Cùng tất cả tăng ni và Phật tử,
Từ trước tới giờ, đối với Phật giáo tỉnh Vĩnh Long, chúng tôi luôn cảm thấy rất thân thiết và gần gũi. Ngày xưa sư cụ Pháp Hải từng trụ trì tại chùa Sơn Thắng, cùng sư ông tôi là sư cụ Khánh Anh và sư cụ Huệ Quang chung lo làm Phật sự. Quý ngài lấy Hội Phật học Lưỡng Xuyên tức chùa Lưỡng Xuyên làm cơ sở, nhiệt tình gầy dựng nền tảng Phật giáo miền Nam được bền vững.
Kế đó thầy chúng tôi cùng quý Hòa thượng đương thời tiếp tục gánh vác sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp. Sau này huynh đệ chúng tôi được quý ngài giao phó trọng trách này. Ngay từ những năm còn học ở Ấn Quang, chúng tôi đã xuống Vĩnh Long giảng dạy cho Phật tử, đồng thời qua Trà Vinh dạy cho chư tăng.
Trong số chư tăng tại đây có những học trò nằm trong hàng môn đồ của tôi, đang trực tiếp chịu trách nhiệm lãnh đạo tại thiền viện này. Người đi trước có bổn phận dìu dắt người đi sau, làm sao cho ngọn đèn chánh pháp luôn luôn được tiếp nối không ngưng trệ, không tắt ngủm. Từ năm 1955 khi khởi sự đi giảng đến mãi bây giờ, tôi miệt mài lo gầy dựng thế hệ trẻ, làm sao cho họ hiểu thấu đạo lý và ứng dụng tu hành có kết quả. Như thế mới duy trì mạng mạch Phật pháp, xây dựng nền tảng Phật giáo nước nhà ngày càng kiên cố và tốt đẹp hơn.
Việc hoằng hóa của tôi trong suốt thời gian qua có thể nói là khá dài, sức khỏe cũng đến lúc sắp cạn kiệt nên tôi quyết định nghỉ. Chuyến đi Vĩnh Long này cốt để thăm lại chùa tổ, quê hương của mình. Đồng thời thăm tất cả tăng ni và Phật tử, thay cho lời từ giã. Với tuổi tôi hiện giờ, xứng đáng được quyền nghỉ để lo “việc tu” chưa tròn của mình. Nói vậy chắc quý vị nghi ngờ, tại sao tu mấy mươi năm mà chưa tròn?
Thực tình càng đi sâu trong đạo, càng nghiền ngẫm kỹ sự tu hành thì tôi lại thấy buồn. Bởi vì đa số chúng ta nói phát tâm tu mà tu không đến nơi đến chốn. Nhiều khi mình chỉ tu trên hình thức, còn tâm ý thì chưa thực sự giải thoát. Chúng ta còn nhiều trói buộc, phiền não khiến tâm bất an. Bởi vậy đối với tôi, điều quý báu tột cùng là giác ngộ giải thoát sanh tử, có thế mới tròn bản nguyện người xuất gia.
Chúng ta tu ai cũng nguyện giải thoát sanh tử, muốn vậy trước tiên phải giác ngộ. Bởi vì có giác ngộ mới giải thoát sanh tử được. Giác ngộ được viên mãn hay chưa viên mãn tùy theo công hạnh và khả năng của mỗi người, nhưng nhất định phải giác ngộ. Thế nhưng ngày nay chúng ta tu lờ mờ quá, trên đường tu hành không biết mình đã giác ngộ được cái gì, giác ngộ bao nhiêu. Vì chưa thắp sáng ngọn đèn trí tuệ nên đường đi nước bước chưa sáng sủa rõ ràng.
Đức Phật là bậc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, còn gọi là bậc tự giác giác tha giác hạnh viên mãn. Bồ-tát là phần giác, tức giác ngộ từng phần. Các ngài đem sự giác ngộ của mình giác ngộ cho người khác, công hạnh đó tròn đủ thì gọi là Phật. Chúng ta ngày nay được gọi là hàng Thích tử, nghĩa là con cháu dòng họ Thích, dòng họ của bậc giác ngộ. Nếu mình chưa được phần giác như Bồ-tát thì ít ra cũng được chút nào đó. Đây là điều quý vị phải chiêm nghiệm lại mình.
Nhiều Phật tử nói mình là “tín đồ đạo Phật”, nói như vậy e chưa đúng. Bởi vì đạo Phật không đặt lòng tin lên trên mà đặt sự giác ngộ làm mục đích tối hậu. Thành thử dùng danh từ Phật tử tức con bậc giác ngộ là đúng nhất. Người xuất gia là dòng giống giác ngộ, hàng Phật tử cũng là con cháu dòng giống ấy. Cho nên tất cả chúng ta phải nhớ, nếu mình không giác ngộ được trăm phần trăm thì cũng giác ngộ chừng bốn năm chục phần, hay tối thiểu là mười phần.
Nhiều vị được chút phần giác ngộ mà không biết, đó là điều đáng buồn. Hồi chúng tôi còn là tăng sinh của Phật học đường, những năm đầu được học kinh Bát Đại Nhân Giác, tức tám điều giác ngộ của bậc đại nhân.
Điều thứ nhất Phật dạy:
Đệ nhất giác ngộ:
Thế gian vô thường
Quốc độ nguy thủy
Tứ đại khổ không
Ngũ ấm vô ngã.
Hiểu rõ thế gian này vốn vô thường là giác ngộ được một phần nhỏ. Quốc độ nguy thủy tức là cõi nước giòn bở, ít hôm vài tháng nghe động đất chỗ này chỗ kia, đổ nhà đổ cửa, chết chóc liên miên. Tóm lại, thế gian là một dòng chuyển biến liên tục không dừng theo thời gian, không bảo đảm vững chắc như chúng ta tưởng.
Kế nữa, thân này do bốn thứ đất nước gió lửa hợp thành. Chất cứng là đất, chất ướt là nước, động là gió và ấm là lửa. Trong con người chúng ta nếu thiếu một chất là bại hoại ngay. Thành thử tứ đại này là khổ, không. Ngày xưa thái tử Tất-đạt-đa dạo chơi ngoài bốn cửa thành, ngài thấy cảnh già bệnh chết mà chấn động phát tâm xuất gia. Ngài không cam chịu cái khổ đó, còn chúng ta mải mê say sưa với ngũ dục thế gian, quên đi thân vô thường bại hoại này. Ngày nay vui cười, ngày mai ngã bệnh lại rên rỉ, hạnh phúc ở chỗ nào? Còn khỏe mạnh tới lui làm công kia việc nọ, tới chừng già yếu đi đứng lụm cụm, hoặc khi sắp tắt thở thân thể vật vã đau đớn vô cùng. Những điều này không ai tránh khỏi, vậy mà nói cuộc đời vui sao được!
Chúng ta đang sống đây nhưng già bệnh chết luôn chực sẵn bên mình. Người mê không nhớ sự vô thường của thân, cứ ngỡ cuộc đời là vui nên muốn thụ hưởng cái này cái nọ, giành giật lẫn nhau, hơn thua đủ thứ. Nếu biết rõ ngày mai mình sẽ già bệnh chết, con đường đó nhất định phải đi qua, thì lúc còn khỏe mạnh ráng cố gắng làm những việc có ý nghĩa, lợi đạo tốt đời. Chúng ta cố gắng lúc nào cũng tỉnh, nghe ai nói nặng vài câu, chỉ cần nhớ ngày mai già chết tới rồi, hơn thua làm gì, lo làm điều cao thượng quý báu sẽ tốt hơn, như vậy sẽ không phiền não. Đó là người khéo tu.
Phật dạy thân này do tứ đại hợp thành, có hợp ắt có tan. Vô thường đến không thể nói trước được, tan hợp tùy duyên. Đừng tưởng ai ai cũng đi đúng theo quy trình sanh già bệnh chết, có nhiều người còn trẻ mà lăn ra chết cái đùng. Trước mắt chúng ta rất nhiều cảnh tượng chết bất đắc kỳ tử. Vậy mà con người lại lo tính toán chuyện trăm năm, không nghĩ tới cái chết chực chờ bên mình. Người biết tu làm sao một ngày qua là một ngày khỏe mạnh, làm điều ích lợi cho chúng sanh, đừng chần chừ thả trôi. Đó là ý nghĩa chân chánh của người cầu đạo giác ngộ.
Người tu không nên chỉ hiểu lý thuyết suông mà phải thực hành. Nghe nói lời Phật là lời vàng rồi cứ vậy mà đọc hoài thì chẳng được kết quả gì. Tu hành là phải ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống. Người học đạo trước tiên cần hiểu và hành trì Tam tuệ học, tức là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Trước phải học tập, kế là suy ngẫm, cuối cùng mới ứng dụng. Ứng dụng là tu, tức là trí tuệ. Thấy rõ những mê lầm về thân tâm lăng xăng sanh diệt của mình vốn không thật, là giác. Cái giác đó gọi là trí tuệ chứ không phải trí thức, đây là điều Phật tử cần phải hiểu rõ.
Tôi nhớ năm ra Bắc, viện Hán Nôm mời tôi nói chuyện với các vị giáo sư và học viên tại đó. Trước khi giảng, ông Giám đốc Viện đứng lên giới thiệu: “Đây là thầy Thanh Từ, một học giả trí thức học rộng nghiên cứu kỹ, quý vị ráng lắng nghe để lãnh thọ những điều hay Thầy trình bày.” Tôi liền đứng lên thưa: “Xin lỗi quý vị, cho tôi được cải chánh. Tôi không phải học giả, mà chỉ là hành giả.” Tất cả mọi người trong hội trường ai nấy đều rất ngạc nhiên, bởi vì tôi từ chối cái danh dự nhất lúc bấy giờ. Họ nghe hai chữ “hành giả” nhưng không hiểu nghĩa ra sao, thành thử tôi phải giải thích cho họ hiểu.
Học là hiếu học, ham học; giả là người. Học nhiều và rộng gọi là bác học, học giả hoặc trí thức. Đối với thế gian được làm học giả là rất vinh dự, nhưng với người xuất gia điều đó không quan trọng. Chúng ta tu cốt phải thực hành những lời Phật dạy để khai mở trí tuệ của mình, chứ không phải làm giàu trí thức bên ngoài. Vì vậy trước tiên cần học hiểu và hành trì ba môn học căn bản là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Kế là học và tu theo ba môn giải thoát giới định tuệ. Có định, tuệ mới sanh, chứ không phải học mà được tuệ. Cho nên người xuất gia học để buông bỏ, không nên say sưa mải miết tích lũy kiến thức để thành nhà bác học.
Trong điều giác ngộ thứ nhất của kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật dạy bỏ cái chấp thật về thế gian. Dù to như quả địa cầu hay nhỏ như hạt bụi, tất cả đều hư dối tạm bợ không thật. Chúng ta học buông bỏ chứ không học thu vào. Người thế gian phân tích chia chẻ, sau đó ghi chép thành bộ môn, sổ sách dạy lại cho thế hệ sau. Người tu học buông bỏ, chừng nào thân không vướng mắc và đuổi theo sáu trần, tâm buông nghĩ suy hơn thua phải quấy, lẳng lặng sáng suốt là định. Từ định mà trí tuệ phát sanh.
Ngày xưa khi đức Thế Tôn mới tìm đạo cũng học đủ thứ. Ban đầu ngài theo học với các vị tiên, dù đã thông hết sở học và sở chứng của thầy nhưng vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng. Ngài chuyển qua tu khổ hạnh, lại càng không đạt kết quả như ý. Cuối cùng đức Phật đến dưới cội Bồ-đề, tu thiền định theo pháp trung đạo. Lúc tâm an định trọn vẹn ngài chứng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy. Trong đêm thứ bốn mươi chín, từ canh một tới canh hai, ngài chứng Túc mạng minh, nhớ tường tận không nghi ngờ vô số kiếp về trước như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua. Từ canh hai tới canh ba, ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy tột cùng tường tận vô số vi trùng nhỏ bé đến vô số thế giới rộng lớn ở các phương xa.
Trong kinh Phật nói thân tứ đại này là một ổ vi trùng, trong một bát nước cũng có vô số vi trùng sinh sống. Điều này cho tới bây giờ khoa học mới chứng minh được, chứng tỏ trí tuệ của Phật không hề lạc hậu. Ngài còn thấy trong không gian có vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng. Ngày xưa nghe vậy không ai tin nổi. Điều Phật thấy cách đây hơn hai ngàn rưỡi năm, ngày nay với sự tiến bộ của khoa học mới đang dần làm sáng tỏ.
Như vậy, trí tuệ do tâm an định phát sanh sáng suốt không cùng tận, thấy tột cùng lẽ thực của các pháp không nghi ngờ. Nếu học hiểu bằng tâm phân biệt sanh diệt thì trí đó có giới hạn. Bởi vậy Phật mới thấy chúng sanh lưu chuyển trong luân hồi sanh tử một cách rõ ràng, như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy người qua kẻ lại một cách tường tận. Cho nên tất cả lời Phật dạy là chân lý, thấy biết rõ ràng chứ không phải do suy lý mà được.
Trí tuệ chân thật có được do tâm an định, vì vậy dù tu theo pháp môn Tịnh độ hay Thiền tông, chỗ cứu cánh là phải nhất tâm. Còn suy nghĩ, vọng tưởng là còn tạo nghiệp. Nghĩ tốt thì thân miệng làm tốt nói tốt, tạo thành nghiệp lành; nghĩ xấu thì thân miệng làm xấu nói xấu, tạo thành nghiệp dữ. Khi tâm an nhiên không nghĩ gì hết thì không tạo nghiệp. Như chúng ta ngồi chơi thảnh thơi, không nghĩ gì hết nhưng mình vẫn hiện hữu, chứ không phải không có. Gió thổi nghe mát, chim kêu nghe tiếng, người đi mắt thấy… cái biết luôn hiện tiền không vắng thiếu. Biết mà không suy nghĩ tạo nghiệp tức là giải thoát sanh tử. Tâm nghĩ suy hơn thua là nhân dẫn đi trong luân hồi lục đạo.
Đức Phật phương tiện dạy đủ mọi phương pháp để chúng sanh dừng tâm tạo nghiệp. Dù cho tụng chú, niệm Phật hoặc tọa thiền đều phải dừng vọng tưởng tạp nhạp để tâm an định, có vậy mới tới được chỗ tột cùng. Khi ngồi thiền không một niệm khởi, mình vẫn biết như thường. Niệm dấy lên biết có niệm, niệm lặng xuống biết không niệm. Cái biết chân thật đó luôn hiện tiền, thế nhưng lâu nay chúng ta bỏ quên rồi lầm nhận niệm lăng xăng sanh diệt làm mình. Chẳng khác nào sẵn có hòn ngọc quý mà không biết đem ra dùng, cứ chạy lên non lên núi, tìm khắp chỗ này chỗ kia. Nhà thiền nói “như người cưỡi trâu tìm trâu” là ý này vậy.
Phật dạy phải buông hết tâm lăng xăng thì cái chân thật mới hiện ra. Đó chính là tuệ giác chân thật. Sự học hiểu bên ngoài dù khôn ngoan mấy cũng chỉ là vô thường biến động mà thôi. Sở học mỗi thời mỗi khác, cái hay lúc trước qua đến thời sau trở thành lạc hậu, chỉ có tuệ giác phát sanh từ tâm chân thật mới là cứu cánh. Vì vậy con đường tu hành siêu thoát phi thường, chứ không phải tầm thường.
Nhiều người không nắm vững chỗ này, tự trách sao mình tu trầy trật hoài, thế là tìm kiếm môn này môn nọ học cho vui. Học coi tay coi tướng bậy bạ cũng có tiền, riết thành thầy bói thầy bùa… đủ thứ. Do không hiểu cái gốc cao siêu của sự tu, nên tu không đến nơi đến chốn, rơi vào tà kiến. Sự tu thiết yếu ở chỗ phải thấy đúng như thật về các pháp, tức là giác. Có giác ngộ mới buông sạch mọi vướng mắc của thế gian. Chừng nào trí tuệ siêu thoát hiện ra, chừng đó mới an vui giải thoát.
Hôm nay tới thăm tăng ni Phật tử tại đây, tôi đem những kinh nghiệm mình từng ứng dụng trong sự tu chia sẻ cùng quý vị. Mong rằng quý vị nghe hiểu và ứng dụng tu tập. Không phải đợi học hết tam tạng kinh điển mới tu được, chỉ cần một quyển Bát-nhã thôi cũng đủ rồi. Nói vậy quý vị đừng chấp để dốt dốt tu cho dễ, không phải vậy. Biết tất cả mà không vướng kẹt thì sự tu mới thiết thực.
Mong tăng ni và Phật tử khéo ứng dụng tu, khả dĩ mới tiến gần tới con đường giác ngộ giải thoát. Nếu không tu, dù cho có học hiểu mấy cũng vẫn đứng một chỗ. Để phiền não phủ vây thì không cách nào vượt qua được rào chắn của nghiệp, không thể nào giác ngộ. Đó là điều thiết yếu. Chúc quý vị luôn luôn cố gắng tinh tấn trên con đường Phật đạo.