Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải

03. Phẩm Thí Dụ



Trong kinh Pháp Hoa có tất cả bảy dụ, tại sao chỉ riêng phẩm này lấy tên là Thí Dụ, còn những phẩm khác cũng dụ mà không để tên Thí Dụ? Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói lên bản hoài của chư Phật ra đời, cốt làm sao cho tất cả chúng sanh đều được khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật của chính mình, hay nói cách khác là nhận ra và hằng sống với tánh giác của chính mình. Nhưng khi chư Phật ra đời không nói thẳng bản hoài đó, vì căn cơ chúng sanh chưa kham thọ nhận, nên Phật phương tiện nói ngũ thừa, tam thừa, sau cùng mới nói Phật thừa. Trong phẩm này, đức Phật đã dùng những thí dụ để làm sáng tỏ thêm chỗ cứu cánh, để hiển bày những phương tiện mà ngài đã dẫn dắt chỉ là tạm thời. Nhờ vậy đã giúp cho hàng trung căn dễ dàng nhận ra đâu là mục tiêu chính mà Phật muốn chỉ. Cho nên phẩm này lấy tên là Thí Dụ.

Chánh văn:

1. Lúc bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng: 

Nay con theo đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng hớn hở được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ-tát được thọ ký thành Phật, mà chúng con chẳng được dự việc đó, tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến Như Lai. 

Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vầy: “Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu thừa mà tế độ cho? 

Đó là lỗi của chúng con chứ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời chắc do pháp Đại thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp, vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy. 

Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật. 

Giảng: 

Ngài Xá-lợi-phất sau khi nghe Phật nói về trí tuệ Phật, ngài liền tin mình có khả năng thành Phật, hay nói một cách khác là ngài ngộ được tri kiến Phật của chính mình, nên vui mừng hớn hở đứng dậy chắp tay trình sở ngộ với Phật.

Xưa, ngài Xá-lợi-phất nghe Phật dạy Tứ đế hay Mười hai nhân duyên, chứ không nghe Phật nói tri kiến Phật, chỉ riêng hàng Bồ-tát mới được nghe và được thọ ký sẽ thành Phật, còn ngài thì không được dự phần. Tự thấy cảm thương mình nên những lúc ở dưới cội cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc kinh hành, ngài hằng nghĩ tất cả mọi người ai cũng như ai, tại sao người được nghe pháp tối thượng, người chỉ được nghe pháp Tiểu thừa? Tại sao có chỗ sai biệt như thế? Thí dụ nhiều người tới học đạo, có người tôi khuyên nên ăn ở hiền lành, sống làm sao cho gia đình được hòa thuận tin yêu lẫn nhau. Có người tôi dạy quán các pháp như huyễn để phá ngã chấp và pháp chấp, để tự mình được giải thoát và giải thoát cho chúng sanh. Dạy như vậy tôi có bất công không? Không. Dạy tu khế lý mà phải khế cơ, nếu trình độ người thấp mà dạy pháp cao thì họ không thể lãnh hội và ứng dụng tu được, nếu ứng dụng không được thì không có lợi ích mà còn thiệt hại là khác. Vì vậy buộc lòng phải nói pháp ngang với trình độ người nghe, cho họ được lợi ích thực tiễn. Còn đối với người đã thuần thục thì nói thẳng pháp cao họ ứng dụng được, chẳng những tự họ có lợi ích mà còn có lợi cho người sau. Sở dĩ Phật nói pháp sai biệt giữa các môn đồ là bởi căn cơ sai khác, với người trình độ thấp thì ngài dùng phương tiện nâng lên từ từ, đến khi họ kham lãnh được pháp lớn thì ngài bình đẳng nói pháp Nhất thừa. Vậy, nếu mình học pháp thấp mà người khác được học pháp cao, chớ trách người dạy bất công mà phải tự biết mình chưa đủ sức kham lãnh pháp cao, nên người hướng dẫn phải tùy thuận theo khả năng của mình mà dạy pháp thấp. Đó là cái khéo của người giáo hóa.

Ở đây, ngài Xá-lợi-phất tự nhận lỗi mình là đã mất vô lượng tri kiến Như Lai. Nghĩa là ngài có sẵn tri kiến Như Lai, nhưng vì căn cơ thấp kém nên Phật không nói thẳng Phật thừa cho ngài mà chỉ nói pháp Nhị thừa. Ngài tự cảm thương mình chứ không trách Phật. Nếu ngài chờ Phật nói cái nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi ngay đó mà tu hành thì sẽ được thành Phật. Nhưng vì không hiểu Phật phương tiện tùy cơ nói pháp Nhị thừa, liền tin và tu theo pháp Nhị thừa. Đó là lỗi ở ngài chứ không phải lỗi ở Phật.

Kế đó, ngài Xá-lợi-phất tán thán pháp mà Phật nói chưa từng có chưa từng nghe, dứt lòng nghi hối được an ổn. Ngài tự xác nhận mình con Phật, từ miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật. Sở dĩ ngài Xá-lợi-phất tự nhận như vậy là vì người tu lấy trí tuệ làm mạng sống, vì nhân lời Phật dạy mà được trí tuệ, đó là từ miệng Phật sanh, Nhờ pháp Phật khiến cho trí tuệ ngày càng tăng trưởng, đó là từ pháp hóa sanh. Được từng phần giác ngộ, nên nói được pháp phần của Phật.

Ngày nay, đa số người đi chùa tự nhận mình là Phật tử, tức là con của đấng Giác ngộ. Nếu không giác ngộ toàn phần thì ít ra cũng giác ngộ từng phần mới dám xưng là Phật tử, chứ không phải vô phần giác ngộ mà tự xưng là Phật tử được. Trong kinh Phật dạy, người học Phật phải có đủ ba môn trí tuệ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ tức là nghe lời Phật dạy mà khai thông trí tuệ, đó là từ miệng Phật sanh. Tư tuệ là do tư duy pháp Phật dạy mà trí tuệ phát sanh, đó là từ pháp hóa sanh. Tu tuệ là do tu thiền định mà phát sanh trí tuệ, đó là được pháp phần của Phật. Người học Phật phải có được một trong ba phần trí tuệ vừa nêu thì mới gọi là Phật tử, nếu không hiểu gì về đạo lý giải thoát thì chưa xứng đáng là Phật tử. Đây tôi nêu đôi phần giác ngộ để quý vị tự xét xem mình có phải là Phật tử không? Phật nói tất cả pháp có hình tướng ở thế gian đều là vô thường. Nếu tin mà chưa thấy rõ các pháp là vô thường thì chưa gọi là giác. Từ lâu chúng ta mê muội thấy đời là đẹp là thường, nhờ nghe Phật nói tất cả pháp có hình tướng đều là vô thường mà tâm sáng lên, biết mình đã mê lầm (Văn tuệ). Sau khi nghe rồi suy gẫm, nghiệm xét từ con người đến cảnh vật đều trải qua những giai đoạn thành trụ hoại không, biến dịch không ngừng, biết rõ ràng tất cả pháp có hình tướng đều bị luật vô thường chi phối (Tư tuệ). Sau khi xác nhận lời Phật dạy là chân lý, thì ứng dụng vào đời sống hằng ngày, chẳng hạn tâm vừa dấy khởi chạy theo sắc, theo danh, theo lợi… liền nhớ tới thân vô thường, cảnh vật vô thường, có đó rồi mất đó, đuổi theo danh lợi rồi danh lợi cũng sẽ mất, ngay đó dẹp được lòng tham danh lợi (Tu tuệ). Người tu sống được như vậy mới không hổ thẹn với danh xưng Phật tử.

Chánh văn: 

Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Con nghe tiếng pháp này

Được điều chưa từng

Lòng rất đỗi vui mừng 

Lưới nghi đều đã trừ,

Xưa nay nhờ Phật dạy

Chẳng mất nơi Đại thừa.

Tiếng Phật rất ít có

Hay trừ khổ chúng sanh 

Con đã được lậu tận 

Nghe cũng trừ lo khổ. 

Con ở nơi hang núi 

Hoặc dưới cụm cây rừng 

Hoặc ngồi hoặc kinh hành 

Thường suy nghĩ việc này.

Than ôi! Rất tự trách 

Sao lại tự khi mình 

Chúng ta cũng Phật tử

Đồng vào pháp vô lậu 

Chẳng được ở vị lai 

Nói pháp Vô thượng đạo,

Sắc vàng, ba hai tướng 

Mười lực, các giải thoát.

Đồng chung trong một pháp 

Mà chẳng được việc đây 

Tám mươi tướng tốt đẹp 

Mười tám pháp bất cộng 

Các công đức như thế

Mà ta đều đã mất. 

Giảng:

Ngài Xá-lợi-phất nghe Phật nói mọi người ai cũng có tri kiến Phật, và chủ yếu Phật ra đời là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Ngài tin chắc rằng ngài sẽ được pháp Đại thừa và được thành Phật. Ngài Xá-lợi-phất nói Phật thuyết pháp cốt là giải khổ cho chúng sanh. Rồi ngài tự trách mình là đệ tử của Phật, cũng được pháp vô lậu mà không được thọ ký thành Phật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thập lực, tám món giải thoát.

Chánh văn: 

3. Lúc con kinh hành riêng

Thấy Phật ở trong chúng

Danh đồn khắp mười phương

Rộng lợi ích chúng sanh.

Tự nghĩ mất lợi này 

Chính con tự khi dối 

Con thường trong ngày đêm 

Hằng suy nghĩ việc đó 

Muốn đem hỏi Thế Tôn 

Là mất hay không mất? 

Con thường thấy Thế Tôn

Khen ngợi các Bồ-tát 

Vì thế nên ngày đêm 

Suy lường việc như vậy.

Giảng:

Ngài Xá-lợi-phất khi ở chỗ vắng vẻ suy gẫm có phải mình đã tự mất giống Phật không, muốn đem hỏi Thế Tôn mà ngài chưa dám hỏi.

Chánh văn: 

4. Nay nghe tiếng Phật nói

Theo cơ nghi dạy pháp 

Vô lậu khó nghĩ bàn 

Khiến chúng đến đạo tràng.

Con xưa chấp kiến 

Làm thầy các Phạm chí 

Thế Tôn rõ tâm con 

Trừ tà nói Niết-bàn.

Con trừ hết tà kiến 

Được chứng nơi pháp không,

Bấy giờ lòng tự bảo 

Được đến nơi diệt độ.

Mà nay mới tự biết

Chẳng phải thật diệt độ.

Nếu lúc được thành Phật

Đủ ba mươi hai tướng 

Trời, người, chúng dạ-xoa

Rồng, thần đều cung kính

Bây giờ mới được nói

Dứt hẳn hết không thừa.

Phật ở trong đại chúng 

Nói con sẽ thành Phật 

Nghe tiếng pháp như vậy 

Lòng nghi hối đã trừ.

Giảng: 

Ngài Xá-lợi-phất nói thuở xưa ngài là thầy của ngoại đạo Phạm chí, Phật biết tâm của ngài nên giáo hóa ngài trừ hết các tà kiến, chứng được pháp không, tức Niết-bàn của Nhị thừa. Nghĩa là ngài quán sát thấy thân này do năm uẩn giả hợp mà thành, tự tánh nó là không nên nói là vô ngã. Người đạt được lý đó thì chứng quả A-la-hán. Ngài tưởng chứng quả A-la-hán là Niết-bàn thật. Bây giờ nghe Phật nói pháp Đại thừa mới biết đó là Niết-bàn tạm, chứ không phải Niết-bàn thật. Tu bao giờ công đức viên mãn thành Phật mới là Niết-bàn thật, ngài không nghi ngờ nữa.

Chánh văn: 

5. Khi mới nghe Phật nói

Trong lòng rất sợ nghi 

Phải chăng ma giả Phật

Não loạn lòng ta ư? 

Phật dùng các món duyên

Thí dụ khéo nói phô,

Lòng kia an như biển

Con nghe, lưới nghi dứt.

Phật nói thuở quá khứ

Vô lượng Phật diệt độ 

An trụ trong phương tiện 

Cũng đều nói pháp đó.

Phật hiện tại, vị lai 

Số nhiều cũng vô lượng 

Cũng dùng các phương tiện 

Diễn nói pháp như thế. 

Như Thế Tôn ngày nay 

Từ sanh đến xuất gia 

Được đạo chuyển pháp luân 

Cũng dùng phương tiện nói.

Thế Tôn nói đạo thật 

Ba tuần không nói được.

Vì thế con định biết 

Không phải ma giả Phật,

Con sa vào lưới nghi 

Cho là ma làm ra. 

Nghe tiếng Phật êm dịu

Sâu xa rất nhiệm mầu

Nói suốt pháp thanh tịnh

Tâm con rất vui mừng.

Nghi hối đã hết hẳn 

An trụ trong thật trí 

Con quyết sẽ thành Phật

Được trời, người cung kính 

Chuyển pháp luân Vô thượng

Giáo hóa các Bồ-tát.

Giảng: 

Khi mới nghe Phật nói những vị A-la-hán, Duyên giác tuy chứng Niết-bàn nhưng không phải thật, ngài Xá-lợi-phất tưởng chừng như ma hóa ra Phật nói. Vì ngày xưa Phật dạy pháp Tứ đế là lý chân thật, ngày nay lại nói Diệt đế chưa phải là cứu cánh, chưa phải là Niết-bàn nên ngài nghi. Nhưng ngài nghe Thế Tôn giảng chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai khi ra đời giáo hóa đều dùng phương tiện như nhau, trước nói ba thừa rồi sau nói Phật thừa, nhờ vậy mà ngài tin chắc đó là lời Phật nói không phải là ma. Nên ngài nói rằng nay nghe tiếng Phật rất êm dịu, sâu xa nhiệm mầu thanh tịnh, ngài vui mừng hết nghi, tin chắc sẽ thành Phật, nói pháp Đại thừa giáo hóa Bồ-tát. Tới đây ngài Xá-lợi-phất có lòng tin bất thối chuyển không còn lui sụt nữa, quyết định sẽ tiến tới quả Phật, vì vậy mà sau này được thọ ký thành Phật.

Chúng ta nghe Phật nói, có đủ lòng tin mình có sẵn tri kiến Phật, khởi tâm tu thì sẽ thành Phật không? Tri kiến Phật là cái nhân, là hạt giống Phật, nếu đã tiến tu không thối chuyển thì nhất định sẽ thành Phật không nghi. Và được thọ ký vô lượng kiếp về sau sẽ thành Phật, không cố định thời gian dài ngắn, quyết định sẽ thành Phật. Đó là then chốt mà người tụng hay trì kinh Pháp Hoa phải nắm vững. Nếu trì kinh Pháp Hoa mà còn mong cầu cho có phước, giàu sang, vui tươi, mát mẻ… thì chưa đúng tinh thần trì kinh Pháp Hoa.

Chánh văn: 

6. Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo Vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta. 

Xá-lợi-phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. 

Giảng:

Đức Phật Thích-ca mới thành Phật trong đời này, tại sao ở đây lại nói đức Phật đã từng ở hai muôn ức Phật, vì đạo Vô thượng thường giáo hóa ngài Xá-lợi-phất, ngài Xá-lợi-phất cũng đã từ lâu theo Phật thọ học, và được Phật phương tiện dẫn dắt cho vào pháp Phật? Phật lâu xa đó là chỉ cho Phật pháp thân, còn Phật thành đạo ở Ấn Độ là Phật hóa thân. Đứng về mặt pháp thân thì ai cũng có pháp thân Phật, nên nói Phật từng giáo hóa từ xa xưa, và đã từng dạy cho ngài Xá-lợi-phất tu với chí nguyện thành Phật, nhưng vì ngài Xá-lợi-phất quên đi. Khi nghe pháp Nhị thừa, ngài tu được diệt độ bèn cho là đã đủ. Vì vậy mà đức Phật đã nhắc lại hạnh nguyện xưa của ngài Xá-lợi-phất, rồi mới vì hàng Thanh văn nói kinh Pháp Hoa, để thấy tất cả mọi người ai cũng có bản nguyện thành Phật. Bản nguyện đó chính là Phật tánh sẵn có nơi mỗi người, nhưng vì quên, nên khi nghe pháp nhỏ liền chấp nhận và tu rồi tự hài lòng nơi đó. Bây giờ Phật nhắc ai cũng sẵn có tri kiến Phật và ai tu cũng sẽ thành Phật, chừng đó mới chợt nhận ra tu là phải thành Phật, chứ tầng bậc quả vị chỉ là tạm thời thôi.

Chánh văn: 

7. Xá-lợi-phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. 

Nước tên Ly Cấu, cõi đó bằng phẳng, thanh tịnh đẹp đẽ, an ổn giàu vui, trời, người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có bông trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh. 

Xá-lợi-phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là “Đại Bửu Trang Nghiêm”. Vì sao gọi là “Đại Bửu Trang Nghiêm”? Vì trong cõi đó dùng Bồ-tát làm “Đại Bửu” vậy. Các Bồ-tát đó số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể hay thí dụ đều không kịp đến được, chẳng phải sức trí tuệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa báu đỡ chân. 

Các vị Bồ-tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội đức từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tinh tu phạm hạnh, hằng được các Phật ngợi khen. Thường tu trí tuệ của Phật, đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững, bậc Bồ-tát như thế, khắp đầy nước đó. 

Xá-lợi-phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ lúc còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ-tát mà bảo các Tỳ-kheo: Ông Kiên Mãn Bồ-tát này kế đây sẽ thành Phật, hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây. 

Xá-lợi-phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ trong đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp. 

Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

8. Xá-lợi-phất đời sau 

Thành đấng Phật trí khắp

Hiệu rằng: Phật Hoa Quang

Sẽ độ vô lượng chúng.

Cúng dường vô số Phật 

Đầy đủ hạnh Bồ-tát 

Các công đức thập lực

Chứng được đạo Vô thượng 

Quá vô lượng kiếp rồi 

Kiếp tên Đại Bửu Nghiêm 

Cõi nước tên Ly Cấu 

Trong sạch không vết nhơ 

Dùng lưu ly làm đất 

Dây vàng giăng đường sá 

Cây bảy báu sắc đẹp 

Thường có hoa cùng trái 

Bồ-tát trong cõi đó 

Chí niệm thường bền vững 

Thần thông, ba-la-mật 

Đều đã trọn đầy đủ 

Nơi vô số đức Phật 

Khéo học đạo Bồ-tát

Những đại sĩ như thế 

Phật Hoa Quang hóa độ.

Lúc Phật làm vương tử 

Rời nước bỏ vinh hoa

Nơi thân cuối rốt sau

Xuất gia thành Phật đạo.

Phật Hoa Quang trụ thế

Thọ mười hai tiểu kiếp,

Chúng nhân dân nước đó

Sống lâu tám tiểu kiếp,

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp trụ ở đời

Ba mươi hai tiểu kiếp

Rộng độ các chúng sanh.

Chánh pháp diệt hết rồi

Tượng pháp cũng ba hai 

Xá-lợi rộng truyền khắp 

Trời, người khắp cúng dường

Phật Hoa Quang chỗ làm

Việc đó đều như thế. 

Đấng Lưỡng Túc Tôn kia 

Rất hơn không ai bằng 

Phật tức là thân ông 

Nên phải tự vui mừng.

Giảng:

Phật thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất trong đời vị lai, vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, cúng dường nghìn ức Phật, hộ trì chánh pháp đầy đủ đạo hạnh của Bồ-tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai. Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp sẽ thành Phật. Thời gian thành Phật quá xa mà ngài Xá-lợi-phất vui mừng cho rằng Được việc chưa từng có. Nếu chúng ta thời nay được Phật thọ ký với thời gian lâu xa như vậy sẽ thành Phật, chắc là không mừng, vì tu lâu quá nên ngán! Thọ ký khoảng năm mười năm thành Phật thì khả dĩ vui mừng và lo tu hành cho mau được kết quả. Có phải chúng ta sốt sắng mong mau thành Phật hơn ngài Xá-lợi-phất không?

Như trước đã nói, tri kiến Phật là cái không hạn cuộc ở không gian và thời gian. Vì nó là cái chưa từng sanh cũng như chưa từng diệt, nên nói bao nhiêu kiếp cũng là vô nghĩa, Chỉ biết mình có Phật tánh và tin mình tu sẽ thành Phật là đủ rồi. Chúng ta vì còn kẹt trên thời gian, chưa nhận ra tri kiến Phật, chỉ nhận cái thân tứ đại là mình, sống khoảng năm sáu chục năm là chết. Nên nghe nói vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, thấy quá xa không tin mình có thể thực hiện được. Đâu ngờ chính tri kiến Phật mới thật là mình. Ngài Xá-lợi-phất đã nhận ra tri kiến Phật chính là mình, biết có Phật nhân chắc chắn Phật quả không mất phần, nên dầu có bỏ bao nhiêu cái thân tứ đại duyên hợp tạm bợ này cũng không đáng kể. Chỉ cần Phật ấn chứng là an lòng, là mãn nguyện rồi.

Ngày nay chúng ta nghe nói tu khoảng một tỷ kiếp mới thành Phật thì buồn, thấy lâu xa quá không đủ kiên nhẫn để tu, nên xao lãng thối chí. Đó là do tâm sanh diệt nhỏ hẹp lệ thuộc thời gian, nên nghe Phật nói đến thời gian lâu xa không thể nghĩ lường thì hoảng sợ không đủ lòng tin. Có nhiều người tu hạn định trong khoảng thời gian ba năm hoặc năm năm phải đạt đạo. Thoạt nghe thì dường như người ấy có ý chí dõng mãnh đáng khen. Nhưng nếu tu ba năm, năm năm không đạt đạo thì sao? Thối Bồ-đề tâm. Đó là cái bệnh. Người tu mà nôn nóng mong mau thành đạo là người ý chí dõng mãnh hay người tham lam lười nhác? Thí dụ người chân yếu nghe nói cảnh đẹp nhưng đường dài, thì ngao ngán không muốn đi. Với người chân khoẻ, đường dài thì mặc đường dài, cứ nhắm đích mà thẳng tiến, không do dự không ngại ngùng, đó là người dõng mãnh gan dạ, bền chí.

Cũng vậy, chư Bồ-tát Thanh văn trong pháp hội lòng tin và ý chí đã vững, tuy Phật thọ ký trong khoảng thời gian lâu xa như vậy mà các ngài hoan hỷ vui mừng, tâm không chao động thối lui. Chúng ta ngày nay lòng tin không vững, thiếu nghị lực, tu muốn cho mau đạt đạo nên dễ bị gạt, rơi vào đường tà, rẽ ngã này tẽ ngã kia, rốt cuộc rồi không đến đích. Đó là bệnh chung của đa số người tu Phật hiện nay. Với người tu chân chánh, một phen nghe Phật dạy, biết rõ tu là để giác ngộ thành Phật, lúc nào cũng thấy rõ lẽ thật hư của các pháp, không lầm, không mong dễ, không mong mau, không ham hào nhoáng hấp dẫn, cứ như thế mà sống cho đến khi hoàn toàn triệt ngộ là đến đích thành Phật. Những cái hào nhoáng hấp dẫn thu hút là cái quảng cáo dối gạt người tu. Lý đạo chân thật thì thậm thâm vi diệu, lặng lẽ, không nổi bật, không phô trương màu mè để thu hút người. Nếu người tu Phật càng chạy theo những cái phô trương hấp dẫn là càng xa với đạo.

Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất thành Phật, nước tên Ly Cấu, kiếp tên Đại Bửu. Cõi nước Ta-bà ngũ trược của đức Phật Thích-ca, chúng sanh nhiều nghiệp ác nên Phật mới phương tiện dùng ngũ thừa hoặc tam thừa để giáo hóa. Tại sao cõi nước Ly Cấu là cõi nước thanh tịnh, Phật cũng dùng ba thừa để giáo hóa? Đây là bản nguyện của tất cả chư Phật mười phương đều dùng phương tiện nói ba thừa. Sở dĩ gọi kiếp tên Đại Bửu Trang Nghiêm là vì kiếp đó có vô số Bồ-tát tu hành thanh tịnh, là những bậc cao minh trang nghiêm cõi Phật, chứ không phải cõi đó trang nghiêm bằng châu báu vàng bạc.

Qua dữ kiện này, chúng ta thấy chùa nào tăng ni tu hành chân chánh thanh tịnh thì chùa đó được người đời quý trọng. Nếu chùa nào tăng ni phạm trai phá giới, tu hành lôi thôi thì người đời xem thường. Như vậy người đời quý kính là quý kính tâm người cao đẹp thanh tịnh, nếu tâm người ô uế bất tịnh thì không quý. Vậy chư tăng ni đừng quan niệm rằng cất chùa cho thật to, thỉnh Phật cho thật lớn, trang hoàng cho thật lộng lẫy là người đời quý trọng chùa mình. Người đời quý kính là quý kính người tu chân chánh cầu đạo giải thoát, chứ không phải trọng cảnh đẹp. Cho nên người tu ngộ đạo dù cho vị đó mặc áo vá, ăn cơm hẩm, ở hang đá hay am tranh, người ta vẫn tìm đến lễ bái cúng dường. Đạo lý là ở nơi con người, người thanh tịnh mới đáng tôn kính quý trọng. Như vậy người tu đừng có tâm mơ mộng tạo chùa cảnh cho đẹp để mai kia mình trụ trì, mà phải cố gắng nỗ lực tu, chính mình tu chân chánh mới dạy được người tu đàng hoàng, đó là trang nghiêm chùa cảnh.

Muốn cõi Phật mình được trang nghiêm thì phải thực hiện đủ hai môn phước và tuệ. Về phần tuệ tự mình phải nỗ lực tu tỉnh để được giác ngộ viên mãn, về phần phước thì phải giáo hóa chúng sanh. Khi đã giáo hoa chúng sanh viên mãn thì thành Phật. Giả sử đời này chúng ta ngộ đạo là đã có trí tuệ, nhưng chưa giáo hóa chúng sanh làm sao có phước? Sở dĩ Bồ-tát khi thành Phật có vô số đồ đệ Thanh văn Bồ-tát, là những bậc tu phạm hạnh, tu trí tuệ Phật, có sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, tâm ngay thật, chí bền vững, là do thời gian hành Bồ-tát đạo giáo hóa chúng sanh lâu dài, nên mới có quyến thuộc đông như vậy, và có phước tròn đầy nên mới được tôn xưng là Lưỡng Túc Tôn. Ngày nay, chúng ta tu muốn năm năm, bảy năm thành Phật, trong khi chưa độ sanh làm sao được phước tuệ viên mãn? Vậy nếu được Phật thọ ký khoảng thời gian lâu dài sẽ thành Phật, chúng ta có buồn ngán không? Thời gian tu tập lâu dài thì việc lợi sanh cũng nhiều, phước đức thêm lớn. Khi việc tự giác giác tha đã viên mãn thì mới đủ phước và tuệ để thành Phật, quyến thuộc mới đông nhiều để trang nghiêm cõi Phật đúng như hạnh nguyện. Tu chỉ muốn năm năm, bảy năm thành Phật, làm sao có đủ phước tuệ để thành Phật? Dù muốn thành cũng không thể thành.

Đoạn này có hai điểm đáng lưu ý. Kiếp chót của đức Thích-ca thành Phật sanh làm vương tử, ở đây Phật thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất kiếp chót thành Phật cũng làm vương tử và các đức Phật cũng đều như vậy. Tại sao đời chót của chư Phật đều sanh làm vương tử mà không sanh trong gia đình bần cùng? Vì khi Bồ-tát tu tới quả vị Nhất sanh bổ xứ thì phước đức vô lượng vô biên, nên sanh làm vương tử mà không sanh vào chỗ xấu ác. Hơn nữa, vương tử bỏ ngôi đi tu, để cho mọi người thấy rằng ngài đang trong ngũ dục lạc sung mãn, mà gan dạ từ bỏ ngũ dục lạc, khiến cho mọi người ngưỡng mộ kính phục để giáo hóa họ. Và một vương tử có đủ quyền thế mà còn từ bỏ, trong khi mọi người là những kẻ không có chút quyền hành, sao không gan dạ xả bỏ để tu?

Phần Trùng tụng lặp lại ý trên nên tôi không giảng, tuy nhiên bốn câu chót

Đấng Lưỡng Túc Tôn kia, 

Rất hơn không ai bằng,

Phật tức là thân ông,

Nên phải tự vui mừng.

Tại sao nói Phật tức là thân ông? Vì ngài Xá-lợi-phất nhận ra tri kiến Phật của chính mình, nên ngài tin chắc sẽ thành Phật, và ngài cũng được Phật thọ ký thành Phật. Bởi ngay nơi thân năm uẩn phàm phu này có sẵn Phật nhân nên nói Phật tức là thân này. Trong Chứng Đạo Ca của thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, đoạn mở đầu có câu Huyễn hóa không thân tức pháp thân nghĩa là ngay nơi thân năm uẩn duyên hợp huyễn hóa này tức là pháp thân, pháp thân không rời thân năm uẩn này mà có. Ngay thân năm uẩn của mỗi người ai cũng có sẵn pháp thân, nhưng vì không dám nhận nên tự thấy mình là kẻ phàm phu vô phần, nếu đủ lòng tin dám nhận thì thấy mình có phần, sẽ thành Phật. Vậy không cần tìm kiếm Phật ở đâu xa, chỉ khéo nhận pháp thân chân thật ngay nơi thân năm uẩn huyễn hóa này, và hằng sống với pháp thân chân thật thì được an vui tự tại. Nên nói Phật tức là thân ông, nên phải tự vui mừng.

Chánh văn: 

9. Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ và cả đại chúng: trời, rồng, dạ-xoa, càn thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già v.v… thấy Xá-lợi-phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật. 

Thích-đề-hoàn-nhân cùng Phạm Thiên vương v.v… và vô số thiên tử cũng đem y đẹp của trời, hoa trời mạn-đà-la, ma-ha mạn-đà-la v.v… cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trỗi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng: 

Đức Phật xưa ở thành Ba-la-nại, ban đầu chuyển pháp luân, đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn Vô thượng. 

Lúc đó các thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10. Xưa ở thành Ba-nại 

Chuyển pháp luân bốn đế 

Phân biệt nói các pháp 

Sinh diệt của năm nhóm

Nay lại chuyển pháp luân

Rất lớn diệu Vô thượng,

Pháp đó rất sâu mầu

Ít có người tin được.

Chúng ta từ xưa lại 

Thường nghe Thế Tôn nói 

Chưa từng nghe thượng pháp 

Thâm diệu như thế này.

Thế Tôn nói pháp đó 

Chúng ta đều tùy hỷ,

Đại trí Xá-lợi-phất 

Nay được lãnh Phật ký,

Chúng ta cũng như vậy 

Quyết sẽ được thành Phật,

Trong tất cả thế gian

Rất tôn không còn trên,

Phật đạo chẳng thể bàn

Phương tiện tùy nghi nói,

Ta bao nhiêu nghiệp phước

Đời nay hoặc quá khứ 

Và công đức thấy Phật 

Trọn hồi hướng Phật đạo.

Giảng:

Lần đầu đức Phật nói pháp Tứ đế ở vườn Lộc Uyển, để phá ngã chấp cho năm anh em ông Kiều-trần-như khiến chứng Niết-bàn Thanh văn. Nay đức Phật nói pháp vô thượng vi diệu khó tin khó hiểu, mà ngài Xá-lợi-phất có khả năng tin nhận và được Phật thọ ký, cho nên tất cả thính chúng trong pháp hội đều vui mừng tùy hỷ. Theo các kinh A-hàm thì ngài Xá-lợi-phất là đệ tử lớn của Phật, là người được thời trí, tức là trí tuệ ứng đối kịp thời, hỏi là đáp không cần suy nghĩ, khiến cho người nghe tiếp nhận dễ dàng, nên được khen ngợi là người trí tuệ bậc nhất, là hàng thượng căn. Khi nghe Phật nói pháp tối thượng vi diệu thì ngài ngộ trước. Cả hội chúng đều hớn hở vui mừng cúng dường y, cúng dường hoa lên đức Phật. Đó là tâm tùy hỷ của người xưa vì đạo. Còn phần đông chúng ta ngày nay thấy có người hơn mình thì không vui, khởi lên những niệm ty hiềm, nên tu không tiến là ở chỗ đó. Phần trùng tụng lặp lại ý trên không có gì khác nên khỏi giảng.

Chánh văn: 

11. Bấy giờ, Xá-lợi-phất bạch rằng: 

Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: “Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết-bàn.” Các vị hữu học, vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v… nói là được Niết-bàn, mà nay ở trước đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối. 

Giảng:

Ngài Xá-lợi-phất thấy chỉ có ngài được thọ ký, số người còn lại chưa được thọ ký. Với tâm lượng của đàn anh, ngài được lợi ích thế nào thì cũng muốn cho huynh đệ được lợi ích như thế ấy, nên ngài bạch với Phật rằng nay con không còn nghi hối, được Phật thọ ký. Còn một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo thuộc hàng hữu học và vô học ở trong chúng, thường theo Phật nghe pháp Tứ đế, tu chứng Niết-bàn, nghe Thế Tôn nói về tri kiến Phật, các Tỳ-kheo ấy nghi ngờ không biết mình có kham làm Phật không? Ngài Xá-lợi-phất muốn đức Phật vì một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo ấy mà giải thích rõ hơn, nên ngài vừa tán thán công đức những vị ấy vừa cầu xin đức Phật thương xót mà nói pháp cho họ hết nghi lầm, đều được thọ ký như ngài. Đó là tâm hạnh của Bồ-tát. Còn tâm lượng phàm phu thì khác, chỉ muốn mình hơn người chứ không muốn người bằng mình, vì có người bằng mình thì mình mất giá trị. Đó là tâm bệnh của chúng ta hiện nay.

Chánh văn: 

12. Khi ấy, Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: 

Ta trước đâu không nói rằng: “Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” ư? Các điều nói đó đều vì dạy hàng Bồ-tát vậy. Nhưng Xá-lợi-phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà đặng hiểu. 

Giảng:

Tới đây, đức Phật bắt đầu chỉ cho mọi người biết rằng đoạn trước chư Phật dùng phương tiện này phương tiện nọ để giáo hóa chúng sanh, nhưng cuối cùng chỉ đưa họ đến quả vị Phật. Bây giờ muốn rõ thì nghe Phật thí dụ:

Chánh văn: 

13. Xá-lợi-phất! Như trong quốc, ấp, tụ lạc có vị đại trưởng giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông: hoặc một trăm, hai trăm, cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chân cột hư nát, trính xuyên xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa. 

Các người con của trưởng giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó. 

14. Trưởng giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn, không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi. 

Xá-lợi-phất! Ông trưởng giả đó lại nghĩ: Thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế v.v.. từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ. Nhà này đã bị cháy phải liền mau ra, chớ để bị lửa đốt hại. 

Nghĩ như thế rồi theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa! Gì là nhà! Thế nào là hại! Chỉ cứ đông tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi. 

Giảng:

Đây là cái cớ đầu tiên của bậc đại trí, đức Phật đưa thí dụ ông trưởng giả tuổi già, giàu có, nhiều ruộng vườn tôi tớ, nhà rộng lớn chỉ có một cửa để ra vào, cột kèo trính xuyên hư mục, vách phân xiêu vẹo, con trong nhà có hàng mấy chục người đang nô đùa chơi giỡn, bỗng lửa bốc cháy bốn phía nhà.

Thấy lửa bốc cháy, ông trưởng giả lo ngại và nghĩ rằng ông tuy ở trong nhà lửa, nếu muốn ra thì ra một cách dễ dàng, còn đám con của ông cứ mải miết chơi giỡn, không hề hay biết, không hề sợ lửa đốt cháy thân mình, cũng không có ý muốn ra khỏi nhà lửa. Ông trưởng giả bảo các con mau ra khỏi nhà lửa, thế mà các người con không nghe, nhìn ông rồi cứ chạy giỡn.

Nhà lửa là chỉ cho cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc đang bị lửa vô thường, lửa tham, sân, si thiêu đốt, mà chúng sanh ở trong ba cõi này không hay biết, không có ý muốn ra. Chúng ta sống trong cõi đời này, một ngày trôi qua là một ngày bị lửa vô thường thiêu đốt mòn một phần thân thể, một tháng trôi qua là một tháng bị lửa vô thường thiêu đốt thân mình, một năm trôi qua là một năm bị lửa vô thường thiêu hoại hình hài. Rồi sáu mươi năm, bảy mươi năm, tám mươi năm… toàn thân con người bị thiêu rụi, hoàn toàn sụp đổ. Lửa vô thường thiêu đốt, làm hư hoại người vật từng giây phút, từng ngày giờ, từng năm tháng mà chúng ta không hay không biết! Thầy trụ trì Thiện Phát xưa ở Phước Hòa có vóc dáng tráng kiện tươi trẻ, khi tới Huệ Nghiêm cũng còn khỏe mạnh, rồi tới Chơn Không sức cũng còn kha khá, bây giờ ở Thường Chiếu thì đã già nua yếu đuối. Đó là một bằng chứng cụ thể, lửa vô thường âm thầm thiêu đốt tất cả người vật không ngừng nghỉ.

Chúng ta xét kỹ rồi thương mình thương người, dù cho người có nhiều tiền của, nhà lầu, xe hơi, quyền thế danh vọng cũng không thoát được cái nạn lửa vô thường thiêu đốt. Vậy mà con người cứ mãi đuổi theo danh lợi quyền thế và mong cho ngày tháng qua mau, trông chờ xuân đến để thực hiện những mộng mơ ước muốn của mình cho tốt. Đâu ngờ rằng mong ngày tháng qua mau là mong lửa vô thường sớm thiêu rụi hình hài này! Tâm người quá mâu thuẫn, luôn luôn sợ chết, không muốn chết sớm, mà mong ngày tháng qua mau, thật là mê lầm điên đảo đáng thương. Nên Phật thuyết giáo cho biết thân là vô thường, các pháp là hư dối; tuy có nghe nhưng vẫn còn mê say ngũ dục, chưa có ý muốn ra khỏi. Cũng giống như những đứa con ông trưởng giả, tuy nghe cha nói nhà cháy sắp sụp đổ, nguy hiểm tới rồi, mà vẫn cứ mải mê chơi giỡn, không chịu chạy ra, không nghe lời cha khuyên bảo. Đó là những đứa con ngu si bất hiếu. Vậy mà đêm nào chúng ta cũng lạy Phật cầu nguyện: Con kính tin Tam bảo, học tu theo giáo pháp Phật để được giải thoát sanh tử. Và những buổi sám hối quỳ thưa có vẻ thống thiết lắm, nhưng rồi thì chứng nào tật nấy không chịu sửa đổi.

Đời sống của người tu là đời sống cao thượng, ý thức được lý vô thường, biết rõ lửa vô thường đang âm ỉ đốt cháy thân mình, mong muốn thoát ra khỏi nhà lửa nên mới đi tu. Thế mà khi đi tu rồi lại quên, cũng tìm cách này cách nọ để giải trí cho vui, giết chết thời giờ vô ích. Để thời giờ và công sức vào việc tu học thì thấy như làm một việc khó nhọc cực khổ. Thí dụ tối và khuya tôi tăng giờ tụng kinh và ngồi thiền thì quý vị ngán, than không kham nổi. Còn nếu để cho quý vị vui chơi văn nghệ tới khuya thì không ai than thở, lại còn lấy làm thích thú. Vậy văn nghệ có cứu quý vị thoát khỏi lửa vô thường thiêu đốt không? Hay chỉ là những trò chơi giải trí cho vui, qua rồi thì mất? Việc tu là việc cấp thiết để giải khổ thì lại lơ là!

Vì biết chư tăng ni có chí nguyện xuất gia cầu giải thoát sanh tử, tức là cầu ra khỏi nhà lửa, cho nên tôi khuyến khích thúc đẩy cho quý vị nỗ lực tu hành. Khuyến khích thúc đẩy là cái duyên tốt đưa quý vị ra khỏi sanh tử luân hồi, mà quý vị không biết đón nhận, lại có ý tránh né. Có người nói ở đây vừa làm việc, vừa học, vừa tu cực quá, để đi chỗ khác tu cho khỏe! Tu là tu cho quý vị chứ đâu phải tu cho tôi, quý vị tu một ngày là quý vị được lợi ích một ngày, tôi có được lợi ích gì đâu? Chúng ta mê muội tập khí sâu dày, tuy có tỉnh giác phát nguyện xuất gia, tuy xuất gia nhưng lâu rồi quên, trở lại thói cũ là ngu si của thuở xưa, cũng ham chơi, chạy theo những thú vui của thế tục, chứ không chịu lo tu hành để giải thoát sanh tử. Nếu là người trí khi đã xuất gia rồi thì trong lòng đau đáu, nghĩ phải làm sao thoát khỏi nhà lửa này, chứ không ngồi yên chờ cho lửa cháy tới thiêu rụi cả nhà, cả thân. Khi nào ra khỏi nhà lửa rồi mới an ổn vui chơi. Ngày nào còn trong nhà lửa là ngày đó phải tỉnh giác, biết sợ cái hiểm nguy của lửa vô thường thiêu đốt mà cố gắng thoát ra.

Chánh văn: 

15. Bấy giờ Trưởng giả liền nghĩ: Nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không liền ra chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này. 

Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trận báu lạ lùng, nếu có chắc chúng nó ưa lắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có, khó được mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy, sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa, nên mau ra đây, tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con.” 

Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình, nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau, cùng đua nhau ruổi chạy, tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng giả thấy các con đặng an ổn ra khỏi nhà lửa, đều ở trong ngã tư đường ngồi nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở. 

Bấy giờ các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu, xin liền ban cho.” 

Giảng: 

Nghiệm lại mới thấy cái si mê của chúng ta quá lắm, đang bị nguy hiểm bủa vây, đáng sợ mà không sợ, lại cứ mải miết tham mê, Phật kêu ra mà không ra. Thật đáng thương! Cho nên ngài mới tìm cách dẫn dụ.

Trưởng giả biết các con ham chơi, ưa thích đồ quý đẹp, nên bảo: Các con mau ra khỏi nhà lửa, cha sẽ cho đồ chơi quý tốt như xe dê, xe hươu, xe trâu, ở ngoài cửa sẽ tùy ý dạo chơi, hãy ra mau! Các người con nghe có đồ chơi tốt quý sanh lòng ham thích, đua nhau chạy ra.

Tất cả chúng ta đều mê lầm nên Phật nói thẳng lẽ thật, chúng ta không kham tin nhận nên ngài phải dùng phương tiện dụ dỗ mới chịu nghe. Cái mà đem ra dụ dỗ thì không thật, nhưng đức Phật lại nói. Tuy là cái dụ dỗ không thật mà vẫn hơn. Khi chúng sanh tu để ra khỏi nhà lửa tam giới, chỉ nghĩ sẽ được quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Nhưng khi ra khỏi nhà lửa rồi thì được Phật chỉ cho Phật thừa bình đẳng, quá sức tưởng tượng, quá điều mong ước của chúng sanh.

Tới đây chúng ta mới thấy lòng từ bi của đức Phật vô lượng vô biên, ngài dùng đủ mọi phương tiện dẫn dụ, thế mà chúng ta có người nghe có người không nghe, cứ quanh quẩn trong cảnh nguy hiểm khổ đau không chịu ra. Thậm chí ngài phải khai thác tâm lý để dẫn dụ: Ráng niệm Phật chừng mười câu, nếu được nhất tâm bất loạn thì được Phật A-di-đà và Thánh chúng đón về Cực lạc, ở đó không có khổ, cực kỳ vui sướng, muốn gì được nấy. Ngài biết chúng sanh đang ham mê ngũ dục lạc ở thế gian, ham tiền của, vàng bạc châu báu nên Phật nói ở cõi Cực lạc đất cát thì bằng vàng, có lan can, lưới, cây, ao bằng bảy báu, lầu các làm bằng pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Chúng sanh tham ưa mùi thơm, sắc đẹp, tiếng hay thì Phật nói cõi Cực lạc có hoa sen lớn, có ánh sáng đủ màu, mùi thơm vi diệu, có nhạc trời, chim báu ngày đêm ca hát với âm thanh tuyệt diệu. Thích ăn ngon, Phật nói ở Cực lạc muốn ăn liền có ăn… toàn là những cái đúng với sở thích của chúng sanh. Như vậy cho thấy đức Phật từ bi đáo để và rất khéo dùng phương tiện trị bệnh đam mê dục lạc của chúng sanh ở cõi này. Phật nói thẳng chúng sanh không nghe, không tin, nên phải dẫn dụ, dụ bằng cách này không được thì dụ bằng cách khác. Thấy tâm lượng của Phật, chúng ta vừa tôn kính Phật mà cũng vừa tức cười cho mình là đứa bé bị dụ dỗ!

Chánh văn: 

16. Xá-lợi-phất! Khi đó Trưởng giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau giồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rũ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh, bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó. 

Vì cớ sao? Vì ông trưởng giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cực, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác. 

Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho cả người một nước hãy còn không thiếu, huống gì các con.” Lúc ấy, các người con đều ngồi xe lớn được điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông. 

Giảng:

Ông trưởng giả dụ những người con ra khỏi nhà lửa sẽ cho ba xe, nhờ vậy mà chúng đua nhau chạy ra khỏi nhà lửa. Khi chúng ra rồi ông trưởng giả không cho ba xe, mà chỉ cho xe trâu trắng lớn bậc nhất, trang trí bằng những vật quý giá. Sở dĩ ông cho như vậy là vì tâm ông bình đẳng không muốn có sự sai biệt giữa các con. Vả lại ông là người giàu có của cải vô lượng, giả sử cho xe tốt đó khắp người trong thiên hạ cũng không thiếu. Vậy, xe trâu trắng đó là dụ cho tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người; nếu biết quay lại với chính mình, không đuổi theo trần cảnh thì tri kiến Phật hiện tiền, lúc bấy giờ an vui, tự do, tự tại, vô ngại.

Qua thí dụ này, chúng ta thấy cái đặc biệt của đạo Phật là nêu lên những cảnh vô thường, khổ não, bất như ý thường xuyên chi phối con người. Sau khi chỉ cho thấy những khổ đau rồi dạy phải tu để thoát khỏi cảnh khổ đó, thì sẽ được an vui tự tại vô ngại. Mới thoạt nhìn thấy đạo Phật như bi quan, nhưng nếu biết nhìn và biết sống đúng lẽ thật thì đạo Phật rất lạc quan và tích cực.

Chánh văn: 

17. Xá-lợi-phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông trưởng giả đó đồng đem xe trận báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng? 

Xá-lợi-phất thưa: 

Thưa Thế Tôn! Không, ông trưởng giả đó chỉ làm cho các người con đặng khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa. 

Thế Tôn! Dầu ông trưởng giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông trưởng giả đó trước có ý nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông trưởng giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích cho các con mà đồng cho xe lớn! 

Giảng:

Đức Phật hỏi ngài Xá-lợi-phất: Ông trưởng giả hứa cho ba xe, bấy giờ các con ra khỏi nhà lửa, ông chỉ cho có một xe trâu trắng, như vậy ông có lỗi dối gạt không? Ngài Xá-lợi-phất trả lời: Không. Vì ông trưởng giả muốn cho các con khỏi bị lửa thiêu đốt thân mạng, nên dùng phương tiện dẫn dụ cho ra khỏi nhà lửa để thoát khỏi nạn khổ. Chẳng những không cho xe nhỏ mà lại cho xe lớn là điều quá tốt, quá sức tưởng tượng của các con, khiến chúng được điều chưa từng có, lợi ích vui sướng khôn lường.

Cũng vậy, Phật thuyết pháp lập ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát rõ ràng. Tới đây Phật nói ba thừa đó không thật, chỉ có Phật thừa mới là cứu cánh. Như vậy là sao? Điều này chúng ta phải hiểu cho thật kỹ. Đức Phật với tâm bình đẳng thương chúng sanh như nhau, không muốn có sự sai biệt giữa người này với người khác. Sở dĩ trước Phật lập ba thừa là vì căn cơ chúng sanh còn thấp, nên Phật tùy theo đó mà phương tiện hướng dẫn từ từ. Nay chúng đã đủ khả năng tin nhận nên Phật chỉ thẳng Phật thừa rốt ráo, để tất cả đều được lợi ích như nhau.

Chánh văn:

18. Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: 

Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói, Xá-lợi-phất! Như Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri kiến, trí lực, vô sở úy; có sức đại thần thông cùng sức trí tuệ đầy đủ các món phương tiện, trí tuệ ba-la-mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loài mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa: sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sanh được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 

19. Ta thấy các chúng sanh bị những sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm, không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này, đông tây rảo chạy dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo. 

Giảng:

Đức Phật là bậc trí tuệ viên mãn, có đủ trí lực, vô sở úy, thần thông, ba-la-mật, vì thương tất cả chúng sanh còn đang mê đắm ngũ dục trong nhà lửa tam giới, nên ngài mới nguyện sanh vào trong nhà lửa này để độ tất cả ra khỏi nhà lửa. Lửa đó là lửa; sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, lo, buồn. Lửa sanh, già, bệnh, chết âm ỉ thiêu đốt con người từ lúc tóc xanh cho tới bạc đầu không lúc nào dừng nghỉ. Còn lửa tham tài, tham sắc, tham danh… người muốn có nhiều tiền của hay danh vọng thì phải lao thần, hao khí, tổn giảm sức lực nhiều mới có tiền tài, danh vọng, và đã có rồi thì phải phí công gìn giữ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật có thí dụ: Một cây hương khi được đốt lên, mùi hương lan tỏa dần ra, người xung quanh ngửi được mùi thơm thì cây hương cháy đã gần tàn. Cũng vậy, khi chúng ta tạo cho đủ điều kiện để thành danh, có quyền lợi thì sức lực đã hao mòn, thân già tóc bạc… Nếu tham mà không được thỏa mãn thì sân hận nổi lên, hoặc lo buồn dấy khởi, tinh thần rối loạn, nói xằng làm bậy, thân tâm bất an, sức khỏe suy yếu. Đó là lửa tham, lửa sân, lửa si thiêu đốt con người, khiến cho người khổ đau bất tận.

Sở dĩ chúng ta bị sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, lo, buồn, khổ não đốt cháy, là vì chúng ta thích ưa năm món dục lạc ở thế gian là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mắt mê sắc đẹp, tai ưa tiếng hay, mũi thích mùi thơm, lưỡi ưa vị ngon, thân thích xúc chạm cái trơn, láng, mềm, ấm… Nếu chạy theo năm món đó thì con người đau khổ. Suốt ngày đi làm nhọc mệt cho có tiền, để ăn cho thật ngon, mặc cho thật đẹp, rồi tối đi xem hát, nghe nhạc… Cả ngày làm vất vả nhọc nhằn chỉ để thỏa mãn năm món dục lạc. Càng đuổi theo dục lạc càng bị lửa tham dục, lửa sân hận, lửa si mê đốt cháy khốn khổ vô cùng. Chẳng những khổ trong đời hiện tại, lại chính vì đuổi theo danh lợi, tài sắc mà con người gây nhiều tội lỗi tày trời. Khi đã tạo những cái nhân tày trời rồi thì quả khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở đời sau không tránh khỏi.

Thọ báo xong, nếu trở lại làm người thì cũng làm người cùng khổ, lại bị cái khổ người yêu thương xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ; bao nhiêu thứ khổ dồn dập không có ngày dừng, không có ngày ra.

Chánh văn: 

20. Xá-lợi-phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí tuệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi. 

Xá-lợi-phất! Đức Như Lai lại nghĩ: Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí tuệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sanh khen ngợi các món tri kiến, trí lực, vô sở úy của Như Lai, ắt chúng sanh chẳng có thể do đó mà được độ thoát. 

Vì sao? Vì các chúng sanh đó chưa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, đau khổ, đang bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí tuệ của Phật. 

Giảng:

Con người mê lầm ngay trong đời hiện tại, khi còn khỏe mạnh thì chạy theo tài sắc, danh lợi… đến khi già chết thì lại lo di chúc cho con cháu chọn đất tốt để chôn, xây mộ cho kiên cố… Chết là thân tứ đại trả về cho tứ đại, thân này vô thường không giữ được, thế mà muốn tạo cái mộ để đời, tất cả đều là tướng vô thường làm sao giữ được? Lớp mê lầm này chồng chất lên lớp mê lầm kia, khổ này chồng lên khổ khác, bao giờ mới ra khỏi?

Đức Phật nói ngài có đủ sức thần thông và trí lực vì chúng sanh nói thẳng kinh Pháp Hoa, nhưng ngài không áp dụng. Vì sức chúng sanh chưa kham tin nhận, nên phải bày những phương tiện như tam thừa, hay cõi Cực lạc… Nhờ những phương tiện này chúng sanh ứng dụng tu hành, tự thấy rõ ở trong tam giới là khổ, ham thích quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát là chỗ an vui, để tự cố gắng thoát ra khỏi nhà lửa tam giới. Phật ra vào trong tam giới tự do không ngại, tại sao ngài không dùng thần thông hay trí lực đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử mà phải dùng phương tiện dẫn dụ? Vì muốn ra khỏi luân hồi sanh tử vĩnh viễn, thì mỗi người phải tự ý thức luân hồi sanh tử là khổ đau và tìm lối thoát ra. Đó là mỗi người tự tạo nhân rồi thọ quả, chứ Phật không thế được. Thí dụ một học giả thông minh tài giỏi đỗ tiến sĩ, có những đứa con lười biếng học. Ông biết học dốt thì thua sút bạn bè, ra đời khó sống; ông thương, muốn chúng nó học giỏi như ông, mà chúng cứ lười biếng ỷ lại cha mình là người thông minh tài giỏi nên không chịu học hành. Ông tuy thương con, nhưng không thể đem cái thông minh học giỏi của mình cho con được, nên mới dụ các con hãy ráng học ông sẽ cho đồ chơi, để cho các con ham mà lo học thành người tài giỏi, Cũng giống như Phật dẫn dụ chúng sanh thực hành theo lời ngài dạy để được hết khổ.

Hiện tại chúng ta tu cứ cầu Phật cho mình thế này cho mình thế khác. Rõ ràng nếu cho được, cứu được thì Phật đã dùng thần thông trí lực khiến cho chúng sanh không già, không bệnh, không chết, cũng như hết tham, hết sân, hết si. Thế mà, chính thân tứ đại của ngài cũng già cũng chết; tham, sân, si cũng do ngài tu mới hết và mới thành Phật. Đây là một lẽ thật mà tất cả mọi người tu Phật phải biết và cố gắng thực hành lời Phật dạy để thoát khỏi khổ đau, chứ không phải do lễ lạy van vái mà Phật ban vui cứu khổ cho chúng ta được.

Chánh văn: 

21. Xá-lợi-phất. Như ông trưởng giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, vậy sau đều cho xe trận báu lớn. 

Đức Như Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí tuệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sanh, vì chúng sanh nói ba thừa Thanh văn, Duyên giác cùng Phật thừa, mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham, mê ắt sanh ái nhiễm thời sẽ bị nó đốt; các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ được chứng ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa. Nay ta vì các ngươi mà bảo nhiệm việc đó quyết không dối vậy. Các ngươi chỉ nên siêng năng tinh tấn tu hành”. 

Đức Như Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sanh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc, không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác chi, thánh đạo, thiền định vô lậu, cùng giải thoát tam-muội v.v… để tự vui sướng, được vô lượng sự an ổn khoái lạc.” 

Giảng:

Thích ưa sắc, thanh, hương, vị, xúc là cái vui tạm bợ thô hèn. Nếu còn kẹt trong ngũ dục là còn có ái nhiễm, có ái nhiễm là bị lửa tham dục thiêu đốt. Muốn ra khỏi ba cõi thì đừng đuổi theo ngũ dục lạc. Nếu dứt được ngũ dục lạc thì sẽ được ba thừa, và khi được ba thừa thì sẽ được an lạc, tức là đã ra khỏi nhà lửa tam giới.

Chánh văn: 

22. Xá-lợi-phất! Nếu có chúng sanh nào bề trong có trí tánh, theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết-bàn, gọi đó là Thanh văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa. 

Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhân duyên của các pháp, gọi đó là Duyên giác thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa. 

Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, các món tri kiến lực, vô úy của Như Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Đại thừa, Bồ-tát vì cầu được thừa này thời gọi là Ma-ha-tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa. 

Giảng:

Trở lại thí dụ nhà lửa với ba xe. Nếu người nghe Phật nói pháp Tứ đế, tinh tấn tu hành chứng Niết-bàn gọi là Thanh văn thừa, dụ như những người con cầu xe dê. Người nghe Phật nói Mười hai nhân duyên, ở chỗ vắng vẻ quán sát lý duyên sanh của các pháp gọi là Duyên giác thừa, dụ như những người con cầu xe hươu. Người nghe pháp tin nhận, tinh tấn tu hành cầu Nhất thiết trí, Phật trí, có lòng từ bi vô lượng làm lợi ích cho chúng sanh gọi là Đại thừa, dụ như những người con cầu xe trâu.

Chánh văn: 

23. Xá-lợi-phất! Như ông trưởng giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Đức Như Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sanh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sanh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi được sự vui Niết-bàn. 

Bấy giờ đức Như Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí tuệ, lực, vô úy v.v.. tạng pháp của các đức Phật, các chúng sanh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như Lai mà cho chúng sanh nó diệt độ. 

Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui thiền định, giải thoát v.v… của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng thánh khen ngợi, hay sanh ra sự vui sạch mầu bậc nhất.” 

24. Xá-lợi-phất! Như ông trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn, vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng Đại thừa mà độ giải thoát đó. 

Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí tuệ, lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết. 

Xá-lợi-phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. 

Giảng:

Phật hỏi lại ngài Xá-lợi-phất một lần nữa. Khi các con ra khỏi nhà lửa được an ổn, ông trưởng giả bình đẳng cho các con một thứ xe là xe trâu trắng. Cũng như đức Phật tuy có phương tiện nói ba thừa, nhưng khi chúng sanh đủ khả năng kham nhận, Phật nói ba thừa là không thật, chỉ thẳng tri kiến Phật là chỗ cứu cánh mà chư Phật hằng khen ngợi hằng hộ niệm, như vậy ngài có mắc lỗi nói dối hay không? ngài Xá-lợi-phất trả lời rằng: Phật không có lỗi nói dối, vì Phật từ bi, phương tiện và bình đẳng độ cho chúng sanh thoát khỏi khổ đau.

Đức Phật kết thúc chỗ cứu cánh chỉ có một Phật thừa, nhưng vì phương tiện nên nói thành ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát.

Chánh văn:

Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

25. Thí như ông trưởng giả 

Có một nhà rất lớn 

Nhà đó đã lâu cũ 

Mà lại rất xấu xa,

Phòng nhà vừa cao nguy 

Gốc cột lại gãy mục, 

Trính xuyên đều xiêu vẹo 

Nền móng đã nát rã,

Vách phên đều sụp đổ

Đất bùn rơi rớt xuống, 

Tranh lợp sa tán loạn 

Kèo đòn sai rời khớp,

Bốn bề đều cong vậy 

Khắp đầy những tạp nhơ,

Có đến năm trăm người

Ở đỗ nơi trong đó.

Chim xi, hiêu, điêu, thứu, 

Quạ, chim thước, cưu, cáp, 

Loài nguyên xà, phúc yết,

Giống ngô công, do diên,

Loài thủ cung, bá túc,

Dứu, ly cùng hề thử,

Các giống độc trùng dữ

Ngang dọc xen ruổi chạy,

Chỗ phân giải hôi thúi

Đồ bất tịnh chảy tràn

Các loài trùng khương lương 

Bu nhóm ở trên đó, 

Cáo, sói cùng đã can 

Liếm nhai và giày đạp

Cắn xé những thây chết 

Xương thịt bừa bãi ra,

Do đây mà bầy chó 

Đua nhau đến ngoạm lấy,

Ốm đói và sợ sệt

Nơi nơi tìm món ăn 

Giành giật cấu xé nhau 

Gầm gừ gào sủa rân,

Nhà đó sự đáng sợ 

Những biến trạng dường ấy,

Khắp chỗ đều có những 

Quỷ, ly, my, vọng, lượng,

Quỷ dạ-xoa, quỷ dữ

Nuốt ăn cả thịt người 

Các loại trùng độc dữ

Những cầm thú hung ác

 Ấp, cho bú, sản sanh 

Đều tự giấu gìn giữ,

Quỷ dạ-xoa đua đến 

Giành bắt mà ăn đó, 

Ăn đó no nê rồi 

Lòng hung dữ thêm hăng 

Tiếng chúng đánh cãi nhau 

Thật rất đáng lo sợ.

Những quỷ cựu-bàn trà 

Ngồi xổm trên đống đất 

Hoặc có lúc hổng đất 

Một thước hay hai thước 

Qua rồi lại, dạo đi 

Buông lung chơi cùng giỡn 

Nắm hai chân của chó 

Đánh cho la thất thanh 

Lấy chân đạp trên cổ

Khủng bố chó để vui.

Lại có các giống quỷ

Thân nó rất cao lớn 

Trần truồng thân den xấu 

Thường ở luôn trong đó

Rền tiếng hung ác lớn 

Kêu la tìm món ăn.

Lại có các giống quỷ

Cổ nó nhỏ bằng kim,

Lại có các giống quỷ

Đầu nó như đầu trâu,

Hoặc là ăn thịt người 

Hoặc lại ăn thịt chó,

Đầu tóc rối tung lên

Rất ác lại hung hiểm,

Bị đói khát bức ngặt

Kêu la vừa rong chạy.

Dạ-xoa cùng quỷ đói

Các chim muông ác độc

Đói gấp rảo bốn bề

Rình xem nơi cửa sổ,

Các nạn dường thế đấy

Vô lượng việc ghê sợ,

Giảng:

Nhà đã hư mục xiêu vẹo, bị lửa lớn đốt cháy, trong nhà có những cảnh khổ đang diễn ra như: các loài thú dữ, các loài ma quỷ độc ác v.v… luôn luôn tìm cách đe dọa và chực cắn nuốt lẫn nhau. Những chúng sanh trong tam giới cũng thế. Ở cõi Dục, ngoài cái khổ sanh, già, bệnh, chết bức ngặt bản thân, ngoài cái khổ do tham, sân, si, mạn, nghi, đố kỵ… ở nội tâm dày vò, giằng co, còn bị những cái khổ bên ngoài như nghèo thiếu, đấu tranh, chúng sanh với chúng sanh gây họa hại cho nhau, chém giết lẫn nhau… không sao kể xiết. Ở đây đức Phật diễn tả bằng những hình ảnh cọp sói giành giật mồi cắn xé lẫn nhau, yêu quý, hung thần rình rập ăn nuốt thịt người, ăn nuốt thịt thú… Những chúng sanh ở cõi Sắc và Vô sắc tuy có sung sướng thỏa mãn khoái lạc, không còn bị khổ xác thân nhưng vẫn còn bị sự biến dịch của tâm hồn, vẫn còn bị luật vô thường chi phối, hết phước cũng bị đọa lạc nên vẫn còn khổ.

Chánh văn: 

26. Nhà cũ mục trên đó 

Thuộc ở nơi một người

Người ấy vừa mới ra 

Thời gian chưa bao lâu 

Rồi sau nhà cửa đó 

Bỗng nhiên lửa cháy đỏ

Đồng một lúc bốn bề 

Ngọn lửa đều hừng hực,

Rường cột và trính xuyên 

Tiếng tách nổ vang động 

Nát gãy rơi rớt xuống 

Vách phên đều lở ngã,

Các loại quỷ thần thủy

Đồng cất tiếng kêu to,

Các giống chim điêu, thứu

Quỷ cựu-bàn trà thủy

Kinh sợ chạy sảng sốt

Vẫn không tự ra được,

Thú dữ, loài trùng độc

Chui núp trong lỗ hang.

Các quỷ tỳ-xá-xà

Cũng ở trong hang đó

Vì phước đức kém vậy

Bị lửa đến đốt bức

Lại tàn hại lẫn nhau

Uống máu ăn thịt nhau.

Những loại thú đã can

Thời đều đã chết trước

Các giống thú dữ lớn

Giành đua đến ăn nuốt. 

Khói tanh bay phùn phụt

Phủ khắp bít bốn bề,

Loài ngô công, do diễn

Cùng với rắn hung độc

Bị lửa lòn đốt cháy 

Tranh nhau chạy khỏi hang,

Quỷ bàn-trà rình chờ 

Liền bắt lấy mà ăn.

Lại có các ngạ quỷ

Trên đầu lửa phực cháy

Đói khát rất nóng khổ

Sảng sốt chạy quàng lên,

Nhà lửa đó dường ấy 

Rất đáng nên ghê sợ 

Độc hại cùng tại lửa 

Các nạn chẳng phải một.

Giảng: 

Đoạn này đức Phật diễn tả lại cảnh khổ của các người con trong nhà lửa, nào là các loài quỷ dữ, các giống thú dữ, các loài trùng độc đang làm hại lẫn nhau… Ông trưởng giả là người đã ra khỏi nhà lửa, là vị chủ nhân của căn nhà này. Thấy lửa đang cháy, các con đang bị lửa thiêu đốt vô cùng khốn khổ, ông thương và lo cho những người còn ở trong nhà này.

Chánh văn: 

27. Lúc bấy giờ chủ nhà 

Đứng ở nơi ngoài cửa 

Nghe có người mách rằng:

Các người con của ông 

Trước đây vì dạo chơi 

Mà đến vào nhà này 

Thơ bé không hiểu biết 

Chỉ vui ham ưa đắm.

Trưởng giả vừa nghe xong 

Kinh sợ vào nhà lửa 

Tìm phương nghi cứu tế

Cho con khỏi thiêu hại

Mà dụ bảo các con 

Nói rõ các hoạn nạn:

Nào ác quỷ độc trùng 

Hỏa tai lan tràn cháy

Các sự khổ thứ lớp 

Nối luôn không hề dứt 

Loài độc xà, nguyên, phúc 

Và các quỷ dạ xoa

Cùng quỷ cưu-bàn-trà 

Những dã can, chồn, chó 

Chim điêu, thứu, si, kiêu 

Lại giống bá túc thảy

Đều đói khát khổ gấp 

Rất đáng phải ghê sợ 

Chỗ khổ nạn như thế

Huống lại là lửa lớn.

Các con nhỏ không hiểu

Dầu có nghe cha dạy 

Cứ vẫn còn ham ưa 

Vui chơi mãi không thôi.

Giảng: 

Ông trưởng giả ra khỏi nhà lửa, biết đàn con mình đang bị lửa thiêu đốt mà không hay, cứ say mê chơi giỡn, thích ưa đồ chơi không có giá trị, không biết lối ra, mắc phải nạn lửa thiêu đốt.

Chánh văn: 

28. Bấy giờ trưởng giả kia 

Mới bèn nghĩ thế này:

Các con như thế đó 

Làm ta thêm sầu não.

Nay trong nhà lửa này

Không một việc đáng vui 

Mà các con ngây dại

Vẫn ham mê vui chơi

Chẳng chịu nghe lời ta

Toan sẽ bị lửa hại.

Ông bèn lại suy nghĩ 

Nên bày các phương tiện 

Bảo với các con rằng:

Cha có rất nhiều thứ 

Các đồ chơi trận kỳ 

Những xe báu tốt đẹp 

Nào xe dê, xe hươu 

Cùng với xe trâu lớn

Hiện để ở ngoài cửa 

Các con mau ra đây

Cha chính vì các con

sắm những xe này

Tùy ý các con thích 

Có thể để dạo chơi.

Các con nghe cha nói

Các thứ xe như vậy 

Tức thời cùng giành đua 

Rảo chạy ra khỏi nhà 

Đến nơi khoảng đất trống

Rời những sự khổ nạn.

Trưởng giả thấy các con

Được ra khỏi nhà lửa

Ở nơi ngã tư đường

Đều ngồi tòa sư tử.

Ông bèn tự mừng rằng

Ta nay rất mừng vui 

Những đứa con ta đây

Đẻ nuôi rất khó lắm 

Chúng nhỏ dại không hiểu

Mới lầm vào nhà hiểm 

Có nhiều loài trùng độc 

Quỷ ly my đáng sợ 

Lửa lớn cháy hừng hực 

Bốn phía đều phực lên

Mà các trẻ con này

Lại ham ưa vui chơi 

Nay ta đã cứu chúng 

Khiến đều được thoát nạn.

Vì thế, các người ơi!

Ta nay rất vui mừng.

Khi ấy, các người con

Biết cha đã ngồi an

Đều đến bên chỗ cha 

Mà thưa cùng cha rằng:

Xin cha cho chúng con 

Ba thứ xe báu lạ 

Như vừa rồi cha hứa 

Các con mau ra đây 

Sẽ cho ba thứ xe 

Tùy ý các con muốn 

Bây giờ chính phải lúc 

Xin cha thương cấp cho.

Giảng: 

Ông trưởng giả khi biết đàn con đang say mê chơi giỡn trong nhà lửa, ông lấy làm lo ngại, muốn cho chúng ra khỏi nhà lửa, phải dùng phương tiện dụ dỗ cho các thứ đồ chơi quý báu như xe dê, xe hươu, xe trâu tùy theo ý thích, nếu chạy ra thì sẽ được cho. Những người con nghe nói thế, đua nhau chạy ra khỏi nhà. Khi các con ra khỏi nhà lửa thì ông trưởng giả rất vui mừng và đàn con bu quanh xin ông cho đồ chơi báu đẹp. Những người con trong nhà lửa này khi ra khỏi nhà lửa là đã thoát nạn mà không nghĩ mình đã thoát nạn, vẫn còn mang lòng tham, mong cầu đồ chơi quý đẹp. Cũng vậy, chúng ta tu cứ nghĩ tới chứng đắc quả vị này quả vị khác, chứ không biết rằng chủ yếu của sự tu hành là xả ly mọi cố chấp mọi loạn tưởng; hết chấp hết loạn tưởng thì tự nhiên được an vui giải thoát. Hiểu như vậy mới thấy được lý đạo. Phần nhiều chúng ta tu bị kẹt trên phương tiện, hết kẹt phương tiện này đến phương tiện khác, đó là do bệnh si mê, nói lẽ thật không chịu tin nhận, cứ tham lam ham chứng đắc nên mãi chìm trong luân hồi sanh tử.

Chánh văn:

29. Trưởng giả giàu có lớn 

Kho đụn rất nhiều đầy 

Vàng, bạc cùng lưu ly,

Xa cừ, ngọc mã não,

Dùng những món vật báu

Tạo thành các xe lớn 

Chưng dọn trang nghiêm đẹp 

Khắp vòng có bao lớn 

Bốn mặt đều treo linh 

Dây vàng xen thắt tụi 

Lưới mành kết trân châu 

Giăng bày phủ phía trên

Hoa vàng các chuỗi ngọc

Lòng thòng rã khắp chỗ 

Các màu trang sức đẹp 

Khắp vòng xây quanh xe

Dùng nhiễu hàng mềm mại

Để làm nệm lót ngồi

Vải quý mịn rất tốt 

Giá trị đến nghìn muôn 

Bóng láng trắng sạch sẽ 

Dùng trải trùm trên nệm

Có trâu trắng to lớn 

Mập khỏe nhiều sức mạnh 

Thân hình rất tươi tốt 

Để kéo xe báu đó 

Đông những tôi và tớ 

Mà chực hầu giữ gìn

Đem xe đẹp như thế

Đồng ban cho các con.

Các con lúc bấy giờ

Rất vui mừng hớn hở

Ngồi trên xe báu đó

Dạo đi khắp bốn phương

Vui chơi nhiều khoái lạc 

Tự tại không ngăn ngại. 

Giảng:

Khi các con ra khỏi nhà lửa, đến vây quanh ông trưởng giả xin đồ chơi. Với tâm bình đẳng, ông cho các con toàn xe trâu trắng trang hoàng bằng những vật báu ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự mong ước của các con.

Chánh văn: 

30. Bảo Xá-lợi-phất này!

Đức Phật cũng như vậy

Tôn cả trong hàng thánh 

Cha lành của trong đời 

Tất cả các chúng sanh 

Đều là con của ta 

Say mê theo thế lạc 

Không có chút tuệ tâm,

Ba cõi hiểm không an

Dường như nhà lửa cháy

Các nạn khổ dẫy đầy 

Rất đáng nên ghê sợ 

Thường có những sanh, già,

Bệnh, chết và rầu lo 

Các thứ lửa như thế 

Cháy hừng chẳng tắt dứt.

Đức Như Lai đã lìa 

Nhà lửa ba cõi đóng

Vắng lặng ở thong thả 

An ổn trong rừng nội 

Hiện nay ba cõi này 

Đều là của ta cả 

Những chúng sanh trong đó 

Cũng là con của ta.

Mà nay trong ba cõi

Có nhiều thứ hoạn nạn 

Chỉ riêng một mình ta

Có thể cứu hộ chúng,

Dầu lại đã dạy bảo 

Mà vẫn không tin nhận 

Vì nơi các dục nhiễm 

Rất sanh lòng tham mê 

Bởi thế nên phương tiện

Vì chúng nói ba thừa 

Khiến cho các chúng sanh 

Rõ ba cõi là khổ 

Mở bày cùng diễn nói

Những đạo pháp xuất thế.

Các người con đó thảy 

Nếu nơi tâm quyết định

Đầy đủ ba món minh 

Và sáu món thần thông

Có người được Duyên giác

Hoặc bất thối Bồ-tát.

Xá-lợi-phất phải biết! 

Ta vì các chúng sanh 

Dùng món thí dụ này

Để nói một Phật thừa

Các ông nếu có thể 

Tin nhận lời nói đây 

Tất cả người đều sẽ 

Chứng thành quả Phật đạo.

Giảng:

Tòa nhà xiêu vẹo hư mục đang bốc cháy, dụ như ở trong ba cõi, chính bản thân của chúng sanh đang bị lửa vô thường thiêu đốt, không thân nào, cảnh nào là không bị lửa tàn phá. Ở trong nhà lửa có đủ thứ hình tướng ghê tởm, đủ thứ hung hiểm ác độc đe dọa sát hại lẫn nhau, đó là dụ cho tham sân si biến ra thiên hình vạn trạng làm khổ con người mà không ai biết. Vì vậy Phật phương tiện dẫn dụ Niết-bàn Thanh văn, Niết-bàn Duyên giác, Niết-bàn Bồ-tát để cho chúng sanh thích, tu hành thoát khỏi phiền não khổ đau. Sau cùng Phật chỉ thẳng tri kiến Phật là chỗ cứu cánh viên mãn. Nếu người đến được chỗ rốt ráo này thì an vui tự tại vô ngại.

Chánh văn: 

31. Phật thừa đây vi diệu 

Rất thanh tịnh thứ nhất

trong các thế gian 

Không còn pháp nào trên

Của các Phật vui ưa,

Tất cả hàng chúng sanh

Đều phải nên khen ngợi

Và cúng dường lễ bái

Đủ vô lượng nghìn ức 

Các trí lực, giải thoát 

Thiền định và trí tuệ

Cùng pháp khác của Phật,

Chứng đặng thừa như thế

Khắp cho các con thảy 

Ngày đêm cùng kiếp số

Thường đặng ngồi dạo chơi,

Cho các hàng Bồ-tát 

Cùng với chúng Thanh văn 

Nương nơi thừa báu này

Mà thẳng đến đạo tràng.

Vì bởi nhân duyên đó

Tìm kỹ khắp mười phương 

Lại không thừa nào khác 

Trừ Phật dùng phương tiện.

Bảo với Xá-lợi-phất! 

Bọn ông các người thảy 

Đều là con của ta 

Ta thời là cha lành. 

Các ông trải nhiều kiếp

Bị các sự khổ đốt 

Ta đều đã cứu vớt 

Cho ra khỏi ba cõi.

Ta dầu ngày trước nói

Các ông được diệt độ

Nhưng chỉ hết sanh tử

Mà thật thời chẳng diệt,

Nay việc nên phải làm

Chỉ có trí tuệ Phật.

Nếu có Bồ-tát nào 

Ở trong hàng chúng này 

Có thể một lòng nghe 

Pháp thật của các Phật,

Các đức Phật Thế Tôn 

Dầu dùng chước phương tiện 

Mà chúng sanh được độ 

Đều là Bồ-tát cả.

Giảng: 

Phật thừa là pháp vi diệu thanh tịnh bậc nhất, trong thế gian này không có pháp nào hơn được, nên phải khen ngợi. Nếu người nào ưa vui tin nhận được pháp này thì chắc chắn những người đó sẽ thành Phật.

Chánh văn: 

32. Nếu có người trí nhỏ 

Quá mê nơi ái dục 

Phật bèn vì bọn này 

Mà nói lý khổ đế, 

Chúng sanh nghe lòng mừng 

Được điều chưa từng có 

Đức Phật nói khổ đế 

Chân thật không sai khác.

Nếu lại có chúng sanh 

Không rõ biết gốc khổ 

Quá say nơi khổ nhân

Chẳng tạm rời bỏ được,

Phật vì hạng người này

Dùng phương tiện nói dạy

Nguyên nhân có các khổ

Tham dục là cội gốc,

Nếu dứt được tham dục 

Khổ không chỗ nương đỗ 

Dứt hết hẳn các khổ

Gọi là đế thứ ba.

Vì chứng diệt đế vậy

Mà tu hành đạo đế 

Lìa hết các khổ phược 

Gọi đó là giải thoát,

Người đó nơi pháp gì 

Mà nói được giải thoát? 

Chỉ xa rời hư vọng 

Gọi đó là giải thoát 

Kỳ thật chưa phải được

Giải thoát hẳn tất cả.

Đức Phật nói người đó

Chưa phải thật diệt độ,

Vì người đó chưa được 

Đạo quả Vô thượng vậy.

Ý của ta không muốn,

Cho đó đến diệt độ,

Ta là đấng Pháp vương 

Tự tại nơi các pháp

Vì an ổn chúng sanh

Nên hiện ra nơi đời.

Xá-lợi-phất phải biết!

Pháp ấn của ta đây

Vì muốn làm lợi ích

Cho thế gian nên nói,

Tại chỗ ông đi qua 

Chớ có vọng tuyên truyền.

Nếu có người nghe đến 

Tùy hỷ kính nhận lấy 

Phải biết rằng người ấy 

bậc bất thối chuyển.

Nếu có người tin nhận 

Kinh pháp Vô thượng này 

Thời người đó đã từng 

Thấy các Phật quá khứ 

Cung kính và cúng dường 

Cũng được nghe pháp này.

Nếu người nào có thể 

Tin chịu lời ông nói

Thời chính là thấy ta 

Cũng là thấy nơi ông 

Cùng các chúng Tỳ-kheo 

Và các hàng Bồ-tát.

Giảng:

Đối với những người tâm ý nhỏ hẹp không nhận được pháp lớn, nên Phật phương tiện nói khổ đế, rồi từ khổ đế ngài chỉ nguyên nhân gây ra khổ là tập đế. Khi đã biết khổ đế, tập đế, ngài mới nói diệt đế tức là Niết-bàn, muốn đến Niết-bàn là phải biết đường lối tu hành tức là đạo đế. Nếu người y cứ pháp Tứ đế tu hành thì sẽ chứng được quả A-la-hán. Nhưng quả A-la-hán chưa thật là diệt độ, chưa thật là Niết-bàn. Tại sao? Vì các vị tu pháp Tứ đế thấy thân tâm này bị vô thường chi phối nên mới khổ đau. Gốc của khổ đau là tham, sân, si mà tham, sân, si lại là hư vọng. Những thứ hư vọng đó sạch hết tức là dứt được cái nhân luân hồi sanh tử gọi là diệt đế. Thanh văn chỉ dẹp được phiền não hư vọng chưa nhận được tri kiến Phật nơi mình, nên đây Phật nói: Chỉ xa rời hư vọng, gọi đó là giải thoát. Còn hàng Bồ-tát hay Phật thừa thì nhận ra nơi mình có tri kiến Phật. Nhận ra nơi mình có tri kiến Phật rồi thì buông hết những cái hư vọng không thật.

Thí dụ cái áo bị dính những vết nhơ, khi tẩy hết những vết nhơ thì nói cái áo đã sạch, kỳ thật chỉ hết những vết nhơ chứ chưa thật sạch. Muốn sạch, sau khi tẩy các vết nhơ rồi phải đem cả cái áo ra giặt giũ, chừng đó mới thật sạch. Những vết nhơ tẩy sạch là cái sạch tương đối, cái áo sạch toàn diện mới là cái sạch tuyệt đối. Cũng vậy, khi dứt được tham, sân, si, phiền não hư vọng thì tâm lặng lẽ gọi là Niết-bàn giải thoát. Niết-bàn này chỉ là Niết-bàn tiêu cực, chưa có diệu dụng tích cực, nên có nhiều vị A-la-hán chứng Niết-bàn an trụ trong vắng lặng, rồi diệt độ luôn không làm lợi ích chúng sanh. Còn hàng Bồ-tát nhận ra tri kiến Phật, đoạn dứt nhân luân hồi sanh tử, có đủ diệu dụng như: thập lực, tứ vô sở úy… ra giáo hóa làm lợi ích chúng sanh. Đó là tinh thần tiêu cực và tích cực của Thanh văn và Bồ-tát.

Chánh văn: 

33. Phật vì người trí sâu 

Nói kinh Pháp Hoa này 

Kẻ thức cạn nghe đến

Mê lầm không hiểu được.

Tất cả hàng Thanh văn 

Cùng với Bích-chi Phật

Ở trong Kinh pháp này

Sức kia không hiểu được.

Chính ông Xá-lợi-phất

Hãy còn nơi Kinh này 

Dùng lòng tin được vào 

Huống là Thanh văn khác.

Bao nhiêu Thanh văn khác 

Do tin theo lời Phật 

Mà tùy thuận Kinh này

Chẳng phải trí của mình.

Giảng:

Phật vì người trí sâu nói kinh Pháp Hoa, bởi hạng người này mới có đủ khả năng tin nhận. Còn hạng trí cạn hẹp như Thanh văn, Duyên giác thì không thể hiểu. Chính ngài Xá-lợi-phất đối với kinh Pháp Hoa phải do lòng tin mà vào, huống là những hàng Thanh văn khác.

Chánh văn: 

34. Lại này, Xá-lợi-phất! 

Kẻ kiêu mạn biếng lười 

Vọng so chấp lấy ngã 

Chớ vì nói Kinh này,

Hạng phàm phu biết cạn

Quá mê năm món dục

Nghe pháp không hiểu được

Cũng chẳng nên vì nói,

Nếu có người không tin

Khinh hủy chế Kinh này 

Thời là dứt tất cả 

Giống Phật ở thế gian.

Nếu có người xịu mặt

Mà cưu lòng nghi hoặc

Ông nên lắng nghe nói

Tội báo của người đó.

Hoặc Phật còn tại thế 

Hoặc sau khi diệt độ

Nếu có người chê bai

Kinh điển như thế này

Thấy có người đọc tụng 

Biên chép, thọ trì Kinh 

Rồi khinh tiện ghét ganh 

Mà cưu lòng kết hờn 

Tội báo của người đó 

Ông nay lại lắng nghe. 

Người đó khi mạng chung 

Sa vào ngục A-tỳ 

Đầy đủ một kiếp chẵn 

Kiếp mãn hết lại sanh 

Cứ xoay vần như thế

Nhẫn đến vô số kiếp. 

Từ trong địa ngục ra

Sẽ đọa vào súc sanh,

Hoặc làm chó, đã can

Thân thể nó ốm gầy

Đen địu thêm ghẻ lác 

Bị người thường chọc ghẹo 

Lại còn phải bị người 

Gớm nhờm và ghét rẻ 

Thường ngày đói khát khổ 

Xương thịt đều khô khan,

Lúc sống chịu khổ sở 

Chết bị ném ngói, đá 

Vì đoạn mất giống Phật 

Nên thọ tội báo đó.

Hoặc sanh làm lạc đà 

Hoặc sanh vào loài lừa 

Thân thường mang kéo nặng 

Lại thêm bị đánh đập 

Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ

Ngoài ra không biết gì

Vì khinh chê Kinh này

Mà mắc tội như vậy.

Có khi làm dã can 

Đi vào trong xóm làng 

Thân thể đầy ghẻ lác 

Lại chột hết một mắt 

Bị bọn trẻ nhỏ vậy 

Theo đánh đập liệng ném

Chịu nhiều các đau khổ 

Hoặc có lúc phải chết.

Ở đây vừa chết rồi 

Liền lại thọ thân rắn

Thân thể nó dài lớn 

Đến năm trăm do-tuần 

Điếc ngây và không chân

Lăn lóc đi bằng bụng 

Bị các loài trùng nhỏ

Cắn rút ăn thịt, máu 

Bị khổ cả ngày đêm 

Không tạm có ngừng nghỉ

Vì khinh chê Kinh này

mắc tội như vậy.

Nếu được sanh làm người

Các căn đều ám độn 

Lùn xấu lại liệt què 

Đui điếc thêm lưng gù 

Có nói ra lời gì 

Mọi người không tin nhận, 

Hơi miệng thường hôi thúi

Bị quỷ mỵ dựa nhập

Nghèo cùng rất hèn hạ

Bị người sai khiến luôn,

Nhiều bệnh, thân ốm gầy

Không có chỗ cậy nhờ

Dầu nương gần với người

Mà người chẳng để ý 

Nếu có được điều chi 

Thời liền lại quên mất, 

Nếu học qua nghề thuốc,

Theo đúng phép trị bệnh 

Mà bệnh người nặng thêm 

Hoặc có khi đến chết, 

Nếu tự mình có bệnh 

Không người chữa lành đặng 

Dầu có uống thuốc hay 

Mà bệnh càng thêm nặng,

Hoặc người khác phản nghịch 

Cướp giật trộm lấy của 

Các tội dường thế đó 

Lại tự mang vạ lây,

Những người tội như đây

Trọn không thấy được Phật.

Là vua trong hàng thánh

Thường nói pháp giáo hóa,

Những người tội như đây

Thường sanh chỗ hoạn nạn

Tâm cuồng loạn, tai điếc

Trọn không nghe pháp được.

Trải qua vô số kiếp 

Như số cát sông Hằng 

Sanh ra liền điếc câm 

Các căn chẳng đầy đủ 

Thường ở trong địa ngục 

Như dạo chơi vườn nhà,

tại ác đạo khác 

Như ở nhà cửa mình 

Lạc đà, lừa, heo, chó 

Là chỗ kia thường đi 

Vì khinh chê Kinh này 

Mắc tội dường thế đó.

Nếu được sanh làm người

Điếc, đui lại câm, ngọng 

Nghèo cùng các tướng suy 

Dùng đó tự trang nghiêm, 

Sưng bản bệnh khô khát 

Ghẻ, lác, cùng ung thư

Các bệnh như trên đó

Dùng làm y phục mặc,

Thân thể thường hôi hám

Nhơ nhớp không hề sạch

Lòng chấp ngã sâu chặt

Thêm nhiều tánh giận hờn

Tánh dâm dục hẩy hừng

Đến chẳng chừa cầm thú.

Vì khinh chê Kinh này

Mắc tội dường thế đó.

Giảng: 

Người chấp ngã đắm mê dục lạc thế gian, nghe kinh Pháp Hoa họ không tin lại còn khinh chê làm khuất mờ hạt giống Phật nơi mình, lại còn nói cho người khác không tin làm mờ khuất hạt giống Phật nơi người. Đó là làm đoạn mất hạt giống Phật ở thế gian nên mù mịt mê mờ, mặc tình tạo tội rồi mắc quả báo ở địa ngục. Khi hết quả báo địa ngục còn dư báo làm súc sanh, làm người thì thân thể tàn tật, đau bệnh, nghèo đói… Tất cả mọi khổ đau đều do không tin và khinh chê kinh Pháp Hoa, nên mất ánh sáng trí tuệ mà tạo nghiệp ác thọ quả khổ.

Chánh văn: 

35. Bảo cho Xá-lợi-phất!

Người khinh chê Kinh này 

Nếu kể nói tội kia 

Cùng kiếp cũng chẳng hết 

Vì bởi nhân duyên đó

Ta vẫn bảo các ông 

Trong nhóm người vô trí 

Chớ nên nói Kinh này.

Nếu có người lợi căn 

Sức trí tuệ sáng láng 

Học rộng và nhớ dai 

Lòng mong cầu Phật đạo 

Những hạng người như thế 

Mới nên vì đó nói.

Nếu có người đã từng 

Thấy trăm nghìn ức Phật 

Trồng các cội đức lành 

Thâm tâm rất bền vững 

Hạng người được như thế 

Mới nên vì đó nói. 

Nếu có người tinh tấn

Thường tu tập lòng từ

Chẳng hề tiếc thân mạng 

Mới nên vì đó nói. 

Nếu có người cung kính

Không có sanh lòng khác

Lìa xa các phàm ngu

Ở riêng trong núi chằm 

Những hạng người như thế 

Mới nên vì đó nói.

Lại Xá-lợi-phất này!

Nếu thấy có người nào 

Rời bỏ ác tri thức 

Gần gũi bạn hiền lành

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói. 

Nếu thấy hàng Phật tử

Giữ giới hạnh trong sạch

Như minh châu sáng sạch

Ham cầu kinh Đại thừa

Những người được như thế 

Mới nên vì đó nói. 

Nếu người không lòng giận 

Chắc thật ý dịu hòa 

Thường thương xót mọi loài

Cung kính các đức Phật 

Hạng người tốt như thế 

Mới nên vì đó nói. 

Lại có hàng Phật tử

Ở tại trong đại chúng 

Thuần dùng lòng thanh tịnh 

Các món nhân cùng duyên 

Thí dụ và lời lẽ 

Nói pháp không chướng ngại

Những người như thế ấy 

Mới nên vì đó nói. 

Nếu có vị Tỳ-kheo 

Vì cầu Nhất thiết trí 

Khắp bốn phương cầu pháp 

Chắp tay cung kính thọ 

Chỉ ưa muốn thọ trì 

Kinh điển về Đại thừa 

Nhẫn đến không hề thọ

Một bài kệ kinh khác 

Hạng người được như thế 

Mới nên vì đó nói. 

Như có người chí tâm 

Cầu xá-lợi của Phật 

Cầu Kinh cũng như thế 

Được rồi đảnh lễ thọ 

Người đó chẳng còn lại 

Có lòng cầu kinh khác 

Cũng chưa từng nghĩ tưởng

Đến sách vở ngoại đạo 

Người được như thế ấy 

Mới nên vì đó nói.

Bảo cùng Xá-lợi-phất!

Ta nói các sự tướng

Của người cầu Phật đạo

Cùng kiếp cũng chẳng hết 

Những người như thế đó 

Thời có thể tin hiểu 

Ông nên vì họ nói 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Giảng:

Ở trước, Phật dạy những người khinh mạn, lười biếng, trí kém… thì không nên vì họ mà nói kinh Pháp Hoa, e họ không đủ sức tin, khinh chê rồi tạo tội mắc quả khổ. Tới đây, Phật dạy đối với những người lợi căn trí sáng, người đã từng gặp Phật có căn lành với Phật, người tinh tấn thường tu tập lòng từ, người cung kính nghe lời Phật dạy không chán nhàm luôn ở chỗ vắng vẻ tu hành, người xa bạn ác gần gũi bạn lành, người giữ giới thanh tịnh cầu pháp Đại thừa, người ít giận tâm dịu hòa, kính Phật, thương chúng sanh, người có tâm thuần tịnh hay dùng phương tiện giảng nói Kinh pháp, người thọ trì kinh điển Đại thừa, Tỳ-kheo cầu Nhất thiết trí, người nghe kinh điển thành tâm kính lễ tu tập, không ưa thích sách vở ngoại đạo; nên vì những người đó mà nói kinh Pháp Hoa, vì những hạng người này có khả năng tin thọ.

Chủ yếu của phẩm Thí Dụ là Phật chỉ cho tất cả hàng đệ tử tu theo Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa biết rõ ba thừa đó, Phật tùy căn cơ của chúng sanh mà phương tiện tạm lập, nên không có thật. Chỗ chân thật cứu cánh mà Phật muốn chỉ là Phật thừa.

Ngoài điểm chủ yếu đã nói, trong phẩm Thí Dụ đức Phật còn nêu lên những cảnh tượng khổ đau đang bức bách con người trong nhà lửa, để cho người tu Phật thấy rõ lẽ thật là người vật đang bị lửa vô thường, lửa tam độc thiêu đốt thân tâm. Thấy được lẽ thật là tỉnh giác, do tỉnh giác mà tiến tu để thoát khỏi lửa thiêu đốt.

Đó là người trí mạnh do tỉnh giác mà được giải thoát. Còn người trí yếu, nhờ nghe lời Phật dạy, tuy chưa đủ sức tỉnh giác, nhưng tin lời Phật nói là đúng, y theo đó mà tiến tu, nhờ tiến tu nên cũng được giải thoát. Dụ như trường hợp các con của ông trưởng giả tin cha cho ba xe, nên cố gắng chạy ra khỏi nhà lửa. Không bị lửa vô thường, lửa tam độc chi phối là giải thoát, còn bị lửa vô thường, lửa tam độc bức bách thì còn trầm luân trong luân hồi sanh tử.

Thông thường giáo lý Phật nói tu đến chỗ viên mãn thì không còn chấp ngã chấp pháp, nghĩa là không còn thấy thân tâm này là ngã, không còn thấy có pháp để tu để chứng. Lúc không còn thấy ngã pháp là lúc an trụ Niết-bàn tịch diệt. Không còn ngã là không còn mình, vậy ai an trụ Niết-bàn? Không còn pháp là không có Niết-bàn, vậy tu đến chỗ tịch diệt, chỗ tịch diệt đó có phải là hư không chăng, vì không người không vật? Nếu tu để trở thành hư không vô tri thì không nên tu, tu vô ích!

Đó là một vấn đề mà người tu ít ai để ý, cứ tin Niết-bàn là tịch diệt vắng lặng, không còn gì hết, hiểu như vậy là họa cho người học Phật. Hình ảnh ông trưởng giả kêu các con và khi các con ra khỏi nhà lửa, được ông cho xe trâu trắng mập, đẹp, trang hoàng bằng bảy báu ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự ước mơ của các con. Cũng vậy, tu đến chỗ không còn bị lửa vô thường, lửa tham sân si thiêu đốt, đâu phải ngang đó là hết, mà còn cái chân thật không hình tướng, không sanh diệt, thanh tịnh sáng suốt mầu nhiệm, vượt khỏi tầm hiểu biết suy lường của con người, nên đức Phật không nói. Vì Phật không nói nên chúng sanh không biết không tin. Khi xả được kiến chấp về giả ngã và buông được kiến chấp về giả pháp, mà Phật đã tùy căn cơ của chúng sanh giả lập, thì cái chân thật hiện bày đầy đủ diệu dụng bất khả tư nghì. Nhiều người học Phật nghĩ Niết-bàn vắng lặng chắc buồn lắm vì trống vắng. Còn ngã còn pháp thì mình có cái này được cái kia, khi tới Niết-bàn thì vô ngã, không có một pháp thì hưởng cái gì, vui cái gì? Họ đâu ngờ chính khi hết vô minh phiền não, thoát khỏi luân hồi sanh tử trong tam giới thì được tự tại vô ngại, đầy đủ diệu dụng lợi ích chúng sanh. Thí dụ nhà lửa làm sáng tỏ ý nghĩa này.

Phẩm Thí Dụ còn nói lên rằng: Người đến với đạo Phật mà không tin mình có tri kiến Phật, đó là tự hủy hoại tự đoạn dứt căn lành của người, làm mất hạt giống Phật ở thế gian. Nên biết rõ tri kiến Phật không rời thân năm uẩn sanh diệt giả tạm này mà riêng có. Vì vậy, việc tin nhận tri kiến Phật ở chính mình là việc rất thực tế, không phải là chuyện mơ hồ viển vông. Tin nhận tri kiến Phật ngay nơi mình thì mới thấy rõ thân năm uẩn giả hợp này là huyễn hóa không thật, nếu ai mê chấp nó là thật thì trầm luân đau khổ. Thế nên nói tin Kinh này thì được vô lượng trí tuệ công đức; nếu không tin thì mê muội tạo vô số tội ác, chịu quả khổ cùng cực. Tin là tin mình có giống Phật, nếu tu sẽ được thành Phật, chứ không phải tin trên ngôn thuyết chữ nghĩa suông. Lý này đến phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát sẽ thấy rõ hơn.

Qua phẩm Thí Dụ, chúng ta thấy lòng từ của Phật đối với chúng sanh vô lượng vô biên không ngằn mé. Ngài dùng mọi phương tiện để dẫn dụ giáo hóa cho chúng sanh mau thoát khỏi nhà lửa tam giới, được đầy đủ diệu dụng, tiến đến quả Phật như ngài mới thôi.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.