Hành Trang Người Tu

Vô Niệm Vi Tông



Trong nhà thiền có câu: “Dĩ vô niệm vi tông, vô môn vi pháp môn”, nghĩa là lấy vô niệm làm tông chỉ, lấy cửa Không làm cửa pháp. Cửa Không là cửa Bát-nhã. Nếu lấy cửa Bát-nhã làm cửa pháp tức là còn dùng trí tuệ quán chiếu thì đâu phải vô niệm. Chính chỗ này làm tôi ngẫm tới ngẫm lui mãi.

Theo tông chỉ nhà thiền tu phải đến vô niệm, vì niệm là nhân tạo nghiệp, còn niệm là còn đi trong sanh tử. Cho nên tu thiền cốt làm sao lặng tâm đối đãi, vọng tưởng, để đến được chỗ chân tâm thường biết rõ ràng, vô niệm. Người tu muốn thoát ly sanh tử phải cố gắng buông xả hết để được vô niệm. Niệm có nhiều thứ như thiện ác, tốt xấu v.v… Nếu niệm thiện nặng sẽ dẫn chúng ta đi vào đường lành, nếu niệm ác nặng sẽ dẫn chúng ta đi vô đường dữ. Vì thế thiền tông dạy muốn đi thẳng đến chỗ giải thoát sanh tử phải lấy vô niệm làm tông chỉ.

Hầu hết chúng ta còn đa niệm chứ chưa vô niệm, đây là điều mình phải biết rõ để trên đường tu không bị lệch lạc sai lầm. Ngày xưa tôi nghĩ tu đến chỗ vô niệm rất khó, không thể làm được. Nhưng gần đây tôi đã khám phá ra và thấy dễ dàng hơn. Niệm chẳng qua là thói quen từ thuở bé, nghĩ tưởng liên miên trong đầu lâu dần tạo thành nghiệp. Bây giờ muốn tu để ra khỏi sanh tử phải dứt niệm. Tất cả pháp tu Phật dạy đều nhằm dứt niệm làm gốc, cho đến pháp môn Tịnh độ cũng mượn câu niệm Phật để dứt tất cả tạp niệm. Tuy nhiên niệm Phật đến rốt ráo còn sanh về Cực lạc, chừng nào vô niệm mới hoàn toàn ra khỏi sanh tử. Như vậy vô niệm là chỗ tột cùng của người tu cầu giải thoát sanh tử. Thiền tông chủ trương tu giải thoát ngay trong đời này, chứ không phải nhiều đời, nên lấy vô niệm làm tông chỉ.

Chúng ta có thói quen nằm xuống nhớ chuyện năm trên năm dưới. Cho nên tới được chỗ vô niệm là một vấn đề lớn trong sự tu hành. Niệm là nghĩ suy không có trật tự thứ lớp nên rất khó kìm chế. Vì thế không chỉ trong giờ ngồi thiền mà những lúc còn lại đều phải tập buông xả, lâu dần tâm thuần, niệm sẽ giảm tức là sự tu có tiến bộ. Người biết tu, trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi luôn nhớ không chạy theo vọng tưởng để tâm được thanh tịnh. Do đó muốn đến được chỗ rốt ráo phải xả hẳn không còn một niệm.

Chư tổ ngày xưa lúc nào cũng sống trong vô niệm cho nên thấy các ngài như ngây như ngô. Không nghĩ suy tính toán, gặp việc gì phản ứng theo việc đó, không có ý niệm phân biệt. Còn chúng ta tu mà khôn quá, tính trước tính sau đủ thứ chuyện nên không hết niệm. Nhiều khi tôi thấy mình cũng rất khờ, chuyện xảy ra ngày hôm qua bữa nay quên sạch, không nhớ gì hết. Đó là do công phu cố gắng buông tất cả, buông quen thành ra quên.

Tôi nhớ tại miền Trung Việt Nam có một vị Hòa thượng tu rất đắc lực. Bữa đó hai thầy trò đi dự đám ở nhà Phật tử, lúc qua suối phải cởi đồ để không bị ướt. Qua đến bờ bên kia, Hòa thượng không đứng lại mặc đồ mà đi luôn. Học trò thấy vậy thưa: “Hòa thượng! Hòa thượng chưa mặc đồ.” Ngài đáp từ tốn: “Chưa mặc đồ hả?”, lúc đó mới sực nhớ mình đã quên. Đó là hiện tượng tâm không còn nhớ trước nghĩ sau, sống như ngây như ngô.

Đối với sự tu, người tiến khá coi như khờ khạo, còn người càng ngày càng lanh không bảo đảm. Một khi buông hết niệm rồi tâm trở nên thuần thục, không còn lanh lợi. Người tu do buông xả mà khờ chứ không phải do dại mà khờ. Tuy nhiên buông cái phàm tình còn đạo lý vẫn thâm nhập không hề quên. Đây là điểm đặc biệt của người tu. Tôi thường nhắc mình phải cố gắng làm sao tâm luôn thản nhiên tự tại, không vướng mắc thói quen suy tính của thuở trước, càng ít nghĩ tưởng thì kết quả sự tu càng tốt.

Chủ đích của người tu thiền là vô niệm, nghĩa là không nghĩ nhớ chuyện quá khứ, không suy tưởng chuyện tương lai, sống với hiện tại thường biết rõ ràng, ngay đây bây giờ. Ký ức của quá khứ cũng như tính toán, tưởng tượng của vị lai luôn đầy ắp trong đầu chúng ta. Tuy rất khó bỏ nhưng đừng nản, ai quyết tâm cũng làm được hết. Tập buông bỏ riết thành ra quên luôn, chắc chắn như vậy. Trong sự tu tôi kinh nghiệm rõ ràng phải đi thẳng con đường vô niệm. Cho nên nhà thiền lấy vô niệm làm tông chỉ, lấy cửa Không làm cửa pháp là vậy. Nếu lấy cửa Không làm cửa pháp tức là dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu các pháp tánh Không, nhưng quán chiếu là còn niệm. Chỗ này tôi cứ thắc mắc hoài, vô niệm là gốc sao còn bắt mình quán chiếu? Quán Không ở đây không phải quán mọi vật xung quanh duyên hợp hư huyễn, mà phải quán ngay nơi niệm sanh diệt là không. Biết rõ bản chất niệm là không thì mọi vấn đề đều được giải quyết, tức là quán mà như không quán. Niệm dấy lên biết rõ nó không thật thì niệm hết, đi thẳng tới chỗ vô niệm. Thấy tường tận chỗ này, sự tu tiến rất nhanh.

Chỉ nhớ quán những thứ bên ngoài mà cái thật ngay nơi mình không thấy là một thiếu sót lớn. Rõ ràng niệm từ mình mà ra, bản chất nó không thật, là nhân của luân hồi sanh tử. Cho nên hết niệm là hết luân hồi sanh tử. Người khéo tu phải ứng dụng điều này, do duyên theo trần cảnh bên ngoài mà có niệm này niệm kia, can đảm quyết tâm không chạy theo niệm tức là dừng nghiệp. Chừng nào buông sạch niệm thiện niệm ác, không còn đi trong đường lành đường dữ thì vô sanh, nghĩa là hoàn toàn giải thoát. Vì vậy muốn ra khỏi sanh tử phải vô niệm.

Đó là những kinh nghiệm tôi đã thấy và ứng dụng ngay trong cuộc sống của mình. Ngẫm lại tôi thấy rõ ràng những sơ sót cũng như điểm ưu mình vừa tìm ra, nên nhắc liền cho tất cả quý vị biết mà tu. Nhiều khi nói tu mà không biết mình đang tu cái gì, sẽ đi tới đâu.

Tôi nhắc lại, tông chỉ của người tu thiền là Dĩ vô niệm vi tông, vô môn vi pháp môn, dứt hết tất cả niệm là tông chỉ, lấy cửa Không làm cửa pháp. Đó là gốc của người tu thiền.

Ngay nơi niệm khởi biết nó không thật thì niệm tự mất. Dám buông hết thì sự tu đạt kết quả, còn hối tiếc không nỡ bỏ, sợ quên, thì tu hoài cũng chẳng đi tới đâu. Cho nên bao nhiêu năm tôi giảng kinh bây giờ hỏi một câu cũng không nhớ. Nói vậy không có nghĩa là bắt quý vị phải quên liền, bởi vì còn nhiệm vụ giảng dạy Phật pháp cho người sau thì vẫn phải nhớ lời Phật dạy. Nhớ lời Phật tổ là niệm dẫn đi trong đường lành, nếu can đảm dứt khoát buông sạch thì giải thoát. Đó là cái khó của những người làm công tác giảng dạy.

Muốn cho người khác nghe hiểu Phật pháp và ứng dụng trong cuộc sống thì trước mình phải học và ghi nhớ kỹ những lời Phật dạy, sau ra giảng mới có vốn liếng mà nói. Thành ra mình nuôi niệm rất nhiều, buông chưa được. Bây giờ đi đâu gặp Phật tử hỏi đạo, tôi tùy duyên biết gì nói nấy. Bình thường trong đầu thảnh thơi không nhớ gì cả. Bởi vì đạo lý thấm trong da thịt của mình, gặp duyên nó phát ra. Khác với hồi mới đi giảng dạy, muốn nói vấn đề gì phải nuôi trong đầu tư liệu thật sung túc, mới giảng được đầy đủ.

Tuy bây giờ trong đầu trống rỗng nhưng khi ai hỏi gì cũng trả lời được, không đến nỗi không biết. Quý vị lâu ngày mới gặp nên không biết tôi quên tới cỡ nào, còn mấy thầy thị giả ở gần một bên thấy tôi quên quá sức tưởng tượng. Có khi chuyện mới nói hôm qua, hôm nay quên lửng. Nhưng quên mà không buồn, không thấy mình ngu vì cái gì cần biết nên biết, không cần thì quên. Nhất là tên họ người khác tôi quên tuốt, tới chừng muốn kêu mà không biết kêu làm sao. Quý thầy hỏi:

– Bạch Thầy, cái khờ khạo của người tu không giống cái khờ khạo của người thế gian. Như ngây như ngô ở đây tức là cái gì cần nhớ thì nhớ, cần quên thì quên. Nếu nhiều cái mình muốn nhớ mà nhớ không được rồi cho đó là tu hay, nghĩ như vậy có đúng không thưa Thầy?

Tôi đáp:

– Vì muốn tâm mình an định cho nên dừng lặng mọi nghĩ suy. Dừng lặng thì đương nhiên không nhớ, nhưng khi gặp duyên tự nó nhớ. Nếu quên luôn cũng được, không ai trách điều đó; bởi vì nhớ hay quên đều là pháp sanh diệt mà thôi. Gặp duyên thì nhớ, không nhớ thì thôi. Tôi già rồi nói quên mọi người thấy hợp lý, mấy thầy còn trẻ mà quên chắc bị người ta nói lãng trí.

Hỏi:

– Bạch Thầy, trường hợp của Thầy bây giờ là buông hết mọi việc không làm Phật sự nữa, nên tu dễ đạt được kết quả. Còn chúng con đang phải giảng dạy hoặc làm Trụ trì thì không được. Trí Bát-nhã nói Thập độ ba-la-mật, trong đó có ba diệu dụng: Một là Trí không tưởng, tức là nhìn thấy các pháp là không. Hai là Trí nhập pháp vui, tức là sau đó thấy vui suốt ngày. Ba là Trí thành thục hữu tình, tức là đem Thập độ ba-la-mật còn gọi là trí Bát-nhã ba-la-mật hóa độ chúng sanh. Vậy chúng con phải làm sao?

Đáp:

– Cái đó tùy duyên của mỗi người, ai làm được việc gì tốt việc ấy.

Quý vị nhớ vô niệm là tông chỉ để chúng ta tu, cửa không là cửa pháp. Vô niệm thì hết sanh tử, còn niệm là còn đi trong sanh tử vì niệm là nhân tạo nghiệp. Niệm lành đi đường lành, niệm dữ đi đường dữ. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ. Mong tất cả quý vị ráng nhớ và cố gắng thực hành thì nhất định tu sẽ thành công.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.