeo thêm viên đá hai mươi ký nữa là được rồi, không cần gọi thêm người thứ hai. Chính việc làm vì đạo quên mình của ngài khiến cho người sau mỗi khi đọc đến đều cảm động và chính Ngũ Tổ cũng phải khen: “Vì pháp mà quên mình đến thế ư?”

T li hi: “Go trng hay chưa?” Hu Năng thưa: “Go trng đã lâu, còn thiếu gin sàng.” T ly gy gõ vào ci ba tiếng ri đi. Hu Năng lin hi được ý T, đến khi trng đổ canh ba lin lén vào tht. T ly ca-sa che chung quanh không để người thy, vì nói kinh Kim Cang, đến câu “ưng vô s tr nhi sanh k tâm”, Hu Năng ngay li đó đại ng, thy tt c muôn pháp chng lìa t tánh, lin thưa T rng:

Đâu ng t tánh vn t thanh tnh,

Đâu ng t tánh vn không sanh dit,

Đâu ng t tánh vn t đầy đủ,

Đâu ng t tánh vn không dao động,

Đâu ng t tánh hay sanh muôn pháp!

Ngũ T biết Hu Năng đã ng được bn tánh mi bo: “Chng biết bn tâm, hc pháp vô ích, nếu biết được bn tâm mình, thy được bn tánh mình, tc gi là Trượng phu, là Thy ca tri người, là Pht.” Canh ba th pháp, người trn không biết, T lin truyn pháp đốn giáo và y bát, nói rng: “Ngươi là v T đời th sáu, khéo t h nim, rng độ chúng hu tình, truyn khp đời sau, không khiến cho đon tuyt. Nghe ta nói k:

Hu tình lai h chng,

Nhân địa qu hoàn sanh.

Vô tình dic vô chng,

Vô tánh dic vô sanh.”

Chữ tình không có nghĩa thức tình, chữ tình đây chỉ cho những người đã có được hạt giống tức là có cái chủng tánh về đạo lý. Người có tình đến nên gieo giống cho họ, nhân nơi đất mà quả lại sanh, tức là người đã có chủng tánh về đạo lý này, khi họ đến nên gieo giống cho họ, nhân nơi đất tự tánh của họ sẵn có sẽ sanh ra quả. Còn vô tình tức là người không có hạt giống đó, không có giống thì không có tánh, cũng không có sanh. Người không có chủng tử đó mình có gieo cũng khó mà được, nên nói không tánh cũng không sanh. Đây là bài kệ truyền pháp.

Tôi lặp lại đoạn này cho quý vị thấy chỗ cần yếu khi ngài Huệ Năng ngộ. Chúng ta thấy khi nghe đọc một câu kinh Kim Cang ngài đã ngộ rồi, tại sao tới đây ngài lại ngộ nữa? Như thế lần ngộ trước và lần ngộ sau khác nhau ở điểm nào? Thường chúng ta không hiểu kỹ nên thắc mắc, khi trước ngài cũng ngộ nên ngài mới thưa chuyện với Ngũ Tổ, ngài mới làm bài kệ và được Ngũ Tổ chấp nhận là vào cửa, đến đây ngài lại ngộ nữa là ngộ cái gì? Cái ngộ trước là ngài mới thấy “Bản lai vô nhất vật”, nghĩa là thấy thể tánh đó không có một hình tướng, không có một vật tượng, chỉ là một thể tánh rỗng lặng, vì thấy được chỗ đó nên vào cửa. Đến chỗ này ngài thấy thế nào? Ngài nói: đâu ngờ tâm mình thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình chẳng sanh diệt, nó tự đầy đủ, nó không dao động, nó hay sanh muôn pháp, như thế đến đây ngài mới thấy thật thể của bản tâm. Khi trước ngài chỉ mới thấy chỗ không có vọng, đó là tánh không, bởi thấy được tánh không nên mới được vào cửa. Vào cửa chưa phải là xong việc, phải thấy được cái đầy đủ, thanh tịnh, chưa từng sanh diệt, không dao động và hay sanh muôn pháp, thấy tột cái đó mới gọi là thấy được bản tánh mình. Như vậy qua đoạn này chúng ta mới thấy rõ người học đạo không phải ngộ một lần là xong. Trong nhà thiền thường nói rằng đại ngộ ít ra cũng ba bốn lần, còn tiểu ngộ thì vô số. Tiểu ngộ là sao? Thí dụ nghe một thời giảng, chúng ta có lóe sáng một điều gì mình thích, thấy điều đó từ trước đến nay chưa từng biết, nay mình biết, đó là tiểu ngộ. Còn đại ngộ là một lần nhận ra được thì vui cả năm bảy ngày, nghĩa là điều đó là một việc lớn mà từ trước đến nay chưa bao giờ mình phát minh được, nay phát minh được, đó là đại ngộ. Nhưng một lần cũng chưa xong, phải đôi ba lần như thế, thế nên người học đạo phải có ngộ chứ không ngộ thì khó vào đạo. Ngài Thần Tú hiểu lý kinh mà chưa ngộ đạo nên vào cửa không nổi.

Đến trường hợp Tổ muốn truyền y pháp cho ngài Huệ Năng. Trước hết là pháp, muốn truyền pháp, đầu tiên Tổ đem kinh Kim Cang giảng cho ngài nghe, nhưng khi giảng kinh, tại sao lại lấy y che hết các cửa sổ không cho ai thấy cả? Có phải tại vì truyền pháp thì phải bí mật không? Vì hoàn cảnh của Tổ là khác. Tổ biết rằng nếu có người nào hay Tổ truyền cho ngài Huệ Năng họ sẽ chống đối, bởi vì lúc ấy ngài Huệ Năng chưa cạo tóc, ngài chỉ giã gạo tám tháng rồi Tổ gọi lên truyền y bát. Thế nên Tổ phải che kín hết không cho ai thấy, chỉ một thầy một trò, Tổ giảng kinh ngài nghe rồi ngộ. Tổ lén truyền pháp xong rồi đưa ra cửa sau đi luôn không dám cho ở. Còn chúng ta hiện nay, khi truyền pháp có cần che kín như thế không? Thí dụ tôi có đạo lý gì muốn truyền cho Phước Hảo hay những chú lớn trong đây, tôi có cần che kín không? Vì trường hợp của Tổ là trường hợp đặc biệt phải giấu. Còn trường hợp thông thường, thầy nói đệ tử nghe, nhận hiểu tức là được đạo. Nay có một số người bắt chước cho đây là mật truyền, gọi vào phòng che kín lại rồi truyền và nói là y theo Tổ thuở xưa. Thật đúng với câu “ôm cây đợi thỏ” hay “khắc mạn thuyền mò gươm”, thật là khờ dại! Hoàn cảnh của người xưa khác, nay lại bắt chước cái mật đó! Phật pháp không phải mật vì có những trường hợp quá đặc biệt nên mới mật thôi. Như thế quý vị phải hiểu rõ tinh thần truyền pháp, không phải là chỉ truyền khi nào có một thầy một trò trong trường hợp đóng cửa, đó là cái họa, không phải đúng. Tổ khi xưa làm như thế, vì đặc biệt ngài Huệ Năng là người chưa được mọi người tin tưởng, nếu Tổ để cho họ biết là có hại nên phải dùng phương tiện đó. Khi truyền pháp Tổ dùng kinh Kim Cang. Thế nên tôi thường nói với quý vị, đầu tiên chúng ta học kinh Kim Cang để nhân kinh mà nhận được bản tánh. Những câu sau đây quý vị thấy Ngũ Tổ nói thật là gần. Ngài bảo rằng: người học đạo không biết được bản tâm thì học đạo vô ích, học đạo mà không nhận được bản tâm thì học cái gì? Học đạo là cốt ngộ được bản tâm mà không ngộ được tức nhiên là học bên ngoài chứ chưa phải là học đạo. Còn nếu biết được bản tâm, thấy được bản tánh, đó là Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật, tức là đủ mười hiệu. Như thế người muốn thành Phật phải y thế mà tu. Sau khi dặn dò, Lục Tổ nhận pháp rồi, Ngũ Tổ truyền y bát, bảo ráng gìn giữ. Tổ lại dặn trong một bài kệ: Nếu người có chủng tử đạo lý đến thì phải ráng vì họ mà gieo giống tức là làm phương tiện để cho họ khai ngộ, chính nơi đất tâm của họ có sẵn thì mình gieo hạt giống, quả từ đó phát triển sanh khởi không khó; còn người chưa có chủng tử đó thì không gieo giống được, đã không có chủng tử, có gieo giống cũng không sanh khởi vì thế mới nói rằng “vô tánh diệc vô sanh”.

T li bo: “Xưa đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên mi truyn y này để làm tín th, đời đời truyn nhau, pháp thì dùng tâm truyn tâm, đều khiến cho t ng t gii. T xưa Pht Pht ch truyn bn th, thy thy thm trao bn tâm, y là đầu mi ca s tranh giành, nên dng ngay nơi ngươi, ch truyn na. Nếu truyn y này thì mng ca người nhn y cũng như si ch mành.”

Phật cũng truyền cho mình cái bản thể, chư sư cũng truyền cho mình cái bản tâm, đó là điều chánh yếu. Tại sao khi xưa tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa truyền y bát, đến đời Lục Tổ, Ngũ Tổ lại cấm truyền y? Vì ngay đời tổ Bồ-đề-đạt-ma, ngài chỉ mới có vài đệ tử thôi nên người nào xuất sắc hơn thì được ngài truyền y để làm bằng chứng cho người sau tin. Đến đời Ngũ Tổ số đệ tử lên đến năm bảy trăm người, đến Lục Tổ số chúng đông đến cả ngàn người, nay truyền y cho một người, bao nhiêu người khác ganh tỵ, tranh giành là cái họa cho người đó. Thế nên về sau, người nào được pháp rồi, Tổ bảo họ đến một nơi nào đó truyền bá chứ không giao y cho vì giao y là giao họa cho họ. Chúng ta đã thấy rõ lý do, chứ thường chúng ta hay cố chấp nói, khi xưa tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền pháp rồi truyền y bát cho tổ Huệ Khả, Tổ Tổ truyền nhau tới sáu đời, sau này không truyền nữa tức là đến đó không còn Tổ nữa, tức là hết người ngộ rồi, đó là lầm lẫn lớn. Thí dụ như ở đây, trong chúng có cả trăm người nghe chúng tôi giảng dạy, giả sử có một người trả lời đúng câu tôi hỏi, tôi nói: người này xứng đáng kế thừa cho tôi, khi nghe như thế quý vị tin người đó chưa? Dĩ nhiên là tin rồi, đâu cần truyền cái gì nữa. Thế nên, trong các hội chúng sau này, hội nào cũng từ năm trăm đến một ngàn người, nếu có người nào ngộ đạo, Tổ chỉ nói thí dụ như “trái mai đã chín” là thiên hạ hiểu rồi, đua nhau tìm tới học chứ không phải truyền y gì cả. Hoàn cảnh thuở xưa khác, người sau không hiểu cứ cố chấp, nói tại sao sau này không có truyền y bát. Mà truyền y bát để làm gì? Điều quan trọng là mình phải ngộ đạo, cho nên nói Phật Phật truyền nhau tâm thể đó, Tổ Tổ truyền nhau bản tâm này, vậy phải hiểu y bát chỉ để làm biểu tín bên ngoài khi chưa có người biết, còn khi mọi người đều biết thì nó không cần thiết nữa. Ngũ Tổ bảo tiếp:

“Ông phi đi nhanh, e người hi ông.” Hu Năng thưa: “Bây gi con phi đi đâu?” T bo: “Gp p Hoài thì dng, gp p Hi thì n.” Hu Năng canh ba lãnh được y bát, thưa: “Hu Năng vn là người min Nam không biết đường đi, làm sao ra được bến đò?” Ngũ T bo: “Ông chng phi lo, ta t đưa ông đi.” T lin đưa đến bến đò Cu Giang, T bo lên thuyn, Ngũ T bèn cm chèo t chèo. Hu Năng thưa: “Thnh Hòa thượng ngi, để đệ t chèo.” T bo: “Phi là ta độ ông.” Hu Năng thưa: “Khi mê thì Thy độ, ng ri thì t độ. “Độ” tên tuy là mt nhưng ch dùng không đồng. Hu Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không đúng, nh Thy truyn pháp nay đã được ng, ch nên t tánh t độ.” T bo: “Như thế, như thế! V sau Pht pháp do ông mà được thnh hành, ông đi ba năm, ta s th thế. Nay ông đi an vui, n lc hướng v Nam, không nên nói pháp sm, Pht pháp s gp tai nn.” Hu Năng t giã Ngũ T ri ct bước đi v phương Nam, trong khong hai tháng đến ngn núi Đại Du.

Lục Tổ ở trong hoàn cảnh bị người khinh, nhưng Ngũ Tổ nhìn ngài ở chỗ tâm sáng, vì tâm sáng nên xứng đáng được truyền pháp, còn cái hình thức, sự dốt nát v.v… là những điều bị thiên hạ khinh, người bị khinh mà được truyền pháp làm Tổ thì thiên hạ tức, do đó có thể bị hại. Thế nên giữa đêm Ngũ Tổ phải cực khổ lén đưa ngài Huệ Năng đi, có thể hai thầy trò cầm đèn đưa nhau ra bến đò, rồi qua bên kia sông lên bờ. Ngũ Tổ lại dặn dò: “Ngươi đi rồi, ba năm sau ta sẽ tịch, vậy ngươi đi bình yên, ráng đi về phía Nam, đừng có dạy sớm.” Thật là chí tình!

Ngũ T tr v, my ngày không thượng đường, chúng nghi mi đến hi: “Hòa thượng có ít bnh, ít não chăng?” Ngài đáp: “Bnh thì không, mà y pháp đã v Nam ri.” Chúng hi: “Ai là người được truyn?” T bo: “Người có kh năng thì được.” Chúng lin biết.

Vì họ đã được đọc bài kệ của ngài Huệ Năng nên khi nghe Ngũ Tổ nói họ liền biết là ngài. Biết rồi họ có tha không?

Khi đó vài trăm người đui theo, mun cướp y bát, mt v tăng h Trn, tên Hu Minh, trước là tướng quân bc T phm, tánh hnh thô tháo, hết lòng theo tìm, chy trước mi người, đui kp Hu Năng. Hu Năng để y bát trên bàn thch nói: “Y này là biu tín có th dùng sc mà tranh sao!” Hu Năng lin n trong lùm c, Hu Minh đến cm y lên mà không nhúc nhích, mi kêu rng: “Cư sĩ, cư sĩ! Tôi vì pháp mà đến ch không phi vì y.” Hu Năng bèn bước ra ngi trên bàn thch.

Hu Minh lin làm l thưa: “Mong cư sĩ vì tôi nói pháp.” Hu Năng bo: “Ông đã vì pháp mà đến thì nên dt sch các duyên, ch sanh mt nim, tôi vì ông nói.” Hu Minh im lng giây lâu. Hu Năng bo: “Không nghĩ thin, không nghĩ ác, chính khi y cái gì là bn lai din mc ca thượng ta Minh?” Hu Minh ngay câu nói đó lin đại ng.

Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Lục Tổ. Ngài thuyết pháp quá đơn giản. Ngài bảo: Ông dừng tất cả vọng tưởng, đừng nghĩ gì cả. Huệ Minh đứng lặng yên giây lâu thì Lục Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?” Huệ Minh liền ngộ. Như thế chỉ một câu nói, Huệ Minh ngộ được bản lai diện mục của mình.

Li hi: “Ngoài mt ng, mt ý trên, còn có mt ý khác chăng?” Hu Năng bo: “Vì ông nói tc không phi mt vy, ông nếu phn chiếu thì mt bên ông.”

Ông đừng hỏi nữa, đã vì ông mà nói rồi thì đâu còn mật. Cái mật là cái ông biết phản chiếu trở lại đó. Chúng ta thường có bệnh nghe nói chứng được Phật quả thì có Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v.v… ai nấy đều thích, nhưng nay nghe nói bản tâm mình thanh tịnh, hằng tri thì thắc mắc: Thế là không còn gì lạ nữa sao? Nếu chỉ được cái thanh tịnh hằng tri đó thì có vẻ thường quá, không có điều gì mật, điều gì quan trọng cả! Nhưng thật ra chính cái thanh tịnh hằng tri đó nếu mình sống được, lâu sau tự nhiên có cái mật. Đừng hỏi thêm, không ai chỉ thêm được điều gì nữa, cái đó là ở nơi mình chứ không phải ở nơi người chỉ. Người chỉ giúp cho mình nhận ra được cái đó, rồi mình sống với nó, lâu ngày bao nhiêu diệu dụng theo đó mà có, chứ không phải người khác làm cho mình được. Như vậy là ngài chỉ rõ mật là tại ông, tức là ông biết phản chiếu, cái mật ở nơi ông.

Hu Minh thưa: “Hu Minh tuy Hoàng Mai, tht chưa có tnh din mc ca chính mình, nay nh ch dy như người ung nước lnh nóng t biết. Nay cư sĩ tc là Thy ca Hu Minh.” Hu Năng bo: “Ông nếu như thế thì tôi cùng ông đồng th thy Hoàng Mai, khéo t h trì.”

Câu: “nay nhờ chỉ dạy như người uống nước lạnh nóng tự biết” là câu trình kiến giải. Như thế Huệ Minh cũng can đảm, là người xuất gia mà dám nhận một cư sĩ làm thầy.

Hu Minh li thưa: “Hu Minh t nay v sau nhm ch nào đi?” Hu Năng bo: “Gp Viên thì dng, gp Mông thì .” Hu Minh lin l t.

Đây là điểm tôi nghi, vì trước đó ngài chưa biết phải đi đâu, nên hỏi Ngũ Tổ “con phải đi đâu” thì Ngũ Tổ bảo “phùng Hoài… ngộ Hội v.v…”, nay thình lình Huệ Minh vừa ngộ hỏi con đi đâu thì ngài cũng dặn bảo được, thành ra mau quá, nên tôi nghi. Trong đoạn trước tôi có nói, người sau ghi lại muốn cho có vẻ huyền bí một chút, nên điểm tô thêm một ít nét, nếu chúng ta kiểm điểm lại thì thấy rõ. Nếu trước ngài đã biết tức ngài không hỏi Ngũ Tổ, vì ngài chưa biết thân phận mình, nên phải nhờ Ngũ Tổ định đoạt, trong lúc chạy trốn ngài đâu có ngày giờ ngồi tu mà nói tâm ngài được sáng, biết quá khứ vị lai? Đến khi Huệ Minh ngộ hỏi, ngài liền biết chỗ nào nên ở, chỗ nào nên đi, đó là ngài biết quá khứ vị lai rồi. Điều này e là người sau bổ túc, đó là điểm tôi nghi, vì khi nghiên cứu, chúng ta phải thấy điểm nào là thật, điểm nào là không thật, chứ không thể đọc sao nghe vậy.

Hu Minh tr v, xung núi bo nhng người đui theo: “Đi trên nhng đồi núi này trn không tìm ra tung tích, phi đi qua đường khác tìm.” C chúng đui theo đều cho là đúng. Hu Minh v sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh ch đầu ca tên Thy.

Huệ Minh nói gạt chúng là đi theo mấy ngọn đồi núi chập chùng này không tìm ra dấu vết gì cả, thôi tìm đường khác đi, đó là gạt chúng đừng đuổi theo.

Hu Năng sau đến Tào Khê li b bn người ác tìm đui, mi nơi T Hi, t nn trong đám th săn, tri qua mười lăm năm, khi đó cùng nhng người th săn tùy nghi nói pháp. Nhng người th săn thường bo gi ging lưới, khi Hu Năng thy nhng con vt mc lưới đều th. Mi khi đến ba ăn, hái rau gi luc trong ni tht, hoc có người hi thì đáp: “Ch ăn rau bên tht.”

Tu theo ngài cũng hơi dễ, rau luộc trong nồi thịt cũng dễ ăn hơn rau luộc bằng nước trong. Như thế quý vị thích tu theo cách này không? Mình ăn rau gửi luộc trong nồi thịt thôi, không ăn thịt! Nói thế thì có nhiều vị bắt chước, về nhà vợ con nấu thịt cũng bỏ rau vào luộc, đến khi ăn thì ăn rau thôi! Nhưng chúng ta không nên bắt chước như vậy. Chúng ta phải hiểu hoàn cảnh của ngài, ngài còn hình thức cư sĩ và ngài cũng giấu không cho người ta biết tung tích của ngài, nếu ngài tỏ ra là người tu, sợ người ta biết tung tích thì có hại, nên ngài giấu hẳn. Ngài sống như bao nhiêu người tầm thường khác, ngài cũng làm việc với thợ săn để mọi người không nghi ngờ, thế nên ngài không có quyền luộc một nồi rau riêng sợ người ta nghi, còn chúng ta hiện nay có quyền luộc rau riêng thì cứ luộc, tại sao muốn gửi trong nồi thịt? Đó là có ý xấu rồi! Phải hiểu hoàn cảnh mỗi bên khác nhau, đừng nghe rồi bắt chước, nói khi xưa Lục Tổ cũng luộc rau trong nồi thịt thì nay tôi cũng ăn rau bên cạnh thịt có hại chi đâu? Phải hiểu hoàn cảnh của ngài khác, hoàn cảnh của mình khác, mình có quyền luộc rau riêng được thì cứ luộc riêng, chứ cứ gửi theo kiểu đó mãi chắc là khó coi lắm! Hiểu như thế mới thấy ý nghĩa của mỗi phần, chứ nhiều khi chúng ta hay bắt chước người xưa một cách lố bịch, không đúng. Như thế là ngài chạy từ nơi Ngũ Tổ đến đây gần một năm và ở trong đám thợ săn mười lăm năm nữa tức là mười sáu năm trời vất vả!

Mt hôm, mi suy nghĩ: Thi hong pháp đã đến, không nên trn trn lánh. Hu Năng lin đến chùa Pháp Tánh Qung Châu, gp pháp sư n Tông đang ging kinh Niết-bàn. Khi y có gió thi, lá phướn động, mt v tăng nói gió động, mt v tăng nói phướn động, hai người cãi nhau không thôi. Hu Năng tiến ti nói: “Không phi gió động, không phi phướn động, tâm nhân gi động.” C chúng đều ngc nhiên. n Tông mi Hu Năng đến chiếu trên gn hi áo nghĩa, thy Hu Năng đối đáp, li nói gin d mà nghĩa lý rt đúng, không theo văn t. n Tông nói: “Cư sĩ quyết định không phi là người thường, đã lâu nghe y pháp ca Hoàng Mai đi v phương Nam, đâu chng phi là cư sĩ?” Hu Năng nói: “Chng dám!”

Chng dám là lời nói khiêm nhường chấp nhận.

Đến đây tôi nói chuyện phong phan một chút. Quý vị thấy ngài xuất đầu lộ diện qua câu chuyện gió động, phướn động. Giả sử như vào ngày rằm tháng tư, chúng ta treo lá cờ Phật giáo ở trước cửa, gió thổi lá cờ bay phất phới, có hai vị sư cãi nhau, một người nói gió động, một người nói cờ động, có một người khác lại nói: đó là tâm hai ông động. Nghe như thế, chúng ta có thấy quan trọng không? Cũng thường thôi. Nhưng tại sao khi ngài nói câu đó cả chúng đều ngạc nhiên? Tại sao? Thật ra vì hiện nay chúng ta thường được nghe câu chuyện đó, chúng ta đã quen rồi nên không ngạc nhiên. Nếu từ trước đến nay chưa từng nghe, mà thấy một cư sĩ nói một câu như vậy, tức nhiên mọi người đều lấy làm lạ, nếu một người xuất gia nói câu đó thì khả dĩ người ta không ngạc nhiên lắm, nay một cư sĩ mà nói một câu như thế thì mọi người đều biết cư sĩ này hẳn có một cái gì đặc biệt nên mới ngạc nhiên.

Nay tôi hỏi quý vị: gió động, phướn động, câu nào đúng? Nếu có phướn mà không có gió thì phướn động được không? Trái lại có gió nhưng không có phướn thì có thấy động không? Cũng không thấy! Như thế chúng ta thấy phướn động là nhân có gió và có phướn. Tướng duyên hợp không phải là một, mà có duyên hợp mới có động, nếu không có duyên hợp thì không có động, vì thế trên tướng duyên hợp mà chúng ta chấp một bên, đó là nhìn phiến diện, mà nhìn phiến diện thì không đúng được lý cứu cánh. Bởi vì mỗi bên nhìn một khía cạnh nên ai cũng thấy mình đúng cả, mà đã đúng rồi thì cãi nhau mãi cũng không ra lẽ. Thế nên, tất cả pháp trên thế gian này là tùy duyên, vì tùy duyên nên có động tác, có hình tướng v.v… Động tác, hình tướng đều là tướng của duyên, đã là của duyên thì không nên chấp vào một bên. Chấp vào một bên, nhìn phiến diện là gốc của sự tranh cãi. Trái lại nếu biết các pháp duyên khởi thì không có gì phải tranh luận, sở dĩ có tranh luận là do không nhận được lý đó. Thí dụ có người hỏi: cái bàn do cái gì làm ra, một người bảo: do gỗ làm ra, người thứ hai bảo: do ông thợ mộc làm ra, vậy ai đúng? Nếu không có gỗ, ông thợ mộc làm được cái bàn không? Còn nếu không có ông thợ mộc, gỗ có thành cái bàn không? Dĩ nhiên thiếu một trong hai điều kiện trên là không được, đó là chưa kể bao nhiêu vật nhỏ nhặt khác như đinh, bào, đục v.v… Vì vậy, chúng ta không thể nhìn phiến diện được, nếu chấp một bên là có tranh cãi, tranh cãi mãi không phân hơn thua, kết quả là đi đến nổi giận rồi đánh nhau. Thế gian thường xảy ra những cuộc đánh nhau, vì mỗi người đều có lý riêng của mình, lúc mới cãi còn nóng ít, dần dần ai cũng đỏ mặt rồi đánh nhau, nhưng kết quả không đi đến đâu cả. Chính đó là sự lầm lẫn của chúng sanh. Do đó chúng ta biết được lý duyên khởi, các pháp duyên khởi thì ở thế gian này không có gì phải tranh luận với nhau. Anh nhìn các pháp như thế này là do anh thấy khía cạnh này của chúng, người kia nhìn các pháp như thế kia là do người đó thấy khía cạnh khác của các pháp. Không ai đúng toàn diện cả. Nhìn toàn diện thì các pháp không cố định, tự tánh là không, duyên khởi là lý thật của các pháp. Thế nên chúng ta thấy rõ, trong câu chuyện “phong phan” này, do chấp một bên mà có sự tranh cãi.

Để chấm dứt cuộc tranh cãi, Lục Tổ bảo: Tâm nhân giả động! Tại sao Tổ bảo tâm các ông động? Chấp một bên, dấy niệm chấp là tâm động. Chấp là tâm chấp, nên nói tâm hai ông động, đó là nói chỗ rốt ráo, ngài chỉ thẳng gốc của sự tranh cãi là tâm chấp. Dấy niệm chấp là tranh cãi, động là từ cái chấp đó. Dấy niệm chấp là động, vì thế cả chúng nghe rồi đều hoảng hốt, không ngờ một cư sĩ lại nói được một câu như vậy. Thế là ngài xuất đầu lộ diện qua câu chuyện “phong phan”. Đó là những hình ảnh đẹp, những câu chuyện lý thú trong nhà thiền. Đến khi ngài Ấn Tông mời ngài giảng đạo thì ngài nói lời giản dị nhưng ý rất thâm sâu, nên ngài Ấn Tông mới bảo: Nghe y pháp của Ngũ Tổ đã về phương Nam, vậy chắc là ngài chứ không phải ai khác. Ngài đáp “không dám”, đó là một cách chấp nhận.

n Tông lin làm l, xin đưa y bát đã được truyn cho đại chúng xem. n Tông li thưa: “Hoàng Mai phó chúc, vic ch dy như thế nào?” Hu Năng bo: “Ch dy tc không, ch lun v kiến tánh, chng lun thin định gii thoát.”

Ngài Ấn Tông là một Pháp sư, trong khi Lục Tổ còn hình thức cư sĩ, nhưng vừa nghe như thế ngài liền làm lễ. Sau đó ngài xin Tổ đưa y bát đã được truyền cho đại chúng xem. Ngài Ấn Tông hỏi “Tổ Hoàng Mai chủ yếu chỉ dạy như thế nào” thì tổ Huệ Năng bảo: chỉ dạy thì không, chỉ luận về kiến tánh, không luận về thiền định giải thoát gì cả.

n Tông thưa: “Sao chng lun thin định gii thoát?” Hu Năng bo: “Vì y là hai pháp, không phi là Pht pháp. Pht pháp là pháp chng hai.” n Tông li hi: “Thế nào Pht pháp là pháp chng hai?” Hu Năng bo: “Pháp sư ging kinh Niết-bàn, rõ được Pht tánh, y là Pht pháp là pháp chng hai. Như B-tát Cao Quý Đức Vương bch Pht: Phm t trng cm, to ti ngũ nghch và nht xin-đề v.v… s đon thin căn Pht tánh chăng? Pht bo: Thin căn có hai, mt là thường, hai là vô thường, Pht tánh chng phi thường, chng phi vô thường, thế nên chng đon, gi là chng hai; mt là thin, hai là chng thin, Pht tánh chng phi thin, chng phi chng thin, y là chng hai; un cùng vi gii, phàm phu thy hai, người trí rõ thu tánh nó không hai, tánh không hai tc là Pht tánh.” n Tông nghe nói hoan h chp tay thưa: “Tôi ging kinh ví như ngói gch, nhân gi lun nghĩa ví như vàng ròng.” Khi y vì Hu Năng co tóc, nguyn th làm thy.

Hu Năng bèn dưới cây bđề khai pháp môn Đông Sơn. Hu Năng được pháp Đông Sơn, chu tt c nhng điu cay đắng, mng ging như si ch mành.

Ngày nay được cùng vi S quân, quan liêu, tăng ni, đạo tc đồng trong hi này đâu không phi là duyên ca nhiu kiếp, cũng là trong đời quá kh cúng dường chư Pht, đồng gieo trng căn lành mi nghe cái nhân được pháp môn đốn giáo này. Giáo y là các v thánh trước đã truyn, không phi t trí Hu Năng được, mong nhng người nghe các v thánh trước dy, mi người khiến cho tâm được thanh tnh, nghe ri mi người t tr nghi, như nhng v thánh đời trước không khác.

C chúng nghe pháp đều hoan h làm l ri lui.

Đến đoạn này Lục Tổ mới nói pháp không hai cho ngài Ấn Tông nghe. Pháp nào còn hai thì đó không phải là Phật pháp. Tổ bảo rằng: Thiền định giải thoát là pháp hai. Nếu là pháp hai tức chưa phải là pháp cứu cánh, thế nên nói Phật pháp là pháp không hai. Tại sao là pháp không hai? Ngài mới dẫn kinh Niết-bàn làm bằng chứng. Đoạn dẫn kinh Niết-bàn có nhiều người nghi, Tổ không có đọc kinh Niết-bàn thì làm sao biết mà dẫn. Nhưng trong một đoạn khác dẫn: Có một lần ngài ở trong các làng Hoài, Hội gặp một vị ni đem quyển kinh Niết-bàn đến hỏi, ngài có giải thích, vì thế nên ngài nhớ, mới dẫn ra làm bằng chứng rõ ràng về pháp môn bất nhị của Phật. Đó là pháp môn không hai, pháp môn không hai mới là pháp cứu cánh, còn nếu thấy có hai tức chưa phải là cứu cánh. Do đó ngài Ấn Tông mới chấp nhận ngài giảng kinh giống như ngói gạch còn Tổ luận nghĩa như vàng ròng. Khi ấy ngài Ấn Tông mới cạo tóc cho tổ Huệ Năng và thờ Tổ làm thầy.

Thế là Tổ nói xong lý do đắc pháp cho tất cả chúng nghe, ai nấy đều hoan hỷ. Nhưng Tổ nói một cách dè dặt: Pháp môn đốn giáo này là các vị thánh trước truyền, chứ không phải do trí của Huệ Năng tự được, vì thế nghe giáo lý của các vị thánh trước thì mỗi người ráng tịnh tâm nghe rồi trừ nghi và đúng quy cách các vị thánh đời trước mà tu hành đừng cho sai khác. Cả chúng nghe rồi, ai nấy đều hoan hỷ vâng làm. Vậy quý vị có hoan hỷ không? Nhớ noi gương Tổ nhé! Dù cực nhọc cũng nhớ rằng sự cực khổ của mình chỉ có một chút không đáng gì cả, xưa cần phải đeo đá để giã gạo Tổ vẫn làm kia mà. Giã gạo đã là cực rồi mà còn đeo thêm đá nữa thì cực biết bao, vậy mà Tổ vẫn làm, huống là chúng ta ngày nay nhổ cỏ, lặt rau, xách nước là chuyện thường có gì đến nỗi làm không được. Hiểu như thế rồi, mới thấy học đạo quý ở nhiệt tình. Hết tâm vì đạo thì được đạo, trái lại nếu sợ đau, sợ mệt, sợ chết v.v… thì hết việc đạo, chính những cái sợ đó làm chướng đạo vậy!

——–

[1] Đây là dụ cho người lợi căn thấy cơ thì làm.

[2] Tức là huyết mạch truyền trao từ chư tổ.

[3] Có bản nói: Tôi cũng cần tụng bài kệ này để kết duyên.

[4] Tứ Hội thuộc tỉnh Quảng Đông.

[5] Áo nghĩa: Tức là sâu kín.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.