Nội dung:
Tâm chẳng sanh thức, hằng Niết-bàn mà ở trong lưu chú. Thức chẳng lìa tâm, luống sanh tử mà thường trụ Niết-bàn. Thế nhưng mê tự tâm thì biển thức mênh mông sóng dậy, giác tự tính thì tâm thể lặng lẽ tròn đầy. Toàn kinh Lăng-già, Như Lai chỉ muốn khai thị một đại sự này mà thôi.
Phật dạy một phen con mắt bệnh thì ngàn hoa đốm rối loạn trong hư không, một phen vọng che tâm thì các tình lượng đóng cửa trí. Bệnh hết con mắt vẫn còn. Hoa đốm sạch hư không vẫn trong. Vọng sạch thì tâm tròn, tình mất thì trí sáng. Đã thế vì sao chúng ta vẫn mãi cam chịu bị mê tình trói chặt, không thử một phen đột phá, nhảy thẳng vào đất tâm, mặc sức dọc ngang trong tam giới, tha hồ bố hóa lợi lạc quần sanh.
Tổ sư Bồ-đề-đạt-ma đã lặn lội từ Tây thiên sang Đông độ, cũng chỉ để tìm được một truyền nhân trao lại bốn quyển Lăng-già, ấn tâm cho các bậc tông sư đời sau, rồi mới an lòng trở về Tây, đủ biết huyết mạch tâm tông thảy nằm trọn trong đây. Nhận thấy được yếu chỉ nhà thiền nơi bản Kinh này, Hòa thượng Ân sư đã chẳng ngần ngại văn kinh khúc chiết, ý kinh sâu xa khó có người thông đạt, Ngài vì muốn trợ duyên cho kẻ hậu học vượt khỏi sóng thức, dứt sạch mê tình mà giảng dịch toàn kinh Lăng-già vào những năm 1975 tại thiền viện Chơn Không – Vũng Tàu.
Cho đến nay trải qua hơn ba mươi năm, huynh đệ chúng tôi đọc lại bản Kinh này vẫn tinh khôi như ngày nào còn đoanh vây dưới chân thầy, rung cảm, chấn động và đôi khi thấy thật lạ lẫm trong từng lời Phật dạy. Bởi vì một ban kinh thuyết minh về tâm lượng của Như Lai thì không thể dùng thức tình của kẻ phàm phu mà suy lường nghĩ tưởng. Song mà, đồng cảm với các pháp lữ đang bối rối trước đoạn đường trở về cố hương, chúng tôi mạo muội ghi lai lời giảng dạy của Hòa thượng Ân sư, rất mong được chia sẻ cùng chư thiện hữu tri thức niềm tin và tấm lòng hành trì Phật đạo.
Thánh ý khó lường, dù đã hết sức cố gắng, chúng tôi vẫn không thể diễn đạt lại hết thâm ý của Phật, Tổ và lời giảng dạy của Thầy. Dám mong các bậc thức giả hoan hỷ bổ khuyết cho những gì còn sai sót trong tác phẩm này.
Thiền viện Thường Chiếu, ngày 10-12-2009
BAN VĂN HÓA THƯỜNG CHIẾU
THÍCH NHẬT QUANG
Chúng tôi phiên dịch bộ kinh Lăng-già Tâm Ấn này với mục đích cho tăng ni học tại thiền viện chúng tôi. Tuy nhiên trước chúng tôi đã có Sư bà Diệu Không dịch, ấn hành vào năm 1970 và 1971 rồi, song bản dịch ấy vì lược nhiều quá khiến chúng tôi không hài lòng, bất đắc dĩ phải dịch lại.
Ở đây chúng tôi dịch trung thực với thiền sư Hàm Thị không dám tăng giảm trong phần sớ giải. Nếu có giảm, chỉ đôi chút thôi. Bởi chúng tôi thấy, ngài Hàm Thị quả thật là một thiền sư ngộ đạo trong môn đình Tào Động, cho nên lời sớ giải của ngài rất phù hợp với Tâm tông. Trên phần chánh văn kinh, chúng tôi dịch nguyên âm những danh từ, không nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa, độc giả cần đọc qua phần sớ giải sẽ hiểu rõ. Vì chánh văn vừa tối nghĩa lại cô đọng khúc chiết, nếu không nhờ phần sớ giải, chúng ta không tài nào lãnh hội được.
Bản kinh ngài Hàm Thị sớ giải đây, nguyên tên là Lăng-già A-bạt-đa-la Bảo Kinh (Laϭkϩvatϩra-sϻtra), do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (Guϫabhadra dịch từ Phạn sang Hán, có bốn quyển. Bởi tổ Bồ-đề-đạt-ma sau khi truyền pháp cho tổ Huệ Khả còn bảo: “Xứ này có bốn quyển kinh Lăng-già có thể dùng ấn tâm…” nên ngài Hàm Thị sớ giải để thêm hai chữ Tâm Ấn. Tâm Ấn có nghĩa là toàn bộ kinh Lăng-già cốt làm sáng tỏ bản tâm. Người đọc khéo lãnh hội sẽ thấy rõ bản tâm mình, bao nhiêu lời Phật nói trong kinh dường như Phật đem tâm ngài in qua tâm mình. Cộng thêm lời giải của ngài Hàm Thị càng làm cho chúng ta thấy rõ bản lai diện mục của chính mình, hiện sờ sờ dưới bóng mặt trời trí tuệ của ngài. Vì thế, hai chữ Tâm Ấn thật là xứng đáng. Do đó ngoài bìa chúng tôi chỉ đề năm chữ kinh Lăng-già Tâm Ấn.
Về phẩm loại thì bản dịch đời Ngụy chia mười tám phẩm, bản dịch đời Đường chia mười phẩm, chỉ riêng bản này gồm chung lại một phẩm để tên là Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm, có bốn phần. Câu Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm đã nói lên chẳng những đức Phật Thích-ca nói kinh Lăng-già này chỉ thẳng bản tâm, ngoài tâm không có một pháp, mà tất cả chư Phật có nói ra cũng đều chỉ bản tâm. Như thế, để thấy Phật Phật giáo hóa không khác, pháp pháp đều hiện bày bản tâm.
Trong phần đầu trước khi giải kinh, ngài Hàm Thị có làm bài Tổng luận mà không để tên Tổng luận, lại để phẩm Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm phần một, khiến độc giả dễ lầm là văn kinh. Đó là ngài muốn nêu lên cho chúng ta thấy lời bàn luận của ngài ở đây do góp nhặt những yếu điểm trong kinh, chỗ tất cả chư Phật nói về tâm, chứ không có ý kiến nào riêng của ngài. Vì thế, trong bài Tổng luận này thật cô đọng có thể gom hết toàn ý bộ kinh. Độc giả thông được bài Tổng luận coi như nắm được yếu chỉ bộ kinh Lăng-già.
Bốn quyển kinh Lăng-già, ngài Hàm Thị giải thành tám quyển. Đến phần cuối kinh, độc giả sẽ ngạc nhiên tại sao không có câu: “Phật nói kinh này rồi, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni… đều rất vui mừng, tin nhận vâng làm, lễ bái lui đi” (Phật thuyết thử kinh dĩ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni… giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành, tác lễ nhi khứ). Bởi vì toàn bộ kinh Lăng-già rất nhiều, các vị học giả Ấn Độ mang sang Trung Hoa phần nào thôi, nên phiên dịch chưa đến phần chót.
Chúng tôi mong độc giả đọc bộ kinh Lăng-già này thấy được bản tâm, để khỏi cô phụ công ơn đức Phật dùng mọi cách chỉ dạy và khỏi uổng công ngài Hàm Thị đã nhọc nhằn giải thích cho chúng ta.
Kính ghi,
Tu viện Chơn Không, đầu xuân 1975
THÍCH THANH TỪ