Khi đặt chân đến đây, tôi thấy cổng chùa đề bốn chữ Huyền Không Thiền Tự, bất thần tôi nảy ra ý tưởng phải nói về ý nghĩa hai chữ Huyền Không.
Hòa thượng Mãn Giác người Việt Nam lúc còn trẻ rất thích làm thơ, trong những sáng tác của ngài có một quyển đề bút hiệu Huyền Không. Ngày nay các vị tăng trong nước cũng như hải ngoại có tâm hướng về quê hương xứ sở, nên dùng chữ Huyền Không đặt tên chùa, nhằm nhắc nhở Phật tử Việt Nam nhớ về cội nguồn tổ tông. Đó là điều đáng quý.
Trên dãy núi Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng có ngọn núi Tam Thai và ngôi chùa Tam Thai, sau chùa là động Huyền Không. Về lịch sử, Huyền Không là động tại Đà Nẵng – Việt Nam, điều đáng lưu ý ở đây là ý nghĩa động và hang. Trong núi chỗ rỗng nhỏ gọi là hang, chỗ rỗng to gọi là động. Nếu đứng bên ngoài cất tiếng gọi lớn thì trong động vang lại âm thanh y hệt tiếng đó. Tiếng hay vang ra hay, tiếng dở vang ra dở, nó dội lại đúng với tiếng mình đã phát ra. Đây là điểm rất đặc biệt.
Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông sau khi ngộ đạo lập ra hệ phái Trúc Lâm Yên Tử, trong các tác phẩm văn học ngài để lại có bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca rất nổi tiếng. Ngài viết một số câu nói về ý nghĩa tiếng vang trong hang trống, nhằm nhắc người tu nghe âm thanh không nên vướng mắc vào nó. Đối với tiếng khen tiếng chê, nghe biết nhưng không khởi niệm vui buồn, đó là người khéo tu.
Tất cả lời nói qua rồi mất không còn hoài, giả như còn cũng trong tâm niệm của mình thôi. Người nghe xong liền ghim sâu trong tâm thức nên mới nhớ hoài nhớ mãi thành thử cả ngày buồn vui đau khổ. Sở dĩ chúng ta bị dính kẹt vì tâm phân biệt quá nhạy bén, lời khen còn hơi nhẹ chứ lời chê nhớ cả năm chưa quên. Bởi ghi sâu những điều bất như ý khiến chúng ta phải khổ triền miên, thấy mặt người mình không thích liền khó chịu. Cho nên người tu Phật phải khéo đừng để vướng mắc.
Trong kinh A-hàm kể, đức Phật đầy đủ công đức mà còn có người dám chửi ngài. Lần đó Phật đi giáo hóa trong vùng người dân theo đạo Bà-la-môn. Sau khi khất thực về, Phật đến dưới gốc cây ngồi thọ trai. Thọ thực xong, dân chúng bu xung quanh nghe ngài giảng đạo. Sau thời pháp họ phát tâm quy y với Phật, khiến ông Bà-la-môn tức giận. Hôm sau Phật đi khất thực ngang nhà ông, Phật đi đằng trước ông đi đằng sau kêu tên ngài chửi. Ngài vẫn thong dong tự tại đi. Tới ngã ba đường, ông tức quá chạy trước Phật chặn lại hỏi:
– Sa-môn Cù-đàm, Ngài có điếc không?
Phật đáp:
– Ta không điếc.
Ông hỏi tiếp:
– Không điếc sao tôi chửi Ngài không trả lời?
Phật bảo:
– Nếu nhà ông có đám giỗ mời bà con thân quyến đến, khi dự tiệc xong họ ra về ông đem quà tặng cho mỗi người. Nếu họ không nhận thì quà đó thuộc về ai?
Ông đáp:
– Về tôi chứ về ai.
Phật nói:
– Cũng vậy, ông chửi ta ta không nhận, lời chửi đó thuộc về ai?
Ông Bà-la-môn ngang đây không chửi Phật nữa.
Chúng ta ngày nay nghe xong liền nhận hết, thành ra lời chửi của người kia có giá trị. Giả sử lúc đó Phật cự lại thì bây giờ chúng sanh đâu có lạy ngài. Chính tâm nhẫn nhục tự thắng mình của đức Phật nên bây giờ chúng ta mới cung kính, thờ phụng ngài. Mọi người thường có bệnh sợ người ta chê “nhịn là ngư”. Do cái hiểu còn quá nông cạn nên chạy theo các duyên bên ngoài, bị chê nổi giận, được khen vui mừng mà không biết khen chê vốn không thật.
Thí dụ, người kia cần nhờ mình nên trước hết họ khen để lấy lòng. Lời khen không thật mà chúng ta mừng là dại. Giả sử ai đó muốn chọc tức, họ thách đố bằng cách nói những lời kỳ thị khiến mình nổi giận. Nổi giận như vậy là dại. Tiếng khen chê không phải lẽ thật mà bám vào đó chịu khổ thì quá dại dột. Bậc giác ngộ như đức Phật đối với khen chê coi như trò chơi. Hạng phàm phu chúng ta bị khen chê làm khổ não, muốn hết khổ phải xem tiếng khen chê như gió thổi ngoài tai, qua rồi mất đừng ghi lại trong tâm thức.
Người khôn ngoan biết tu không bị dư luận làm điên đảo, thản nhiên tự tại trước những lời thách đố khen chê tức là khéo buông xả như tiếng vang trong hang động. Ở chốn đông người, kẻ ý này người ý kia nên chuyện bàn luận không thể tránh khỏi vui buồn. Nếu chúng ta cố chấp thì sự tu hành bị vướng kẹt không tiến. Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông dạy, thấy ngôn ngữ như tiếng vang trong hang động, nghe biết nghe mà không chất chứa trong lòng. Đó là ý nghĩa hai chữ Huyền Không liên hệ đến sự tu tập của chúng ta.
Huyền là nhiệm mầu, không là động trống, Huyền Không là động trống rất nhiệm mầu. Động trống ví như lỗ tai của chúng ta, nhiệm mầu là không vướng kẹt gì hết. Bao nhiêu tiếng hay dở đều nghe tường tận, nhưng trả lại y nguyên chứ không dính mắc là ý nghĩa Huyền Không. Lẽ thật ngay trước mắt, chúng ta không cần tìm kiếm đâu xa. Cho nên biết ứng dụng đúng pháp thì đường tu dễ thành công, ngược lại dù tu mấy mươi năm cũng chẳng được lợi ích gì.
Kế đến là ý nghĩa chữ Không trong hệ kinh Bát-nhã. Nguyên văn chữ Hán câu đầu bài Tâm kinh nói: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Nghĩa là khi Bồ-tát Quán Tự Tại thực hành sâu trí tuệ Bát-nhã, ngài xem thấy năm uẩn đều Không, liền qua hết tất cả khổ nạn. Chủ đích của hệ Bát-nhã nằm gọn trong câu kinh này. Chiếu là soi, kiến là thấy, chiếu kiến là soi thấy một cách rõ ràng tường tận.
Bát-nhã chia ra ba phần: văn tự Bát-nhã, quán chiếu Bát-nhã và thật tướng Bát-nhã. Văn tự Bát-nhã là học thuộc lòng văn tự chữ nghĩa trong kinh rồi tụng đi tụng lại. Quán chiếu Bát-nhã là soi thấy thân năm uẩn không thật, chừng đó mới qua hết khổ nạn. Văn tự Bát-nhã giống như chiếc đò qua sông, khi xuống đò không chịu chèo bơi mà ngồi ỳ đó hoài thì chừng nào tới bờ bên kia, cho nên phải bước qua giai đoạn thứ hai là quán chiếu. Trong năm uẩn, sắc uẩn thuộc về vật chất, bốn uẩn kia thuộc về tinh thần. Soi thấy năm uẩn đều không tức là soi thấy thể xác và tinh thần không thật. Do thấy thân không thật nên khi bị thiệt thòi hoặc người khác lấn hiếp, biết đây chỉ là trò chơi nên không bị khổ não.
Người tu Phật phải học hiểu cho tường tận chứ không nên học suông. Từ văn tự chuyển qua quán chiếu, từ quán chiếu chuyển qua thật tướng, đây là chỗ cứu cánh Niết-bàn. Hành trì Bát-nhã phải đủ cả ba chặng, nếu dừng ngang một chặng nào đó sẽ không bao giờ tới được đích. Hàng ngày chúng ta tụng đọc không biết bao nhiêu biến Bát-nhã mà vô minh vẫn y nguyên không hết. Lỗi này không phải do kinh vô hiệu, mà tại chúng ta không đi tận cùng con đường Phật dạy. Hiểu chỗ này rồi mới thấy giá trị cao siêu của đạo Phật. Lời Phật dạy là chân lý chắc thực, chúng ta phát tâm tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn, đừng chỉ đọc suông. Tu không thấy an lạc là lỗi tại mình không biết ứng dụng lời Phật dạy. Cho nên muốn đạt kết quả trên đường tu, chúng ta phải nhận và sống được với trí tuệ Bát-nhã.
Trong kinh Phật nói “sắc tức là không, không tức là sắc”, chữ không ở đây có nghĩa là không tự tánh, chứ không phải không ngơ, không có gì hết. Các pháp trên thế gian duyên hợp tạm có, không thật nên không cái gì cố định. Bình hoa không tự có sẵn, phải được kết hợp từ bình, hoa và công sức người cắm. Dùng trí tuệ Bát-nhã phân tích tường tận biết nó do duyên hợp giả tạm nay còn mai mất, dần dần trở thành không. Đây là ý nghĩa sắc tức thị không. Trước khi có bình hoa là không, đủ duyên có bình, hoa và người cắm tạo thành bình hoa, đây là ý nghĩa không tức thị sắc. Bản chất của sắc là không, duyên hợp giả có; vì duyên hợp giả có nên duyên tan thành không.
Con người cũng vậy, do tứ đại duyên hợp tạo thành, nếu cho sắc thân này là thật rồi nắm giữ chấp trước, tới chừng hư hoại sẽ hoảng hốt sợ sệt đủ thứ. Người thấy đúng trí tuệ Bát-nhã không lầm nhận điều này. Sắc tức không, không tức sắc nói lên tính chất duyên hợp không thật của các pháp. Trên lý thuyết ai chẳng biết mình không thật nhưng khi động tới lại thấy thật, đó là nguyên nhân phát sanh mê lầm. Một khi lầm bản ngã sẽ lầm luôn tất cả những thứ xung quanh. Cái giả ngỡ thật, bám chặt vào nó chấp thủ và đau khổ. Chừng nào thấu suốt được lý sắc không mới an ổn tự tại khi thân biến hoại.
Chúng ta từng chứng kiến cái chết của ông bà cha mẹ, thấy rõ bản chất thực của thân, tới lượt mình sửa soạn ra đi cười nói: “Ừ, đây là lẽ thật, có gì đâu mà sợ!” Tỉnh táo sáng suốt lựa đường đi tốt, đừng lo lắng khóc lóc để nghiệp dẫn đường này đường kia không hay. Tu là thấu suốt lẽ thật, sống với trí tuệ Bát-nhã để làm chủ được mình, khi nhắm mắt biết chọn lối đi sáng suốt, đừng mờ mịt đi vào ba đường xấu. Sắc và không không tách rời nhau, có hợp ắt có tan, có sanh ắt có tử. Chết là con đường chúng ta phải đến, không ai thoát khỏi. Cho nên bây giờ phải chuẩn bị đầy đủ tư lương để mai kia an ổn đối diện với tử thần. Người biết tu là thấy xa hiểu rõ con đường phía trước mình sẽ đi đâu, một lòng hướng về sự tu tập, đừng mải mê hưởng thụ ngũ dục, tranh danh đoạt lợi làm chi.
Ngũ thừa Phật giáo là giáo lý căn bản thiết yếu của người tu theo đạo Phật bao gồm: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa hay Phật thừa. Thừa là cỗ xe chuyên chở chúng sanh đi đến quả vị tùy theo mức độ tu tập. Người Phật tử thọ Tam quy trì Ngũ giới đầy đủ, sau khi mạng chung nhất định được trở lại làm người tốt. Ngũ giới là năm điều ngăn cấm: không sát sanh được tuổi thọ dài lâu; không trộm cướp thì của cải tài sản nhiều; không tà dâm nên thân tướng đẹp đẽ trang nghiêm; không nói dối, nói năng lưu loát ai cũng tin quý; không uống rượu mạnh, không uống say, không hút á phiện, xì-ke, ma túy, đời sau thông minh sáng suốt. Giữ tròn năm giới cấm xứng đáng làm người tốt ở hiện tại và tương lai. Lúc sắp lâm chung tự tin mỉm cười vì biết rõ con đường phía trước sáng sủa an lành.
Đức Phật đã chỉ bày rõ ràng tường tận và cụ thể những phương pháp tu tập đưa đến các quả vị tu chứng tương ứng. Tùy căn cơ và sức hành trì của mỗi chúng sanh mà ứng hiện các cảnh giới khác nhau. Người tu Thập thiện trọn vẹn nhất định sanh về cõi trời Dục giới, đi trong sự sáng suốt không mập mờ hoảng hốt. Người thực tu phải nắm vững đường lối, tự hiểu thấu rồi thực hành đúng đắn. Ngày nay sống an vui ngày mai nhắm mắt càng an vui hơn, xe cũ hư đổi xe mới tốt, có gì đâu mà buồn. Đó là ý nghĩa thiết thực của sự tu. Khéo ứng dụng làm sao đời này đời sau đi trên con đường sáng cao quý chứ đừng để tuột xuống.
Đức Phật đã vạch sẵn phương hướng, ai muốn đi đường nào cũng được tùy khả năng nhưng phải đi cho tới nơi tới chốn, không nên chần chừ. Đâu ai có thể bảo đảm mình sống tới lúc nào, đừng quan niệm bây giờ còn trẻ lo làm ăn, để dành tới già mới tu. Biết đâu chưa sống tới già, nửa chừng chết mất rồi. Vì vậy ở độ tuổi nào chúng ta cũng phải cố gắng tu để chuẩn bị hành trang cho mình đi trên con đường phía trước. Ngay trong lúc trẻ khỏe, tỉnh táo sáng suốt càng nỗ lực tu càng tốt. Khi già yếu lụm cụm quên đầu quên đuôi, tu không tới đâu hết. Đạo Phật không bắt buộc chúng ta phải hành một pháp nào cố định, tùy khả năng và căn cơ mỗi người tự chọn cho mình pháp hành trì thích hợp, miễn sao ứng dụng đúng đều được kết quả theo sở nguyện. Đây là một lẽ thật.
Đức Phật là bậc giác ngộ, ngài thấy đúng sự thật về muôn pháp giữa thế gian này “tánh không”. Trong kinh thường nói “tánh không của các pháp”, chữ tánh chỉ cho cái sẵn có. Bình hoa vốn không mới có thể cắm hoa vào được, từ không duyên hợp thành bình hoa, dần dần héo tàn lại trở về không. Tất cả sự vật thành hình từ cái không nên nói “các pháp duyên hợp”. Do duyên hợp mà không thực có, chỉ tạm một thời gian rồi bại hoại trở về không. Đó là ý nghĩa sắc tức thị không, không tức thị sắc.
Trong luận Trung Quán Bồ-tát Long Thọ viết:
Nhân duyên sở sanh pháp,
Ngã thuyết tức thị không,
Diệc danh vi giả danh,
Diệc danh trung đạo nghĩa.
Các pháp do nhân duyên sanh, từ không duyên hợp thành có, nên Phật nói nó là không. Lý trung đạo không chấp hai bên, hoặc thật có hoặc thật không. Do không hiểu lý trung đạo nên chúng ta luôn sống theo nghĩa cực đoan hoặc không hoặc có, dẫn đến bất đồng quan điểm với nhau, từ đó sanh ra cãi vã, phải quấy hơn thua, tranh đấu giành giật đau khổ.
Để giải thích lý trung đạo một cách dễ hiểu, tôi đưa ra thí dụ nắm tay. Tay tôi đang đưa lên, khi co năm ngón lại gọi là nắm tay. Nắm tay có thật không? Trước khi co năm ngón, không có nắm tay, buông ra cũng không có nắm tay. Như vậy nắm tay chỉ là giả danh, không thật có. Các pháp cũng vậy, duyên hợp giả có, duyên tan thành không. Hiểu được lý trung đạo là thấy lẽ thật, tức hằng sống với trí tuệ Bát-nhã.
Thân chúng ta do duyên hợp từ cha mẹ và thần thức nên tạm gọi là thân. Nó vốn không thật thì cái đẹp xấu khen chê cũng không thật. Thấy đúng như vậy quá dễ tu rồi! Người tu Phật phải dùng trí tuệ Bát-nhã thấy rõ bản chất thân tâm năm uẩn là không thì sự tu mới nhẹ nhàng. Chư Phật và Bồ-tát sống đúng với lẽ thật gọi là giác ngộ, còn chúng ta tuy biết lẽ thật nhưng vẫn sống theo tưởng tượng hư dối nên mê lầm ngày càng tăng trưởng.
Trong kinh dùng thí dụ bóng mặt trăng rằm in dưới hồ nước liên hệ đến nghĩa sắc không. Bóng mặt trăng sáng hiện trên mặt nước không thật có cũng không thật không. Giống như thân này duyên hợp, không thật có cũng không thật không. Lý Bát-nhã dạy một cách thấu triệt về lẽ thật của con người. Nếu chỉ đọc văn tự Bát-nhã suông mà không chịu chiếu kiến thì biết chừng nào qua hết khổ ách. Chúng ta không nên bám vào những thứ hư ảo, phải biết sống trở về với cái chân thật của chính mình.
Chúng ta tụng Bát-nhã để thức tỉnh, nhớ ứng dụng không lầm vọng tưởng, dứt hết phiền não, giải thoát sanh tử. Giá trị sự tu không nằm ở chỗ tụng cho nhiều cho hay mà phải thực hành theo lời Phật dạy, xem xét quán chiếu rõ ràng tường tận. Cũng như người bước xuống thuyền, phải tìm chèo để bơi mới qua tới bờ kia. Qua tới bờ kia rồi là Thật tướng Bát-nhã. Nếu ngồi dưới thuyền rồi ngang đó hài lòng thì chừng nào lên được bờ. Người tu phải khéo làm sao xứng đáng đi trên con đường giác ngộ. Ngày nay mê thấy thân thật, giành giật hơn thua, khen chê, tốt xấu đủ thứ. Ngày mai thấy thân giả, ai khen chê chỉ cười thôi, không có gì quan trọng. Được vậy là có tiến rồi.
Phần trên nói rõ lý sắc không trong kinh Bát-nhã, đến đây nói qua ý nghĩa thâm sâu trong Thiền tông. Kinh Pháp Bảo Đàn kể, một hôm Ngũ tổ bảo đại chúng mỗi người hãy tự làm một bài kệ trình ngài xem. Nếu ai ngộ được bản tâm, ngài sẽ trao y bát làm tổ thứ sáu. Tăng chúng đều cho rằng thượng tọa Thần Tú ắt là người được nên không cần lắng lòng dụng ý làm kệ. Ngài Thần Tú bất đắc dĩ phải suy nghĩ làm kệ, nội dung như sau:
Thân thị Bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.
Thân là cội Bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
Đọc bài kệ ai cũng trầm trồ khen quá hay nhưng Lục tổ lại có cái nhìn khác:
Bồ-đề bản vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lại vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai?
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm?
Bồ-đề phiên âm từ tiếng Phạn Bodhi, Trung Hoa dịch là Giác. Khi xưa đức Phật ngồi dưới cây tất-bát-la được giác ngộ nên đổi tên là cây Bồ-đề. Bồ-đề dịch là giác tức giác ngộ. Tánh giác vốn không có hình tướng nên nói Bồ–đề vốn không cây. Tính chất của gương là sáng trong nên không cần có đài nó mới sáng. Ngài Thần Tú cho rằng tâm như đài gương sáng, phải luôn luôn lau chùi khả dĩ gương mới sáng. Lục tổ nói xưa nay không một vật thì có gì đâu phải lau chùi.
Nội dung hai bài kệ rất khác nhau, cái nhìn của ngài Thần Tú còn trong hình thức đối đãi, Lục tổ nhìn thấu bản chất sự vật nên thoát ngoài đối đãi phân biệt. Bụi bặm chỉ là cái bao phủ bên ngoài, không thể làm mất bản chất thật của gương. Cái thật đó dụ cho tánh giác sẵn có trong mỗi chúng ta. Dù chưa tu hay chưa dẹp hết phiền não, nó vẫn không thiếu vắng. Bởi chúng ta bỏ quên nên vô tình chôn vùi nó, khi dọn dẹp sạch sẽ ba mớ phiền não, nhận được cái chân thật lâu nay sẵn có thì nó tự sáng không nghi ngờ. Thấy tột bản lai vô nhất vật là thấy được chân lý nên Lục tổ xứng đáng được Ngũ tổ truyền y bát.
Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam từng viết:
Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật,
Công phu uổng phí một đời ai.
Công danh sự nghiệp dù tột đỉnh tới đâu đi nữa cũng chỉ là màn sương sớm, có rồi mất chứ không còn hoài. Đến như tài sản của cải dù cho giàu sang không ai bì nổi chẳng khác gì giấc mộng đêm qua. Sống để hưởng thụ nhiều lắm cũng vài chục năm chứ không thể sống mãi. Cái được của thế gian như công danh, phú quý rất cuộc lại tiêu tan như sương mai mộng ảo vì tất cả đều không thật. Tu mà không nhận được bản lai vô nhất vật thì uổng phí cả một đời.
Trọng tâm của người xuất gia cầu giải thoát là cốt tìm cho ra và sống được với cái thật của chính mình. Đó là chỗ tột cùng chúng ta phải đi tới. Câu bản lai vô nhất vật có liên hệ tới hai chữ Huyền Không. Bản lai vô nhất vật dịch là xưa nay không một vật, chữ không này rất nhiệm mầu, không tất cả phiền não và niệm sanh tử thì được diệu dụng vô cùng, tức chân không diệu hữu. Cho nên đức Phật đạt đến chỗ không chân thật và chứng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng Hiểu chỗ này rồi trên đường tu chúng ta mới không bị lầm lẫn.
Tóm lại một cách tổng quát hai chữ Huyền Không có ba ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, Huyền Không dụ như tiếng vang trong hang trống, nghe mà không dính không chấp. Thứ hai, chữ Không trong Huyền Không nói về tánh không duyên hợp giả có của tất cả các pháp trên thế gian. Trước không sau cũng không, gọi là các pháp tánh không, thấu được lẽ thật này thì không còn chấp trước. Thứ ba, chữ Không chân thật trong ý nghĩa xưa nay không một vật, nó sẵn có nơi mỗi chúng ta, nhận và sống được là ngộ đạo, hết mê lầm.
Bài giảng hôm nay tôi dành trọn cho hai chữ Huyền Không, cũng là tên gọi ngôi thiền tự này. Mong quý vị hiểu và ghi nhớ ý nghĩa nội dung bài giảng, khéo ứng dụng vào sự tu hành ngày càng tiến bộ. Chúc tất cả quý vị luôn luôn thức tỉnh và chóng được giác ngộ.