Kỷ năng lãnh đạo và điều hành Phật sự thời Công nghệ số

Bài 8 Những Vấn Đề Trọng Yếu Của Trụ Trì Trong Thời Hiện Đại



I. Dẫn nhập

Đạo Phật ra đời, tồn tại và phát triển cùng với xã hội đến nay đã hơn 25 thế kỷ, tính chất triết học thiết thực của nền giáo lý nhà Phật đã góp một phần xây dựng lên đời sống đạo đức thánh thiện của con người, với tinh thần Từ bi và Trí tuệ, đạo Phật đã tiếp cận, cứu giúp và hòa quyện vào đời sống của con người trên mỗi lãnh thổ, mỗi quốc gia. Nơi nào có chúng sanh đau khổ cần cứu giúp, nơi đó có hình ảnh của Phật giáo ban rải tình thương, xoa dịu bao nỗi đắng cay, đau khổ của cuộc đời đầy biến động tạo ra. Hình ảnh của Phật giáo chính là hình ảnh của Tăng Ni, của ngôi chùa uy nghiêm, hiền hòa, thầm lặng, gắn bó với quê hương đất nước.

“Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.”

Thật vậy, từ ngàn xưa, khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam thì hình ảnh ngôi chùa thân thương và hình dáng hiền lành, nhẫn nại với tâm lượng bao dung của Tăng Ni chính là linh hồn, là nơi nương tựa tâm linh của đồng bào, của dân tộc. Nhưng xã hội ngày nay, với sự phát triển của khoa học và công nghệ làm đời sống của con người cũng thay đổi. Bên cạnh đó, sự phát triển về mặt tâm linh ngoài Phật Giáo, cũng như tự thân biến chuyển của Phật Giáo cũng ngày một mạnh mẽ và rộng khắp trên mọi miền đất nước đã tạo nên một làn sóng “va chạm” về tín ngưỡng trong nước cũng như trên thế giới.

Đứng trước tình hình phát triển của đất nước và xu thế công nghiệp hóa hiện đại, Phật giáo muốn tồn tại và phát triển thì cũng phải chuyển mình, thay đổi (quản lý và hoằng pháp) cho phù hợp với thời đại, nếu không thì Phật giáo cũng sẽ bị tụt hậu và bị lãng quên trong quá khứ đầy sắc màu rực rỡ (điều này lịch sử đã chứng minh).

Nhìn thấy được tầm quan trọng của Phật giáo và sự cần thiết để cho Phật giáo tồn tại và phát triển với xã hội, năm 1981, Phật giáo Việt Nam chính thức thành lập tổ chức Giáo hội, đó là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Từ đó đến nay, Chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội các cấp trong cả nước đã tổ chức những lớp bồi dưỡng kiến thức trụ trì. Với mục đích làm thế nào để cho Chư tôn đức Tăng Ni hiểu về vai trò, trách nhiệm, tầm quan trọng của trụ trì một ngôi chùa Phật giáo, từ đó vị trụ trì phát huy hết sức những giá trị tốt đẹp để cho đạo pháp tồn tại và phát triển.

Hôm nay, với duyên lành hội đủ, chúng tôi xin được chia sẻ với hội chúng Khóa Bồi Dưỡng Kiến Thức Trụ Trì năm nay với đề tài “Những vấn đề trọng yếu của Trụ Trì trong thời hiện đại”. Hy vọng rằng những gợi ý chia sẻ này sẽ được Chư tôn đức Tăng Ni hành giả trong khóa học lắng nghe và tiếp nhận.

II. Nội dung

1. Hiểu rõ chức năng và mục đích của ngôi chùa.

* Nơi để cho Tăng Ni cư trú và tu tập.

Vấn đề đầu tiên, chúng tôi muốn chia sẻ cho Chư tôn đức ở khóa học này chính là chức năng và mục đích của ngôi chùa. Khi nói đến đạo Phật là nói đến con đường giác ngộ, giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Chính vì vậy, chức năng đầu tiên của ngôi Chùa là nơi để cho Tăng Ni cư trú và tu tập. Tăng ni là những người nguyện trọn đời xuất gia, sống và thực hành theo lời đức Phật dạy để đạt được sự giác ngộ chân lý và giải thoát tối hậu.

Hầu hết trong các bộ từ điển tiếng Việt đều định nghĩa ngôi chùa hết sức sơ sài và đơn giản: Chùa là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật[1]. Sự cắt nghĩa như thế là không đầy đủ và không hiểu được mục đích của ngôi Chùa là như thế nào! Ngôi chùa ở Việt Nam trước nhất là công trình kiến trúc để thờ Phật, Bồ tát, Hộ Pháp… ; là nơi thờ các vị Tổ sư, các vị trụ trì quá cố… Thứ hai là nơi cư ngụ, tu hành, học tập, nghiên cứu giáo lý Phật giáo của Tăng Ni. Thứ ba là nơi thực hành các khóa lễ của Tăng Ni, Phật tử. Vì thế, Chùa hiểu theo đúng nghĩa của nó chính là ngôi Tam Bảo (Phật bảo là người đã giác ngộ giải thoát và khai sáng ra đạo Phật; Pháp bảo là giáo lý của Ngài giảng dạy trong suốt 49 năm hoằng pháp lợi sanh, được kết tập thành Kinh tạng; Tăng bảo là những vị Thánh đệ tử, Chư tôn đức Tăng Ni xuất gia, nguyện sống đời thanh tịnh hòa hợp, thực hành theo lời đức Phật dạy để được giác ngộ giải thoát và truyền dạy giáo lý của Phật đến cho mọi người). Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì không gọi là Chùa được.

* Là nơi hoằng dương chánh pháp.

Vì mục đích đem lại sự an lạc hạnh phúc cho trời người, cho nên ngay sau khi đức Phật thành đạo, Ngài đã bắt đầu chu du hoằng pháp độ sanh. “Hãy ra đi, này các Tỳ Kheo, đem sự tốt đẹp cho nhiều người, đem hạnh phúc đến nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và nhân loại.”[2]

Với tinh thần trên, Chùa ngoài là nơi thờ Phật và tu tập của Tăng Ni, chùa còn là nơi hoằng dương giáo pháp của Phật đến khắp mọi người. Bởi vì, yếu tố đầu tiên nhất của đạo Phật đó chính là con người, đạo Phật luôn hướng con người đến sự thánh thiện.

Nền luân lý đạo đức của Phật giáo dạy con người phải ăn ở hiền lành, với năm điều giới cấm của người Phật tử tại gia; đó là năm nguyên lý đạo đức căn bản mà Phật tử phải giữ gìn cẩn thận. Ðồng thời phải ý thức và áp dụng lý nhân quả vào đời sống hàng ngày… Có thế thì Phật tử mới tránh được những điều tội lỗi. Ðó là hướng tiến thăng hoa đạo đức của Phật tử trong việc tu thân, tề gia và đem lại nhiều lợi ích cho nhân quần, xã hội.

Thử nhìn lại, những giai đoạn hưng vong, thạnh suy của dân tộc và Phật giáo, lịch sử đã chứng minh, bất luận thời nào, ngôi chùa cũng đóng một vai trò then chốt quan trọng trong việc điều hướng, giáo dục quần chúng nhân dân. Có thể nói chùa là cái nôi giáo dục đào tạo cho mọi người hướng thiện tu hành, hộ quốc, an dân.

Có những ngôi chùa có chức năng như một ngôi trường, đề ra chương trình giáo dục thực tiễn nhằm xây dựng đạo đức nhân bản cho con người. Mục đích là nhằm đào tạo con người có được đời sống tâm linh phong phú và trên hết là tính nhân bản tình người. Ðó là con đường hướng đến Chân, Thiện, Mỹ của Phật giáo….

Trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của ngôi chùa thì Tăng Ni ở trong ngôi chùa ấy đóng vai trò rất quan trọng, thay cho Đức Phật trong việc đào tạo và giáo dục nhân dân sống hướng thiện.

Đây chính là sự hoằng dương chánh pháp của Phật đến mọi người và với tinh thần nhập thế “tùy duyên bất biến – bất biến tùy duyên”, cho nên đạo Phật đã đi vào lòng của mỗi dân tộc, của mỗi quốc gia khi đạo Phật du nhập đến. Nổi bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, thực hiện triệt để tinh thần hoằng pháp lợi sanh, lấy lời Phật dạy làm luật lệ sống cho nhân dân, dùng Đức để bình phục thiên hạ đó chính là thời đại Lý – Trần, mà trong các bộ sử lớn của Việt Nam cũng như của Phật Giáo đều ghi rõ điều đó.

* Là nơi để quần chúng nhân dân tín ngưỡng, chiêm bái.

Ngôi chùa ngoài hai mục đích nêu trên, còn là nơi để cho quần chúng nhân dân đi đến gieo duyên lành với Phật giáo, đồng thời tham quan, chiêm bái và lễ lạy, cầu nguyện theo lòng tin và tín ngưỡng của mình.

Khi đạo Phật được truyền vào thì Phật giáo hòa quyện với nền văn hóa bản địa trở thành một đạo Phật rất Việt Nam. Với Phật giáo, việc sử dụng phương tiện để làm lợi lạc và lợi ích cho số đông, vì lợi ích cho trời người thì điều ấy nên làm. Cho nên, việc hòa nhập vào nền văn hóa dân gian để hóa độ và chuyển hóa, để đem lợi ích cho đời nhưng không mất đi sự thuần túy của nó với tinh thần nhập thế “tùy duyên bất biến”. Chính vì lẽ ấy, việc đi chùa lễ lạy cầu phúc, cầu tài, cầu bình an cho cuộc sống… của quần chúng nhân dân là nhu cầu tín ngưỡng tâm linh tất yếu, cho dù người đó là Phật tử hay không theo tôn giáo nào.

* Chùa là giáo sản (tài sản) của Giáo hội.

Đây là một yếu tố hết sức quan trọng mà người trụ trì thời hiện nay phải nắm rõ. Trong hiến chương của giáo hội quy định Chùa là giáo sản (tài sản của Giáo hội), có nghĩa là: Chùa chính là tài sản chung của tập thể Tăng đoàn chứ không phải riêng một cá nhân nào sở hữu (điều này đúng với giới luật Phật chế), mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính là tập thể lãnh đạo, đại diện cho Tăng đoàn của Phật giáo Việt Nam. Ví như trước đây thì quyền sử dụng đất do vị trụ trì đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng ngày nay, do sự phát triển chuyển biến của xã hội nên điều đó không còn phù hợp (thực tế đã và đang diễn ra), cho nên pháp luật nhà nước quy định không cấp quyền sử dụng đất tôn giáo cho cá nhân, mà cấp cho cơ sở tôn giáo. Đồng thời Giáo hội cũng đưa ra những quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của Trụ trì rất rõ ràng được thể hiện tính pháp nhân pháp lý trong Hiến chương và Nội quy Ban Tăng sự trung ương. Cho nên sự vận hành của một ngôi chùa chính là sự vận hành của một tổ chức Giáo hội, Chùa phải là một tổ chức tôn giáo trực thuộc, mà trong đó vai trò của người trụ trì là nhân tố cốt lõi.

2. Hiểu về trách nhiệm và nghĩa vụ của Trụ trì

Trong Hiến chương và Nội quy Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của Trụ trì rất rõ ràng: Trụ trì là người thay mặt Giáo hội quản lý, điều hành các hoạt động của cơ sở Tự viện theo đúng Hiến chương Giáo hội và pháp luật Nhà nước. Về mặt luật pháp, trụ trì chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động Phật sự tại cơ sở Tự viện”[3].

Như vậy, trách nhiệm của vị trụ trì đó chính là thay mặt Giáo hội quản lý và điều hành mọi hoạt động của cơ sở tự viện theo đúng hiến chương và pháp luật nhà nước. Sự vận hành của một ngôi tự viện Phật giáo giống như một cơ quan, bao gồm mọi mặt: đối nội, đối ngoại, tâm linh, giao tiếp và đời sống kinh tế, xã hội của Tăng Ni và đồng bào Phật tử…… Sự vận hành ấy chính là tính năng hay mục đích của ngôi chùa.

Ngày nay, trụ trì là do tổ chức GHPGVN cấp tỉnh bổ nhiệm và giao cho vị trụ trì trách nhiệm quản lý và điều hành mọi công tác Phật sự tại chùa cho thật tốt, và nghĩa vụ chính là tuân thủ theo hiến chương và pháp luật nhà nước hiện hành quy định.

Cho nên khi một vị Tăng Ni được giáo hội bổ nhiệm về đảm trách trụ trì ở một ngôi Chùa hay một ngôi tự viện nào đó thì đó là một niềm vinh hạnh, đáng trân quý khi Giáo hội tin tưởng và giao phó tài sản của Giáo hội cho Tăng Ni quản lý điều hành, là cơ duyên rất lớn để lập công tạo đức cho Đạo pháp. Và thiết nghĩ đây cũng là cơ hội quý giá để cho Chư tôn đức Tăng Ni vun bồi công đức thực hành hạnh nguyện Bồ tát đạo của chính mình.

3. Hiểu về cơ cấu tổ chức Giáo hội.

Những vấn đề trọng tâm của người trụ trì trong thời hiện đại đó chính là phải hiểu được cơ cấu tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sự thông hiểu này là tiền đề cho sự phát triển hưng thạnh của một ngôi chùa. Như chúng ta đã biết, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời là sự kết tinh trí tuệ, là nguyện vọng chân chính của Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử, các tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội và các Hệ phái Phật giáo trong cả nước, là chủ thể kế thừa lịch sử hàng ngàn năm của Phật giáo Việt Nam.

Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là Hoằng dương Phật pháp, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo đúng Giáo pháp, Giáo luật Phật chế và Pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thành phần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam bao gồm những thành viên là các tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội và các Hệ phái Phật giáo, Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước đã tự nguyện hợp nhất hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chấp nhận bản Hiến chương này.

Thành phần nhân sự tham gia các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam là những Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử có uy tín, năng lực làm việc, đạo hạnh tốt, tiêu biểu cho các thành viên Giáo hội ở các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có công đức với Đạo pháp, Dân tộc.

Như vậy, mục đích và sự hình thành nên GHPGVN đã thể hiện rất rõ trong bản Hiến chương Nội quy hoạt động của GHPGVN. Tổ chức GHPGVN là đại diện pháp nhân của Tăng đoàn để bảo vệ cho Tăng Ni và Phật tử Phật giáo Việt Nam được an ổn tu tập theo chánh pháp. Đây cũng chính là cương lĩnh để cho Chư vị trụ trì nương theo.

4. Những kiến thức và kỷ năng cần có của Trụ trì trong thời hiện đại

Để quản lý và điều hành một ngôi chùa không phải là một việc làm đơn  giản và dễ dàng, nó đòi hỏi người trụ trì trong thời hiện đại phải đáp ứng đầy đủ những kiến thức và những kỹ năng căn bản cần có.

– Kiến thức Phật học. Đây là yếu tố căn bản đầu tiên và không thể thiếu. Sự cần thiết về kiến thức Phật học hay còn gọi là nền tảng giáo lý căn bản của Đạo Phật, người trụ trì phải biết và biết thật thấu đáo. Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, việc tín đồ Phật tử tìm hiểu giáo lý đạo Phật rất dễ dàng, chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh là họ đã có thể tìm hiểu được toàn bộ giáo lý của Phật giáo. Vì vậy, vị trụ trì ngoài sự tu tập thì việc trao dồi kiến thức Phật học là điều cần thiết nhất. Có kiến thức Phật học mới tu tập đúng đường, đúng chánh pháp và hướng dẫn đồng bào Phật tử tu tập và thực hành đúng chánh pháp. Vì vậy, trong Nội quy Ban Tăng sự trung ương quy định khi bổ nhiệm trụ trì cho một ngôi chùa thì điều kiện cần và đủ là Tăng Ni phải tốt nghiệp Trung Cấp Phật học trở lên và kiến thức thế học phải tốt nghiệp Trung học phổ thông (hết lớp 12).

Bên cạnh kiến thức Phật học và thế học là hết lớp 12, Tăng ni trụ trì cần phải trao dồi và tìm hiểu về pháp luật nhà nước, như tìm hiểu Luật tín ngưỡng tôn giáo, luật đất đai, luật dân sự, và những quy định pháp luật có liên quan để quản lý và điều hành mọi Phật sự để không bị phạm phải những sai lầm đáng tiếc.

– Kiến thức về công nghệ thông tin.  Người trụ trì trong thời công nghệ 4.0 phải hiểu biết và có thể sử dụng thành thạo vi tính tin học hay điện thoại thông minh, hay nói cách khác đó là sử dụng được công nghệ thông tin….. Ngày nay, tất cả mọi giao dịch của xã hội đều thông qua mạng lưới internet, chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh có kết nối internet thì chúng ta có thể thực hiện mọi giao dịch và cập nhật mọi thông tin trên toàn thế giới diễn ra như thế nào….. Vì thế, hệ thống mạng xã hội đã làm cho ý thức hệ của con người thay đổi nhanh chóng, sự lan truyền thông tin bằng công nghệ số rất nhanh, chỉ cần xảy ra một sự việc nhỏ, dù bất cứ nơi đâu thì cả thế giới điều biết.

Vì vậy, với sự hiểu biết thấu đáo và thành thạo về công nghệ thông tin sẽ cho người trụ trì quản lý và điều hành mọi công tác Phật sự được tốt hơn, đồng thời phòng tránh được những điều bất như ý xảy đến. Điều này Giáo hội cũng đã có thông tư số 206 ngày 19/9/2020 về việc hướng dẫn sinh hoạt của Tăng Ni qua vấn đề sử dụng không gian mạng rất rõ ràng và cụ thể.

Ngoài những kiến thức căn bản nêu trên, người trụ trì trong thời hiện đại còn phải bồi dưỡng thêm những kỷ năng khác như: kỷ năng soạn thảo văn bản, kỷ năng giao tiếp, kỷ năng xướng ngôn và dẫn chương trình, kỷ năng thuyết giảng thuyết trình, kỷ năng xử lý tình huống, cập nhật kiến thức quốc phòng an ninh…… Đây là những yếu tố góp phần tạo dựng thành công cho vị trụ trì trong thời hiện đại.

III. Kết Luận

Tóm lại, người trụ trì trong thời hiện đại, ngoài sự nỗ lực tu tập của tự thân để đạt được những kết quả an lạc, giải thoát thì con đường của Bồ tát đạo, lập công, bồi đức vẫn là một sự lựa chọn không thể tách rời của đời sống người tu sĩ. Việc Tăng Ni trụ trì cần hiểu rõ công năng và mục đích của ngôi chùa là gì để chúng ta vận hành nó đi theo đúng mục đích và công năng của nó thì khi đó mới phát huy được tác dụng đích thực. Đồng thời, phải ý thức rõ về trách nhiệm và nghĩa vụ của trụ trì là gì để chúng ta quản lý và điều hành mọi công tác Phật sự tại ngôi tự viện được tốt đẹp hơn và không quên rằng Chùa chính là nơi phát sinh công đức và phước báo, là nơi để cho chúng ta phụng sự đạo pháp, phụng sự nhân sinh, là nơi tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức. Bên cạnh đó, là sự thấu hiểu về cơ cấu tổ chức Giáo hội, khi thấu hiểu được cơ cấu tổ chức thì người trụ trì sẽ tuân thủ những nguyên tắc, những quy định của tổ chức và tuyệt đối trung thành, tôn trọng tổ chức, Giáo hội chính là Tăng đoàn; một trong ba ngôi báu của Đạo Phật. Ngoài những yếu tố căn bản nêu trên, người trụ trì cần bồi dưỡng thêm những kỷ năng căn bản như sử dụng vi tính, sử dụng công nghệ thông tin, kỷ năng giao tiếp, tìm hiểu pháp luật và những quy định của nhà nước có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, đất đai, dân sự….. để quản lý và điều hành mọi công tác Phật sự được tốt hơn và thành tựu được mọi thắng duyên công đức.

Kính chúc Chư tôn đức Tăng Ni học viên khóa Bồi dưỡng kiến thức trụ trì năm nay được nhiều sức khỏe và mọi công tác Phật sự được thành tựu như ý nguyện.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ tát Ma-ha-tát. ¤


[1] Thái Xuân Việt, Từ Điển Tiếng Việt, C, Chùa, NXB. Thống Kê 2006, tr. 174.

[2] Nàrada Mahà Thera, Đức Phật Và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Chương 7. Truyền Bá Giáo Pháp, NXB. Tôn Giáo 2005, tr.117.

[3] Điều 41, Chương VIII, Nội quy Ban Tăng Sự Trung Ương GHPGVN.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.