Đâu Là Chân Hạnh Phúc

Biết Chọn Lối Đi Cho Mình (2)



Hôm tết tôi có nhắc lời cổ đức:

Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ, 

Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn.

Song, tôi không có nói nhiều giảng rộng. Nay tôi nhắc lại để quý vị nghe, đồng thời hướng dẫn cho quý vị tu hành.

Tôi tạm dịch:

Núi cùng sông cạn ngờ hết lối,

Liễu biếc hoa tươi riêng một thôn.

Nghe hai câu này quý vị có thấy được ý nghĩa thâm trầm không?

Tôi đã nói: Tất cả chúng ta có mặt trên trần gian này, đều lũ lượt kéo nhau đi vào cái ngõ cùng. Quý vị thấy có phải vậy không? Ai sanh ra rồi cũng phải đi tới cái chết, người này sanh ra rồi chết, người kia sanh ra rồi chết.

Ngàn xưa như vậy, ngày nay và về sau cũng như vậy. Ai cũng đi đến đường cùng không lối thoát mà cứ vui cười đi tới đó, không đi lối nào khác hơn. Thật đáng thương cho kiếp người đau khổ! Tất cả chúng ta ra đời ai cũng mang án tử hình, người năm năm, người mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm… lâu lắm là tám mươi năm hoặc hơn chút nữa, ai cũng bị tử hình, không người nào thoát khỏi cả. Vậy chúng ta phải làm thế nào để thoát khỏi án tử hình? Chúng ta tự nghiệm xét lại giá trị của cuộc đời, thấy thật là tối đen, ai sanh ra lớn lên rồi cũng đến đường cùng là già chết, không có lối thoát. Hình ảnh tối đen đó diễn tả bằng câu: Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ. Mọi người đi đến chỗ núi cùng sông cạn, ngỡ là không còn lối đi nữa, nên chấp nhận như thế. Nào ngờ còn một làng có liễu xanh hoa đẹp mà không biết lối tẽ để đi đến đó, thật uống thay! Tất cả nhân loại có mặt trên trần gian này, chúng ta cứ dồn nhau tới ngõ cùng, mà không biết lối tế để đi đến cảnh tươi đẹp. Đó là cái đáng thương thứ nhất của kiếp người.

Cái đáng thương thứ hai nữa là đi tới ngả cùng rồi thì cái chết đến mà không biết mình sẽ ra sao, đánh liều nhắm mắt đưa chân, ra sao thì ra. Cho nên nhìn kiếp người thật kỹ thấy vô cùng đen tối. Dù hiện tại được nhà lầu xe hơi, có đầy đủ thức ăn vật uống, y phục thượng hạng… Nhưng ngày mai sẽ chết mà không biết đi về đâu, nên tổ Quy Sơn nói: “Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng” nghĩa là: “Đường trước mờ mờ chưa biết về đâu?” Thân phận con người thật vô cùng đen tối, chấp nhận cái chết mà không biết sau khi chết sẽ ra sao, khổ vui thế nào? Thật là bi thảm! Phật không chấp nhận đi trên đường cùng đó, mà ngài tìm lối thoát. Chính tìm ra lối thoát nên ngài giải thoát được luân hồi sanh tử, không còn tiếp tục sanh nơi này tử nơi kia nữa. Đó là ý nghĩa thâm trầm của sự tu hành giải thoát.

Hiện tại chúng ta đã học Phật, tuy chưa thoát khỏi con đường cùng (chết), nhưng được yên lòng là có chọn lựa. Sáu đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a-tu-la, trời. Có ai thích đi vào địa ngục không? Không, địa ngục khổ quá, sợ nên tránh. Ngạ quỷ thì đói khát cũng sợ nên tránh. Súc sanh thì ngu si quá, cũng sợ nên tránh. Chúng ta tu, tối thiểu cũng được làm người, nếu có phước hơn thì sanh làm a-tu-la. Phật dạy: Người học Phật tối thiểu là phải chọn con đường làm người, không được rớt xuống ba đường súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Vì ba đường này rất khó gặp Phật pháp để tu hành. Vì vậy khi phát tâm quy y Phật là phải giữ năm giới, năm giới là đạo đức tư cách con người. Nếu sống không giữ trọn năm giới là thiếu tư cách con người. Quý vị kiểm lại xem có phải vậy không? Giả sử người rượu chè say sưa, lúc cười lúc khóc, điều không đáng nói cũng nói, lúc anh anh em em, lúc mày tao chửi bới, việc không đáng làm cũng làm, đi nghiêng tới ngã lui, có khi đánh đập ẩu đả với nhau… làm trò cười cho con nít. Thiếu hẳn tư cách của con người bình tĩnh. Bốn giới trước cũng vậy, phạm một giới là mất một phần tư cách của con người. Như vậy, chúng ta tu ít nhất cũng biết chọn cho mình một hướng đi, thấp nhất là trở lại làm người. Còn người không biết tu thì không biết chết rồi sẽ đi đường nào và tới đâu? Vì vậy mà hãi kinh lo sợ nên khổ sở. Đó là nỗi khổ lớn của kiếp người. Người tu tuy chưa thoát khỏi cái khổ thứ nhất, ít ra cũng thoát khỏi cái khổ thứ hai, tức là biết chọn đường đi và biết mình sẽ đi về đâu?

Khi đã giữ tròn năm giới, người Phật tử có thể tiến lên tu thập thiện. Tức là làm mười điều lành: đã không sát sanh, lại còn phóng sanh, không trộm cắp lại còn bố thí, không nói dối lại còn nói lời hòa nhã làm cho người khổ được vui. Khá hơn thì người Phật tử tu những pháp thiền định cho tâm tư lóng lặng trí tuệ sáng suốt. Đó là lối tiến đến giải thoát. Người tu nếu hiểu được đạo lý sâu, nói được những điều cao siêu mà giữ không tròn năm giới thì không đảm bảo không lạc vào đường ác. Vì sao? Vì yếu tố chánh của việc tu là thực hành. Còn học hiểu rồi nói suông thì không được lợi ích thiết thực.

Ví dụ có thầy hỏi Phật tử:

– Từ lâu quý Phật tử đi chùa học đạo, quý vị thấy thân này là có ngã hay vô ngã?

– Dạ vô ngã.

Nói thân là vô ngã dễ quá! Đây là lời nói suông học lóm của Phật rồi lặp lại thôi, chứ thật sự chưa sống như lời Phật dạy. Ngài không cho phép chúng ta tu chỉ học thuộc ngôn ngữ mà không thực hành. Người thuộc lời Phật dạy mà không thực hành giống như người bệnh được thầy thuốc giỏi bắt mạch cho toa. Sau khi nhận toa thuốc, thấy thuốc hay, người bệnh cầm toa thuốc học thuộc lòng, ai hỏi là nói tên thuốc vanh vách.

Người ấy không hốt thuốc uống nên bệnh không lành. Muốn hết bệnh là phải uống thuốc. Vì vậy quý Phật tử học đạo, nghe lời Phật dạy rồi phải nghiền ngẫm suy đem ra ứng dụng tu hành. Học đạo như thế mới được lợi ích. Như quý Phật tử đã thấy, có rất nhiều vị giảng sư nói thì thao thao bất tuyệt; thân này là vô ngã, tham sân si là ba độc… Nhưng gặp việc vẫn thấy có ta có người, sân giận nổi lên như bao nhiêu người chưa hề biết thế nào là vô ngã, cái gì là ba độc. Như vậy, nói thì ai nói cũng được, nhưng làm thì chưa được. Thế nên chủ yếu của người học Phật là ứng dụng tu hành. Có thực hành mới được lợi ích thiết thực, chứ còn nói suông chẳng khác gì cái máy cassette thâu vô thế nào phát ra thế ấy, tự mình không được lợi ích.

Chúng ta tu phải học là lẽ đương nhiên. Song, phải nhớ học không phải để nói suông và tự mãn, học là để hành và hành cho rốt ráo. Vì vậy chúng ta càng học hiểu lý đạo thâm sâu, chúng ta càng nỗ lực thực hành cho kỳ được. Tôi hay tán thán kinh Bát-nhã ở đoạn: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu trí tuệ Bát-nhã cứu cánh, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua tất cả mọi khổ ách. Chúng ta tụng đọc hằng ngày thuộc làu làu, cũng hiểu thế nào là hành thâm, dùng trí Bát-nhã tu thế nào để thấy năm uẩn là không… Chúng ta hiểu hết nhưng hành chưa thâm, nên gặp việc bất trắc bản ngã hiện nguyên hình. Vì chưa thấy sắc thọ tưởng hành thức là không, nên khổ ách vẫn còn đeo mang nặng nề.

Có nhiều vị cũng thông minh, giảng cũng lưu loát, nhưng vì hành Bát-nhã chưa thâm nên đời tu biến chuyển không lường trước nổi. Chính chỗ này mà Phật dạy chư Tỳ-kheo rằng: “Chưa chứng A-la-hán, các ông đừng tin tâm các ông.” Người khi chứng A-la-hán thì tâm hoàn toàn lặng lẽ, không còn những tạp niệm vô minh dấy khởi, trí tuệ tròn sáng. Vì trí tuệ sáng, không khởi niệm vô minh, nên không nói làm những điều bất thiện hại mình hại người. Người như thế mới dám tin tâm mình. Ngược lại thì không nên tin, vì tâm người khi nghĩ thiện, khi nghĩ ác, khi nghĩ thiện thì nói làm như Bồ-tát, lúc nghĩ ác thì hành động như phàm phu, hoặc cầm thú, đổi thay vùn vụt không lường trước được. Ngày nay mình ở hoàn cảnh này địa vị này thì sống như thế này, mai mình ở hoàn cảnh khác địa vị khác mình sống cũng khác. Nó luôn luôn thay đổi, không ở một vị trí nhất định. Hiểu như thế rồi chúng ta mới thấy tu hành phải phòng thủ tâm mình là việc thiết yếu.

Chúng ta tu muốn giải thoát khỏi sanh tử luân hồi thì tự mình phải đoạn sạch vô minh loạn tưởng. Nếu vô minh loạn tưởng nơi mình còn thì tâm sanh tử còn, tâm sanh tử còn là còn luân hồi. Tuy nhiên, còn luân hồi nhưng nhờ có giữ giới nên sanh trong các cõi lành. Vì vậy mà quý Phật tử tu phải ráng thực hành những điều Phật dạy, thấp nhất là năm giới, khá hơn là thập thiện, cao hơn nữa thì tùy khả năng mà tu các môn thiền quán… Như vậy mới thật học thật tu và biết chọn lối đi cho mình ở mai sau. Nhờ thế mà cái khổ luân hồi sanh tử được giảm. Không thực hành như thế thì khổ bao nhiêu nhận đủ bấy nhiêu, tu mà chẳng bớt khổ chút nào! Đó là ý nghĩa đường cùng ngõ cụt mà con người chúng ta ai cũng phải đến. Song, tới đường cùng mà biết lối tế thì sẽ đi đến cảnh đẹp hoa thơm, vui tươi không buồn khổ. Vì thế mà các thiền sư khi đề cập tới chỗ đó các ngài nói kệ nghe rất an lạc. Một hôm vua Lý Thái Tông đến núi hỏi Thiền Lão thiền sư:

– Hằng ngày Hòa thượng làm gì?

Ngài đáp:

Thủy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh 

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

Thật là đẹp đẽ, tâm thanh tịnh ngài thấy sự vật đúng với bản chất của sự vật, trúc biếc hoa vàng không phải cảnh ở ngoài mình và lý chân thật hiển hiện ở trăng sáng, ở mây trắng ở cùng khắp. Như vậy, tu tới chỗ tâm trùm khắp mọi cảnh vật thì sẽ thoát khỏi con đường sanh tử.

Chúng ta học tu theo Phật có một hướng đi, hướng đi này dẫn chúng ta đến cảnh giới tươi sáng an vui chẳng những trong hiện tại mà cả mai sau. Để thấy người tu không phải chấp nhận cuộc sống lao nhọc thiệt thòi để đi đến chỗ tuyệt vọng. Ngược lại, người tu tuy lao nhọc thiệt thòi nhưng tràn trề sức sống, tràn trề hy vọng vì đã chọn một lối đi sáng sủa. Vẫn biết ngày mai mình sẽ chết song hiện tại chưa chết còn mạnh, tỉnh sáng cứ cố gắng tiếp tục đi trên con đường mà mình đã chọn, để khi bỏ thân này tiến đến chân thiện mỹ.

Con người chúng ta lẽ ra sống đến bảy tám mươi tuổi hay hơn nữa. Nhưng vì tham sân si nung nấu khiến chết sớm hơn. Thanh niên mười tám mười chín, hai mươi tuổi đi lính rồi giết nhau chết la liệt. Đời người ngắn ngủi chỉ vì tham sân si khiến đến đường cùng quá sớm! Phật và Bồ-tát thương chúng sanh là thương ở chỗ đó. Ở địa vị của một tổng thống hay thủ tướng có đầy đủ uy quyền đối với mọi người, nhưng không có quyền thoát khỏi cái ngõ cùng ấy. Ông ra lệnh cho thuộc hạ làm điều này, ra lệnh cho dân quân làm việc kia, nhưng ra lệnh mình đừng chết thì không ra lệnh được, phải đầu hàng. Điều này rất quan trọng, mọi chúng ta phải chú ý mà lo tu hành.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.