Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải

Đời Thứ Sáu Sau Lục Tổ Huệ Năng



Tông Tào Động Đời Thứ Hai

THIỀN SƯ TÀO SƠN BỔN TỊCH (840 – 901)

Sư họ Huỳnh hiệu Bổn Tịch, quê ở Bồ Điền, Tuyền Châu (nay là huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến). Lúc nhỏ Sư chuyên học Nho. Năm mười chín tuổi, Sư lên núi Linh Thạch ở huyện Phước Đường xuất gia, đến hai mươi lăm tuổi thọ giới Cụ túc. Khoảng niên hiệu Hàm Thông (860-874), Sư đi tham vấn thiền tông. Trước, Sư đến Động Sơn (nay là huyện Cao An, tỉnh Giang Tây) tham vấn thiền sư Lương Giới. 

Động Sơn hỏi: 

– Xà-lê tên gì? 

Sư thưa: 

– Bổn Tịch. 

Động Sơn bảo: 

 Lại nói lên trên. 

Sư thưa: 

– Chẳng nói. 

Động Sơn hỏi: 

– Vì sao chẳng nói? 

Sư thưa: 

– Chẳng tên Bổn Tịch. 

Động Sơn gật đầu. Từ đây, Sư thuộc vào hàng nhập thất. 

Khi ngài đến tham vấn Động Sơn, Động Sơn hỏi tên gì, ngài nói tên Bổn Tịch. Động Sơn bảo nói lên trên. Nói lên trên không phải là không có lý, nhưng cái trên đó nói được không? Cho nên ngài nói chẳng nói. Hỏi vì sao chẳng nói? Đáp chẳng tên Bổn Tịch, bởi cái đó không tên làm sao nói được, nói thì không phải tên Bổn Tịch. Động Sơn gật đầu, từ đó ngài được xếp vào hàng nhập thất, hàng đệ tử được ấn chứng.

Sư theo hầu Động Sơn mấy năm. Một hôm Sư đến từ tạ đi nơi khác. Động Sơn mật truyền tông chỉ, lại hỏi: 

– Ngươi đi đến chỗ nào? 

Sư thưa: 

– Đến chỗ không biến dị. 

Động Sơn bảo: 

 Chỗ không biến dị lại có đến sao? 

Sư thưa: 

– Đến cũng chẳng biến dị. 

Biến dị là đổi dời. Động Sơn hỏi ngài đi đến đâu, trả lời đến chỗ không đổi dời. Chỗ không đổi dời thì không nơi chốn đến đi, nếu có đến là không đúng, nên ngài Động Sơn bẻ lại Chỗ không biến dị lại có đến sao? Ngài nói Đến cũng chẳng biến dị. Câu trả lời rất khéo, nói lên cái thấy của ngài.

Sư đi đến Tào Khê lễ tháp Tổ, trở về Cát Thủy. Chúng nghe danh Sư tìm đến thỉnh khai pháp. Vì ngưỡng mộ Lục Tổ, Sư đặt tên núi là Tào Sơn. Thời gian sau bị giặc loạn, Sư dời về huyện Nghi Huỳnh. Có người cư sĩ cúng sở nhà Hà Vương cho Sư trụ trì. Sư đổi tên Hà Vương (J) ra Hà Ngọc (j =). Nơi đây giáo hóa hưng thịnh, học giả các nơi đua nhau kéo đến. Tông chỉ Động Sơn được rực rỡ.

Ngài ở hai nơi, đạo tràng đều rất thạnh. Ngưỡng mộ Lục Tổ nên ngài đặt tên núi là Tào Sơn, chữ Tào trong Tào Khê. Đổi tên trú xứ chỉ họ người là Hà Vương ra Hà Ngọc, nghĩa là hoa sen ngọc. Chữ Hà (j) này còn có nghĩa là đảm đương, gánh vác.

Sư dạy chúng: 

 Tình phàm kiến thánh là khóa kín đường huyền, hẳn phải hồi hỗ. Người lấy chánh mạng thực phải đủ ba thứ đọa: Một là phi mao đới giác. Hai là bất đoạn thanh sắc. Ba là bất thọ thực. 

Khi ấy, Trù Bố Nạp hỏi: 

– Phi mao đới giác là cái gì đọa? 

Sư đáp: 

 Là loại đọa (bản xưa chép Sa-môn đọa). 

– Bất đoạn thanh sắc là cái gì đọa? 

Là tùy đọa (bản xưa chép Tùy loại đọa). 

– Bất thọ thực là cái gì đọa? 

 Là tôn quý đọa. 

Mở đầu ngài nói nếu còn tình phàm kiến giải thánh, đó là khóa kín đường huyền, không thể nhập được đường huyền, nên phải hồi hỗ, đừng mắc kẹt bên phàm bên thánh.

Cũng ý này, người tu muốn chánh mạng thực phải đủ ba thứ đọa: Một là phi mao đới giác. Hai là bất đoạn thanh sắc. Ba là bất thọ thực. Hỏi thế nào là phi mao đới giác đọa, ngài đáp là loại đọa, loại là dị loại, đọa là rơi, rơi trong dị loại. Chúng ta luân hồi trong lục đạo gọi là dị loại, tức là mỗi nơi mỗi loài khác nhau, loài người không phải a-tu-la, a-tu-la thì không phải chư thiên, chư thiên thì không phải ngạ quỷ, ngạ quỷ thì không phải súc sanh…

Tất cả người tu đều muốn thoát khỏi luân hồi, ra khỏi lục đạo. Nhưng đây ngài nói phải đi trong lục đạo. Bậc đại căn đại trí thì đi trong đường đó, mang lông đội sừng là việc trong dị loại. Nghĩa là tuy hành hạnh súc sanh mà chẳng bị quả báo súc sanh, tuy đi trong lục đạo mà không bị quả báo lục đạo. Bồ-tát muốn độ tất cả chúng sanh nên lăn lộn trong luân hồi, không phải vì nghiệp lôi kéo nên không bị nhiễm. Chúng ta bị nghiệp lôi, lôi tới đâu thì nhiễm tới đó, còn Bồ-tát đi trong luân hồi mà không nhiễm luân hồi.

Nếu tu một lần giải thoát rồi đi không trở lại thì thế nào? Người tu mong được giải thoát, nhưng tất cả đều thọ ơn của đàn-na thí chủ, ơn cha mẹ, ơn thầy tổ. Đã thọ rồi không lẽ quỵt nợ, tu lo được giải thoát phần mình, mặc mọi người ở lại làm gì thì làm, như vậy có phải là ăn gian không? Vì thế phát khởi tâm từ bị đi trong lục đạo độ chúng sanh, không phải xong việc rồi là trốn mất.

Người tu có sức mạnh không bi quan, không phải tu cầu giải thoát để một mình thảnh thơi, tha hồ thế gian điên đảo cũng bỏ mặc. Tu như vậy là yếu đuối, là tiêu cực. Ngài Nam Tuyền nói, sau khi ta tịch sẽ làm con trâu. Tri sự hỏi, con muốn gặp Hòa thượng phải làm sao? Ngài bảo, phải mang theo bó cỏ. Ngài Quy Sơn thì nói: “Ta chết sẽ sanh làm con trâu nhà đàn-việt ở dưới núi, trên lưng có hàng chữ Quy Sơn tăng Linh Hựu. Như vậy gọi con trâu là phải hay gọi Quy Sơn tăng là phải?” Đây là loại đọa. Nếu không hiểu chỗ này, chúng ta sẽ thắc mắc tại sao tu thành Tổ rồi mà còn đọa làm con trâu? Như vậy nói loại đọa là đi trong dị loại mà độ chúng sanh, đó là tinh thần cứu thế của Bồ-tát.

Hai là tùy xứ đọa hay là tùy đọa, tức là bất đoạn thanh sắc. Tùy xứ đọa là sao? Ngay nơi đó mà không dính mắc, theo thanh đuổi sắc mà chẳng biết thanh sắc. Người thường thì chạy theo tiếng theo sắc, mắc kẹt nơi tiếng nơi sắc, còn đây cũng ngay trong thanh sắc mà thấy sắc chẳng can hệ đến sắc, nghe tiếng chẳng dính dáng gì đến tiếng. Người xưa có câu Kiến sắc phi can sắc, văn thanh bất thị thanh. Người mới tu rất sợ thanh sắc vì e tâm mình nhiễm động, trốn ở đâu để khỏi thấy nghe. Thế gian là sắc tướng là thanh âm, mình trốn ở đâu được? Phải ngay nơi sắc tướng thanh âm mà không dính không kẹt, không dính với tiếng không kẹt với sắc, gọi là tùy xứ đọa.

Thiền sư Đạo Giai nói Ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá. Kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết, thấy lợi thấy danh như hạt bụi rớt trong con mắt. Đó là ý người xưa để chỉ chỗ tùy xứ đọa.

Ba là bất thọ thực, hay gọi là tôn quý đọa. Tại sao gọi là tôn quý đọa? Tôn là tôn trọng, quý là quý kính, tôn trọng quý kính mà kẹt, mà rơi. Chúng ta tu thường nghĩ rằng mình đang ở bên bờ sanh tử đau khổ, phải cố làm sao qua đến bờ Niết-bàn an lạc. Niết-bàn là chỗ quý trọng, sanh tử là khổ đau nên chán sợ. Nếu còn thấy có chỗ quý trọng thì cũng còn rơi một bên, nên có câu “Thọ thực là việc thời nay, không thọ thực là việc bên kia, nếu chấp bên kia chưa khỏi rơi trong tôn quý”.

Thọ thực là việc thời nay, chữ thực này không phải ăn bằng miệng mà là Xúc thực. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi… tất cả sáu căn tiếp xúc với sáu trần đều gọi là ăn. Ngay khi tiếp xúc mà dính mắc gọi là thọ thực, là việc bên bờ sanh tử. Ngay khi tiếp xúc mà không dính mắc gọi là không thọ thực, là bờ Niết-bàn.

Kinh A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo quán tứ niệm xứ, quán tất cả không thọ, nội tâm tịch diệt là Niết-bàn. Vì thế nói không thọ thực là việc bên kia, là Niết-bàn. Nhưng nếu còn chấp bên kia, còn chấp Niết-bàn là chỗ an trú thì chưa khỏi rơi trong tôn quý, gọi là tôn quý đọa. Nhà thiền có câu “Chẳng mặc đồ trân bảo, lại mặc áo rách tơi”. Nghĩa là đạt đến chỗ cao siêu, đến Niết-bàn rồi mà không trụ trước, vẫn đi trong luân hồi giáo hóa chúng sanh, gọi là mặc áo rách tơi.

Bức tranh thứ mười trong Tranh chăn trâu diễn tả chỗ này bằng hình ảnh ông thầy áo phanh ngực đi vào chợ. Người tu đến chỗ hoàn toàn thanh tịnh rồi mà vẫn lăn vào trong trần thế, bụi đất lấm lem như chúng sanh. Đó là giai đoạn nhập Phật giới rồi phải đi vào ma giới. Nếu nhập Phật giới rồi mà an trụ Phật giới thì chưa phải, gọi là mắc kẹt trong tôn quý.

Ba thứ đọa này là một sức mạnh phi thường của người tu thiền. Tu thiền là phải tiến đến đích giải thoát, nhưng không trụ ở đó mà trở lại sanh tử luân hồi giáo hóa chúng sanh. Nếu trụ mãi một chỗ thì bị lỗi “trầm không trệ tịch”. Chúng ta hiểu rõ mới thấy được chỗ cao siêu của ngài muốn chỉ.

Nhân Tăng hỏi Ngũ vị quân thần chỉ quyết, Sư giải thích: 

Chánh vị là không giới xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới có hình vạn tượng. Chánh trung thiên là trái lý theo sự. Thiên trung chánh là bỏ sự vào lý. Kiêm đới là thầm ứng chúng duyên chẳng rơi vào các hữu, chẳng nhiễm chẳng tịnh, chẳng chánh chẳng thiên. Cho nên nói: Đại đạo hư huyền không mắc chân tông. Tiên đức từ trước suy xét một vị này rất diệu rất huyền, phải xét kỹ biện rõ. Quân là chánh vị, Thần là thiên vị. Thần hướng quân là Thiên trung chánh. Quân thị thần là Chánh trung thiên. Quân thần đạo hợp là Kiêm đới. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là quân? 

Sư đáp: 

– Đức diệu trên hoàn vũ, cao sáng khắp bầu trời (Diệu đức tôn hoàn vũ, cao minh lãng thái hư). 

 Thế nào là thần? 

– Máy linh hoằng đạo thánh, trí chân lợi quần sanh (Linh cơ hoằng thánh đạo, chân trí lợi quần sanh). 

– Thế nào là thần hướng quân? 

Không rơi những đường khác, lắng tình nhìn mặt vua (Bất đọa chư dị thú, ngưng tình vọng thánh dung). 

– Thế nào là quân thị thần? 

Dáng điệu tuy chẳng động, đuốc sáng vẫn không thiên (Diệu dung tuy bất động, quang chúc bản vô thiên). 

– Thế nào là quân thần đạo hợp? 

– Hỗn nhiên không trong ngoài, dung hòa trên dưới yên (Hỗn nhiên vô nội ngoại, hòa dung thượng hạ bình). 

Sư lại bảo: 

– Lấy quân thần thiên chánh mà nói, chẳng cho phạm ở giữa. Cho nên thần khen vua, không dám có lời chê bai ấy vậy. Đây là tông yếu pháp của ta. 

Kệ rằng: 

Học giả tiên tu thức tự tông 

Mạc tương chân tế tạp ngoan không.

Diệu minh thể tận tri thương xúc

Lực tại phùng duyên bất tá trung.

Xuất ngữ trực giao thiêu bất trước

Tiềm hành tu dữ cổ nhân đồng. 

Vô thân hữu sự siêu kỳ lộ

Vô sự vô thân lạc thủy chung. 

Dịch: 

Người học trước cần hiểu tự tông

Chớ đem chân tế lẫn ngoan không.

Tột thể diệu minh biết xúc chạm

Sức tại phùng duyên chẳng mượn trung.

Thốt lời cần phải thiêu chẳng đến 

Thầm đi nên với cổ nhân đồng. 

Không thân có việc siêu đường tẽ 

Không việc không thân lạc thủy chung. 

Ngài giải thích về Ngũ vị quân thần: Quân là chánh vị, Thần là thiên vị. Thần hướng quân là Thiên trung chánh. Quân thị thần là Chánh trung thiên. Quân thần đạo hợp là Kiêm đới. 

Tăng hỏi: Thế nào là quân? Ngài đáp: Đức diệu trên hoàn vũ, cao sáng khắp bầu trời. Quân tức là chỉ cho vua, vua là chánh vị trùm khắp, không có nơi chốn. Tăng hỏi: Thế nào là thần? Ngài đáp: Máy linh hoằng đạo thánh, trí chân lợi quần sanh. Thần là chỉ cho thiên mà cũng chỉ cho diệu dụng lợi ích chúng sanh.

Hỏi: Thế nào là thần hướng quân? Tức là bên dụng mà hướng về thể. Ngài đáp: Không rơi những đường khác, lắng tình nhìn mặt vua. Không hướng đường nào khác mà chỉ hướng về thể, từ dụng quy về thể.

Hỏi: Thế nào là quân thị thần? Ngài đáp: Dáng điệu tuy chẳng động, đuốc sáng vẫn không thiên. Đây là thể hướng về dụng, dáng điệu tuy chẳng động là chỉ cho thể, đuốc sáng vẫn không thiên, đó là dụng.

Hỏi: Thế nào là quân thần đạo hợp? Ngài đáp: Hỗn nhiên không trong ngoài, dung hòa trên dưới yên. Quân thần đạo hợp là lúc đó không còn thiên chánh riêng biệt, hay không còn sự riêng lý riêng, mà dung hợp tất cả.

Ngài lại bảo: Lấy quân thần thiên chánh mà nói, chẳng cho phạm ở giữa. Cho nên thần khen vua, không dám lời chê bai ấy vậy. Đây là tông yếu pháp của ta. Chủ yếu tông Tào Động luôn luôn lấy việc hồi hỗ thể dụng, sự lý giao thoa lẫn nhau, không cho mắc kẹt ở một bên.

Bài kệ:

Người học trước cần hiểu tự tông

Chớ đem chân tế lẫn ngoan không.

Tột thể điệu minh biết xúc chạm

Sức tại phùng duyên chẳng mượn trung.

Thốt lời cần phải thiêu chẳng đến

Thầm đi nên với cổ nhân đồng. 

Không thân có việc siêu đường tẽ 

Không việc không thân lạc thủy chung. 

Người học trước cần phải hiểu tông của mình, khi hiểu rồi thì chớ đem chân tế lẫn ngoan không. Chân tế là mé chân thật, cũng chỉ cho thể chân thật thanh tịnh của chính mình. Thể ấy không giống như ngoan không. Chân tế tuy không tất cả tướng, không tất cả động nhưng chẳng phải trống không như hư không, nếu hiểu nó như hư không là lầm.

Tột thể diệu minh biết xúc chạm, sức tại phùng duyên chẳng mượn trung. Thể diệu minh đến chỗ cùng tột thì không phải chẳng biết gì, vẫn thường thấy nghe như ở sáu căn vẫn phát sáng, gọi là biết xúc chạm. Sức của nó khi gặp duyên thì khởi, gặp duyên thì hiện, không mượn trung gian.

Thốt lời cần phải thiêu chẳng đến, thầm đi nên với cổ nhân đồng. Khi nói ra lời đừng để mắc kẹt, gọi là thiêu chẳng đến. Nói mà không dính dáng không mắc kẹt, nói như không nói. Thầm đi nên với cổ nhân đồng, ứng dụng tu thì phải đúng với đường lối của cổ nhân, đừng đi lạc.

Không thân việc siêu đường tẽ, không việc không thân lạc thủy chung. Hai câu này, câu nào cao hơn? Không thân mà có việc thì hết ngã còn pháp, tại sao vượt đường tế? Không việc không thân là bặt hết ngã pháp, tại sao lạc thủy chung? Người tu chúng ta có quan niệm sai lầm, khi tu quán thấy thân như huyễn không thật nên gọi là không thân. Xét kỹ thân mình như huyễn, thân người cũng như huyễn, người khổ mặc họ, đồ huyễn không cần làm chi. Biết huyễn ngồi khoanh tay chờ chết, đó là không thân không việc, không làm nên không có việc. Đó là lạc thủy chung.

Tuy biết không thân, thân như huyễn hóa mà chúng sanh mê, thấy thân thật nên khổ, họ khổ thì mình phải làm sao giải khổ cho họ. Đó là tuy không thân mà vẫn có việc, như vậy mới siêu đường tẽ, tức là không kẹt ở tâm niệm Thanh văn. Nếu không thân không việc thì lạc thủy chung tức rơi mất thủy chung với chúng sanh.

Tinh thần thiền tông rất siêu xuất, không cho chúng ta kẹt ở bên nào, kể cả Niết-bàn. Chính đây là tinh thần Tối thượng thừa, không cho người tu rốt ráo tới chỗ an lạc rồi trụ ở đó để hưởng. Thấy đời khổ nên tu cho hết khổ, nhưng hết khổ rồi lại đi vào lục đạo thì thấy buồn. Bồ-tát đi trong lục đạo buồn không? Khổ không? Chúng ta ở trong lục đạo thấy cái gì cũng thật nên khổ, còn Bồ-tát đi trong lục đạo không thấy khổ. Đó chính là sức mạnh, là tinh thần tích cực của đạo Phật. Tu rốt ráo dẹp hết những trói buộc mê lầm, nghiệp mê lầm dẹp hết nhưng không an trụ chỗ an lạc, lại lăn trong đau khổ của chúng sanh mà làm lợi ích cho họ. Nên cuối cùng thì ông già ở trong am tranh phải mở cửa, xách bầu rượu cá chép đi ra đầu chợ, đó là nhập ma giới, không ngồi trên núi thanh tịnh một mình. Hiểu vậy mới thấy tinh thần bài kệ này.

Vân Môn hỏi: 

– Thế nào là hạnh Sa-môn? 

Sư đáp: 

– Là kẻ ăn lúa mạ của thường trụ. 

– Liền khi ấy thì sao? 

– Ngươi lại chứa được chăng? 

– Chứa được. 

– Ngươi làm sao chứa? 

– Mặc y ăn cơm có gì khó. 

– Sao chẳng nói mang lông đội sừng? 

Vân Môn lễ bái. 

Đây hỏi Thế nào là hạnh Sa-môn? Trước nói mang lông đội sừng cũng gọi là hạnh Sa-môn, nên ngài đáp Là kẻ ăn lúa mạ của thường trụ. Trâu bò ăn lúa mạ là loài mang lông đội sừng, nghĩa là hạnh Sa-môn là hạnh đạt đến cứu cánh rồi thì trở lại trong lục đạo độ chúng sanh. Sức mạnh như vậy, nên trả lời Là kẻ ăn lúa mạ của thường trụ. Hỏi Liền khi ấy thì sao? Tức là khi đến chỗ mang lông đội sừng rồi, ở trong lục đạo mà không nhiễm thì sao? Ngài nói Ngươi lại chứa được chăng? Ngươi chứa được hạnh đó không? Vân Môn đáp Chứa được. Ngài hỏi Ngươi làm sao chứa? Nói Mặc y ăn cơm có khó. Tức là khi mặc y, ăn cơm, đi đại đi tiểu vẫn không có gì khác, đó là chứa được. Ngài nói Sao chẳng nói mang lông đội sừng? Như thế là hạnh Sa-môn. Vì vậy Vân Môn lễ bái.

Sư bảo chúng: 

Các ông trọn giữ cách thức, sao chẳng cùng y nói một chuyển ngữ khiến y chẳng nghi? 

Vân Môn ở trong chúng bước ra hỏi: 

– Chỗ mật mật (thầm kín) vì sao chẳng biết có? 

Sư đáp: 

– Chỉ vì mật mật nên chẳng biết có. 

– Người này làm sao thân cận? 

– Chớ nhằm chỗ mật mật thân cận. 

– Khi chẳng nhằm chỗ mật mật thì sao? 

– Mới giỏi thân cận. 

Vân Môn: – Dạ! Dạ! 

Chỗ mật mật là chỗ sẵn có muôn đời mà không thấy không nhận ra, bởi không thấy cho nên gọi mật mật. Chỉ vì mật mật nên chẳng biết có. Hỏi: Người này làm sao thân cận? Làm sao được thân cận chỗ mật mật đó, nói khác hơn là làm sao trở về chân tâm, làm sao nhập được pháp thân? Ngài trả lời chớ nhằm chỗ mật mật thân cận, đừng gần chỗ mật mật. Hỏi: Khi chẳng nhằm chỗ mật mật thì sao? Muốn trở về chỗ đó mà không cho gần thì làm sao?

Người tu Tịnh độ niệm Phật là để nhất tâm, không có nghĩa là kìm cho được nhất tâm; mà dùng câu niệm Phật, niệm tới chỗ bặt không còn niệm, đó là nhất tâm. Muốn tới chỗ đó mà không hướng về đó, chỉ chặn cái bên ngoài. Niệm Phật để dừng vọng tưởng, vọng tưởng dừng rồi thì tự mình nhất tâm chứ không hướng về nhất tâm. Cũng thế, chúng ta tu thiền chỉ nói biết vọng mà không nói biết chân. Chân tức là mật mật, chỉ biết vọng không theo thì chân tự hiện. Nếu hướng vào chân thì bị lỗi khán tịnh, chân là đối tượng bị hướng đến, đó là bệnh. Vì thế ngài trả lời đừng nhắm chỗ mật mật thân cận.

Có nhiều người lầm tưởng rằng chân tâm ở đâu phải hướng về đó. Nếu mình là người hướng về thì chân tâm là đối tượng ngoài mình. Nhưng chân tâm chính là mình, vì vọng tưởng nên quên lãng không thấy. Ngay đây buông vọng không chạy theo thì chân hiện, đó mới thật. Hướng tìm nó là bệnh, nên nói thú hướng chân như tổng thị tà. Lý đạo rất rõ, rất thú vị, tu mà không nắm vững lý này thì không tiến. Vì thế, Vân Môn Dạ! Dạ! 

Tăng Thanh Nhuệ thưa: 

– Con nghèo cùng xin Thầy cứu giúp. 

Sư bảo: 

– Xà-lê Nhuệ lại gần đây! 

Thanh Nhuệ lại gần. Sư bảo: 

– Kẻ nhà nghèo ở Tuyền Châu uống xong ba chén rượu, vẫn nói chưa dính môi. 

Ngài Thanh Nhuệ vì sao nghèo? Nghĩa là có kho báu mà xài không được, như chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa. Cha làm trưởng giả mà con đi lang thang rồi xin cứu giúp, tức là xin chỉ cho con kho báu. Ngài bảo Xà-lê Nhuệ lại gần đây! Kêu lại gần rồi mà không biết gì, nếu không có kho báu thì kêu đâu biết lại gần. Như bà già mất trâu, nếu kêu biết dạ thì trâu chưa mất. Vì muốn chỉ chỗ biết đó nên ngài nói Kẻ nghèo ở Tuyền Châu uống xong ba chén rượu, vẫn nói chưa dính môi. Cái có sẵn sàng vậy mà nói nghèo, vẫn còn than nghèo. Câu nói mang đầy ý nghĩa.

Chỉ Y đạo giả đến tham vấn, Sư hỏi: 

Đâu chẳng phải Chỉ Y đạo giả ư? 

Đạo giả thưa: 

– Chả dám. 

– Thế nào là việc của Chỉ Y 

– Chiếc áo cừu vừa khoác vào thân, muôn pháp thảy đều như 

 Thế nào là dụng của Chỉ Y 

Đạo giả lại gần “Dạ”, liền đứng tịch. 

Sư bảo: 

– Ngươi chỉ giỏi đi như thế, sao chẳng giỏi đến như thế? 

Đạo giả chợt mở mắt hỏi: 

Một chân tánh linh khi chẳng nương bào thai thì thế nào? 

Sư bảo: 

– Chưa phải diệu. 

 Thế nào là diệu? 

– Chẳng mượn! Mượn! 

Đạo giả trân trọng liền tịch. 

Sư dạy bài tụng: 

Giác tánh viên minh vô tướng thân

Mạc tương tri kiến vọng sơ thân.

Niệm dị tiện ư huyền thể muội

Tâm sai bất dữ đạo vi lân. 

Tình phân vạn pháp trầm tiền cảnh 

Thức giám đa đoan táng bản chân. 

Như thị cú trung toàn hiểu hội

Liễu nhiên vô sự tích thời nhân. 

Dịch: 

Tánh giác viên minh không tướng thân 

Chớ đem thấy biết dối xa gần. 

Niệm khác bèn lầm huyền thể ấy 

Tâm sai sao được đạo chung thân. 

Tình phân muôn pháp chìm cảnh trước

Thức biện lăng xăng mất bản chân.

Trong câu như thế toàn lãnh hội 

Rõ ràng vô sự tích thời nhân. 

Hãy xem việc tu hành của người xưa. Chỉ Y nghĩa là gì? Chỉ là giấy, Y là áo, lấy giấy bồi kết làm áo mặc, là vị Sa-môn mặc áo giấy. Các ngài tu chỉ mặc cốt che thân, không phải cốt mặc đẹp. Ngài chắc đã từng tham vấn ở Động Sơn nên các vị trong đó đã hiểu ngài nhiều. Tào Sơn vừa thấy ngài đến liền hỏi đâu chẳng phải là Chỉ Y đạo giả? Ngài đáp chả dám, tức là dạ phải. Hỏi thế nào là việc của Chỉ Y? Chỉ Y hàng ngày sống bằng cách nào? Ngài trả lời một câu rất khỏe chiếc áo cừu vừa khoác vào thân, muôn pháp thảy đều như. Khi vừa mặc áo liền thấy như như bất động, đó là sống với thể. Còn dụng ra sao? Tào Sơn hỏi thế nào là dụng của Chỉ Y? Đạo giả lại gần Dạ! liền đứng tịch. Dụng của tôi muốn chết lúc nào thì chết. Ngài Tào Sơn bảo ngươi chỉ giỏi đi như thế, sao chẳng giỏi đến như thế? Nếu ngươi giỏi tịch được thì sống lại được thử xem? Đạo giả liền mở mắt hỏi một chân tánh linh khi chẳng nương bào thai thì thế nào? Khi chân tánh linh không còn bị nghiệp dẫn, không còn nương gá bào thai thì sao? Ý nói bỏ thân này rồi nhập Niết-bàn thì sao? Tào Sơn đáp: Chẳng phải diệu. Đạo giả hỏi: Thế nào là diệu? Đáp: Chẳng mượn! Mượn. Chẳng mượn mà mượn, nghĩa là chẳng phải rồi việc không còn bị nghiệp dẫn đi trong luân hồi nữa là hay tột, không bị nghiệp dẫn mà vẫn mượn bào thai để giáo hóa chúng sanh, như thế mới diệu, đúng với ý nghĩa loại đọa. Nếu ngang đó mà hài lòng tự mãn thì không phải diệu.

Ngài dạy bài tụng:

Tánh giác viên minh không tướng thân

Chớ đem thấy biết dối xa gần. 

Niệm khác bèn lầm huyền thể ấy 

Tâm sai sao được đạo chung thân. 

Tình phân muôn pháp chìm cảnh trước

Thức biện lăng xăng mất bản chân. 

Trong câu như thế toàn lãnh hội 

Rõ ràng vô sự tích thời nhân. 

Tánh giác viên minh không tướng thân, tánh giác là thân không tướng. Báo thân, hóa thân thì có tướng, pháp thân là vô tướng, tánh giác viên minh là thân vô tướng, tức là pháp thân. Muốn được sống với cái đó thì Chớ đem thấy biết dối xa gần. Đừng đem cái thấy biết phân biệt đây là xa, kia là gần trong đối đãi. Khi không dấy niệm phân biệt đối đãi, lúc ấy sống với pháp thân vô tướng.

Niệm khác bèn lầm huyền thể ấy, tâm sai sao được đạo chung thân. Vừa dấy một niệm sai khác thì huyền thể đó bị lầm, bị khuất rồi. Vừa có tâm sai biệt, tức là niệm trước niệm sau sai khác, thì không chung gần được với đạo.

Tình phân muôn pháp chìm cảnh trước, thức biện lăng xăng mất bản chân. Khi tình chia ra đuổi theo muôn pháp tức là chìm đắm trong cảnh; lúc thức khởi phân biệt lăng xăng thì đã mất bản chân. Những câu này chỉ cách tu rất rõ.

Trong câu như thế toàn lãnh hội, hiểu được ý những câu trên, sống được với nó thì rõ ràng vô sự tích thời nhân. Người vô sự là người thuở xưa. Người thuở xưa chính là thân vô tướng.

Tăng hỏi: 

– Sa-môn đâu không phải là người đủ lòng đại từ bi? 

Sư đáp: 

– Phải. 

– Chợt gặp lục tặc đến phải làm thế nào? 

– Cũng phải đủ đại từ bi. 

– Thế nào là đủ đại từ bi? 

– Dùng một cây kiếm dẹp sạch. 

– Sau khi dẹp sạch thế nào? 

– Mới được hòa đồng. 

Sa-môn thì phải đủ từ bi, ông tăng này cố gài, nếu đủ từ bi thì khi gặp lục tặc đâu nỡ giết. Đây ngài bảo dùng cây kiếm dẹp sạch, phải giết hết. Chúng ta từ bi hơn Tổ, không nỡ giết lục tặc, thế nên bị lục tặc hoành hành. Ngài nói từ bi là dùng kiếm dẹp sạch, dẹp sạch rồi sau mới hòa đồng. Người tu phải thấy rõ nơi mình, những gì làm tiêu hoại công đức, tiêu hoại kho báu nhà mình thì phải dẹp, không thể từ bi mà nuôi dưỡng nó.

Tăng hỏi: 

– Mày với mắt cùng biết nhau chăng? 

Sư đáp: 

– Chẳng biết nhau. 

– Vì sao chẳng biết nhau? 

– Vì đồng tại một chỗ. 

– Thế ấy là chẳng phân? 

– Mày chẳng phải là mắt, mắt chẳng phải là mày.

– Thế nào là mắt? 

– Quả nhiên rồi. 

– Thế nào là mày? 

– Tào Sơn lại nghi. 

– Tại sao Hòa thượng lại nghi? 

– Nếu chẳng nghi tức quả nhiên rồi. 

Chân mày ở trên con mắt, hai cái gần khít nhau. Con mắt thì thấy, mày có thấy không? Chân mày là dụ cho vọng, con mắt là dụ cho chân, vọng tâm chân tâm gần khít nhau. Tăng hỏi: Mày với mắt có cùng biết nhau chăng? Con mắt đâu thấy chân mày. Ngài đáp: Chẳng biết nhau, chân không phải là vọng, vọng không phải chân nên không biết nhau. Hỏi: Vì sao chẳng biết nhau? Ngài đáp: Vì đồng tại một chỗ. Vọng và chân cùng một chỗ nên không biết nhau. Tăng nói: Thế ấy là chẳng phân? Như vậy thì hỗn độn, chân với vọng lộn xộn rồi. Ngài nói: Mày chẳng phải là mắt, mắt chẳng phải là mày. Mày là mày mắt là mắt, chân là chân vọng là vọng, tại sao không phân được? Tăng hỏi: Thế nào là mắt? Ngài đáp: Quả nhiên rồi. Mắt mở ra thấy rõ ràng không nghi, thấy rõ thì quả nhiên rồi. Tăng hỏi: Thế nào là mày? Ngài đáp: Tào Sơn lại nghi. Tại sao nghi? Vừa khởi nghi là có niệm, khởi niệm là mày, tức vọng tưởng. Tăng hỏi: Tại sao Hòa thượng lại nghi? Ngài đáp: Nếu chẳng nghi tức quả nhiên rồi. Nếu không khởi vọng tức là chân, là quả nhiên. Đối đáp rất tài, không nói gì đạo lý mà đầy đủ đạo lý.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là kiếm không mũi? 

Sư đáp: 

– Chẳng do rèn luyện mà thành. 

– Dụng nó thế nào? 

– Người gặp đều chết. 

– Người chẳng gặp thì sao? 

– Cũng phải rơi đầu. 

– Người gặp đều chết là cố nhiên, người chẳng gặp vì sao lại rơi đầu? 

– Ông chẳng thấy nói “hay sạch tất cả” sao? 

Sau khi sạch hết thế nào? 

– Mới biết có cây kiếm này. 

Tăng hỏi cây kiếm không mũi là muốn chỉ cái sáng suốt sẵn có nơi mình. Cái đó có do rèn luyện mà được không? Nó tự sẵn có, nên nói chẳng do rèn luyện mà thành. Hỏi: Dụng nó thế nào? Vì kiếm bén nên người gặp đều chết. Tăng bẻ lại: Người chẳng gặp thì sao? Nếu gặp thì đứt đầu, còn không gặp thì sao? Ngài nói: Cũng phải rơi đầu. Đây liền có nghi, gặp thì rơi đầu là phải, không gặp vì sao cũng rơi đầu? Tăng hỏi: Người gặp đều chết là cố nhiên, người chẳng gặp vì sao lại rơi đầu? Ngài trả lời: Ông chẳng thấy nói hay sạch tất cảsao? Sạch tất cả phàm thánh, phải quấy, hơn thua… không còn hai bên, gặp cũng chết không gặp cũng chết, mới đúng là cây kiếm bén. Tăng hỏi: Sau khi sạch hết thế nào? Ngài đáp Mới biết cây kiếm bén này. Như vậy mới hiện cây kiếm của mình.

Tăng hỏi: 

– Huyễn vốn nào chân? 

Sư đáp: 

– Huyễn vốn nguyên chân. 

– Chính khi huyễn làm sao hiển bày? 

– Tức huyễn liền hiển. 

– Thế ấy thì trước sau chẳng lìa nơi huyễn? 

– Tìm huyễn tướng không thể được. 

Tăng hỏi: Huyễn vốn nào chân? Huyễn chẳng phải là chân, đúng không? Ngài đáp: Huyễn uốn nguyên chân. Như hỏi, sóng đâu phải nước? Trả lời sóng vốn là nước, rất đúng. Hỏi: Chính khi huyễn làm sao hiển bày? Cũng như chính khi sóng làm sao thấy nước? Ngài đáp: Tức huyễn liền hiển, ngay nơi sóng tức là nước. Hỏi: Thế ấy thì trước sau chẳng lìa nơi huyễn? Như vậy thì trước sau chẳng lìa sóng, được không? Ngài đáp: Tìm huyễn tướng không thể được. Ngay nơi sóng mà múc nước lên thì tướng sóng còn không? Cũng vậy ngay nơi huyễn mà thấy được chân, đó là nơi huyễn hiển chân. Lối đối đáp thật là khéo.

Sư hỏi vị tăng: 

– Làm gì? 

Tăng thưa: 

– Quét đất. 

Sự hỏi: 

– Trước Phật quét hay sau Phật quét? 

Tăng thưa: 

– Trước sau đồng thời quét. 

Sư bảo: 

– Đem đôi giày qua cho Tào Sơn. 

Câu sau ý nghĩa gì? Đoạn trước ngài muốn gài bẫy ông tăng xem có khá không nên hỏi: Trước Phật quét hay sau Phật quét? Tăng này cũng là tay đáng kể không bị gạt cho nên nói trước sau đều quét. Như thế đã thoát bẫy rồi, nên ngài nói một câu vuốt đuôi: Đem đôi giày qua cho Tào Sơn. Một câu không có nghĩa.

Tăng hỏi Hương Nghiêm: 

– Thế nào là đạo? 

Hương Nghiêm đáp: 

– Khô mộc lý long ngâm (Trong cây khô trổi nhạc). 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là người trong đạo? 

Hương Nghiêm đáp: 

– Độc lâu lý nhãn tình (Trong đầu lâu có trong con mắt). 

Tăng không lãnh hội, đến hỏi Thạch Sương: 

– Thế nào là khô mộc lý long ngâm? 

Thạch Sương đáp: 

– Vẫn còn đeo cái hỷ. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào độc lâu lý nhãn tình? 

Thạch Sương đáp: 

– Vẫn còn đeo thức. 

Tăng không lãnh hội đến trình với Sư. Sư bảo: 

 Thạch Sương ông già Thanh văn khởi kiến giải ấy. 

Thạch Sương còn thấy có hỷ, có thức, nên gọi là khởi kiến giải.

Sư làm bài tụng: 

Khô mộc long ngâm chân kiến đạo 

Độc lâu vô thức nhãn sơ minh. 

Hỷ thức tận thời tiêu tức tận 

Đương nhân na biện trọc trung thanh. 

Dịch: 

Cây khô trổi nhạc thật thấy đạo

Đầu lâu không thức mắt rạng ngời. 

Hỷ thức hết thời tin tức lặng 

Người này đâu biện trong trong đục. 

Tăng lại hỏi Sư: 

– Thế nào khô mộc lý long ngâm? 

Sư đáp: 

– Huyết mạch chẳng đoạn. 

– Thế nào độc lâu lý nhãn tình? 

– Khô chẳng hết. 

– Lại có người được nghe chăng? 

– Trọn người trên đại địa chưa có một người chẳng nghe. 

– Khô mộc lý long ngâm là chương cú gì? 

– Chẳng biết chương cú gì, người nghe đều mất. 

Với cái nhìn của ngài thì Hương Nghiêm thấy trong cây khô trổi nhạc, là người thật thấy đạo. Còn nói trong đầu lâu có tròng con mắt, là còn thức thì chưa khéo, nên câu tụng nói Đầu lâu không thức mắt rạng ngời. Ngài Thạch Sương lại phân biệt nào là hỷ, nào là thức thì sao? Hỷ thức hết thời tin tức lặng. Người này đâu biện trong trong đục. Nếu bảo rằng hết hỷ, hết thức rồi mới xong việc, thì người đó không phân biệt được trong ở trong đục. Vì lý nhà thiền là hồi hỗ, không cho riêng biệt ở một bên, không nói trong là hoàn toàn riêng trong, đục là hoàn toàn riêng đục. Như trong đầu lâu có tròng con mắt, trong cây khô có trổi nhạc là trong chết có sống, trong sống có chết, không cho tách rời. Ngài Thạch Sương lại muốn tách rời nên nói còn kiến giải Thanh văn.

Hỏi: Thế nào trong cây khô trổi nhạc? Ngài đáp: Huyết mạch chẳng đoạn, tức là còn liên hệ tiếp tục không dứt. Hỏi: Thế nào là tròng con mắt trong đầu lâu? Ngài đáp: Khô chẳng hết, đầu lâu là khô mà còn tròng con mắt, để thấy rằng không thể dứt khoát một bên. Tăng hỏi: Lại có người được nghe chăng? Ngài đáp: Ai cũng được nghe hết. Tăng hỏi: Trong cây khô trổi nhạc là bài gì? Ngài nói: Không biết bài gì nhưng người nghe đều dứt mất.

Sư dạy chúng: 

– Chư tăng ở đây cốt dưới y áo hội thông được việc hướng thượng, chớ có rảnh rang qua ngày. Nếu chỗ thừa đương đã rõ ràng, liền chuyển được chư thánh về sau lưng mình, mới là tự do. Nếu chuyển chẳng đặng, hẳn phải học được thập thành, lại cần đến sau lưng các ngài khoanh tay nói huênh hoang gì? Nếu chuyển được chính mình thì tất cả cảnh thô trọng đến đều làm chủ được. Ví như đi trong chỗ lầy trượt té cũng làm chủ được. Như có vị tăng hỏi ngài Dược Sơn: “Trong giáo lý tam thừa lại có Tổ ý chăng?” Dược Sơn đáp: “Có.” Tăng thưa: “Đã có, tổ Đạt-ma lại đến làm gì?” Dược Sơn bảo: “Chỉ vì có cho nên đến.” Thế là đâu không phải làm chủ được, chuyển được về nơi mình sao? 

Tại sao nói chuyển chư thánh về sau lưng mình? Chư thánh như các vị A-la-hán, Bồ-tát, Phật, tại sao dám ngỗ nghịch đặt Phật ở sau lưng mình, có trái đạo lý không? Trong Tứ Thập Nhị Chương có bài kinh tương tợ, nói cúng dường trăm ngàn đức Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tu vô chứng. Trăm ngàn đức Phật mà không bằng một đạo nhân vô tu vô chứng, như thế là chuyển Phật đứng sau lưng. Ý nói khi đạt được thể chân thật, sống được với thể đó rồi thì chư thánh cũng là bên ngoài, không bằng được.

Nếu chuyển không được thì khoanh tay đến sau lưng các ngài cầu xin, nghĩa là hỏi đáp hoặc đọc tụng những lời dạy của chư thánh. Đôi khi thấy thật tội nghiệp Phật của mình, Phật thật mà lạy Phật giả. Tại sao? Có sẵn Phật thật mà không thấy, thấy thân tứ đại dơ nhớp này là thật nên lạy Phật giả có phước. Khi nào thấy được Phật của mình rõ ràng sừng sững rồi thì không lạy Phật giả nữa. Ý chỉ rằng khi sống được với cái đó, chuyển được cái đó rồi thì chính mình là trên hết. Nếu chuyển được chính mình thì tất cả cảnh thô trọng đến đều làm chủ được.

Như có vị tăng hỏi ngài Dược Sơn: “Trong giáo lý tam thừa lại có Tổ ý chăng?” Dược Sơn đáp: Có.” Tăng thưa: Đã có, tổ Đạt-ma lại đến làm gì?” Dược Sơn bảo: “Chỉ vì có cho nên đến.” Thế là đâu không phải làm chủ được, chuyển được về nơi mình sao? Ý nghĩa này rất tự tại. Hỏi rằng kinh điển có ý Tổ không, nếu không có thì ý Tổ ngoài lời Phật dạy. Ngài Dược Sơn nói “Có.” Nếu đã có sẵn thì tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Đông nói ý Tổ sư chi nữa? Ngài nói “Bởi có cho nên đến.” Như tôi hỏi chúng tăng “Nơi các vị có ông Phật sẵn không?” Đáp “Có.” Bởi có nên tôi mới dạy. Nếu không có mà dạy thì cũng không thể biết. Bởi có mà quên, bây giờ vạch ra, chỉ ra cho thấy.

Kinh nói: “Phật Đại Thông Trí Thắng, mười kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng đặng thành Phật đạo.” Nói kiếp là trệ (kẹt) vậy, gọi đó là thập thành, cũng gọi là đoạn sấm lậu (rỉ chảy). Chỉ là mười đường đã bặt, chẳng quên đại quả, nên nói thủ trụ đam trước, gọi là thủ thứ thừa đương không phân quý tiện. 

Đức Phật Đại Thông Trí Thắng mười kiếp ngồi đạo tràng là dẫn kinh Pháp Hoa. Tại sao mười kiếp ngồi đạo tràng mà Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng thành Phật đạo? Lỗi tại chỗ nào? Lỗi thứ nhất là còn thấy kiếp, còn mắc kẹt mười kiếp. Kiếp là thời gian, còn thấy thời gian thật thì trệ, mắc kẹt. Lỗi thứ hai là Chỉ là mười đường đã bặt, chẳng quên đại quả. Mười kiếp thì xem như mười đường đã bặt, nhưng còn mong thành Phật quả. Vì thế Phật pháp không hiện tiền, không thành Phật quả.

Ta thường thấy trong tùng lâm thích bàn một thứ hai thứ, lại hay thành lập được sự chăng? Những cái ấy chỉ nhằm việc đã qua hiển bày. Các ông chẳng thấy ngài Nam Tuyền nói: “Cho ông thập thành, so với Vương lão sư vẫn còn một đường tuyến.” Cũng là việc rất khó! Đến đây cần phải chín chắn mới được minh bạch tự tại. Bất luận thiên đường địa ngục ngạ quỷ súc sanh, chỉ là tất cả chỗ chẳng dời đổi, nguyên là người thuở xưa, cốt yếu chẳng đi con đường xưa. Nếu có tâm vui mừng thành trệ ngại, nếu thoát được giản trạch là sao? Cổ đức nói: “Chỉ e chẳng được luân hồi.” 

Ngài nói trong tùng lâm thích bàn một thứ hai thứ, ngồi lại thì bàn việc này việc kia lăng xăng lộn xộn. Nếu bàn như vậy lại hay thành lập được sự chăng? Chúng ta bàn những việc này kia mà có làm được không? Những cái ấy chỉ là nhằm việc đã qua hiển bày, những cái đã qua rồi cứ lặp tới lặp lui, bàn những cái đã thấy đã nghe, tại sao không sống với hiện tại?

Như vừa đi đâu thấy việc gì, về kể lại cho huynh đệ nghe, tưởng như nó hiện tại, nhưng chuyện đó đã qua khuất rồi. Đã qua cho qua luôn, kể lại làm chi? Nếu đừng níu những cái đã qua thì không có việc gì để nói. Sở dĩ chúng ta lăng xăng lộn xộn vì cứ lo bàn việc đã qua, quá khứ đã chết. Như thế suốt đời chỉ sống với người chết, sống với cái đã mất. Ngài nói lỗi hiển bày việc đã qua.

Dẫn lời ngài Nam Tuyền cho ông thập thành, so với Vương lão sư vẫn còn một đường tuyến. Dầu cho chúng ta nhớ giỏi, thuộc lòng được tất cả, nhưng những chuyện nhớ, chuyện được, thập thành tức là tròn đủ, so với ngài vẫn thua một đường vạch. Ngài sống với hiện tại, tất cả những gì đã qua không màng tới.

Cũng là việc rất khó! Đến đây cần phải chín chắn mới được minh bạch tự tại. Bất luận thiên đường địa ngục ngạ quỷ súc sanh, chỉ là tất cả chỗ chẳng dời đổi, trong tất cả cảnh mà tâm không sai biệt, không đổi khác. Nguyên là người thuở xưa, chỉ là con người từ thủy tới chung không ai khác, cốt yếu chẳng đi con đường xưa. Tại sao người thuở xưa mà không cho đi đường xưa? Người thuở xưa là con người không tướng sẵn có từ vô thủy. Có mà không nhận ra, vì vô minh che phủ. Khi thấy con người thuở xưa rồi thì để y nguyên dấu xưa hay phải khác? Thấy thì phải dẹp hết vô minh nên gọi là không đi con đường xưa. Sống với người xưa mà đi con đường nay, tức là con đường không còn vô minh.

Nếu tâm vui mừng thành trệ ngại, nếu còn có tâm niệm vui thích đó là trệ trước, còn bị kẹt. Nếu thoát trệ được giản trạch là sao? Nếu rời được tất cả tâm suy tính nghĩ bàn phân biệt rồi thì sao? Đến đó thì cổ đức nói rằng chỉ e chẳng được luân hồi. Lo không được luân hồi, tức là đoạn trước ngài nói với Chỉ Y đạo giả Chẳng mượn, mượn. Chỉ sợ kẹt trong giải thoát mà không khởi niệm vào luân hồi độ sanh. Chúng ta thì chỉ e không được giải thoát. Tại sao? Mình mơ ước được giải thoát nên rất sợ luân hồi. Nhưng đã hết vô minh thì đâu còn sợ sanh tử luân hồi. Đây là chỗ mạnh của thiền tông.

Các ông nói phải làm sao? Như người hiện nay nói có chỗ tinh khiết, thích hướng về việc ấy. Đây là bệnh thật khó trị. Nếu việc thô trọng ở thế gian lại là nhẹ, bệnh tinh khiết thật là nặng. Như pháp vị Phật, pháp vị Tổ vị trọn là trệ ngại. Tiên sư nói: “Tâm nghĩ là phạm giới, nếu được pháp vị là phá trai.” Hãy bảo thế nào là được pháp vị? Chỉ là pháp vị Phật, pháp vị Tổ, vừa có tâm vui mừng là phạm giới. Như hiện nay nói phá trai phá giới là khi làm pháp ba phen yết-ma, ấy sớm đã phá rồi. Nếu là bệnh tham sân si thô trọng, tuy khó dứt mà lại nhẹ, còn bệnh vô vi vô sự tịnh khiết lại nặng không gia giảm được. 

Chúng ta tu mong được pháp vị, được chỗ thanh tịnh, nhưng nếu mê say trong pháp vị, trong chỗ thanh tịnh thì đó là bệnh khó cứu. Như có người tu theo ngoại đạo được thần thông, biết quá khứ vị lai. Chúng ta biết họ tu như vậy là sai lạc không được giải thoát, đem lời chân chánh của Phật khuyên dạy để họ bỏ con đường ngoại đạo đó. Nhưng họ có chịu nghe mình không? Vì chấp vào thần thông đã được, nên không buông bỏ, không tiếp nhận tu tập. Tức là người đã chấp vào chỗ được, vào vị trí của mình, gọi là trệ ngại. Vì thế người tu chấp vào thanh tịnh, cho thanh tịnh là cứu cánh thì cứ kẹt cứ chìm ở đất vô sanh. Ngài gọi đó là bệnh tinh khiết.

Phá trai phạm giới là sau ba phen yết-ma là đã phạm rồi, ý nói gì? Như người thọ giới Sa-di hay Tỳ-kheo là do tăng chúng làm pháp yết-ma ba lần rồi truyền giới cho. Truyền rồi mà nếu phạm thì gọi là phá giới. Đây ngài nói vừa yết-ma là sớm đã phạm giới rồi. Vừa khởi tâm vui mừng với pháp vị Phật tổ là phạm giới. Bệnh tham sân si thô trọng mà lại nhẹ, bệnh vi vô sự lại nặng. Vô vi tức là không thân, vô sự là không việc; không thân không việc thì lạc thủy chung, đó là bệnh nặng.

Tổ sư ra đời cũng chỉ vì cái ấy, chẳng riêng vì các ông. Hiện nay làm kẻ rảnh rang qua ngày, làm con chồn con trâu tu hành lại thích, chẳng phải có thiền có đạo. Như các ông mỗi thứ tìm kiếm, tìm Phật tìm Tổ, cho đến Bồ-đề Niết-bàn, đến bao giờ thôi dứt xong xuôi ư? Đều là tâm sanh diệt. Do đó không bằng con chồn con trâu ngơ ngơ không biết, chẳng biết Phật chẳng biết Tổ, cho đến Bồ-đề Niết-bàn và nhân quả thiện ác. Chỉ đói đến là ăn cỏ, khát đến thì uống nước. Nếu được thế ấy, chẳng lo chẳng xong xuôi. Đâu chẳng nghe nói: “Tính toán chẳng thành ấy là biết có, mới hay mang lông đội sừng kéo cày mang bừa.” Được cái tiện nghi này, mới có chút ít. Đâu chẳng thấy đức Di-lặc, A-súc và những thế giới Diệu Hỷ… vẫn bị thượng nhân kia (Duy-ma-cật) gọi là Bồ-tát giải đãi không hổ thẹn. Cũng nói là biến dịch sanh tử, vẫn e còn phần nhỏ giải đãi. 

Tại sao người tu lại làm con chồn con trâu, nghe buồn quá vậy? Có thật là chồn trâu không? Chỉ là sống không dùng tâm lanh lẹ phân biệt, giản trạch lăng xăng, sống với hiện tại an nhiên đói ăn khát uống. Khi an nhiên tự tại không dấy niệm, lúc đó có nghĩ Phật nghĩ Tổ, có nghĩ gì không? Không nghĩ tức là không biết, nên nói chẳng biết Phật, chẳng biết Tổ, cho đến Bồ-đề Niết-bàn. Cứ an nhiên hiện hữu tới lui không khởi niệm, sống được như vậy mới có thể tự do, mới xong xuôi.

Người tính toán chẳng thành tức là không còn tính toán thì ấy là biết có. Biết có tâm chân thật của mình, biết được như vậy mới hay mang lông đội sừng, kéo cày mang bừa, tức gọi là phi mao đới giác… Được như vậy mới là được đạo.

Đâu chẳng thấy đức Di-lặc, A-súc và những thế giới Diệu Hỷ… vẫn bị thượng nhân kia (tức Duy-ma-cật) gọi là Bồ-tát giải đãi không hổ thẹn. Cũng nói là biến dịch sanh tử, vẫn e còn phần nhỏ giải đãi. Nói như vậy có chê các ngài không? Nếu không học chỗ này, chúng ta không hiểu tại sao cho rằng thiền là Tối thượng thừa. Thông thường nói Đại thừa, Thượng thừa, Phật thừa là cùng tột, đây lại nói Tối thượng thừa, trên cả Phật thừa. Tại sao cao quá vậy? Dẫn lời Duy-ma-cật nói dù được như Di-lặc, như Phật A-súc ở thế giới Diệu Hỷ vẫn còn có Phật thân, có thế giới thì chưa phải là pháp thân. Các vị ấy còn là Bồ-tát giải đãi không hổ thẹn, cũng còn biến dịch sanh tử. Tại sao? Vì trong tứ quả Thanh văn, từ Tu-đà-hoàn tu tiến lên Tư-đà-hàm là từ quả vị này sang quả vị kia, gọi là biến dịch sanh tử. Từ Tư-đà-hàm đổi lên A-na-hàm cũng là biến dịch sanh tử cho đến A-la-hán cũng vậy. Các bậc Bồ-tát Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, mỗi bậc mười vị từ vị thứ nhất tiến dần lên, bậc này đổi lên bậc kia, qua một vòng biến chuyển là biến dịch sanh tử. Các bậc, các quả vị đó có thật không?

Như chúng ta đi học cấp một từ lớp một tới lớp năm. Từ cấp một lên cấp hai, cấp ba trải qua nhiều lớp. Lên đến đại học, rồi ra cử nhân tiến sĩ… một vòng thay đổi. Việc học thì có đổi lớp, đổi cấp nhưng tâm trí mình có chia từng lớp từng cấp không? Cấp lớp là phương tiện để cho người ta ham mà cố gắng học, cái hiểu biết của chúng ta không có lớp có cấp. Tâm trí cứ nghe rồi hiểu, không phân chia cấp một chứa chỗ nào, cấp hai chứa chỗ nào… Cũng vậy quả vị, thứ bậc là phương tiện đặt ra. Tu đến chỗ viên mãn, không còn bị phiền não vô minh che đậy pháp thân, đó là rốt ráo trở về. Còn tính kể Bồ-tát Thập tín, Bồ-tát Thập trụ… chẳng qua tạm đặt với thời gian tu.

Như nói Bồ-tát tu ba vô số kiếp thành Phật. Vô số kiếp thứ nhất là từ Thập tín đến mãn Thập hồi hướng. Tín, Trụ, Hạnh, Hồi hướng, bốn cấp này là vô số kiếp thứ nhất. Đến Thập địa, từ Sơ địa đến Bát địa là vô số kiếp thứ hai. Từ Bát địa đến thành Phật là vô số kiếp thứ ba. Chia ba số kiếp như vậy cũng là tạm chia mà thôi. Thời gian không thật, kiếp không thật, hết sạch phiền não là Phật, nói bậc nói cấp là gượng nói để khuyến khích người tinh tấn cố gắng tu. Đây nói còn phần nhỏ giải đãi, nghĩa là chia bậc cấp là vì sợ người giải đãi làm biếng nên khuyến khích. Với người thật tinh tấn thì cấp bậc không thành vấn đề.

Như thế nói có các bậc Bồ-tát, có các cõi Phật, là vì những người giải đãi còn ở trong biến dịch sanh tử. Riêng cái này nếu thấy được mình sẵn có không chạy theo vọng tưởng điên đảo thì không có cấp bậc gì. Đây là Đốn giáo Tối thượng thừa, thẳng một đường đơn đao trực nhập, cầm đao xông vào là xong việc. Nếu không giải thích, chúng ta cho rằng nhà thiền nói cao quá không hiểu nổi. Cao là thoát hết mọi hình thức phân biệt chia chẻ mà đi thẳng ngay chỗ chân thật. Nên nói mê là chúng sanh, ngộ là Phật, không nói cấp bậc Bồ-tát hay cõi Phật để sanh về, chỉ một cái ấy thôi. Như vậy mới qua khỏi biến dịch sanh tử.

Nơi việc bổn phận phải nên làm sao? Cần phải chín chắn mới được. Mỗi người đều có một chỗ để ngồi, dù Phật ra đời xâm phạm chỗ ấy cũng không được. Thể hội cái ấy tu hành chẳng là thích thú lắm ư! Muốn biết việc này, chính nó khiến ta thành Phật thành Tổ, cũng chính nó khiến ta rơi trong tam đồ lục đạo. Tuy nhiên như thế, vẫn không có chỗ dụng, mà lìa y cũng chẳng được, cốt cùng y làm chủ tể mới được. Nếu làm chủ tể được tức là không còn biến dịch. Nếu làm chủ tể không được tức là biến dịch. Ngài Vĩnh Gia nói: Phóng đãng lăng xăng chuốc họa ương. 

Mỗi người đều có chỗ ngồi riêng, Phật cũng không xâm phạm được. Tại sao mình không ngồi chỗ của mình lại đi lạy Phật xin cho chỗ ngồi? Ai cũng sẵn có cái đó, nhận ra được mới thật là thích thú.

Muốn biết việc này, chính nó khiến ta thành Phật thành Tổ, cũng chính nó khiến ta rơi trong tam đồ lục đạo. Tuy nhiên như thế, vẫn không có chỗ dụng, mà lìa y cũng chẳng được, cốt cùng y làm chủ tể mới được. Nếu làm chủ tể được tức là không còn biến dịch. Nếu làm chủ không được tức là biến dịch. Thế này thật tức cười, muốn gặp y thì tìm không ra, muốn bỏ y thì bỏ cũng không được. Đi trong luân hồi lục đạo thì y cũng đi theo khắn khít một bên không mất, nhưng tìm thì không thấy, phải làm sao? Cho nên cuối cùng chỉ cùng y làm chủ tể mới được. Đừng bị các chú lục tặc làm rối loạn, mình làm chủ toàn bộ thì được, đừng tách rời, đừng tìm kiếm, tách rời tìm kiếm đều sai lầm. Ngay đó mà nhận được thì không còn biến dịch, không trải qua cấp bậc thay đổi quả vị. Nếu không làm chủ được thì bị đổi thay.

Ngài Vĩnh Gia nói: Phóng đãng lăng xăng chuốc họa ương. Bởi vì mình cứ tạo nghiệp rồi bị nó dẫn đi.

Tăng hỏi: 

 Thế nào là phóng đãng lăng xăng chuốc họa ương? 

Sư đáp: 

– Chỉ là cái ấy. 

– Làm sao khỏi được? 

Biết có liền được, dùng khỏi làm gì? Chỉ là Bồ-đề Niết-bàn phiền não vô minh… thảy đều chẳng cần khỏi, cho đến việc thô trọng ở thế gian cũng thế. Miễn biết có là được chẳng cần khỏi, khỏi tức đồng biến dịch rồi. Cho đến thành Phật thành Tổ, Bồ-đề Niết-bàn, những cái ấy đều họa ương chẳng nhỏ. Tại sao như vậy? Bởi vì biến dịch. Nếu không biến dịch, cần phải chạm việc tự do mới được. 

Tăng hỏi: Thế nào là phóng đãng lăng xăng chuốc họa ương? Ngài đáp: Chỉ là cái ấy. Bởi cái ấy mà không biết trở về thì gọi là chuốc họa ương. Làm sao khỏi được? Ngài dạy: Biết có liền được, dùng khỏi làm gì? Khi nhận ra mình có cái đó, có muốn khỏi tất cả sanh tử, khỏi tất cả phiền não không? Biết có cái đó rồi, những thứ khác rủ rê mình không theo là được, cần khỏi làm gì? Chỉ vì thói quen sợ sanh tử phiền não nên muốn làm sao thoát khỏi.

Chỉ là Bồ-đề Niết-bàn phiền não minh… thủy đều chẳng cần khỏi, cho đến việc thô trọng thế gian cũng thế. Miễn biết có là được chẳng cần khỏi, khỏi tức đồng biến dịch rồi. Muốn cầu Bồ-đề Niết-bàn nên tu bậc này bậc kia, nếu ngay nơi đó biết rõ mình có cái thật, đừng chạy theo cái giả là xong. Vì chúng ta tách rời nó, kiếm cõi này cõi kia để bị xê dịch, dời đổi. Như tu chứng A-na-hàm sanh lên cõi trời Ngũ na-hàm rồi cũng phải tu tiếp. Nếu nơi đây thẳng đó biết có cái thật thì ngay đây là an trú không dời đổi.

Cho đến thành Phật thành Tổ, Bồ-đề Niết-bàn, những cái ấy đều họa ương chẳng nhỏ. Tại sao như vậy? Bởi vì biến dịch. Nếu không biến dịch, cần phải chạm việc tự do mới được. Tu để cầu chứng Tổ vị, Phật quả cũng là còn trong biến dịch sanh tử. Ngay nơi đó mà xông vô thì hết biến dịch. Chạm việc tự do gọi là xúc mục Bồ-đề, gặp tất cả việc đừng dính mắc là khỏi biến dịch, thẳng đó là yên. Tinh thần thiền tông là như vậy. Mỗi lần học chúng ta sẽ thấy rõ hơn, mỗi vị có những chỗ nói càng ngày càng thông, càng ngày càng rành rẽ. Cần phải có tu rồi nghiền ngẫm nhiều, chừng đó mới thấy lẽ thật.

Nam Châu soái Nam Bình Chung Vương nghe danh Sư cho sứ đi thỉnh. Sư chẳng đến, chỉ biên bài tụng của Đại Mai để đáp: 

Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm 

Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm.

Tiều khách ngộ chi du bất cố

Dĩnh nhân na đắc khổ truy tầm. 

Dịch: 

Cây khô gãy mục tựa rừng xanh

Mấy độ xuân về tâm chẳng sanh.

Lão tiều trông thấy nào đoái nghĩ 

Dĩnh khách thôi thì chớ hỏi phanh. 

Ngài dụ thân mình như cây khô gãy mục ở trong rừng lạnh, bao nhiêu lần xuân qua mà tâm không thay đổi. Lão tiều phu thấy cây mục có muốn chặt về không? Ông tiều cũng chê, mấy ông thành thị mời tôi xuống làm chi. Đó là dùng bài kệ để trả lời, từ chối.

Sư dạy chúng kệ rằng: 

Tùng duyên tiến đắc tương ưng tật

Tựu thể tiêu đình đắc lực trì. 

Miết khởi bản lại vô xứ sở 

Ngô sư tạm thuyết bất nghì. 

Dịch: 

Từ duyên tiến được tương ưng nhanh

Đến thể lặng dừng đắc lực chậm.

Chợt khởi từ xưa không nơi chỗ 

Thầy ta tạm nói không nghĩ nghì. 

Từ duyên tiến được, chỗ đó tương ưng rất nhanh, rất mau. Như ngài Linh Vân thấy hoa đào nở liền ngộ, ngài Hương Nghiêm nghe tiếng đá chạm trúc liền ngộ, đó là từ duyên tiến được tương ưng nhanh, chớp mắt liền thấy. Đến thể lặng dừng đắc lực chậm. Đến thể để tiêu dần dần những phiền não vọng tưởng thì đắc lực rất chậm. Chúng ta bây giờ tu giống câu này, vì chưa được cái kia phải thực hành cái này. Chợt khởi từ xưa không nơi chỗ, chợt dấy lên chỗ xưa nay không nơi chốn, tương đương câu xúc mục Bồ-đề hay là động dung dương cổ lộ. Chợt đó liền thấy hiện cái chân thật. Thầy ta tạm nói không nghĩ nghì, đó là chỗ không nghĩ nghì. Hai câu trước từ duyên tiến được tương ưng nhanh, đến thể lặng dừng đắc lực chậm thì còn có thứ bậc, không sánh kịp chỗ này.

Sư thượng đường, có vị tăng bước ra hỏi: 

– Thế nào là người đại xiển-đề? 

Sư đáp: 

– Chẳng sợ nghiệp. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là người vô minh? 

Sư đáp: 

– Trước sau chẳng giác ngộ. Tăng hỏi: 

– Hai người này ai ở trước? 

Sư đáp: 

– Người vô minh. 

Tăng hỏi: 

– Người xiển-đề vì sao ở sau? 

Sư đáp: 

– Người hướng đi. 

Tăng thưa: 

– Thế ấy thì người vô minh chẳng từ ngày nay đi? 

Sư đáp: 

– Phải. 

Tăng thưa: 

 Đã chẳng từ ngày nay đi, vô minh từ chỗ nào đến? 

Sư đáp: 

– Chỗ sáng chẳng dám vào. 

Tăng thưa: 

– Đâu chẳng phải chẳng minh chẳng ám? 

Sư bảo: 

– Phải. 

Tăng thưa: 

– Chính khi ấy thế nào? 

Sư bảo: 

– Chẳng cho chạm. 

Người đại xiển-đề không sợ nghiệp nên nói mang lông đội sừng (loại đọa). Hỏi: Người xiển-đề với người vô minh ai có trước? Vô minh là không giác ngộ, vô minh có trước, người xiển-đề có sau. Người vô minh không tỉnh giác, người xiển-đề sau khi tỉnh giác mới gọi người đại xiển-đề. Vô minh có sẵn từ bao giờ với cái kia, cái kia có sẵn đó nhưng bị vô minh phủ, sau này nhận được người xưa rồi mới buông được vô minh. Vì thế vô minh có trước.

Hỏi: Người xiển-đề vì sao sau? Đáp: Người hướng đi, vì trước có mà không thấy, sau này nhân dẹp vô minh mà thấy nên gọi là người hướng đi. Tăng thưa: Thế ấy thì người vô minh chẳng từ ngày nay đi? Như vậy thì vô minh không có đi sao? Phải. Tăng thưa: Đã chẳng từ ngày nay đi, minh từ chỗ nào đến? Nếu không đi thì từ đâu đến? Ngài đáp: Chỗ sáng chẳng dám vào, vô minh là chỗ sáng thì không có, cũng như tối không dám tới chỗ sáng. Tăng thưa: Đâu chẳng phải chẳng minh chẳng ám? Như thế tột cùng chỗ đó không phải tối không phải sáng hay sao? Ngài nói: Phải. Hỏi: Chính khi ấy thì thế nào? Đáp: Chẳng cho chạm, chỗ đó là không cho mắc kẹt.

Sư lại bảo: 

– Xiển-đề có nhiều thứ: Một, Giết cha giết mẹ, làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng, hủy hoại già-lam, đây quyết định thật báo chịu các thứ khổ. Hai, Cũng làm như trước, nhưng mà giết cha vô minh mẹ tham ái, chẳng tin có Phật pháp tăng có thể phá, có già-lam có thể hoại, cho là nghiệp từ tâm mà thành, nên đọa cũng chịu các thứ quả hư vọng. Hai loại này lên xuống chẳng đồng. Ba, Biết chính mình có việc bản lai, gọi là cha mẹ, chẳng nhân bên ngoài mà được, không tu không chứng, phi nhân phi quả, chẳng do Thầy được, chẳng từ chứng mà thành. Chỗ được, chẳng khởi chấp cha, gọi là giết, chẳng khởi chấp mẹ, gọi là hại, tức là tất cả việc bổn phận chẳng giữ chẳng còn, nên gọi là giết hại. Vừa có mảy may kính trọng, được ý vị thì chẳng thành, chỉ biết có việc chính mình, nên gọi là đại xiển-đề. Do đây dấy lên diệu lực tức là thể hội tông thừa từ trước, thừa kế việc nhà, cần cắt đường huyền, phá các cong vạy, như lão nhân Tân Phong khéo chỉ. 

Ngài bảo: Xiển-đề có nhiều thứ:

Thứ nhất, giết cha giết mẹ, làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng, hủy hoại già-lam, đây quyết định thật báo chịu các thứ khổ. Đây là xiển-đề phạm tội ngũ nghịch.

Thứ hai, hạng xiển-đề này giết cha minh mẹ tham ái, thấy Phật pháp tăng không thể phá vì Phật, pháp, tăng không có thật, già-lam không thể hoại. Đây là hạng xiển-đề Bồ-tát không phải thường. Như vậy hạng trước bị đọa xuống, hạng sau tiến lên, nên nói hai loại này lên xuống chẳng đồng.

Thứ ba, người nhận ra bản lai của mình, bản lai đó cũng gọi là cha mẹ, có khi gọi là khố mẹ sanh (nương sanh khố). Như vậy người đại xiển-đề là người đi thẳng, nhận ngay nơi mình có cái chân thật không qua thứ bậc.

Đời Đường niên hiệu Thiên Phục (901) mùa hạ năm Tân Dậu, ban đêm Sư hỏi Tri sự: 

– Hôm nay là ngày mấy tháng mấy? 

Tri sự thưa: 

– Ngày rằm tháng sáu. 

Sư bảo: 

– Tào Sơn bình sinh đi hành khước đến nơi chỉ biết chín chục ngày là một hạ, sáng mai giờ Thìn ta đi hành khước. 

Hôm sau, đúng giờ Thìn thắp hương, Sư ngồi yên lặng mà hóa, thọ 62 tuổi, 37 tuổi hạ. Vua ban thụy là Nguyên Chứng thiền sư, tháp hiệu Phước Viên. 

 

THIỀN SƯ ĐẠO ƯNG Ở VÂN CƯ (? – 902) 

Sư họ Vương, người ở Ngọc Điền, U Châu. Thuở bé Sư đã xuất gia theo thầy học đạo. Năm hai mươi lăm tuổi Sư thọ giới Cụ túc tại chùa Diên Thọ ở Phạm Dương. Bổn sư bắt Sư học giới luật Thanh văn. Sư than: “Kẻ đại trượng phu đâu thể chịu luật nghi còng trói ư?” Sư bèn đến núi Thúy Vi hỏi đạo và ở lại đây ba năm. 

Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, năm hai mươi lăm tuổi thọ giới Cụ túc. Khi thầy ngài bảo học giới luật, ngài than: Kẻ đại trượng phu đâu thể chịu luật nghi còng trói. Đây là tư cách của bậc siêu xuất. Đối với người đi đứng nằm ngồi, đại tiểu, ăn cơm mặc áo không có một niệm gì khác, cần giữ giới không? Chúng ta tại sao phải giữ giới? Khi con khỉ thuần thục nằm một chỗ thì cần dây xiềng không? Con khỉ chạy nhảy tứ tung thì cần dây xiềng không? Sở dĩ có dây xiềng là vì nó chạy nhảy, nếu hết chạy nhảy thì dây xiềng là thừa. Vì vậy đại trượng phu không sống với tâm viên ý mã thì không cần giới luật. Phàm phu chúng ta tâm viên ý mã nên giới luật rất cần.

Một hôm có du tăng từ Dự Chương đến khen ngợi pháp hội ở Động Sơn. Sư liền từ tạ, đến Động Sơn. 

Động Sơn hỏi: 

 Từ đâu đến? 

Sư thưa: 

– Từ Thúy Vi đến. 

– Thúy Vi có lời gì dạy đồ chúng? 

– Thúy Vi cúng dường La-hán, con hỏi: Cúng dường La-hán, La-hán có đến chăng? Thúy Vi hỏi con: Mỗi ngày ông ăn cái gì? 

– Thật có lời này chăng? 

– Có. 

– Chẳng uổng tham kiến bậc tác gia. 

 Xà-lê tên gì? 

– Tên Đạo Ưng. 

– Lại nói lên trên? 

– Nói lên trên tức chẳng tên Đạo Ưng. 

– Ngươi đáp tương tự với ta lúc đến Vân Nham. 

Trong tông Tào Động, khi hỏi tên là thuật dò xét người. Hỏi ông tên gì, nói tên rồi, nếu bảo nói lên trên, nói được hợp lý thì cho vô ở liền.

Sự hỏi: 

– Thế nào là ý Tổ sư? 

Động Sơn đáp: 

– Sau này Xà-lê có nơi chốn ở yên, chợt có người đến hỏi như thế, phải đáp làm sao? 

– Đạo Ưng tội lỗi. 

Khi Vân Cư hỏi, ngài Động Sơn không đáp mà hỏi lại nếu trường hợp ông bị hỏi thì sẽ đáp ra sao? Câu không thể đáp được mà trả lời tức là có lỗi, nên ngài nói: Đạo Ưng tội lỗi.

Động Sơn hỏi: 

 Ta nghe Hòa thượng Tư Đại sanh làm vua nước Nhật là thật giả? 

Sư thưa: 

– Nếu là Tư Đại, Phật còn chẳng làm, huống là làm vua. 

Động Sơn gật đầu.

Tư Đại tức hòa thượng Huệ Tư, thầy của Trí Giả đại sư ở núi Thiên Thai, tương truyền ngài sanh làm vua nước Nhật. Nhân câu chuyện đó đặt ra câu hỏi: Hòa thượng Tư Đại sanh làm vua ở nước Nhật phải không? Tư Đại là ông vua lịch sử đó hay Tư Đại nào? Tư là biết nghĩ, cái biết nghĩ trùm hết gọi là đại. Cái đó Phật còn không làm, huống nữa làm vua.

Một hôm Động Sơn hỏi: 

– Từ đâu đến? 

Sư thưa: 

– Đạp núi đến. 

– Quả núi nào nên ở? 

– Có quả núi nào chẳng nên ở. 

– Thế ấy là cả nước đều bị Xà-lê chiếm hết. 

– Chẳng phải. 

– Thế ấy là ngươi đã được đường vào? 

– Không đường. 

– Nếu không đường làm sao được cùng lão tăng gặp nhau? 

– Nếu có đường thì cùng Hòa thượng cách núi vậy. 

– Kẻ này về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng. 

Lối đối đáp giản dị mà thật lý thú. Hỏi từ đâu đến thì có thể chúng ta trả lời từ Châu Đốc, Cần Thơ,… phải không? Ngài Vân Cư trả lời đạp núi đến, đi qua nhiều núi, nên ngài Động Sơn hỏi quả núi nào nên ở? Ông đã qua nhiều núi thì núi nào ông thích ở? Vân Cư trả lời có quả núi nào chẳng nên ở? Chỗ nào cũng nên ở tức là chiếm hết rồi, nên ngài Động Sơn nói, thế ấy là cả nước đều bị Xà-chiếm hết. Vân Cư nói chẳng phải. Động Sơn bảo nếu không chiếm thì tức là ông đã được đường vào rồi. Vân Cư nói không đường. Động Sơn liền bẻ nếu không đường làm sao được cùng lão tăng gặp nhau? Nếu như thế làm sao tới đây được mà gặp ta? Như không khéo chuyển thì chịu thua. Vân Cư nói nếu đường thì cùng Hòa thượng cách núi. Câu này thật đặc biệt, nên ngài Động Sơn khen kẻ này về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng. 

Sư theo Động Sơn lội qua suối. Động Sơn hỏi: 

– Nước cạn sâu? 

Sư thưa: 

– Chẳng ướt. 

Động Sơn bảo: 

– Kẻ thô. 

Sư thưa: 

– Thỉnh Thầy nói. 

Động Sơn nói: 

– Chẳng khô. 

Tại sao trước trả lời chẳng ướt mà ngài Động Sơn chê là thô, rồi sau hỏi thì ngài nói chẳng khô. Lội qua suối mà biết cạn sâu thì lúc đó có ướt chưa? Nói chẳng ướt tức là còn trong tưởng chưa phải thực, nên bị chê kẻ thô. Ngài Động Sơn nói chẳng khô, tại sao không nói ướt, như trước không nói khô mà nói chẳng ướt? Vì nếu nói ướt nói khô là phạm húy. Trong tông Tào Động không cho mắc kẹt danh từ mà dùng lý hồi hỗ, chẳng ướt tức là khô, chẳng khô tức là ướt.

Sư làm tương, Động Sơn hỏi: 

– Làm gì? 

Sư thưa: 

– Làm tương. 

Động Sơn hỏi: 

– Dùng muối nhiều ít? 

Sư thưa: 

– Xoay vào. 

Động Sơn hỏi: 

– Làm thành vị gì? 

Sư thưa: 

– Đắc. 

Ngài Động Sơn nhân việc làm tương gài bẫy, nên hỏi dùng muối nhiều ít? Nếu trả lời nhiều hoặc ít thì mắc kẹt, Vân Cư nói xoay vào, tức là bỏ vô quậy thôi, không nói nhiều ít. Hỏi làm thành vị gì? Nếu nói vị này vị nọ cũng còn kẹt, Vân Cư nói đắc, nghĩa là xoay vào thì sẽ được, không nói vị gì. Cách trả lời khéo léo.

Động Sơn hỏi Sư: 

– Người đại xiển-đề giết cha hại mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng, các việc như thế hiếu dưỡng đâu còn? 

Sư thưa: 

– Mới được hiếu dưỡng. 

 Từ đây Động Sơn giao Sư làm lãnh tụ trong chúng. 

Sư cất thảo am nơi Tam Phong, trải qua tuần nhật không xuống trai đường. Động Sơn thấy lạ hỏi:

– Mấy ngày nay sao ngươi không đến thọ trai? 

Sư thưa: 

– Mỗi ngày có thiên thần cúng dường. 

Động Sơn bảo: 

 Ta bảo ngươi là kẻ vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều lại. 

Chiều, Sư đến. Động Sơn gọi: 

– Ưng am chủ 

Sư ứng thanh: – Dạ! 

Động Sơn bảo: 

– Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác là cái gì? 

Sư trở về am ngồi yên lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường. 

Nếu không học chỗ này chúng ta dễ mắc kẹt. Người tu mà được chư thiên cúng dường một bữa cơm thì chắc nhớ đời đời. Như giả sử có chú nào nhập thất được chư thiên cúng dường, rồi không nhận đồ trong chùa thì hãnh diện không? Chắc là đồn rùm. Như vậy mà bị ngài Động Sơn chê còn kiến giải. Tại sao? Vì có tâm dấy niệm thì chư thiên hay ma quỷ thấy. Người dấy niệm thiện thì chư thiên khen, dấy niệm ác xấu thì chê; người thuần thục chỉ còn niệm thiện thì chư thiên mừng quá cúng dường. Còn niệm là còn kiến giải. Khi không nghĩ thiện không nghĩ ác tức là buông tất cả niệm, lúc đó chư thiên không thể thấy, nên hết cúng dường.

Thiền sư Pháp Dung đạo đức cảm đến chim tha hoa quả cúng dường, cọp hầu một bên. Nhưng khi gặp Tứ tổ Đạo Tín, ngộ được lý Thiền thì chim chóc hết cúng dường. Người ta đặt câu hỏi như vậy là trước có phước hay sau có phước? Phải học đến chỗ này mới hiểu. Được cúng dường là lúc đó tâm thuần thiện nên chim thú cảm ứng được. Khi gặp Tứ Tổ thì bặt hết mọi niệm, loài chim thú không thấy mà cúng dường. Ở đây thiên thần kiếm ba ngày mà không tìm ra tông tích. Chỗ đặc biệt của các ngài là đi đứng nằm ngồi đều như như. Ngài Tào Sơn nói, làm kẻ rảnh rang như con chồn con trâu, đói ăn khát uống, tu hành lại thích. Đến được như vậy mới là thật đến.

Sư đến trụ ở núi Vân Cư, tứ chúng đua nhau tìm đến, pháp hội nơi đây rất thạnh hành. 

Sư dạy chúng: 

– Phật pháp đâu có nhiều việc, hành được là phải. Chỉ biết tâm là Phật, chớ lo Phật chẳng biết nói. Muốn được việc như thế phải là người như thế. Nếu là người như thế thì còn lo cái gì? Nếu nói việc như thế là khó, thì các bậc tiên đức từ xưa thuần phác chân thật, vốn không khôn khéo. Giả sử có người đến hỏi “Thế nào là đạo?” hoặc khi các ngài đáp “Ngói gạch gốc cây là gì”. Bởi việc căn bản là ở dưới gót chân thật có khí lực, là người bất tư nghì, nắm đất biến thành vàng. Nếu không có việc như thế, dù ông nói được như hoa như gấm, nói ta phóng quang động địa thế gian không ai hơn, nói tột hết, mà mọi người vẫn không tin nhận. Bởi lâu nay việc dưới chân nhà mình vẫn rỗng không, chẳng có một chút khí lực. 

Phật pháp đâu có nhiều việc, hành được là phải, nghĩa là không cần làm nhiều việc, chỉ sống được, không chạy theo vọng tưởng điên đảo là tốt. Chớ lo Phật chẳng biết nói, nhiều người nói tôi dốt quá làm sao giảng kinh cho người nghe. Phải biết rằng thành Phật rồi nói gì cũng thành kinh, như Lục Tổ vốn không biết chữ, ngài nói câu nào đại chúng đều cũng ghi chép học hỏi. Chỉ lo không nhận được chứ đừng lo dốt, nếu chúng ta là người tỏ ngộ thì không còn lo gì.

Những vị tiên đức ngày xưa rất chân chất thật thà không khôn khéo. Chúng ta bây giờ lanh quá, lý luận theo không kịp, khôn quá nên mất mình. Các ngài lời lẽ rất tầm thường, như nói “cây bá trước sân” không có lý lẽ gì.

Việc dưới chân nhà mình vẫn rỗng không, bổn phận căn bản không được gì, không có chút khí lực thì nói hay nói giỏi cũng là thừa.

Các ông! Ví như con chó săn chỉ biết đuổi theo dấu vết thôi. Nếu khi gặp con linh dương treo sừng thì chẳng những không thấy dấu vết, mà hơi hám cũng không biết. 

Tăng hỏi: 

– Con linh dương khi treo sừng thì sao? 

Sư đáp: 

– Sáu lần sáu là ba mươi sáu. Hội chăng? Tăng thưa: 

– Chẳng hội. 

Sư bảo: 

– Chẳng thấy nói “không dấu vết” sao? 

Những câu này nghe như khó hiểu nhưng thật là đối đáp tài tình. Nói rằng chúng ta như con chó săn cứ chạy theo hơi theo dấu. Nếu gặp con linh dương treo sừng móc lên cây vách núi cao, không có hơi có dấu thì hết biết đường theo. Con linh dương treo sừng là dụ cho bản lai diện mục, theo hơi theo dấu là theo kinh sách chữ nghĩa. Bởi cái kia là cái không thể biết không thể tìm trong chữ nghĩa nên nói không dấu vết.

Hỏi: Con linh dương treo sừng thì sao? Ngài đáp sáu lần sáu là ba mươi sáu. Tăng thưa: Không hội, ngài bảo: Chẳng thấy nói “không dấu vết” sao? Cho ông hội tức là hiểu, là có ý nghĩa có dấu vết để tìm, còn cái đó không dấu vết. Nói sáu lần sáu là để chấm dứt dấu vết, nếu nghe câu đó cứ suy nghĩ sáu lần sáu ba mươi sáu nghĩa là gì, càng suy nghĩ càng trật.

Có một vị tăng ở trong phòng tụng kinh. Sư ở ngoài cửa hỏi: 

– Xà-lê tụng đó là kinh gì? 

Tăng thưa: 

– Kinh Duy-ma. 

Sư bảo: 

– Chẳng hỏi kinh Duy-ma, người tụng là kinh gì? 

Vị tăng này nhân đó được ngộ. 

Vị tăng này nhận ra người tụng là kinh vô tự.

Có vị quan liêu đến cúng dường, hỏi: 

– Thế Tôn có mật ngữ, Ca-diếp chẳng phú tàng, thế nào là Thế Tôn mật ngữ? 

Sư gọi: 

– Thượng thư 

Vị quan: 

– Dạ! 

Sự hỏi: 

– Hội chăng? 

Vị quan thưa: 

– Chẳng hội. 

Sư bảo: 

– Ông nếu chẳng hội thì Thế Tôn có mật ngữ. Nếu ông hội thì Ca-diếp chẳng phú tàng. 

Trả lời rất rõ. Khi nghe kêu mà không hiểu thì đó là mật ngữ của Thế Tôn, nếu hiểu thì Ca-diếp chẳng phú tàng tức là không che giấu.

Sư dạy chúng: 

– Các ông dù học được việc bên Phật, vẫn là dụng tâm sai lầm rồi. Các ông đâu không thấy cổ nhân giảng được chư thiên rải hoa cúng dường, đá gật đầu, còn chẳng can hệ việc chính mình, ngoài ra còn có nghĩa gì? Như hiện nay toan đem thân tâm hữu hạn nhằm trong vô hạn mà dùng thì có giao thiệp gì? Như đem khúc cây vuông tra vào lỗ tròn thì sự sai ngoa nhiều ít? Nếu không nhằm việc ấy, dù ông nói tươi như hoa đẹp như gấm vẫn là vô dụng, vì chưa rời tình thức vậy. Nếu tất cả việc đều hướng trong ấy đến sạch hết mới được không lỗi, mới được xuất thân. Nếu một sợi lông mảy tóc dẹp chẳng hết liền bị trần lụy, huống là quá nhiều, sai chừng hào ly phạm lỗi bằng quả núi. Cổ nhân nói: “Chỗ học chẳng sâu, ấy là kẻ thế gian; việc trong khuê các bỏ chẳng được đều là rỉ chảy.” Phải nhắm chỗ này nhận lấy, trong mọi hành động đều dẹp sạch tất cả việc, mới được không lỗi. Như người sự sự đều liễu, vật vật đều thông, chỉ gọi là người liễu sự, chẳng gọi là tôn quý. Nên biết tôn quý tự có đường riêng, là vật thế gian rất trọng rất quý. Chẳng được sau này hướng bên tôn quý. Nên biết không thể nghĩ bàn, chẳng xứng tâm mong muốn. Do đó cổ nhân nói: “Ví như hai gương sáng, ánh sáng đối nhau, ánh sáng soi nhau, không thiếu không dư.” Đâu chẳng phải là một loại, vậy mà vẫn còn gọi “việc bên ảnh tượng”. Như khi mặt trời mọc lên, ánh sáng soi khắp thế gian một nửa sáng rỡ, một nửa kia gọi là gì? Như hiện nay người chưa nhận được việc thô thiển bóng sáng ở ngoài cửa, mà muốn làm việc trong nhà thì làm sao làm được? 

Giảng kinh được đá gật đầu là chuyện của ngài Trúc Đạo Sinh. Thời Dao Tần, đệ tử ngài Cưu-ma-la-thập là Trúc Đạo Sinh nghiên cứu kinh Niết-bàn, lúc đó kinh chưa đem sang Trung Hoa toàn bộ, nên thiếu đoạn nói xiển-đề có Phật tánh. Ngài chủ trương xiển-đề có Phật tánh liền bị chúng tăng phản đối. Ngài bèn lên núi chất một hàng đá làm thính giả nghe ngài giảng kinh Niết-bàn. Đến chỗ nói xiển-đề có Phật tánh, ngài hỏi đúng không, đá gật đầu. Sau này kinh Niết-bàn đem tiếp qua, nói xiển-đề có Phật tánh, lúc đó chư tăng mới công nhận ngài nói đúng. Người xưa giảng dạy như thế mà còn chẳng can hệ việc chính mình, chỉ là việc bên ngoài. Ngoài ra còn có nghĩa gì? 

Như hiện nay toan đem thân tâm hữu hạn nhằm trong vô hạn mà dùng thì có giao thiệp gì? Như đem khúc cây vuông tra vào lỗ tròn thì sự sai ngoa nhiều ít? Nếu không nhằm việc ấy, dù nói tươi như hoa đẹp như gấm vẫn là vô dụng, vì chưa rời tình thức vậy. Nếu tất cả việc đều hướng trong ấy đến sạch hết mới được không lỗi, mới được xuất thân. Thân tâm này là hữu hạn còn cái kia là vô hạn, đem hữu hạn dùng vào Vô hạn thì thấm vào đâu? Dù thuyết giảng hay tươi như hoa đẹp như gấm cũng không đủ dùng, chỉ có dẹp tất cả thì mới không lỗi, mới được xuất thân.

Nếu một sợi lông, một mảy tóc dẹp chẳng hết liền bị trần lụy, huống là quá nhiều, sai chừng hào ly phạm lỗi bằng quả núi. Một mảy lông, một sợi tóc dẹp không sạch còn bị trần lụy, chúng ta còn bằng bồ lúa thì trần lụy chừng bao nhiêu?

Cổ nhân nói: “Chỗ học chẳng sâu, ấy là kẻ thế gian; việc trong khuê các bỏ chẳng được đều là rỉ chảy.Phải nhắm chỗ này nhận lấy, trong mọi hành động đều dẹp sạch tất cả việc, mới được không lỗi. Như người sự sự đều liễu, vật vật đều thông, chỉ gọi là người liễu sự, chẳng gọi là tôn quý. Sự sự đều liễu, vật vật đều thông tức là rõ hết, thông suốt mọi sự mà chỉ gọi người liễu sự chưa phải là tôn quý.

Nên biết tôn quý tự có đường riêng, là vật thế gian rất trọng rất quý. Chẳng được sau này hướng bên tôn quý. Nếu còn hướng tôn quý thì bị đọa, ngài Tào Sơn gọi là tôn quý đọa.

Nên biết không thể nghĩ bàn, chẳng xứng tâm mong muốn. Chỗ đó không khởi niệm khởi tâm, không hợp với tâm mong muốn.

Do đó cổ nhân nói: “Ví như hai gương sáng, ánh sáng đối nhau, ánh sáng soi nhau, không thiếu không dư.” Đâu chẳng phải là một loại, vậy mà vẫn còn gọi việc bên ảnh tượng”. Như hai gương đối nhau, thầy trò khế hợp như hai gương đối nhau, vẫn còn gọi là việc bên ảnh tượng.

Như khi mặt trời mọc lên, ánh sáng soi khắp thế gian, một nửa sáng rỡ, một nửa kia gọi là gì? Khi mặt trời mọc ánh sáng soi quả đất này là toàn diện ánh sáng mặt trời hay chỉ một phần? Quả đất này chỉ có một phần của mặt trời soi, ánh sáng mặt trời thì trùm hết. Cũng vậy, dầu cho thông minh đến đâu cũng là một phần nhỏ của cái chân thật. Cái chân thật thì trùm hết.

Như hiện nay, người chưa nhận được việc thô thiển bóng sáng ngoài cửa, mà muốn làm việc trong nhà thì làm sao làm được? Như hiện nay chưa nhận được sáu đường thần quang thì làm sao thấy được cái gốc bên trong? Sáu đường thần quang là bóng sáng ngoài cửa còn chưa thấy, huống nữa là thấy trong nhà. Vì thế ban đầu kinh giáo hay chư Tổ chỉ cho chúng ta vào từ cửa, hoặc đưa phất tử, hoặc kêu, dạ… Từ cửa đó bước vào chứ không chỉ được gốc ở trong.

Sư dạy: 

– Người được chẳng nhỏ nhẹ, người sáng chẳng dùng hèn, người biết không than thở, người hiểu không chán ghét. Từ trời rơi xuống là bần cùng, từ đất vọt lên là phú quý, trong cửa ra thân là dễ, trong thân ra cửa là khó. Động thì chôn thân ngàn thước, chẳng động thì liền đó mọc mầm. Một câu nói siêu thoát cứu được người đương thời. Nói bàn chẳng cần nhiều, nói nhiều ắt là vô dụng. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào từ trời rơi xuống là bần cùng? 

Sư đáp: 

– Chẳng quý mà được. 

– Thế nào từ đất vọt lên là phú quý? 

– Trong không mà được có. 

Người được chẳng nhỏ nhẹ, như tổ Lâm Tế, Đức Sơn có nhỏ nhẹ không? Vừa hỏi là đã đánh hét, nắm được cái đó rồi thì không cần mềm mại êm ái để dẫn dụ mọi người kéo đến mà chỉ thẳng. Như ở đời có người học được nghề tuyệt xảo, đã nắm sẵn nghề khéo trong tay rồi thì ai muốn lại học, ông thầy có năn nỉ dỗ dành không? Ông có thể truyền nghề, nhưng không gặp người giỏi nên phải nói mạnh, ai cần thì tới. Như chúng ta có nghề tầm thường thì ai muốn học mình cũng năn nỉ yêu cầu. Nghề mình chưa xứng đáng mà người muốn học, mình dụ dỗ khuyến khích để cho họ học. Nên người được thì không nhỏ nhẹ, không được mới nhỏ nhẹ.

Người sáng chẳng dùng hèn. Nếu đã sáng thì dùng cái tầm thường làm chi. Như đêm có trăng thì cần đèn đuốc không? Trăng sáng rồi khỏi cần đèn đuốc làm chi. Đuốc đèn là vật hèn vật nhỏ đối với mặt trăng.

Người biết không than thở. Tại sao? Như có người xuất gia ở chùa năm mười năm mà không hiểu đạo lý, muốn tu không biết làm sao tu, người đó có than thở không? Nếu người xuất gia học đạo nhận ra lý đạo vui vẻ thích thú, người đó luôn phấn khích không than thở. Cho nên biết thì không than thở, không biết mới than thở.

Người hiểu không chán ghét. Tại sao? Như trong chúng đây có người đen xấu lùn, nhưng người đó hiểu rằng ngay nơi mình có ông chủ. Thân đen lùn này là thân tạm bợ, vài ba chục năm, năm ba chục năm nó hoại. Thân đẹp cao lớn sáng sủa của người khác và thân lùn đen của mình đều là tướng giả, vài chục năm hoại không quan trọng. Mình sẵn có thể chân thật bất sanh diệt không đổi dời, vì thế không chán ghét. Tất cả hơn thua tốt xấu đều không chạm được cái chân thật.

Tại sao từ trời rơi xuống là bần cùng? Cái gì mà dễ được, như từ trời bất thần rớt xuống thì rất dễ, nên gọi là bần cùng. Dưới đất vọt lên, đất là chỗ thấp không có hy vọng cầu mong gì mà hiện ra thì rất quý. Như cuốc đất tìm vàng, cuốc xuống thấy được vàng thì rất mừng. Đó là ý nghĩa của hai sự việc, nhưng cũng nói ý nghĩa nếu do người khác mà được ngộ thì không quý, từ mình phát ra mới quý.

Trong cửa ra thân là dễ, trong thân ra cửa là khó. Cửa là sáu căn, thân là thân vô tướng. Từ sáu cửa mà nhận ra thân vô tướng là dễ, từ thân thứ hai mà tìm được thật tướng là dễ. Nếu từ trong thật thể đó mà thấy ra cửa sáu căn là khó, vì đó là chỗ không manh mối nên nói từ thân ra cửa khó.

Động thì chôn thân ngàn kiếp, chẳng động thì liền đó mọc mầm. Nếu vừa có tâm động niệm thì chôn thân ngàn kiếp. Nếu không khởi tâm không động niệm thì ngay đó Bồ-đề nảy sanh. Một câu nói siêu thoát cứu được người đương thời. Nói bàn chẳng cần nhiều, nói nhiều ắt là vô dụng.

Sư dạy: 

Liễu không thật có, được thì không chỗ mong, nói không chỗ phải, hành không chỗ nương, tâm không chỗ gá, đến tột mới được không lỗi. Ở chỗ đông như không người, ở chỗ không người như đông, nơi thân như không thân, ở thế như không thế, đâu chẳng phải vô nhiễu. Đức này vượt hơn muôn loài, thoát khỏi tất cả trói buộc. Ngàn người muôn người được, còn nói chẳng bằng mình. Như hiện nay được cộng khởi một loại, cổ nhân nói: “Thể hội được việc bên này, lại sang giẫm đạp bên kia.” Bên này có việc gì? Bên kia lại giẫm đạp gì? Sở dĩ nói có cũng chớ đem đến, nói không cũng chớ đem đi, hiện tại đây là việc nhà ai? 

Liễu không thật có, khi liễu ngộ rồi thấy tất cả pháp không có thật. Được thì không chỗ mong, nếu được rồi còn gì mong mỏi. Nói không chỗ phải, nói năng không thấy có đối đãi, phải quấy. Hành không chỗ nương, nếu nhận được cái đó rồi còn có chỗ nào để nương. Tâm không chỗ gá, tâm chân thật này không mắc kẹt nơi chốn nên không chỗ gá. Đến tột mới được không lỗi, nếu tột được chỗ đó mới là không lỗi.

Ở chỗ đông như không người, ở chỗ không người như đông. Người thường gặp chỗ đông thì bao nhiêu thứ lăng xăng lộn xộn, múa tay múa chân, ca hát… Khi cảnh đổi, người thay đổi theo. Người đạt đạo thì cảnh là cảnh, người là người, chỗ đông như chỗ không người, không liên hệ tới người đó. Nơi thân như không thân, thế như không thế. Tuy mang thân này nhưng thấy nó không thật, có thân mà như không thân; ở trên cõi đời này mà không nhiễm ô bất cứ cái gì thì ở thế như không thế. Đó là những câu nói rất đặc biệt, nếu được như vậy mới gọi là được vô nhiễu, mới vượt hơn mọi loài, mới thoát khỏi tất cả trói buộc. Ngàn người muôn người được, còn nói chẳng bằng mình, như vậy dầu cho ai chứng đạt nói cũng không bằng người đó.

Được cộng khởi một loại, nghe rồi hiểu, gọi là cộng khởi. Cộng là có ngoài có trong hợp lại, được như thế tưởng như hay giỏi, nhưng người xưa nói, thể hội được việc bên này, lại sang giẫm đạp việc bên kia. Chỉ thấy được một bên, chưa phải thật thể hội.

Bên này có việc gì? Bên kia lại giẫm đạp gì? Sở dĩ nói cũng chớ đem đến, nói không cũng chớ đem đi, hiện tại đây là việc nhà ai? Chẳng nói có, chẳng nói không, ngay hiện tại là gì? Thiền chỉ nhấn mạnh thực tế hiện tại này. Có câu Bất ly đương xứ thường trạm nhiên, không lìa nơi đây mà thường lặng lẽ. Đó là chủ yếu của thiền. Đừng nói có không, đừng nói trước sau, thì có gì để nói? Thử nói một câu xem.

Sư dạy: 

– Muốn thể hội việc này phải như người thở ra không hít vào, mới cùng người này tương ưng. Nếu thể hội được ý người ấy mới cho ít phần nói bàn, mới có ít phần hành lý. Tạm thời chẳng hiện như đồng người chết, huống là như nay bàn năm luận tháng? Như người thường hiện thì lo gì việc nhà chẳng xong, muốn biết việc lâu xa chỉ như việc hiện nay, hiện nay nếu được lâu xa cũng được. Như người ở viễn phương về nhà, đi đến là phải, phải thì tất cả đều phải, chẳng phải thì tất cả đều chẳng phải. Cần được lửa sáng trên đầu phát, cũng chẳng phải hay làm tất cả, tất cả chẳng làm. Nên nói: Trọn ngày tham việc trước mặt, quên mất việc sau lưng. Nếu thấy việc sau lưng, quên mất việc trước mặt. Như người chẳng trước sau thì có việc gì? 

Thở ra không hít vào là người chết. Muốn thể hội đại đạo phải như người chết mới tương ưng. Chúng ta sống trọn vẹn quá nên khó tương ưng.

Một phút giây mà quên cái đó, giống người chết. Tại sao? Nhận được cái hiện hữu linh hoạt đó mới thật là sống. Chúng ta cứ nhớ chuyện cũ lo chuyện sắp đến, chuyện cũ đã qua là mất, chuyện sắp đến chưa đến là không. Chỉ nhớ cái mất cái không nên sống mà như chết, không sống được với cái hiện hữu linh hoạt này. Huống nữa là bàn năm luận tháng, năm nay năm Thìn năm Hợi… bàn luận đủ việc. Như người thường hiện, lúc nào cũng sờ sờ trước mặt đó, thì lo gì việc nhà chẳng xong. Hiện nay được như vậy thì mai kia cũng như vậy, không cần lo

Như người đi xa về tới ngã ba, không biết đường bên tay trái hay tay phải là đường về nhà. Nếu biết đúng thì mỗi bước đều đúng, càng đi càng gần. Nếu biết sai thì mỗi bước càng sai, bước nhanh chừng nào thì sai nhiều chừng nấy. Vì thế nói, phải thì tất cả đều phải, chẳng phải thì tất cả đều chẳng phải. Người tu sai lạc thì càng tinh tấn lại càng nguy hiểm. Biết lạc rồi thì dừng lại hỏi còn đỡ, nếu lạc rồi cứ cắm đầu mà đi, càng về sau càng nguy hiểm.

Lửa sáng trên đầu phát tức là trí tuệ sáng của mình phát khởi. Được như vậy thì cũng chẳng phải hay làm tất cả, tất cả chẳng làm, tức là vô sự vậy.

Trọn ngày tham việc trước mặt, quên mất việc sau lưng. Nếu thấy việc sau lưng, quên mất việc trước mặt. Như người chẳng trước sau thì việc gì? Chúng ta lo việc trước quên việc sau, nhớ việc sau quên việc trước. Như người không có trước sau thì ngay đó hiện tiền.

Sư dạy: 

– Như xem vật trong lòng bàn tay, quyết định quyết định, mới có thể tùy duyên. Nếu một như thế thì ngàn muôn cũng vậy. Trong ngàn muôn khó làm một hai, một hai không thể được. Đâu chẳng nghe nói: Người hiển chiếu là dễ được, người hiển chiếu rồi thì khó được, chẳng nói hoàn toàn không, mới là hy hữu. Nếu không được như thế chẳng cho gắng làm, gắng làm tức sanh não, sanh não tức lui sụt đạo, lui sụt đạo thì tội đến trên thân, là thấy chẳng được, nói khoác lác gì. 

Các ông xuất gia như kẻ tội ra khỏi khám đường, nên ít muốn biết đủ, chớ tham danh lợi ở đời, nhịn đói nhịn khát chí cầu vô vị, được ở trong Phật pháp mười phần sống chín phần chết cũng chớ bỏ mất, ra sống vào chết chớ trái với Phật pháp, nhổ định cắt sắt, chớ mang nhiều việc Như Lai, nên phải ít việc. Mỗi người tự liễu lấy, có việc thì lại gần đây, không việc hãy lui đi. 

Như xem vật trong lòng bàn tay, quyết định quyết định, mới có thể tùy duyên. Phải thấy cái đó rõ như xem vật trong bàn tay, không nghi ngờ. Quyết định, quyết định vậy thì chừng đó mới tùy duyên. Chúng ta hiện tại như người đi trong sương mù, thoáng thấy một chút rồi mất, nên chưa thể tùy duyên trong mọi việc.

Nếu một như thế thì ngàn muôn cũng vậy. Trong ngàn muôn khó làm một hai, một hai không thể được. Nếu nhận được một thì ngàn muôn cũng như vậy. Nhưng trong ngàn muôn không phải một hai, vì một hai là đối đãi. Phải hết đối đãi mới đến ngàn muôn được.

Người hiển chiếu là dễ được, người hiển chiếu rồi thì khó được. Tại sao? Như có người mới phát tâm học thiền được chút ít thấy hay quá thích quá, lúc đó gặp ai cũng giảng nói cho nghe. Đó là người hiển chiếu, mới được chút ít ham nói. Người đã học lâu, thấy học được mà làm chưa được, lúc đó ham nói không? Rất dè dặt không vội nói. Vì thế đến đó chẳng nói hoàn toàn không, chẳng phải là không ngơ, không nói hay không hiển chiếu, mới là hy hữu.

Nếu không được như thế chẳng cho gắng làm, gắng làm tức sanh não, sanh não tức lui sụt đạo, lui sụt đạo thì tội đến trên thân, là thấy chẳng được, nói khoác lác gì. Nếu chưa được thì đừng gắng làm. Nhiều người tu cố gắng quá, bặm môi trợn mắt trừng trừng xem như rất tinh tấn, nhưng lâu ngày nhọc nhằn sanh não, sanh não rồi lâu quá không được thì lui sụt. Biết tu khéo dụng công thì hằng tỉnh hằng giác, không phải là bặm môi trợn mắt. Như người canh ăn trộm, chỉ ngó chừng tỉnh giác, không thấy họ thì thôi, thấy thì la. Chỉ khéo nhìn nhè nhẹ, công sức mới lâu dài. Những điều này nên nhớ.

Các ông xuất gia như kẻ tội ra khỏi khám đường. Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy: Người bị ràng buộc bởi vợ con nhà cửa còn quá hơn lao ngục. Người ở trong khám đường có ngày được ra, còn người bị trói buộc trong gia đình vợ con không có ngày được ra. Người xuất gia thoát khỏi vợ con, không phải ra khỏi khám đường là gì? Ra khỏi rồi có ai muốn vô lại không? Nếu ra khỏi rồi muốn vô lại thì thật là đại si mê.

Muốn không trở lại khám đường, cần phải ít muốn biết đủ, chớ tham danh lợi, dám chịu nhịn đói nhịn khát chí cầu vô vi, ở trong Phật pháp mười phần sống chín phần chết cũng chớ bỏ mất, ra sống vào chết chớ trái với Phật pháp. Như vậy mới gần với Phật pháp. Chúng ta rất hời hợt, sống nhăn không chết phần nào, bởi không chết nên thấy gì cũng liếc nhìn, thấy gì cũng ham muốn. Đang ngồi trong tu viện thấy xe hơi chạy ngang cũng trầm trồ, thấy máy móc đẹp cũng trầm trồ. Sống hoài, thấy gì cũng chạy theo, rồi bất thần thấy cô nào đẹp đẹp cũng trầm trồ, sống như vậy thì có ngày chết ngắc. Ngài dạy chúng ta phải chết hết chín phần, còn một phần sống, như vậy mới tương ưng. Thật là lời dạy này quá thiết tha, ráng nhớ để thực hành, đừng để đời tu trôi qua hời hợt.

Nhổ đinh cắt sắt, chớ mang nhiều việc Như Lai, nên phải ít việc. Mỗi người tự liễu lấy, có việc thì lại gần đây, không việc hãy lui đi. Phật pháp là chỉ dạy phương tiện nhổ đinh, cắt sắt, nghĩa là dẹp những chấp mắc của mình. Chớ mang nhiều việc Như Lai. Việc Như Lai việc gì? Đến chùa, thầy nào cũng than “lúc này Phật sự đa đoan”, đó là nhiều việc Như Lai. Mang nhiều quá không có thì giờ lo cho mình, phải giảm bớt mới được. Mỗi người phải tự liễu ngộ, có việc lại gần, không việc thì lui.

Sư trụ trì ba mươi năm tại Vân Cư, đạo truyền khắp thiên hạ. Chúng hiện có mặt đến một nghìn năm trăm vị. Nam Xương Vương tôn Sư làm thầy, nguyện kính làm thầy đời đời. 

Đời Đường niên hiệu Thiên Phục năm đầu (901) mùa thu, Sư có chút ít bệnh, đến ngày hai mươi tám tháng chạp, vì chúng nói pháp lần chót. Sau đó Sư từ biệt chúng, chúng đều bị thương. Lưu lại đến ngày mùng ba tháng giêng năm sau, Sư hỏi thị giả: 

– Hôm nay ngày mấy? 

Thị giả thưa: 

– Mùng ba. 

Sư bảo: 

– Ba mươi năm sau, chỉ nói là cái ấy. 

Sư ngồi ngay thẳng và từ chúng tịch. 

Chúng ta học qua mỗi vị rồi, lại có kinh nghiệm thêm, càng học càng thấy sâu, càng khuyến khích chúng ta nỗ lực. Mỗi vị Tổ đem hết tâm lực chỉ dạy chúng ta những kinh nghiệm tu tiến. Nếu người hời hợt thô thiển tưởng học được chút ít là đủ, là xong việc thì sau này rất uổng. Chúng ta phải thâm nhập thấu đáo để tu khỏi lầm.

Tông Lâm Tế Đời Thứ Hai

THIỀN SƯ TỒN TƯƠNG viện HƯNG HÓA (? – 924) 

Sư làm thị giả Lâm Tế. Lạc Phổ đến tham vấn, Lâm Tế hỏi: 

– Ở đâu đến? 

Lạc Phổ thưa: 

– Ở Loan Thành đến. 

Lâm Tế bảo: 

– Có việc đem hỏi được chăng? 

Lạc Phổ thưa: 

– Mới thọ giới chẳng hội. 

Lâm Tế bảo: 

– Đập tan nước Đại Đường tìm cái người chẳng hội cũng không, đến nhà tham thiền đi. 

Sư đi theo sau Lâm Tế, thưa: 

– Vị tăng vừa mới đến là thành phá y hay chẳng thành phá y? 

Lâm Tế bảo: 

– Ta nào có quản, ngươi thành phá hay chẳng thành phá? 

Sư thưa: 

– Hòa thượng chỉ giỏi đem con chim sẻ chết để dưới đất bắn, mà chẳng giỏi đem chuyển ngữ che đậy người. 

Lâm Tế hỏi: 

– Ngươi lại làm sao? 

Sư thưa: 

– Thỉnh Hòa thượng làm Tăng mới đến. 

Lâm Tế bèn nói: 

– Mới thọ giới chẳng hội. 

Sư thưa: 

– Lại là tội lỗi của lão tăng. 

Lâm Tế bảo: 

– Lời của ngươi giấu kín mũi nhọn. 

Sư suy nghĩ, Lâm Tế liền đánh. 

Chiều Lâm Tế lại hỏi: 

– Hôm nay ta hỏi Tăng mới đến là đem chim sẻ chết để dưới đất bắn, hay đến trong ổ đập? Đến ngươi thốt được lời, lại hét khởi xong, nhằm trong mây xanh đập. 

Sư thưa: 

– Giặc cỏ đại bại. 

Lâm Tế liền đánh. 

Thiền sư Hưng Hóa Tồn Tương là đệ tử tổ Lâm Tế. Ngài làm thị giả Lâm Tế, Lạc Phổ đến tham vấn. Lâm Tế hỏi: Ở đâu đến? Lạc Phổ thưa: Ở Loan Thành đến. Lâm Tế bảo: Có việc đem hỏi được chăng? Lạc Phổ thưa: Mới thọ giới chẳng hội. Câu mới thọ giới chẳng hội có gì quan trọng mà ngài Lâm Tế nói đập tan nước Đại Đường tìm cái người chẳng hội cũng không? 

Hưng Hóa nói rằng: Hòa thượng chỉ giỏi đem con chim sẻ chết để dưới đất bắn mà chẳng giỏi đem chuyển ngữ che đậy người. Ngài Hưng Hóa nói như vậy là không chấp nhận. Tại sao? Ý câu hỏi của ngài Lâm Tế là: ngươi mới đến, giờ ta muốn hỏi ngươi được không? Ngài Lạc Phổ đã thấy rằng chỗ đó không thêm được lời lẽ, nếu có thêm lời thì chẳng khác nào da thịt liền mà khoét thành thương tích, Lạc Phổ đáp: Mới thọ giới chẳng hội. Ngài Lâm Tế nhân đó khen chỗ chẳng hội, nên nói: Đập tan nước Đại Đường tìm cái người chẳng hội cũng không. Biết Hưng Hóa không bằng lòng, nên tổ Lâm Tế hỏi: trường hợp đó ngươi nói sao? Hưng Hóa thưa: Thỉnh Hòa thượng làm Tăng mới đến. Ngài Lâm Tế liền nói: Mới thọ giới chẳng hội. Hưng Hóa thưa: Lại là tội lỗi của lão tăng. Nghĩa là sao? Vì da thịt đang liền mà khoét thành thương tích, nên tội lỗi. Đó là câu nói khéo, nên tổ Lâm Tế nói: Lời của ngươi giấu kín mũi nhọn, mũi nhọn tức cơ phong nhạy bén. Ngài suy ngẫm, Lâm Tế đánh.

Đến chiều, ngài Lâm Tế hỏi: Lời của ta là đem chim sẻ chết để dưới đất bắn, hay là để trong ổ đập? Ông vừa thốt lời, vừa hét lên thì nhằm trong mây xanh mà đập. Hưng Hóa liền nói: Giặc cỏ đại bại, tức là thua một lần nữa. Đối với người xưa, dầu là bậc thầy nhưng một câu nói không bằng lòng thì đệ tử cũng có thể tỏ ý kiến.

Ở hội của Tam Thánh Huệ Nhiên, Sư làm Thủ tọa, thường nói: 

Ta nhắm phương Nam đi hành khước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp. 

Tam Thánh nghe được hỏi: 

– Ngươi đủ con mắt gì mà nói thế ấy? 

Sư liền hét. Tam Thánh nói: 

– Phải là ngươi mới được. 

Sau, Đại Giác nghe thuật lại, bèn nói: 

– Làm sao được gió thổi gã đến trong cửa Đại 

Giác này. 

Ngài nói đi hành khước có gặp người cho ăn gậy, mà không có người hội Phật pháp. Phật pháp không cho hiểu, nên tìm một người hiểu Phật pháp không có. Tam Thánh nghe được hỏi: Ngươi đủ con mắt gì mà nói thế ấy? Ngài liền hét. Tam Thánh nói: Phải là ngươi mới được. Ngài Tam Thánh Huệ Nhiên hiền lành.

Sau, Đại Giác nghe thuật lại, bèn nói: Làm sao được gió thổi gã đến trong cửa Đại Giác này. Tam Thánh Huệ Nhiên và Đại Giác đều là đệ tử Lâm Tế, là sư huynh của ngài.

Sư đến hội Đại Giác làm Viện chủ. Một hôm Đại Giác gọi: 

 Viện chủ! Ta nghe ông nói: “Nhắm phương Nam đi hành khước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp”, ông y cứ vào đạo lý gì mà nói như thế? 

Sư liền hét! Đại Giác liền đánh. Sư lại hét! Đại Giác lại đánh. Hôm sau, Sư đi ngang qua pháp đường, Đại Giác gọi: 

 Viện chủ! Ta vẫn còn nghi hai tiếng hét của ông hôm qua. 

Sư lại hét! Đại Giác lại đánh. Sư lại hét! Đại Giác lại đánh. Sư nói: 

 Tôi ở chỗ sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, nay bị Sư huynh bẻ gãy rồi, xin cho tôi pháp môn an lạc. 

Đại Giác bảo: 

– Cái gã mù, đến đây đã chịu thua, cởi áo nạp ra đánh đòn một trận. 

Ngay lời nói này, Sư hiểu được đạo lý tiên sư Lâm Tế ở chỗ tổ Hoàng Bá ăn gậy. Sau, Sư khai đường, niệm hương: 

 Một cây hương này vốn vì sư huynh Tam Thánh, Tam Thánh đối với ta rất ít ỏi; vốn vì sư huynh Đại Giác, Đại Giác đối với ta rất dư dật; chẳng bằng cúng dường tiên sư Lâm Tế. 

Hiểu được tiên sư Lâm Tế ở chỗ Hoàng Bá ăn gậy, tức là hiểu được cội gốc. Câu nói của ngài Đại Giác, gã mù đến đây đã chịu thua, cởi áo nạp ra đánh đòn một trận. Nhờ đó mà hiểu tại sao tổ Lâm Tế ba phen bị ăn đòn, nghĩa là bị đánh cho trần trụi.

Tăng hỏi: 

– Khi bốn phương tám hướng đến làm sao? 

Sư bảo: 

– Đánh khoảng giữa. 

Tăng liền lễ bái. Sư bảo: 

Hôm qua đi phó trai giữa đường gặp một trận gió lớn mưa to, phải đến trong cổ miếu ẩn mình mới qua. 

Khi sáu căn chúng ta bị lục tặc áp đảo, muốn đánh nó phải làm sao, đánh nơi đâu mới trúng? Đánh ở giữa, nghĩa là đừng cho căn chạy theo trần. Sở dĩ sáu căn thành lục tặc vì bên trong chạy theo, ngay đây chặn khoảng giữa căn và trần thì lục tặc không dấy khởi. Ngài nói như vậy mà sợ Tăng chưa hiểu, nên mượn hình ảnh đi phó trai giữa đường gặp một trận tứ phía mưa gió, muốn yên ổn phải đến trong cổ miếu ẩn mình. Cổ miếu là tâm xưa nay vắng lặng, đó là chỗ an ổn.

Sư hỏi vị tăng mới đến: 

– Ở chỗ nào đến? 

Tăng thưa: 

– Ở chỗ thiền sư Thôi đến. 

– Có đem được cái hét của thiền sư Thôi chăng?

– Chẳng đem đến được. 

– Thế ấy chẳng phải ở chỗ thiền sư Thôi đến. Tăng liền hét. Sư bèn đánh. 

Sư dạy chúng: 

– Ta chỉ nghe ngoài hành lang hét, ở chái sau cũng hét. Các ông chớ có hét mù hét loạn, dù cho hét được Hưng Hóa bay lên trời, lại phải rơi xuống tắt thở, đợi Hưng Hóa tỉnh lại sẽ bảo ông: “Chưa đúng.” Vì cớ sao? Ta chưa từng nhằm trong màn lụa đỏ rải chân châu, với những người các ông hét loạn trong hư không để làm gì? 

Đây là bệnh bắt chước. Nơi tổ Lâm Tế, ai hỏi ngài cũng hét, Hưng Hóa cũng do hét mà đạt đạo. Vì vậy đồ đệ bắt chước hét, gặp nhau hét, đi đâu cũng nghe hét. Hét đến ù tai chịu hết nổi. Ngài nói: dầu cho các ông hét được Hưng Hóa bay tuốt lên trời, rồi rơi xuống đất té xỉu, tỉnh lại cũng nói các ông chưa đúng. Như vậy hét mù hét loạn làm gì? Người thật được, hét đúng chỗ đúng lúc, còn người bắt chước gặp đâu hét đó.

Vua Đường Trang Tông đi Hà Bắc trở về đến hành cung Ngụy Phủ, cho sứ mời Sư. Sư đến, Vua hỏi: 

 Trẫm thâu Trung Nguyên nhận được hòn ngọc quý, chưa từng có người trả giá. 

Sư nói: 

– Xin Bệ hạ cho xem. 

Vua lấy hai tay giở mũ. Sư nói: 

– Ngọc quý của quân vương ai dám trả giá. 

Trang Tông rất vui, ban tử y và hiệu cho Sư, Sư đều từ chối chẳng nhận. Vua bèn tặng ngựa, Sư nhận. 

Đường Trang Tông là ông vua thấu hiểu lý đạo. Ông nói đi dẹp giặc Trung Nguyên được một viên ngọc quý mà chưa có ai trả giá. Vậy thì mời ngài trả giá. Như chúng ta giỏi lắm chỉ nói, nó là vô giá làm sao trả giá được. Ngài Hưng Hóa nói, xin bệ hạ cho xem. Nếu người không hiểu thì làm sao trình viên ngọc đó? Vua liền đưa tay giở mũ. Nhà vua là người thấy được mình có viên ngọc, có hơn chúng ta không? Mình là tu sĩ cũng không chịu nghèo. Ngài Huyền Giác nói thân bần đạo chẳng bần, ai cũng có sẵn ngọc quý.

Ngài Hưng Hóa nói rất khéo, ngọc quý của quân vương, ai dám trả giá. Nếu trả giá là mất ngọc quý rồi. Nhà vua biết ngài thấy được chỗ đó, nên khen thưởng, tặng tử y rồi ban hiệu. Một vị tăng được vua tặng tử y là vinh dự lắm, nhưng ngài từ chối. Cuối cùng tặng con ngựa thì ngài nhận. Ngài không cần hình thức nghiêm chỉnh, thích cưỡi ngựa chơi.

Sư cưỡi ngựa, chợt bị ngựa quăng té gãy chân. Sư gọi: 

– Viện chủ! Chuốt cho ta một cái chân cây. 

Viện chủ chuốt xong đem đến cho Sư. Sư cặp vào đi khấp khểnh chung quanh viện, hỏi tăng chúng: 

 Các ngươi biết lão tăng chăng? 

Chúng tăng đáp: 

– Làm sao mà không biết Hòa thượng. 

Sư bảo: 

 Pháp sư què nói được đi chẳng được. 

– Sư đến pháp đường sai Duy-na đánh chuông họp chúng. Chúng tụ họp, Sư bảo: 

– Lại biết lão tăng chăng? 

 Chúng không đáp. Sư ném chân cây, ngồi ngay thẳng thị tịch. 

Vua ban thụy Quảng Tế đại sư, tháp hiệu Thông Tịch. 

Câu nói của ngài có vẻ đùa mà cũng khiêm nhượng. Nói được đi chẳng được, ý rằng mình nói nhiều mà chân khấp khểnh, đi không xong, nhưng cũng có vẻ khiêm nhường, ta nói được mà hành chưa tới.

Ngài đùa cợt nhưng sanh tử tự do. Ngài sống được với cái thật, không phải chỉ nói ngoài miệng. Chỗ tu hành của các ngài là nói được làm được đến nơi đến chốn. Khi dạy chúng sống tự tại thì các ngài đã tự tại nên ra đi an nhiên. Nếu chúng ta bảo người đừng sân đừng tham mà mình cũng sân cũng tham, đó là nói được làm không được.

 

THIỀN SƯ HUỆ NHIÊN viện TAM THÁNH 

Sau khi được Lâm Tế truyền tâm pháp, Sư dạo khắp các tùng lâm. Đến Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn hỏi: 

– Ngươi tên gì? 

Sư thưa: 

– Huệ Tịch. 

Ngưỡng Sơn bảo: 

– Huệ Tịch là tên của ta. 

– Huệ Nhiên. 

Ngưỡng Sơn cười to. 

Đây là lối đáp cướp quyền chủ. Khi nghe hỏi tên của mình, liền nói tên người chủ hỏi. Vì thế ngài nói tên Huệ Tịch, Ngưỡng Sơn bảo Huệ Tịch là tên của ta, ngài mới nói tên Huệ Nhiên.

Nhân có vị quan đến hỏi đạo, Ngưỡng Sơn hỏi: “Quan ở vị nào?” Quan thưa: “Thôi quan.” Ngưỡng Sơn dựng đứng phất tử hỏi: “Lại thôi (dẹp) được cái này chăng?” Quan không đáp được. Ngưỡng Sơn dạy chúng đáp, nhiều người đáp mà không hợp. 

Sư bệnh nằm tại nhà Niết-bàn, Ngưỡng Sơn sai thị giả đến thỉnh Sư đáp. Sư bảo thị giả: 

– Chỉ nói với Hòa thượng ngày nay có việc. Ngưỡng Sơn lại sai thị giả đến hỏi: – Chưa biết có việc gì? 

Sư đáp: 

– Tái phạm chẳng tha. 

Ngài Ngưỡng Sơn hải quan vị nào, ông nói thôi quan, như bây giờ là hưu trí. Đây dùng chữ thôi là dẹp. Ngài đưa phất tử lên hỏi dẹp được cái này chăng? Ông không đáp được. Cả chúng cũng đáp không được. Ngài Huệ Nhiên lúc đó nằm tại nhà Niết-bàn. Xưa ở chỗ Ngưỡng Sơn là năm trăm tăng, nhà Niết-bàn là nhà dưỡng bệnh. Ngài Ngưỡng Sơn sai thị giả đến thỉnh ngài đáp. Ngài nói, ngày nay việc. Bấy nhiêu đó đủ rồi. Ngưỡng Sơn tưởng có việc gì lạ nên cho hỏi lại, ngài đáp tái phạm chẳng tha. Đối với việc đưa phất tử là ngôn ngữ gì? Nếu còn có đối đáp tức là còn kẹt trong ngôn ngữ, nên ngài trả lời rằng ngày nay có việc. Ngưỡng Sơn cho người hỏi lại thì ngài nói tái phạm chẳng tha.

Sư đến Hương Nghiêm, Hương Nghiêm hỏi:

– Ở đâu đến? 

Sư thưa: 

– Ở Lâm Tế đến. 

– Đem được thanh kiếm của Lâm Tế đến chăng? Sư lấy tọa cụ đánh ngay miệng rồi đi. 

Ngài có đem được thanh kiếm của Lâm Tế đến chăng? Ngài Lâm Tế ngộ ở chỗ đánh mà không lời, nên ngài đánh một cái. Ngay miệng là không lời, đánh là thanh kiếm của Lâm Tế. Trả lời rất khéo như trò chơi, chính là diễn tả được cái gốc của ông thầy. Chúng ta diễn tả Lâm Tế thế này thế kia… là chỉ nói ở ngoài miệng, chưa diễn tả được cái gốc.

Đến Đức Sơn, Sư vừa trải tọa cụ, Đức Sơn bảo: 

– Chớ trải cái khăn phủi bụi, trong đây không có canh cặn cơm thừa. 

Sư thưa: 

– Dù có cũng không có chỗ để. 

Đức Sơn liền đánh, Sư chụp gậy đẩy thẳng đến giường thiền. Đức Sơn cười to. Sư khóc nói: “Trời xanh!” Rồi xuống nhà tham thiền. 

Đây là lối đối đáp của các ngài. Thông thường khi gặp người trải tọa cụ thì mình đưa lên, nhưng đây ngài Đức Sơn nói trong đây không có canh cặn cơm thừa cho ông. Ngài liền nói nếu có cũng không chỗ đổ. Đối đáp thật khéo léo. Nói tới đây thì ăn gậy, ăn gậy cũng không nhịn mà đẩy tới. Ngài Đức Sơn thấy thua mà cười, còn ngài Huệ Nhiên thắng lại khóc, nói Trời xanh! Hàng tác gia gặp nhau như thế.

Sư ở hội Tuyết Phong, Tuyết Phong nói: 

– Mỗi người tự có một mặt gương xưa, con khỉ con vượn cũng có một mặt gương xưa. 

Sư ra hỏi: 

– Bao nhiêu kiếp không tên, tại sao Hòa thượng lập tên gương xưa? 

Tuyết Phong nói: 

– Bị vết tích. 

Sư quở: 

– Lão Hòa thượng này câu thoại đầu cũng chẳng biết. 

Tuyết Phong nói: 

– Lão tăng tội lỗi, bởi trụ trì nhiều việc. 

Ngài Tuyết Phong ví dụ thể tánh chân thật ấy bằng hình ảnh mặt gương xưa. Gương xưa đó ai cũng có, kể cả con khỉ con vượn. Ngài Huệ Nhiên liền bẻ Bao nhiêu kiếp không tên, tại sao Hòa thượng lập tên gương xưa? Ngài Tuyết Phong nói Bị vết tích. Khi lập tên là đã có vết tích rồi. Ngài Huệ Nhiên quở, Câu thoại đầu cũng chẳng biết. Ngài Tuyết Phong bị lỗi lập tên nên liền nói Lão tăng tội lỗi, tuy tội lỗi nhưng vì trụ trì nhiều việc. Trả lời khéo léo.

Gặp hòa thượng Bảo Thọ khai đường (mở hội tham thiền), Sư đẩy một vị tăng ra trước Bảo Thọ. Bảo Thọ liền đánh vị tăng ấy. Sư nói: 

– Trưởng lão vì người thế ấy, làm mù mắt hết nhân dân trong thành Trấn Châu. 

Ở viện Tam Thánh, Sư thượng đường: 

– Ta gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người. 

Liền xuống tòa. 

Gặp người thì ra, ra thì chẳng người. Đã ra tiếp tức là vì người. Tại sao ra lại không vì người? Hàng thiện tri thức tâm lúc nào cũng từ bi, vì mọi người nên khi gặp liền ra tiếp, nhưng không làm gì cho mọi người được. Việc đó mỗi người tự nhận lấy, nên không vì người. Câu nói nghe rắc rối nhưng thật đầy lòng từ bi.

Lời Phật dạy chúng ta cũng là chuyện bên ngoài, làm được việc đó hay không là do chính mình không phải Phật tổ làm giùm. Nên nói ra thì chẳng vì người.

 

HÒA THƯỢNG ĐẠI GIÁC 

Lời Sư tham Lâm Tế và tiếp Hưng Hóa đã nói trong hai vị ấy. Khi sắp lâm chung, Sư gọi chúng bảo: 

– Ta có một mũi tên cần trao cho người. 

Có vị tăng bước ra thưa: 

 Con xin mũi tên của Hòa thượng. 

Sự hỏi: 

– Ngươi nói thế nào là mũi tên? 

Tăng liền hét! Sư đánh mấy gậy, rồi lui về phương trượng. Sư lại gọi vị tăng ấy vào hỏi: 

– Vừa rồi ngươi hội chăng? 

Tăng đáp: 

– Chẳng hội. 

Sư lại đánh mấy gậy xong, ném gậy nói: 

– Về sau gặp người sáng mắt thuật lại rõ ràng. 

Sư liền từ giã chúng thị tịch. 

Vị tăng này có thâm nhập đạo lý của ngài Đại Giác không? Nói chẳng hội là hay quá rồi. Chẳng hội tức là chẳng hiểu, có hai trường hợp: chẳng hiểu thật và chẳng hiểu của người hiểu. Vị tăng này chẳng hiểu là chẳng hiểu thật. Vì thế ngài bảo: Về sau gặp người sáng mắt thuật lại rõ ràng. Thuật lại câu này thì người sau sẽ mở mắt cho ông, vì hiện tại ông chưa thâm nhập.

Tông Quy Ngưỡng Đời Thứ Ba

THIỀN SƯ VĂN HỶ viện LONG TUYỀN (821 – 900) 

Sư họ Chu, quê ở Ngữ Khê, Gia Hòa, xuất gia hồi bảy tuổi.

Niên hiệu Khai Thành năm thứ hai (837), Sư đến Triệu Quận thọ giới Cụ túc, học tập luật Tứ phần. Đến niên hiệu Hội Xương (841-846) phế giáo, Sư trở lại thế gian giấu kín chí xuất trần. Sang niên hiệu Đại Trung (847) sùng tu Tam bảo, Sư đến chùa Tề Phong ở Diêm Quan tiếp tục tu hành.

Thiền sư Văn Hỷ, đệ tử Ngưỡng Sơn. Ngài họ Chu, quê ở Ngữ Khê, Gia Hòa, xuất gia hồi bảy tuổi. Ngài thọ giới Cụ túc xong, học Luật viên mãn. Gặp thời phế giáo, ngài trở lại thế gian giữ ý chí xuất trần, nghĩa là tuy sống thế tục mà không nhiễm. Đợi Phật pháp hưng thịnh lại vào chùa tiếp tục tu.

Sau, Sư đến yết kiến thiền sư Tánh Không ở núi Đại Từ. Tánh Không bảo: “Ngươi sao không đi tham vấn các nơi?” 

Sư đi thẳng lên núi Ngũ Đài ở chùa Hoa Nghiêm, sang lễ bái hang Kim Cang, gặp một ông già dắt trâu đi, mời Sư vào chùa. Đến chùa, ông gọi: “Quân Đề!” Có đồng tử “Dạ!” ra đón. Ông già thả trâu, dẫn Sư vào trong. Sư nhìn thấy nhà cửa đều hiện sắc vàng. Ông già ngồi trên giường, chỉ cái đôn bảo Sư ngồi. Ông già hỏi: 

– Vừa ở đâu đến? 

Sư thưa: 

– Ở phương nam đến. 

– Phật pháp phương nam được giữ gìn thế nào? 

– Đời mạt pháp Tỳ-kheo ít giữ giới luật. 

– Chúng nhiều ít? 

– Hoặc ba trăm hoặc năm trăm. 

Sư hỏi lại: 

– Ở đây Phật pháp giữ gìn thế nào? 

– Rắn rồng lẫn lộn, phàm thánh chung ở. 

– Chúng nhiều ít? 

– Trước ba ba, sau ba ba (Tiền tam tam hậu tam tam). 

Đồng tử dâng trà và tô lạc, Sư dùng vào cảm thấy tâm ý sảng khoái. 

Ông già đưa chung pha lê lên hỏi Sư: 

– Phương Nam lại có cái này chăng? 

Sư thưa: 

– Không. 

– Hàng ngày lấy cái gì uống trà? 

Sư không đáp được. 

Thấy bóng mặt trời xế chiều, Sư hỏi: 

– Tôi xin nghỉ lại một đêm ở đây được chăng? 

Ông già bảo: 

– Ông còn tâm chấp chẳng được nghỉ. 

– Tôi đâu có tâm chấp. 

– Ngươi đã thọ giới chưa? 

 Thọ giới đã lâu. 

– Ngươi nếu không tâm chấp đâu cần thọ giới. 

Sư từ tạ trở xuống. Ông già sai Đồng tử tiễn chân. Sự hỏi Đồng tử: 

– Trước ba ba sau ba ba, là nhiều ít? 

Đồng tử gọi: – Đại đức! 

Sư ứng thanh: – Dạ! 

Đồng tử bảo: 

– Ấy nhiều ít? 

Sư lại hỏi: 

– Đây là chỗ gì? 

Đồng tử đáp: 

– Đây là chùa Bát-nhã trong hang Kim Cang. Sư buồn bã, biết ông già đó là Văn-thù mà không thể nào gặp lại được. 

Sư đảnh lễ Đồng tử xin một câu khi từ biệt. Đồng tử nói kệ: 

Diện thượng vô sân cúng dường cụ

Khẩu lý vô sân thổ diệu hương 

Tâm lý vô sân thị trân bảo 

Vô cấu vô nhiễm thị chân thường. 

Dịch: 

Trên mặt không sân, đồ cúng dường

Trong miệng không sản xuất diệu hương

Trong tâm không sân là trận bảo 

Không nhơ không nhiễm là chân thường. 

Nói xong, Quân Đề và chùa đều ẩn, chỉ thấy trong mây năm sắc Văn-thù cưỡi kim mao sư tử qua lại, chợt có cụm mây trắng từ phương đông bay qua che lấp. 

Khi lên núi Ngũ Đài, ngài gặp một ông già, dát trâu mời vào chùa. Qua đoạn đối đáp, ngài Văn Hỷ lúc này còn tầm thường nên trả lời rất thật thà không có gì lạ. Nhưng gặp ông già này thì rắc rối.

Ngài hỏi: Ở đây Phật pháp giữ gìn thế nào? Ông già nói: Rắn rồng lẫn lộn, phàm thánh chung ở. Đó là lẽ thật, vì ngài là thánh còn Văn Hỷ là phàm, thánh tăng và phàm tăng ở chung lẫn. Ngài Văn Hỷ hỏi: Chúng nhiều ít? Nếu nói nhiều ít đó là bệnh, nên trả lời: Trước ba ba, sau ba ba. 

Như chúng ta đã học thiền sư Đạo Ưng nói “Sáu lần sáu là ba mươi sáu”. Đến chỗ này không nói nhiều nói ít, không lưu dấu vết, chỉ nói bằng cách đó. Sau này nhiều người thắc mắc câu Trước ba ba sau ba ba, không biết nói gì, nhưng sự thật có gì lạ.

Đồng tử dâng trà và tô lạc, Sư dùng vào cảm thấy tâm ý sảng khoái. Ông già đưa chung pha lê lên hỏi Sư: Phương Nam lại có cái này chăng? Sư thưa: Không. Hỏi: Hàng ngày lấy cái gì uống trà? Sư không đáp được. Ông già đưa chung pha lê lên hỏi là hỏi chung trà hay hỏi cái gì? Ngài Văn Hỷ thật thà trả lời, chung đó thì phương Nam không có. Ý ông già không phải vậy. Khi hỏi lấy cái gì uống trà, nếu nói dùng ly tách… thì quá đơn giản, không cần hỏi. Vấn đề không đơn giản, nên ngài không trả lời được.

Bình thường chúng ta lấy cái gì uống trà? Nếu không có cái đó thì làm sao uống, làm sao mặc áo ăn cơm, thưa hỏi ?

Thấy bóng mặt trời xế chiều, hỏi: Tôi xin nghỉ lại một đêm ở đây được chăng? Ông già bảo: Ông còn tâm chấp chẳng được nghỉ. Tôi đâu có tâm chấp. 

Ngươi đã thọ giới chưa? Thọ giới đã lâu. – Ngươi nếu không tâm chấp đâu cần thọ giới. Chúng ta có chấp tâm không? Tại sao phải thọ giới? Vì cho tâm vọng tưởng là thật, chạy theo nó gây tạo bao nhiêu tội lỗi, bao nhiêu phiền não. Muốn dừng tội lỗi, dừng phiền não phải nhờ giới luật kìm giữ. Vì có tâm nên nhờ giới luật chặn lại. Nếu cả ngày không khởi niệm, lúc đó cần thọ giới, giữ giới không? Giả sử đang ngồi chơi mà thấy một cô thiếu nữ đẹp, vừa khởi niệm liền sợ phạm giới nên dừng. Đó là nhờ giới mà chặn vọng tâm. Nếu thấy người thấy cảnh đều tự nhiên thì không cần thọ giới giữ giới.

Lục Tổ nói “Phật nói tất cả pháp, vì độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp”. Chỉ vì tâm lăng xăng lộn xộn của chúng ta quá nhiều, nên cần pháp Phật, nếu hết tất cả tâm đó thì đâu cần pháp.

Sư từ tạ trở xuống. Ông già sai Đồng tử tiễn chân. hỏi Đồng tử: Trước ba ba sau ba ba, là nhiều ít? Đồng tử gọi: Đại đức! Sư ứng thanh: Dạ! Đồng tử bảo: Ấy nhiều ít? Sư lại hỏi: Đây là chỗ gì? Đồng tử đáp: Đây là chùa Bát-nhã trong hang Kim Cang. Sư buồn bã, biết ông già đó là Văn-thù mà không thể nào gặp lại được. Đi Ngũ Đài sơn với tâm nguyện được gặp Bồ-tát Văn-thù, đến khi đối diện mà không biết.

Bài kệ của Đồng tử:

Trên mặt không sân, đồ cúng dường 

Trong miệng không sân xuất diệu hương 

Trong tâm không sân là trân bảo 

Không như không nhiễm là chân thường.

Trên mặt không sân, đồ cúng dường. Người ta sân trong tâm, nhưng khi sân có hiện ra mặt không? Mặt nóng, đỏ bừng quạu đeo, đó là hiện tướng sân, nếu trên mặt không sân là đồ cúng dường.

Trong miệng không sân xuất diệu hương. Khi sân thì miệng nói những lời xấu xa thô ác, chửi mắng… Đó là từ miệng xuất mùi hôi khó ngửi. Nếu không sân thì lời nói hiền hòa tốt đẹp, đó là xuất diệu hương.

Trong tâm không sân là trân bảo. Nếu trong tâm không sân đó là một kho báu. Không như không nhiễm là chân thường. Khi đến chỗ không còn nhơ không còn nhiễm, đó là chân thường.

Bài kệ đơn giản nhưng ý tứ thâm sâu. Ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với ngài Văn Hỷ là hình ảnh Bồ-tát Văn-thù cưỡi kim mao sư tử qua lại trong áng mây năm sắc. Câu chuyện được gặp Bồ-tát ghi mãi trong tâm ngài.

Niên hiệu Hàm Thông năm thứ ba (862), Sư đến Hồng Châu lại viện Quan Âm yết kiến Ngưỡng Sơn. Qua câu nói, Sư liền khế ngộ bản tâm. Ngưỡng Sơn cử Sư sung chức Điển tọa. 

Sư nấu cháo, thường thấy Văn-thù hiện trên nồi cháo. Sư lấy cây giầm quậy cháo đập, nói: 

– Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ. 

Văn-thù nói kệ: 

Khổ hồ liên căn khổ

Điềm qua triệt để điềm

Tu hành tam đại kiếp

Khước bị Lão tăng hiềm. 

Dịch: 

Dưa đắng gốc vẫn đắng

Dưa ngọt rễ cũng ngon 

Tu hành ba đại kiếp 

Lại bị Lão tăng đòn. 

Ngài nấu cháo, thường thấy Văn-thù hiện trên nồi cháo. Ngài lấy cây giầm quậy cháo đập, nói: Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ.

Văn-thù nói kệ: 

Dưa đẳng gốc vẫn đẳng 

Dưa ngọt rễ cũng ngon 

Tu hành ba đại kiếp 

Lại bị Lão tăng đòn. 

Đây là vấn đề quan trọng đối với người tu thiền. Khi chưa biết được lý thiền, thì đi lên núi Ngũ Đài, vào hang Kim Cang lễ Văn-thù với lòng kính ngưỡng. Nhưng khi đã ngộ rồi, Văn-thù hiện trước mặt mà vẫn đánh. Có chỗ khác ghi: Khi ngài Văn-thù hiện trong hơi khói của nồi cháo, Văn Hỷ rút giầm quậy cháo đập. Ngài Văn-thù nói: Ta là Văn-thù! Ta là Văn-thù! Văn Hỷ nói: Văn-thù tự Văn-thù! Văn Hỷ tự Văn Hỷ. Tức là Văn-thù thì mặc Văn-thù, Văn Hỷ thì mặc Văn Hỷ, ngang đây không liên hệ.

Đa số người tu mong ngồi thiền để thấy những điều kỳ lạ đặc biệt, cho đó là kết quả của việc tu. Nhiều người hiểu Phật pháp khá, thấy ai tu thiền vẫn theo hỏi tu lâu thấy gì chưa? Thật là bệnh lớn.

Chúng ta tu thiền để được định sanh tuệ. Khi tâm an định, trí tuệ phát sáng, trí tuệ đó là của chính mình. Tu thiền để trở về với ông chủ chân thật, cũng là bản lai diện mục. Ông chủ của mình là chính mình, còn mong thấy gì nữa! Mình mong thấy mình, có vô lý không? Như tôi là chủ ngồi trong thất, chợt có khách tới, hoặc rủ đi đây đi kia. Nếu tôi tùy thuận đi theo khách, lúc đó tôi quên mình là chủ. Nhưng nếu dù có khách hay không, tôi vẫn luôn làm chủ không bị lệ thuộc, không trông chờ người ngoài; còn thấy có người khác ngoài mình thì đã mất phần làm chủ rồi.

Nếu tu mà cứ mơ ước thấy Phật Bồ-tát bên ngoài, càng thấy càng mang họa. Vì mình là kẻ phàm chưa giản trạch tà chánh, trong kinh thường nói: đời mạt pháp Phật cao một thước, ma cao mười thước. Ma ở gần thấy được tâm niệm của mình, lúc ngồi thiền mơ ước thấy Phật phóng hào quang, thấy Phật ngồi tòa sen, ma biết rồi hiện hình Phật đến xoa đầu. Chúng ta mừng quá đảnh lễ cầu chỉ dạy, lúc đầu nó cũng lấy lời lành lẽ phải nói mình tin. Dần dần thấm nhuần bị lệ thuộc hoàn toàn, nó mới dạy những điều tà vạy, lúc đó cũng tin làm theo.

Bao nhiêu người tu về sau phá trai phạm giới, làm những điều sai quấy cũng đều do đó mà ra. Cuối cùng bị dẫn đi xa, phát bệnh điên cuồng không cứu được.

Chư Tổ nhà thiền nói “Gặp ma giết ma, gặp Phật giết Phật”. Giết ma là phải, giết Phật có phạm tội ngũ nghịch không? Dù ma hay Phật, trong khi tu đều không chấp nhận, ma hiện cũng không sợ, Phật hiện cũng không mừng, cần yếu làm chủ được. Chủ là chính yếu, bên ngoài dù có Phật cũng không giúp được, dù có ma cũng không hại được. Người tu thiền nhận xét chắc chắn, dù tu ngàn năm cũng không bị điên khùng.

Sợ ma mê Phật đều là bệnh, chúng ta hiểu câu chuyện của ngài Văn Hỷ. Lúc đầu đi tìm kiếm trên non trên núi để đảnh lễ Văn-thù, rồi sau Văn-thù hiện trước mặt mà không đảnh lễ, còn lấy giầm đập. Khi chưa biết thì mơ ước Phật Bồ-tát bên ngoài, lúc biết rồi nhận ra Phật là tâm mình, chính mình khai thác được cái gốc đó mới là tu.

Tuệ Trung thượng sĩ vào trong cung, Hoàng hậu đãi tiệc, ngài ngồi dự, có chay có mặn. Ngài gắp cả chay lẫn mặn, Hoàng hậu nói: “Huynh tu mà ăn mặn thì làm sao thành Phật?” Ngài trả lời: “Anh không cầu thành Phật, Phật không cầu làm anh. Hoàng hậu đâu chẳng nghe cổ đức nói: Văn-thù tự Văn-thù, Giải Thoát tự Giải Thoát đó sao?” Giải Thoát là chỉ cho ngài Văn Hỷ trong câu “Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ”.

Hiểu ý nghĩa người xưa tu hành để chúng ta lấy đó làm gương, không lầm lẫn. Đôi khi nỗ lực tu tập thấy được điều lạ, mừng quá khoe khoang, đó đều là bệnh. Ngài Vân Cư được chư thiên cúng dường mà còn bị quở, huống nữa là được điều gì?

Một hôm có một vị tăng lạ đến xin một bữa cơm, Sư bớt phần ăn của mình cúng dường. Ngưỡng Sơn dự biết hỏi: 

– Vừa rồi có người đã vào quả vị đến, ngươi có cấp phần ăn chăng? 

Sư thưa: 

– Bớt phần của con cúng dường. 

Ngưỡng Sơn bảo: 

– Ngươi được lợi ích lớn. 

Niên hiệu Quang Khải năm thứ ba (887), Tiền Vương thỉnh Sư trụ Long Tuyền giải thự (nay là viện Từ Quang). 

Có vị tăng hỏi: 

– Thế nào là tướng Niết-bàn? 

Sư đáp: 

– Chỗ khói hương hết, nghiệm. 

– Thế nào là đại ý Phật pháp? 

Sư bảo: 

– Gọi Viện chủ đến, ông thầy này bị bệnh điên. 

– Thế nào là tự mình? 

Sư lặng thinh. 

Vị tăng ấy mờ mịt, lại hỏi câu trên. Sư bảo: 

 Trời trong bụi mù, chẳng nhằm bên mặt trăng bay. 

Câu thứ nhất, vị tăng hỏi: Thế nào là tướng Niết-bàn? Ngài trả lời: Chỗ khói hương hết, nghiệm. Niết-bàn là chỗ dứt bặt những tướng mờ ảo. Tất cả vọng tưởng mây mờ phiền não cũng như khói hương không có thật. Vọng tưởng có thiện, ác, không thiện không ác; vọng tưởng ác là cấu uế, vọng tưởng thiện là tốt. Khi thiện ác đều không còn, đó là tướng Niết-bàn hiện.

Câu thứ hai: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài Hương Nghiêm nói, chỗ này mà mở miệng thì táng thân mất mạng. Đem câu hỏi mà người mở miệng đáp thì táng thân mất mạng, không điên là gì? Ngài bảo: Gọi Viện chủ đến, ông thầy này bị bệnh điên.

Tăng hỏi thêm câu: Thế nào là tự mình? Ngài im lặng. Tự mình là chỗ im lặng, nếu còn có thốt ra là vì người không phải tự mình. Tăng không biết, hỏi lại câu trên, ngài bảo: Trời trong bụi mù, chẳng nhằm bên mặt trăng bay. Câu trả lời không cho suy nghĩ.

Niên hiệu Quang Hóa năm thứ ba (900), Sư có chút bệnh. Đến ngày hai mươi bảy tháng mười vào lúc giờ Tý giữa đêm, Sư bảo chúng: 

 Tâm tam giới hết tức là Niết-bàn. 

Nói xong, Sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 80 tuổi, 60 tuổi hạ. 

Ngài là đệ tử của tông Quy Ngưỡng, lời nói dễ hiểu, nên câu cuối của ngài, Tâm tam giới hết tức là Niết-bàn. Tâm tam giới không phải chỉ có tham sân si, mà gồm tất cả mạn, nghi… phiền não kiết sử. Còn có tâm dính mắc trong tam giới, còn khởi một niệm vi tế nhỏ nhiệm thì chưa giải thoát, vì thế nói: Tâm tam giới hết tức là Niết-bàn.

Chúng ta nên hiểu đúng câu Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Tam giới là do tâm tạo, vì còn có tâm nhiễm, trói cột trong tam giới, nên có mặt trong tam giới, không phải tâm mình sanh ra tam giới. Nghe nói vạn pháp duy thức, tưởng đâu thức mình biến ra mọi vật, như đồng hồ, bình hoa… Nhiều người lý luận, người thợ vẽ kiểu đồng hồ là thức biến ra. Tưởng chừng như có lý, nhưng nghĩa thật của chữ thức biến là phân biệt. Do ý thức phân biệt đây là bình hoa, đây là đồng hồ, đây là chai dầu… đặt tên mỗi thứ. Thức đặt ra trăm ngàn tên, vì vậy nói vạn pháp duy thức.

Tam giới có ra là do tâm còn chấp dính, luyến mến, nếu tâm không dính luyến thì tam giới không còn. Như người tu, tâm không dính với Dục giới thì nhập Niết-bàn. Nhưng chúng sanh cõi Dục này có hoại không? Vẫn còn nguyên. Tâm chúng ta không tham luyến thì tam giới không còn, tâm người khác còn tham luyến thì còn ở trong ba cõi.

 

THIỀN SƯ QUANG DŨNG Ở NAM THÁP NGƯỠNG SƠN 

Sư họ Chương quê ở Phong Thành, Dự Chương. Khi mẹ sanh Sư, có thần quang soi sáng khắp sân, ngựa trong chuồng đều kinh hoảng, nhân đó đặt tên Sư là Quang Dũng. Thuở nhỏ Sư rất thông minh, theo Ngưỡng Sơn xuất gia. 

Sư sang miền Bắc yết kiến Lâm Tế, lại trở về hầu Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi: 

– Ngươi đến làm gì? 

Sư thưa: 

– Đảnh lễ ra mắt Hòa thượng. 

– Thấy Hòa thượng chăng? 

– Dạ thấy. 

– Hòa thượng sao giống in lừa? 

– Con thấy Hòa thượng cũng chẳng giống Phật. 

– Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì? 

– Nếu có chỗ giống thì cùng lừa khác gì? 

Ngưỡng Sơn ngạc nhiên nói: 

– Phàm thánh cả hai đều quên, tình hết thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét người, hai mươi năm mà không xác chứng người đã xong. Con nên gìn giữ đó. 

Ngưỡng Sơn thường chỉ Sư bảo với mọi người: 

– Kẻ này là nhục thân Phật. 

Thiền sư Quang Dũng nối pháp ngài Ngưỡng Sơn. Từ nhỏ ngài theo Ngưỡng Sơn xuất gia, được ý chỉ, đi Hà Bắc yết kiến Lâm Tế, lại trở về hầu Ngưỡng Sơn. Đoạn đối đáp nghe hơi lạ. Mấy câu đầu chúng ta đáp rất dễ. Hỏi: Ngươi đến làm gì? Thưa: Đến đảnh lễ ra mắt Hòa thượng. Ngài Ngưỡng Sơn hỏi: Thấy Hòa thượng chăng? Đáp: Thấy, cũng dễ hiểu. Câu sau của ngài Ngưỡng Sơn thật bí hiểm: Hòa thượng sao giống in lừa? Ngang đó chắc chúng ta ngậm miệng, không thể mở lời.

Ngài Quang Dũng liền đáp: Con thấy Hòa thượng cũng chẳng giống Phật. Hòa thượng nói giống lừa mà con thấy ngài cũng chẳng giống Phật. Bên kia nói phàm thì bên đây đáp thánh. Ngài Ngưỡng Sơn nói: Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì? Quang Dũng đáp: Nếu có chỗ giống thì cùng lừa khác gì? Nếu giống lừa hoặc giống Phật là còn hai bên, đối đãi là phàm phu. Câu đối đáp khéo, ngài Ngưỡng Sơn ngạc nhiên nói: Phàm thánh cả hai đều quên, tình hết thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét người, hai mươi năm mà không xác chứng người đã xong. Con nên gìn giữ đó.

Như thế là đã thọ ký. Ngưỡng Sơn thường chỉ ngài bảo với mọi người: Kẻ này là nhục thân Phật. Tông Quy Ngưỡng có lối nói thật với học trò, không bí hiểm như tông Lâm Tế. Như lúc Ngưỡng Sơn mộng thấy lên cung trời Đâu-suất, Quy Sơn nói: “Con đã vào vị thánh.”

Sau, Sư kế vị ở Ngưỡng Sơn tháp phía nam. Có vị tăng hỏi: 

 Văn-thù là thầy bảy đức Phật, Văn-thù có thầy chăng? 

Sư đáp: 

– Gặp duyên liền có. 

– Thế nào là thầy Văn-thù? 

Sư dựng đứng cây phất tử chỉ đó. Tăng thưa: 

– Cái ấy là phải sao? 

Sư ném cây phất tử khoanh tay. 

Văn-thù là thầy bảy đức Phật. Văn-thù tượng trưng căn bản trí, tất cả chư Phật đều từ căn bản trí mà phát diệu dụng viên mãn. Thành Phật là từ gốc căn bản trí, nên chẳng những Văn-thù làm thầy bảy đức Phật mà cũng là thầy tất cả chư Phật. Theo Kinh thì như vậy, nhà thiền thì thấy khác hơn. Ngài Lâm Tế nói: chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn-thù sống. Nên đây hỏi, Văn-thù có thầy chăng? Ngài nói, Gặp duyên liền có. Hỏi, Thế nào là thầy Văn-thù? Ngài đưa phất tử lên.

Văn-thù đây là tánh thấy ở mắt, không phải Văn-thù là căn bản trí như trước nói. Tại sao cây phất tử là thầy của Văn-thù? Bởi chúng ta có sẵn tánh thấy, nhưng nếu không gặp duyên thì tưởng như mình không có. Tánh thấy luôn sẵn có không đợi duyên, chỉ vì chúng ta hay quên. Khi gặp duyên liền nhớ mình có tánh thấy, cái làm cho mình nhớ không phải thầy là gì? Ngài đưa phất tử để chỉ chỗ đó.

Như trên hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa, ngài Ca-diếp mỉm cười. Đó là thầy của Văn-thù. Đã đưa lên rồi, nếu nói phất tử là thầy thật của Văn-thù thì không đúng. Ngài ném phất tử ngồi khoanh tay, không nói thêm gì nữa.

Tăng hỏi: 

 Thế nào là diệu dụng một câu? 

Sư đáp: 

– Nước đến thành hồ. 

– Phật thật ở tại chỗ nào? 

– Ngay lời nói không tướng, cũng chẳng tại nơi khác. 

Không rõ Sư tịch lúc nào và ở đâu. 

Câu nói có diệu dụng, dụng của nó không cho người suy nghĩ. Khi hỏi diệu dụng của câu nói, ngài trả lời, nước đến thành hồ. Thông thường nước đọng ở đâu thì nơi đó thành ao hồ. Một câu nói đúng lẽ thật thì đó là diệu dụng của một câu, như nước chảy đến thành hồ ao là lẽ thật.

Hỏi: Phật thật tại chỗ nào? Ngài đáp: Ngay lời nói không tướng, cũng chẳng tại nơi khác. Phật thật không có hình tướng mà ở ngay lời nói, không ở nơi khác. Vì vậy khi Huệ Hải đến Mã Tổ hỏi: thế nào là kho báu nhà mình của Huệ Hải? Mã Tổ đáp: cái ông hỏi ta đó là kho báu. Đây là chỉ Phật thật, chẳng tại nơi khác.

Không rõ ngài tịch lúc nào và ở đâu.

Nối Pháp Đức Sơn

THIỀN SƯ TOÀN KHOÁT Ở NHAM ĐẦU (828-887) 

Sư họ Kha, quê ở Tuyền Châu. Thuở thiếu thời, Sư theo Nghị Công ở Thanh Nguyên xuất gia. Sau Sư đến Trường An ở chùa Bảo Thọ thọ giới Cụ túc và học tập các bộ kinh luật. 

Sư dạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Từ núi Đại Từ sang Lâm Tế, Lâm Tế đã quy tịch, bèn đến yết kiến Ngưỡng Sơn. 

Vừa vào cửa, Sư đưa cao tọa cụ, thưa: 

– Hòa thượng! 

Ngưỡng Sơn cầm phất tử toan giở lên. Sư thưa: 

– Chẳng ngại tay khéo.

Thiền sư Toàn Khoát, đệ tử ngài Đức Sơn, ông thầy “dữ”, đệ tử cũng “dữ”, qua được cửa này rất khó. Ngài họ Kha, quê ở Tuyền Châu. Thuở thiếu thời, ngài theo Nghị Công ở Thanh Nguyên xuất gia. Sau ngài đến Trường An ở chùa Bảo Thọ thọ giới Cụ túc và học tập các bộ kinh luật.

Ngài dạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Từ núi Đại Từ sang Lâm Tế, Lâm Tế đã quy tịch, ngài đến yết kiến Ngưỡng Sơn.

Vừa vào cửa, ngài đưa cao tọa cụ, thưa: Hòa thượng. Ngưỡng Sơn cầm phất tử toan giở lên. Sư thưa: Chẳng ngại tay khéo. Khách đến đưa tọa cụ thì chủ nắm phất tử sửa soạn giở lên, giống như Đức Sơn lúc đến Quy Sơn.

Đến tham yết Đức Sơn, Sư cầm tọa cụ lên pháp đường nhìn xem. Đức Sơn hỏi: 

– Làm gì? 

Sư quát tháo. Đức Sơn hỏi: 

– Lão tăng có lỗi gì? 

Sư thưa: 

– Lưỡng trùng công án. 

Sư trở xuống nhà tham thiền. Đức Sơn nói:

– Ông thầy này in tuồng người hành khước. 

Hôm sau lên thưa hỏi, Đức Sơn hỏi: 

– Xà-lê phải vị tăng mới đến hôm qua chăng? 

Sư thưa: 

Phải. 

Đức Sơn bảo: 

– Ở đâu học được cái rỗng ấy? 

Sư thưa: 

– Toàn Khoát trọn chẳng tự dối. 

Đức Sơn bảo: 

– Về sau chẳng được cô phụ lão tăng. 

Hôm khác đến tham, Sư vào cửa phương trượng đứng nghiêng mình hỏi: 

– Là phàm là thánh? 

Đức Sơn hét! Sư lễ bái. Có người đem việc ấy thuật lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn nói: 

 Nếu chẳng phải Thượng tọa Khoát rất khó thừa đương. 

Sư nghe được lời này bèn nói: 

– Ông già Động Sơn chẳng biết tốt xấu lầm buông lời, ta đương thời một tay đưa lên một tay bắt.

Ngài Đức Sơn thấy con người có hành động như vậy là thố lộ được cái biết của mình, ngài muốn dò xét xem biết thật hay không, nên nói: Ở đâu học được cái rỗng ấy? Cái biết của ông là đồ rỗng.

Toàn Khoát tự xác nhận: Toàn Khoát trọn chẳng tự dối. Ngài nói con rỗng, nhưng con thật không dối. Đức Sơn bảo: Về sau chẳng được phụ lão tăng. Nếu ông được cái đó thật thì sau đừng cô phụ ta.

Hôm khác đến tham, ngài vào cửa phương trượng đứng nghiêng mình hỏi: Là phàm là thánh? Đức Sơn hét! Ngài lễ bái. Đứng nghiêng ngoài cửa không thèm bước vào, theo thường tình chắc là đuổi đi. Nhưng đây có tính chất dọ dẫm xem người thầy đối xử ra sao, chỗ thấy của thầy đáng cho mình tôn kính hay không? Đức Sơn biết liền hét, ngài lễ bái tức là chấp nhận.

Tuyết Phong ở Đức Sơn làm Phạn đầu (trưởng ban trai phạn). Một hôm cơm trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường. Tuyết Phong phơi khăn lau, trông thấy Đức Sơn bèn nói: 

 Ông già này, chuông chưa kêu trống chưa đánh mà ôm bát đi đâu? 

Đức Sơn trở về phương trượng. Tuyết Phong thuật việc này cho Sư nghe. Sư bảo: 

– Cả thảy Đức Sơn chẳng hội câu rốt sau. 

Đức Sơn nghe, sai thị giả gọi Sư đến phương trượng, hỏi: 

– Ông chẳng chấp nhận lão tăng sao? Sư thưa nhỏ ý ấy. 

Câu rốt sau của ngài là câu gì? Đoạn sau sẽ nói.

Đến hôm sau, Đức Sơn thượng đường có vẻ khác thường. Sư đến trước nhà tăng vỗ tay cười to, nói: 

 Rất mừng! Ông già Đường đầu hội được câu rốt sau, người trong thiên hạ không bì được ông, tuy nhiên cũng chỉ sống được ba năm (quả nhiên ba năm sau Đức Sơn tịch). 

Một hôm, Sư cùng Tuyết Phong, Khâm Sơn ba người họp nhau, bỗng dưng Tuyết Phong chỉ một chén nước. Khâm Sơn nói: 

– Nước trong, trăng hiện. 

Tuyết Phong nói: 

– Nước trong, trăng chẳng hiện. 

Sư đá chén nước rồi đi. 

Từ đó về sau, Khâm Sơn đến Động Sơn. Sư và Tuyết Phong nối pháp Đức Sơn. 

Ngài Khâm Sơn có vẻ hiền lành, nói Nước trong, trăng hiện. Câu đó đầy đạo lý. Ngài Tuyết Phong nói: Nước trong, trăng chẳng hiện. Người nói trăng hiện, người nói trăng chẳng hiện là hai bên có và không, ngài đá chén nước rồi đi.

Hành động bạo thì hợp với Đức Sơn, hành động hiền từ, lời nói hiền từ hợp với Động Sơn.

Sư cùng Tuyết Phong đến từ giã Đức Sơn. Đức Sơn hỏi: 

– Đi về đâu? 

Sư thưa: 

– Tạm từ giã Hòa thượng hạ sơn. 

Đức Sơn hỏi: 

– Con về sau làm gì? 

Sư thưa: 

– Chẳng quên. 

Đức Sơn hỏi: 

– Con nương vào đâu nói lời này? 

Sư thưa: 

– Đâu chẳng nghe “trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bằng thầy kém thầy nửa đức”. 

Đức Sơn bảo: 

– Đúng thế! Đúng thế! Phải khéo hộ trì. 

Hai vị lễ bái rồi lui. 

Tuyết Phong về Mân Xuyên ở gộp Tuyết Phong trên núi Tượng Cốt. Sư cất am ở núi Ngọa Long, Động Đình. Đồ chúng tấp nập kéo đến. 

Khi đến từ giã đi, ngài Đức Sơn hỏi: Đi đâu? Chỉ nói: Tạm từ giã Hòa thượng hạ sơn, không nói đi đâu. Hỏi: Con về sau làm gì? Ngài nói: Chẳng quên. Người xưa khéo nói bóng gió mà hiểu nhau, không phải như chúng ta nói trắng ra.

Đức Sơn thấy Nham Đầu khi đến đã chứng tỏ thấy đạo, ở chỗ Đức Sơn thời gian ngắn, ngài không biết gã này sẽ kế thừa ai, vì thế hỏi con về sau làm gì? Nham Đầu nói chẳng quên, tức chẳng quên ơn của Thầy.

Ngài Đức Sơn hỏi: Con nương vào đâu nói lời này? Con căn cứ vào đâu mà nói như thế? Ngài Nham Đầu nói: Đâu chẳng nghe trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bằng thầy kém thầy nửa đức? Đây là câu nói của tổ Bá Trượng. Nhân khi ngài Hoàng Bá nghe tổ Bá Trượng thuật lại cơ duyên ngộ ở Mã Tổ. Tổ nói khi xưa bị Mã Tổ hét một tiếng, ba ngày lỗ tai còn điếc. Nghe đến đó ngài Hoàng Bá bất giác le lưỡi, tức là tỏ thái độ nhận được rồi. Tổ Bá Trượng hỏi, ông kế thừa Mã Tổ chăng? Ngài Hoàng Bá nói, nếu con kế thừa Mã Tổ về sau mất hết con cháu. Nghĩa là tuy con nghe đại cơ đại dụng của Mã Tổ nhưng do Hòa thượng kể, nên kế thừa Hòa thượng. Tổ Bá Trượng nói, thấy bằng thầy thua thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Đó là khen Hoàng Bá trí vượt hơn thầy, mới kham lãnh thọ sự nghiệp sau này.

Ngài Nham Đầu thuật lại câu này để chứng tỏ con kế thừa ngài giống như tổ Hoàng Bá kế thừa tổ Bá Trượng. Ngài Đức Sơn bảo: Đúng thế! Đúng thế! Phải khéo hộ trì. Hai vị đảnh lễ rồi lui, tỏ ý chấp nhận.

Đây là chỗ đặc biệt của nhà thiền. Ở thế gian ai có tài nghề dạy đệ tử, dạy gì cũng còn giữ một chút bí quyết. Như dạy võ thì giữ một hai bí yếu bí thuật, phòng khi học trò phản trắc thầy còn trị nổi. Dạy nghề cũng vậy, những cái bí yếu thì giấu không dạy. Nhưng trong nhà thiền mong được học trò hơn thầy, mới giữ được sự nghiệp của thầy. Học trò bằng thầy thua thầy nửa đức, tức là kém thầy. Tại sao? Như trong mấy chú có người trí tuệ bằng tôi, nhưng công hạnh tu chưa bằng, ít ra thua mười năm hai mươi năm. Đó là nói thua thầy nửa đức.

Phải được trí hơn thầy mới bù lại công hạnh đó, mới giữ được sự nghiệp của thầy. Vì thế người tu mong đệ tử hơn mình, sự nghiệp phát triển vẻ vang. Tổ Bá Trượng nhờ có ngài Hoàng Bá duy trì sự nghiệp mãi về sau, cho đến tông Lâm Tế bây giờ vẫn còn.

Như ngài Sùng Tín bình thường thôi, nhưng đến Đức Sơn đặc biệt làm chấn hưng sự nghiệp mãi mãi còn. Đệ tử hơn thầy là điều rất quan trọng. Bậc thầy không ích kỷ muốn học trò thua mình, được học trò trí tuệ hơn là phước của mình.

Tăng hỏi: 

 Không thầy lại có chỗ xuất thân chăng? 

Sư đáp: 

– Trước tiếng lông xưa nát. 

– Kẻ đường đường đến thì sao? 

– Đâm lủng con mắt. 

– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang? 

– Dời ngọn núi Lô đi, ta sẽ vì ông nói. 

Lối đối đáp của ngài rất kỳ đặc. Hỏi: Không thầy lại có chỗ xuất thân chăng? Nói cách khác là không thầy có thể tự mình ngộ đạo được chăng? Ngài nói: Trước tiếng lông xưa nát, trước khi có tiếng nói (lời chỉ dạy) thì lông xưa (tông phong) không có. Lông xưa chỉ có sau tiếng nói, nghĩa là sự tu hành được kế thừa từ người trước hướng dẫn người sau, như thế mới hợp lý.

Hỏi: Kẻ đường đường đến thì sao? Ngài đáp: Đâm lủng con mắt. Người đường đường là người đã hoàn toàn xong việc, không cần tìm cầu gì; nếu còn tìm cầu là con mắt chưa sáng. Hỏi ý Tổ sư thì ngài bảo: Dời ngọn núi Lô đi, ta sẽ vì ông nói.

Sư cùng La Sơn đi xem nền tháp. Đi giữa đường La Sơn gọi: 

– Hòa thượng 

Sư xoay đầu hỏi: 

– Làm gì? 

La Sơn đưa tay chỉ nói: 

– Trong ấy có miếng đất tốt. 

Sư quở: 

– Kẻ bán dưa ở Qua Châu. 

Lại đi khoảng ít dặm, La Sơn lễ bái hỏi: 

– Hòa thượng đâu chẳng phải ở Động Sơn ba mươi năm mà chẳng chấp nhận Động Sơn ư? 

Sư đáp: 

– Phải. 

La Sơn lại hỏi: 

– Hòa thượng đâu chẳng phải nối pháp Đức Sơn mà chẳng chấp nhận Đức Sơn chăng? 

Sư đáp: 

– Phải. 

La Sơn hỏi tiếp: 

– Chẳng chấp nhận Đức Sơn thì miễn hỏi, còn Động Sơn có khuyết điểm gì? 

Sư làm thinh giây lâu đáp: 

– Động Sơn là ông Phật đẹp, chỉ là không hào quang. 

Đây là nhân duyên của mỗi người. Khi ở Động Sơn, ngài thấy Động Sơn là bậc thầy thấu suốt đạo lý, là ông Phật đẹp. Nhưng không có dụng kỳ đặc vì ngài Động Sơn nói năng hiền hòa. Khi đến gặp Đức Sơn đánh hét thì thích chỗ đặc biệt đó.

Người hiền lành thì thích hiền lành, người ngộ đạo có vẻ kỳ đặc thì thích những gì kỳ đặc. Căn tánh của mỗi người không giống nhau, nên có kẻ thích cái này, người chịu cái kia. Nếu chỉ bình thường như nhau thì không thể độ hết chúng sanh. Như trong chúng ta có kẻ này người kia. Người thì ăn nói chậm rãi hiền hòa được nhiều người mến, người thì nói những câu bể đầu bể óc, nhưng cũng có nhiều người quý thích. Đó là tùy duyên, không có gì lạ.

Sư hỏi vị tăng mới đến: – Ở đâu đến? 

Tăng thưa: 

– Ở Tây Kinh đến. 

– Sau trận giặc Hoàng Sào lại lượm được kiếm chăng? 

– Lượm được. 

Sư đưa cổ làm thế nhận chặt. Tăng nói: 

– Đầu Thầy rơi. 

Sư cười to. 

Người xưa đôi khi dẫn chuyện xưa tích cũ để thử trình độ người nghe, nếu hiểu nhận được thì trình bày cái khéo cho các ngài thấy. Trận giặc Hoàng Sào là cuộc khởi nghĩa nông dân lớn thời Đường mạt, xảy ra trong khoảng mười năm, đánh chiếm cả kinh đô, đuổi triều đình chạy dài nên khi đánh nhau người chết rất nhiều! Ngài hỏi, qua trận giặc ông có lượm được cây kiếm nào không? Tăng nói: Lượm được. Ngài đưa cổ ra, làm thế nhận chém, Tăng nói: Đầu Thầy rơi. Ngài cười lớn.

Sư dạy chúng: 

– Phàm việc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳng biết cú khó hội được câu nói. Cái gì là cú? Khi trăm việc chẳng suy nghĩ, gọi là chánh cú, cũng gọi là cư đảnh (ở trên đảnh), là được trụ, là rõ ràng, là tỉnh tỉnh, là chắc thực, là khi Phật chưa sanh, là đắc địa, là khi như thế. Đem khi như thế (chánh cú) phá hết tất cả thị phi, vừa như thế liền chẳng phải như thế, bèn tự do tự tại. Nếu nhìn chẳng thấu liền bị người đâm đui mắt, trợn trừng in tuồng con dê bị giết mà chưa chết. Cổ nhân nói: “Hôn trầm chẳng tốt, cần chuyển được mới được.” Chạm đến liền chuyển, vừa mới như thế liền chẳng phải như thế. Thị cú cũng chặt phi cú cũng chặt, tự nhiên lăn trùng trục, tự nhiên trước mắt hiện rõ ràng, no tràn hông. Chẳng biết bỏ, chẳng biết nhai. Đâu chẳng nghe nói “bỏ vật là trên, theo vật là dưới”. Vừa khởi tý xíu tình liền rơi xuống đất. Nếu là nhai nát thì heo chó mắt đỏ ngầu. 

Nếu có người hỏi thế nào là thiền, nên đáp với y: Bịt lỗ đít lại, mới có ít phần hơi hám, mới biết cạn sâu lớp lớp… 

Huynh đệ! Nói như thế lại hội chăng? Chớ có trọn ngày rầm rĩ, sẽ không có ngày xong. Muốn được dễ hội, cần biết ở trước thanh sắc chẳng bị muôn cảnh làm hoặc loạn, tự nhiên hiện rõ ràng, tự nhiên vô sự. Tiến tới trước thanh sắc mà vẫn thản nhiên, in tuồng một đống lửa lớn, chạm đến liền cháy, lại còn có việc gì. Đâu không nghe nói “chẳng phải trần chẳng xâm phạm ta, mà khi ta vô tâm nó cháy”. 

Ngài dạy chúng: Phàm việc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳng biết cú khó hội được câu nói. Cái gì là củ? Khi trăm việc chẳng suy nghĩ, gọi là chánh củ. Cú là câu rốt sau của ngài lúc ở Đức Sơn. Khi tâm diệt không suy nghĩ, đó là câu rốt sau, chỗ đó không còn câu nào.

Khi trăm việc chẳng suy nghĩ, gọi là chánh cú, là câu rốt sau, chỗ đó cũng gọi là được trụ, là tỉnh tỉnh… Chỗ đó không bị hai bên ngăn trở, không bị kẹt nên lăn tròn trùng trục, chặn đầu chặn đuôi đều không được.

Thị cú là câu phải, phi cú là câu quấy, hai bên chặt hết, chừng ấy mới tự nhiên lăn trùng trục, như vậy mới rõ ràng, mới no tràn hông. Chúng ta bây giờ no hay đói? Nhai nuốt cả ngày mà vẫn đói.

Chẳng biết bỏ, chẳng biết nhai. Đâu chẳng nghe nói bỏ vật là trên, theo vật là dưới. Hiện giờ chúng ta tu là chối bỏ vật, tất cả những gì đến đều không theo, nên nói bỏ vật là trên, theo vật là dưới.

Vừa khởi tý xíu tình liền rơi xuống đất. Vừa dấy một chút niệm thương ghét giận buồn là rơi xuống đất. Chúng ta rơi ành ạch cả ngày, phải không? Nếu là nhai nát thì heo chó mắt đỏ ngầu. Khi nhai nát tất cả thì heo chó cũng hoảng sợ.

Nếu có người hỏi thế nào là thiền, nên đáp với y: Bịt lỗ đít lại, mới có ít phần hơi hám, mới biết cạn sâu lớp lớp… Chúng ta làm hai việc, một đem vô, một đem ra. Đem ra cho là tiện, đem vô cho là quý. Cái đem vô gọi là miệng, cái kia gọi là đít, cái dưới hôi, cái trên có thơm không? Đây nói cái dưới là ngầm chỉ cái trên. Thiền là chỗ không có lời, vừa mở lời là mất hơi, nên nói bịt lại mới có ít phần hơi hám.

Huynh đệ. Nói như thế lại hội chăng? Chớ có trọn ngày rầm rĩ, sẽ không ngày xong. Nhóm họp ba bốn người nói việc này bàn tán việc kia, rầm rầm ồn ào trong nhà thiền, đó là rầm rĩ.

Muốn được dễ hội, cần biết ở trước thanh sắc chẳng bị muôn cảnh làm hoặc loạn, tự nhiên hiện rõ ràng, tự nhiên vô sự. Tiến tới trước thanh sắc mà vẫn thản nhiên, in tuồng một đống lửa lớn, chạm đến liền cháy, lại còn có việc gì? Đâu không nghe nói “chẳng phải trần chẳng xâm phạm ta, mà khi ta vô tâm nó cháy”. Trước thanh sắc không bị cảnh làm hoặc loạn, tự hiện rõ ràng vô sự, đó là chân thật.

Ngài dạy chúng ta tu thế nào? Khi mắt đổi sắc trần, sắc trần có xâm phạm không? Khi bị xâm phạm, chúng ta phải đốt cho nó cháy. Bên lỗ tai, thanh trần có xâm phạm không? Vừa có động tịnh chúng ta đều nghe, tức là xâm phạm. Làm sao đốt cháy? Khi sáu trần xâm phạm đến sáu căn, chỉ vô tâm là đốt cháy hết, nếu hữu tâm thì bị dính hết.

Có sáu đống lửa ở sáu căn, cái gì tới cho cháy rụi; hay dán sáu cục keo ở sáu căn, cái gì đều dính? Đi chợ, thấy gì ở ngoài chợ liền về kể cho người này nghe chưa đủ, kể cho người khác, kể từ sáng tới chiều. Nghe chuyện gì hay dở lạ tai cũng về kể. Nghe là dính, thấy là dính… Suốt ngày đụng gì dính nấy là vì hữu tâm. Nếu vô tâm thì thấy nghe gì đều đốt cháy, không dính mắc.

Vô tâm là ngọn lửa cháy hết sáu trần, hữu tâm là keo dính sáu trần. Người tu muốn giải thoát phải làm sao? Nếu để dính gỡ không ra tức là mắc bẫy lăn lộn trong tam giới. Nếu đốt cháy là hết mắc bẫy, tự do giải thoát. Giải thoát hay trầm luân chính chỗ hữu tâm hay vô tâm. Như vậy muốn cái nào? Mong tất cả có đống lửa ở mắt ở tai… cái gì tới đều cháy rụi, như vậy không cầu giải thoát cũng được giải thoát.

Sau này có người hoặc hỏi Phật, hỏi pháp, hỏi đạo, hỏi thiền, Sư đều “hư” lên một tiếng. Sư thường bảo chúng: 

 Khi lão già này đi, sẽ rống lên một tiếng rồi đi. 

Đời Đường từ thời Quang Khải về sau, Trung Nguyên giặc cướp dấy lên, chúng tăng đều đi tránh nơi khác. Sư vẫn an nhiên ở đây. Một hôm giặc đến, chúng trách Sư không có gì dâng biếu, bèn đâm Sư. Sư thần sắc không đổi, chỉ rống lên một tiếng rồi chết. Tiếng ấy vang xa đến mười dặm. 

Sư tịch nhằm năm Quang Khải thứ ba (887) ngày mùng tám tháng tư, thọ 60 tuổi. Vua ban thụy Thanh Nghiêm đại sư, tháp hiệu Xuất Trần. 

Cái chết của ngài rất đáng kinh sợ. Lẽ ra người ngộ đạo thâm sâu như vậy thì khi chết thảnh thơi tự tại, chết như vậy thì sao? Đó là nghi vấn khiến tôi băn khoăn. Thấy nhiều cư sĩ tu lơ mơ mà chết nhẹ nhàng, lại có nhiều vị tu hành nghiêm túc, khi chết chịu nhiều bức ngặt. Các vị ấy chẳng lẽ ít đức hạnh hơn cư sĩ?

Chỗ ngộ của ngài Nham Đầu vượt hơn ngài Tuyết Phong, kể cả ngài Đức Sơn cũng phải nể. Vì sao ngài chết như thế? Nên hiểu rằng không phải ai có mặt trên đời này đều cơ duyên giống nhau. Trí tuệ, học hiểu, độ sanh, viên tịch… tất cả đều khác. Có người sanh ra gặp duyên thuần thục, mọi cảnh đều như ý, tu hành dễ dàng, thủy chung không gì trở ngại. Cũng có người sanh ra gặp duyên trục trặc, tu hành nhiều trục trặc, rồi đến cái chết cũng trục trặc. Ngài Nham Đầu bị giặc cướp đâm, rống lên một tiếng rồi chết, cảnh tượng rợn người. Nhưng với ngài, ngài có sợ không? Ngài biết trước mình sẽ chết như vậy, biết rằng còn thiếu nợ đó, nên sẵn sàng trả. Trong chúng rời đi ngài không cần đi, chờ giặc đến để trả rồi món nợ. Như vậy có buồn có sợ không? Chỉ vì chúng ta còn phàm tình nên thấy ghê sợ.

Đâu phải chỉ riêng ngài Nham Đầu, khi Phật tại thế, cái chết của ngài Mục-kiền-liên cũng vậy. Với bậc chứng A-la-hán, thần thông như ngài thì phải chết thảnh thơi, ngài cũng bị chúng ngoại đạo đập chết. Tổ Sư Tử bị vua Kế Tân chặt đầu. Tổ Huệ Khả chết trong khám.

Không phải các ngài không biết, nhưng vì còn một chút nợ cũ phải trả, thì cứ vui trả. Như tổ Sư Tử, khi vua Kế Tân hỏi: Năm uẩn đều không, cho tôi cái đầu được không? Ngài nói: Năm uẩn đã không thì sá gì cái đầu. Như vậy ngài có sợ không? Còn chúng ta thấy năm uẩn đều thật, nghe xin cái đầu liền hoảng sợ.

Khi chúng ta muốn đi xa mà còn thiếu nợ người hàng xóm, thì nghĩ sao? Còn bao nhiêu trả hết rồi mình đi cho khỏe, trả nợ là vui không phải buồn, nên các ngài sẵn sàng trả, không gây oan trái thêm. Nếu nhìn bằng con mắt phàm phu sợ chết, thấy như vậy không dám tu. Có thân bệnh cũng vậy, khi trước đánh đập thiên hạ mắc nợ rồi, giờ nó hành mình, phải trả cho xong.

Như vậy có chuyển được nghiệp không? Các ngài thấy thân này tắt thở cũng đi, đâm một cái cũng đi, một lần bỏ thân này không có gì quan trọng. Chủ yếu chuyển được nghiệp là hết mê, thấy thân này như huyễn không thật, mọi việc đến như trò chơi. Chúng ta chưa chuyển nghiệp nên thấy thân này thật, sợ trả nợ. Chuyển hay không chuyển là do tâm niệm của mình, còn nợ thì cứ trả. Như khi chúng ta mê, hung dữ chửi đánh người, họ yếu thế hơn nên không dám cự, nhưng rất hận mình. Đến lúc tu rồi tỉnh ngộ, biết thân huyễn có bị chửi đánh như trò chơi. Người thù hận khi gặp cơ hội chửi đánh mình, mình cười không thấy gì quan trọng.

Nhìn theo thường tình rõ ràng có trả quả, nhưng với con mắt người đạt đạo thấy vẫn an nhiên. Xưa mình chửi họ hạn bao nhiêu năm, giờ cho họ trả, chửi đánh thì mình cười, giải quyết xong rồi thôi. Không buồn giận, không tiếp tục oán thù; buồn giận thì oan gia kéo dài. Ý nghĩa chữ chuyển là như vậy.

Như vậy khi mê thấy thật có nghiệp phải trả đủ, liễu ngộ thì thấy nghiệp chướng vốn không. Chứng Đạo Ca nói: “Liễu tức nghiệp chướng bản lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái.” Nói chuyển là chuyển mê thành ngộ, chuyển tâm chấp đắm thành tâm buông xả, không phải chuyển hình thức. Trên hình thức thì có vay trả, nhân quả theo nhau, đúng với giáo lý Phật dạy.

 

THIỀN SƯ NGHĨA TỒN Ở TUYẾT PHONG (822-908) 

Sư họ Tăng, người Nam An, Tuyền Châu. Sư sanh trong gia đình thờ Phật, thuở nhỏ đã không chịu ăn thịt cá. Còn trong nôi mà Sư nghe tiếng chuông hoặc thấy tràng phan, hoa hương, tượng Phật Bồ-tát liền cười. 

Năm mười hai tuổi, Sư theo cha đến chùa Ngọc Giản ở Bồ Điền, thấy luật sư Khánh Huyền bèn đảnh lễ, nói: “Thầy con!” Rồi ở lại đây luôn. Đến mười bảy tuổi, Sư được cạo tóc. Sau, Sư đến chùa Bảo Sát ở U Châu thọ giới Cụ túc. Sư thường dạo qua các thiền hội. 

Tại Động Sơn, Sư làm Phạn đầu đang đãi gạo. Khâm Sơn hỏi: 

– Đãi cát bỏ gạo hay đãi gạo bỏ cát? 

Sư đáp: 

– Gạo cát đồng thời bỏ. 

Khâm Sơn hỏi: 

– Đại chúng lấy gì ăn? 

Sư bèn lật úp thau đãi gạo. Khâm Sơn nói: 

– Cứ theo nhân duyên này, huynh hợp ở Đức Sơn. 

Khâm Sơn là ngài Văn Thúy, bạn đồng hành với ngài Tuyết Phong. Thấy Tuyết Phong đãi gạo bèn hỏi: Đãi cát bỏ gạo hay đãi gạo bỏ cát? Đó là câu gài bẫy, ngài liền trả lời: Gạo cát đồng thời bỏ. Câu đó cũng dễ, câu sau hỏi: Đại chúng lấy gì ăn? Câu này hơi rắc rối. Ngang đó ngài lật úp cái thau lại, ngài Khâm Sơn biết nhân duyên của Tuyết Phong ở chỗ Đức Sơn. Hành động lật úp lại là không còn ngôn ngữ.

Một hôm Động Sơn hỏi: 

– Làm gì đây? 

Sư thưa: 

– Đẽo máng. 

Động Sơn hỏi: 

– Đẽo mấy búa được thành? 

Sư thưa: 

– Một búa đẽo thành. 

Động Sơn bảo: 

– Vẫn là việc bên này, việc bên kia thì sao? 

Sư thưa: 

– Hẳn được không chỗ hạ thủ. 

Động Sơn bảo: 

– Vẫn là việc bên này, việc bên kia thì sao? 

Sư im lặng. 

Im lặng là hết chỗ đáp. Tại sao đẽo một búa mà chê việc bên này? Việc bên này là việc gì, việc bên kia là việc gì? Bên này là phàm mê, bên kia là thánh ngộ. Vì ông nói đẽo một búa, thì cũng là việc bên này, cũng còn trong kẻ mê. Câu sau ngài nói rằng: Hẳn được không chỗ hạ thủ, tức là không còn chỗ để đẽo nữa. Ngài Động Sơn nói: Vẫn là việc bên này, tại sao? Bên kia có hạ thủ, bên đây không hạ thủ tức là hai bên, cũng thuộc bên mê. Hỏi việc bên kia thì ngài không đáp được.

Sư đến tạm biệt Động Sơn, Động Sơn hỏi: 

– Ngươi đi đâu? 

Sư thưa: 

– Đi về trong đảnh núi. 

Động Sơn hỏi: 

– Đương thời từ đường nào ra? 

Sư thưa: 

– Từ đường vượn bay đảnh núi ra. 

Động Sơn hỏi: 

– Nay quay lại đường nào đi? 

Sư thưa: 

– Từ đường vượn bay đảnh núi đi. 

Động Sơn bảo: 

– Có người chẳng từ đường vượn bay đảnh núi đi, ngươi biết chăng? 

Sư thưa: 

– Chẳng biết. 

Động Sơn hỏi: 

– Tại sao chẳng biết? 

Sư thưa: 

– Y không mặt mày. 

Động Sơn bảo: 

– Ngươi đã chẳng biết, sao biết không mặt mày? 

Sư không đáp được. 

Ngài Động Sơn hỏi: Biết người không từ đường vượn bay đảnh núi không? Tuyết Phong đáp: Chẳng biết. Hỏi: Tại sao chẳng biết? Đáp: Y không mặt mày, bởi không mặt mày nên con không biết. Nghe rất đúng, nhưng bị bẻ lại: Nói chẳng biết, vì sao biết không mặt mày? Ngang đó bí, để thấy rằng ngài chưa lăn trùng trục, vừa bị chặn liền đứng.

Đến Đức Sơn, Sư hỏi: 

– Tông thừa từ trước, con lại có phần chăng? 

Đức Sơn đánh một gậy, bảo: 

 Nói cái gì? 

Sư thưa: 

– Chẳng hội. 

Hôm sau, giờ thưa hỏi, Đức Sơn bảo chúng: 

 Tông của ta không ngữ cú, thật không một pháp cho người. 

Sư nhân đó có tỉnh. 

Sư cùng Nham Đầu đi đến trấn Ngao Sơn ở Lễ Châu gặp trở tuyết (tuyết xuống quá nhiều) dừng lại, Nham Đầu mỗi ngày cứ ngủ, Sư một bề ngồi thiền. Một hôm Sư gọi: 

 Sư huynh! Sư huynh! Hãy dậy. 

Nham Đầu hỏi: 

– Làm cái gì? 

Sư nói: 

– Đời nay chẳng giải quyết xong, cùng lão Văn Thúy đi hành khước, đến nơi bị y chê cười, ngày nay đến đây sao chỉ lo ngủ? 

Nham Đầu nạt: 

– Ngủ đi! Mỗi ngày ngồi trên giường giống như thổ địa trong thôn vắng, ngày sau vẫn còn dối gạt nam nữ nhà người. 

Sư chỉ trong ngực nói: 

 Tôi trong ấy còn chưa ổn, không dám tự dối. 

Nham Đầu nói: 

– Tôi bảo ông sau này lên trên chót núi cất thảo am xiển dương đại giáo, sẽ nói câu ấy. 

 Tôi thật còn chưa ổn. 

– Nếu ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì ông đuổi dẹp. 

 Khi tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói nghĩa sắc không liền được chỗ vào. 

 Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến. 

– Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua sông: 

Thiết kỵ tùng tha mịch, 

Điều điều dữ ngã sơ, 

Cừ kim chánh thị ngã, 

Ngã kim bất thị cừ. 

– Nếu như thế, tự cứu cũng chưa tột. 

Sau, hỏi Đức Sơn:

– Việc trong tông thừa từ trước con có phần chăng?

Đức Sơn đánh một gậy hỏi:

– Nói cái gì? Tôi khi đó giống như thùng lủng đáy. 

Nham Đầu nạt: 

– Ông chẳng nghe nói từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà? 

 Về sau làm thế nào mới phải? 

– Về sau nếu muốn xiển dương đại giáo, mỗi mỗi từ trong hông ngực mình lưu xuất, sau này cùng ta che trời che đất đi! 

Sư nhân câu ấy đại ngộ liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn: 

 Sư huynh! Ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn. 

Ngài Tuyết Phong nói ngộ được lý sắc không, ngài Nham Đầu còn cấm từ đây đến ba mươi năm sau không cho nói tới.

Ngài Tuyết Phong nghe bài kệ của Động Sơn qua sông: Thiết kỵ tùng tha mịch, điều điều dữ ngã sơ, cừ kim chánh thị ngã, ngã kim bất thị cừ, ngộ được lý gì? Biết y không phải ta, mà ta chính là y. Tức là biết cái nào bóng cái nào thật, nhân bài kệ đó thấy ra mình có cái thật. Ngài Nham Đầu vẫn nói: Nếu như thế tự cứu cũng chưa tột. Nếu ông ngộ như vậy thì tự cứu cũng chưa xong.

Ngài kể lại việc hỏi Đức Sơn: Việc trong tông thừa từ trước con lại có phần chăng? Đức Sơn đánh một gậy hỏi: Nói cái gì? Tôi khi đó giống như thùng lủng đáy. Tức là buông hết không còn dính gì cả. Nham Đầu nạt: Ông chẳng nghe nói từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà? Nếu cái đó từ ngoài cửa vào thì không phải của báu trong nhà, của báu trong nhà thì không phải từ ngoài vào được.

Việc tu không đơn giản, không thể một lần hiểu là xong. Nhiều người không đi sâu trong nhà thiền, tưởng rằng khi mình hiểu được chút gì là rồi việc. Như thế rất sai lầm. Như ngài Tuyết Phong thuật lại khi ở chỗ Diêm Quan thông được lý sắc không, từ chỗ ngài Động Sơn nghe bài kệ thấy được nơi mình có cái nào thật cái nào giả, nhưng đó cũng là nhân bên ngoài được. Đến chỗ Đức Sơn thì hỏi: Tông thừa từ trước con lại có phần chăng? Đánh một gậy, mới thấy rằng chỗ đó phải buông hết. Tuy như thế cũng nhờ bên ngoài, chưa thật là mình.

Nham Đầu nói, từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà. Do người ngoài đem đến không thể nói là của nhà mình. Nếu thật của chính mình phải từ trong đem ra. Như câu chuyện Giáo Lý Thượng Thừa trong Góp Nhặt Cát Đá, người mù dù bạn đưa đèn cho nhưng cứu mình được chưa? Ngài Đức Sơn thấy trời tối, ngài Long Đàm cho đuốc, mà vừa cầm liền thổi tắt. Tức là muốn cứu mình thì phải nhận được cái của mình từ trong ra.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Tùng Địa Dũng Xuất, khi Bồ-tát nơi cõi khác phát tâm bảo vệ người trì kinh Pháp Hoa cõi này mà Phật không chấp nhận, chờ các Bồ-tát dưới đất vọt lên, ngài mới ưng. Bồ-tát từ đất vọt ra, là trong hông ngực mình lưu xuất. Ngài Tuyết Phong được ngài Nham Đầu nhắc việc đó phải từ hông ngực mình lưu xuất, mới xong việc. Nếu chúng ta nghe hiểu bên ngoài rồi ngang đó tự mãn, hài lòng khoe khoang, thật là sai lầm. Việc tu hành không đơn giản, không phải chỉ hiểu một hai điểm mà rồi việc.

Tăng hỏi: 

– Hòa thượng thấy Đức Sơn được cái gì liền thôi? 

Sư đáp: 

– Ta đi tay không, về tay không. 

Sao bạc bẽo vậy? Ngài thừa kế Đức Sơn, về làm thầy thiên hạ mà nói: Ta đi tay không, về tay không. Khi ở Đức Sơn, ngài hỏi: Tông thừa từ trước con lại có phần không? Đức Sơn đập một gậy, nói: Tông của ta không ngữ cú, không một pháp cho người. Chính cái thấy tay không đó mới kế thừa được Đức Sơn, cũng như ngài Huệ Nhiên đem được kiếm của Lâm Tế là che miệng, là đánh. Đó là chỗ kế thừa rõ ràng.

Có hai vị tăng đến, Sư lấy tay mở cửa am nhảy vọt ra, nói: 

– Là cái gì? 

Tăng cũng nói: 

– Là cái gì? 

Sư cúi đầu vào am. Tăng từ giã Sư đi nơi khác. Sự hỏi: 

– Đi nơi nào? 

Tăng thưa: 

– Hồ Nam. 

Sư bảo: 

– Ta có người bạn đồng hành ở Nham Đầu, gửi ông một lá thư đưa hộ. 

Thư viết: “Tôi gửi thư lên Sư huynh, sau ngày thành đạo ở Ngao Sơn cho đến ngày nay vẫn còn no chẳng đói.” 

Tăng đến Nham Đầu, Nham Đầu hỏi: 

– Từ nơi nào đến? 

Tăng thưa: 

-Từ Tuyết Phong đến, có thư dâng lên Hòa thượng. 

Nham Đầu tiếp thư xong hỏi: 

– Có ngôn cú gì khác chăng? 

Tăng bèn thuật lại lời trước. Nham Đầu hỏi:

– Ông ấy nói sao? 

Tăng thưa: 

– Không nói, chỉ cúi đầu vào am. 

Nham Đầu nói: 

– Ôi! Ta hối hận lúc đầu chẳng nói với y câu rất sau. Nếu nói với y thì người trong thiên hạ không làm gì được lão Tuyết. 

Tăng ở lại đến cuối hạ mới lên thưa hỏi câu ấy. Nham Đầu bảo: 

 Sao chẳng hỏi sớm? 

Tăng thưa: 

– Chưa dám dễ dàng. 

Nham Đầu bảo: 

– Tuyết Phong tuy cùng ta đồng điều sanh, mà chẳng cùng ta đồng điều tử. Cần biết câu rốt sau chỉ là thế. 

Nghe nói câu rốt sau, ông tăng này thật thà tưởng còn câu rốt sau bí hiểm, ngài giấu chưa nói. Người xưa dùng ngôn ngữ đôi khi lừa gạt, người học không biết, cứ thật thà chờ để hỏi những câu đó, rốt cuộc không có gì.

Vị tăng hỏi hòa thượng Tây Sơn: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?” Tây Sơn đưa cây phất tử lên chỉ đó. Tăng không chấp nhận. 

Sau, vị tăng ấy đến tham vấn Sư. Sự hỏi:

– Ở nơi nào đến? 

Tăng thưa: 

– Ở Chiết Trung đến. 

Sự hỏi: 

– Hạ năm nay ở tại đâu? 

Tăng thưa: 

– Ở Tây Sơn, Tô Châu. 

Sự hỏi: 

– Hòa thượng an ổn chăng? 

Tăng thưa: 

– Khi đến thấy Ngài được muôn phước. 

Sự hỏi: 

– Sao không ở đó tu học? 

Tăng thưa: 

– Phật pháp chẳng sáng. 

Sự hỏi: 

– Có việc gì? 

Tăng thuật lại việc trước. Sự hỏi: 

– Tại sao ông chẳng chấp nhận ngài? Tăng thưa: 

– Ấy là cảnh. 

Sư bảo: 

– Ông thấy kẻ nam nữ ở Tô Châu chăng? 

Tăng thưa: 

– Thấy. 

Sự hỏi: 

– Ông thấy cây cối trên đường chăng? Tăng thưa: 

– Thấy. 

Sư bảo: 

– Phàm thấy nam nữ đất đai suối rừng thảy đều là cảnh, ông chấp nhận những cái ấy chăng? 

Tăng thưa: 

– Chấp nhận. 

Sư bảo: 

– Tại sao giở phất tử ông không chấp nhận? Tăng lễ bái thưa: 

– Con chấp bướng nói bừa, xin Hòa thượng từ bi. 

Sự hỏi: 

– Tột càn khôn là con mắt, ông tìm chỗ nào ngồi xổm? 

Tăng không đáp được. 

Chỗ nào cũng là con mắt thì ngồi đâu bây giờ, bí không biết làm sao đáp, mấy chú đáp được không? Chắc cũng bó tay.

Có một vị tăng ở dưới núi cất thảo am, nhiều năm không cạo tóc, dùng một cái gáo dài ra bên suối múc nước. Vị tăng khác thấy hỏi: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?” Am chủ đáp: “Suối sâu gáo dài.” 

Sư nghe việc này, nói: 

– Rất là kỳ quái. 

Một hôm Sư cùng thị giả đem dao cạo theo đến am. Vừa gặp mặt, Sư dẫn lời nói trước, hỏi: 

– Phải lời am chủ chăng? 

Am chủ nói: 

– Phải. 

Sư bảo: 

 Nếu nói được chẳng cạo tóc ông. 

Am chủ liền đi gội đầu, quỳ gối trước Sư, Sư cạo tóc cho. 

Hỏi ý Tổ sư Tây sang, am chủ đáp suối sâu gáo dài. Đó là đối với câu hỏi mà mở miệng thì táng thân mất mạng, nhưng đây mở miệng có táng thân mất mạng không? Tại sao? Vì nói mà không động lưỡi.

Tam Thánh Huệ Nhiên hỏi: 

– Cá vàng vượt khỏi lưới lấy gì ăn? 

Sư bảo: 

– Đợi ông vượt khỏi lưới sẽ vì ông nói. 

Tam Thánh nói: 

– Là thiện tri thức của một nghìn năm trăm người, mà câu thoại đầu cũng chẳng biết. 

Sư bảo: 

– Lão tăng trụ trì nhiều việc.

Đoạn đối đáp này, về sau ngài Viên Ngộ khen ngợi vô cùng. Hay chỗ nào? Ngài Tam Thánh Huệ Nhiên hỏi: Cá vàng vượt khỏi lưới lấy gì ăn? Ngài ví mình như cá vàng vượt khỏi lưới, tức là đã giải thoát rồi còn cần gì nữa không? Đó là tự đề cao mình lên. Ngài Tuyết Phong liền hạ xuống một cách khéo léo: Đợi ông vượt khỏi lưới sẽ vì ông nói, khi nào ông giải thoát thật sự tôi sẽ nói cho ông. Ngài Tam Thánh liền hạ trở lại: Là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người, mà câu thoại đầu cũng chẳng biết. Khi người hạ mình, mình phải tìm cách đối lại, bằng cách hạ người xuống. Ngài nói: Lão tăng trụ trì nhiều việc. Không phải tôi không biết, không biết đâu được làm trụ trì, chỉ vì nhiều việc. Đó là đưa mình lên. Bậc tác gia gặp nhau, đối đáp rất khéo, không ai nhường ai, cũng không bị mắc kẹt.

Sư hỏi vị tăng mới đến: 

– Vừa rời chỗ nào đến? 

Tăng thưa: 

– Phú Thuyền (thiền sư Hồng Tiến) đến. 

Sư hỏi: 

– Biển sanh tử chưa qua, vì sao lại Phú Thuyền (úp thuyền)? 

Tăng không đáp được, bèn trở về thuật lại Phú Thuyền. Phú Thuyền bảo: 

– Sao không nói y không sanh tử. 

Tăng trở lại nói lời này. Sư bảo: 

– Đây không phải lời của ông. Tăng thưa: 

– Phú Thuyền nói thế ấy. 

Sư bảo: 

– Ta có hai mươi gậy gửi cho Phú Thuyền, còn ta tự ăn hai mươi gậy, chẳng can hệ gì việc Xà-lê. 

Thiền sư Hồng Tiến chắc ở vùng có con sông mà ghe thuyền thường bị lật úp, nên người ta gọi vùng đó là Phú Thuyền.

Ngài chuyển qua câu hỏi, sanh tử chưa qua vì sao lại úp thuyền? Câu hỏi khó nên Tăng không đáp được, trở về thuật lại Phú Thuyền. Phú Thuyền nói: Sao không nói y không sanh tử. Y là người chân thật không sanh tử. Tăng trở lại nói lời này, ngài biết là lời học lóm, nên nói: Đây không phải lời của ông. Tăng thưa: Phú Thuyền nói thế ấy. Như thế, thưởng Phú Thuyền hai chục gậy, ta hai chục gậy, ông không dính dáng gì hết!

Huyền Sa Sư Bị thưa: 

– Hiện nay có đại dụng, Hòa thượng phải làm sao? 

Sư đem ba trái cầu gỗ đồng thời ném ra. Huyền Sa ra bộ chẻ bia. Sư bảo: 

– Người hiện ở Linh Sơn mới được như vậy. Huyền Sa thưa: 

– Cũng là việc nhà mình. 

Huyền Sa là đệ tử của ngài, tự nói rằng con có được đại dụng rồi, Thầy làm sao? Nếu ông có đại dụng thì thử, ngài cầm ba trái cầu quăng một lượt. Nếu được đại dụng thì chụp một lượt ba trái cầu, đây Huyền Sa không chụp mà làm thế chẻ bia. Ý nói chẻ bia con chẻ còn được, ba trái cầu không đáng. Ngài khen: Người hiện ở Linh Sơn mới được như vậy, ông đã có mặt trên hội Linh Sơn. Huyền Sa nói: Cũng là việc nhà mình, việc thường thôi chứ có gì lạ.

Một hôm, Sư ở trong nhà tăng đóng cửa trước cửa sau nổi lửa đốt, lại kêu: 

– Cứu lửa! Cứu lửa! 

Huyền Sa đem một thanh củi từ cửa sổ ném vào trong. Sư bèn mở cửa. 

Đóng cửa trước cửa sau lại nổi lửa đốt, rồi kêu cứu lửa. Nếu là chúng ta thì xách nước ào vô, ngài sẽ không mở cửa. Câu chuyện này tương tự câu chuyện của ngài Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn đưa cái gương Quy Sơn gửi tới, hỏi đại chúng, gương này là của Ngưỡng Sơn hay là của Quy Sơn, nói được thì để, nói không được thì đập. Như chuyện ngài Nam Tuyền. Nhà Đông nhà Tây giành nhau con mèo, ngài nắm con mèo, bảo nói được thì tha, nói không được chặt con mèo. Đó là thuật dồn ép bức ngặt, để thử người thấy đạo trình bày thế nào. Trong sự cấp bách đó mà có người trình bày đúng thì mới là thật thấy. Trong chúng không người đáp được nên ngài Nam Tuyền chặt con mèo.

Ngài Ngưỡng Sơn thấy không ai đáp được nên đập gương. Ngài Tuyết Phong nếu đem nước lại thì có hai, lửa nước là hai, Huyền Sa quăng thanh củi vô, củi với lửa không hai, ngài mở cửa. Như thế, khi cấp bách dùng hành động trả lời liền. Người không hiểu đọc chỗ này mờ mịt, thấy các ngài như đùa chơi. Thiền sư không đùa, tạo vẻ bức bách để thử xem có người nào thấy được, giải quyết được thì sống được. Cái đó không đợi suy nghĩ kịp, phải làm liền, làm liền đúng thì mới thật.

Sư thượng đường: 

– Núi Nam có một con rắn mũi to, hết thảy các ông đều phải khéo xem. 

Trường Khánh bước ra thưa: 

– Hôm nay trong nhà này có người táng thân mất mạng. 

Vân Môn lấy cây gậy ném trước Sư rồi ra bộ sợ. 

Có người đem việc này thuật lại Huyền Sa. Huyền Sa nói: 

– Phải là huynh Lăng mới được. Tuy nhiên như thế, nếu ta thì chẳng vậy. 

Tăng hỏi: 

– Hòa thượng làm thế nào?

Huyền Sa nói: 

– Dùng núi Nam làm gì. 

Ngài Tuyết Phong hay mượn hình ảnh để cụ thể hóa cái đó. Đây mượn hình ảnh con rắn, ngài nói: Núi Nam có một con rắn to, hết thảy các ông đều phải khéo xem.

Ngài Trường Khánh liền nói: Trong nhà này có người táng thân mất mạng. Chỗ chân thật đó mà bước tới được thì táng thân mất mạng. Ngài Vân Môn quăng cây gậy ra, tưởng như là để đập rắn, rồi làm thế sợ. Nhưng ngài Huyền Sa thì hơi trách: Con rắn là con rắn, còn nói núi Nam làm chi, tức có vị trí có cơ sở rồi.

Một hôm, Sư bảo Huệ Lăng (Trường Khánh): 

 Ta thấy Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: Chư thánh đi chỗ nào? Ngưỡng Sơn đáp: Hoặc ở trên trời, hoặc ở nhân gian. Ngươi nói ý Ngưỡng Sơn thế nào? 

Huệ Lăng thưa: 

– Nếu hỏi chỗ ra vào của chư thánh mà nói thế  ấy thì không được. 

Sư bảo: 

– Ngươi đều không chấp nhận, chợt có người hỏi ngươi đáp thế nào? 

 Chỉ nói “lầm”. 

– Là ngươi chẳng lầm. 

– Đâu khác với lầm. 

Ngài Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn trả lời thật thà theo chỗ hiểu của mình, chư thánh hoặc ở trên trời, hoặc nhân gian. Ngài Huệ Lăng thì nói, chỗ chư thánh ra vào không thể nói như thế, nếu nói được là lầm. Ngài Tuyết Phong hỏi ông không lầm sao? Nếu thấy có lầm với không lầm là hai, nên Huệ Lăng nói: Đâu khác với lầm.

Sư sắp thị tịch, Sư viết bài minh trên tháp và làm tựa rằng: 

– Phàm từ duyên mà có là trước sau thành hoại, chẳng từ duyên mà được muôn kiếp thường vững; vững thì hằng còn, hoại thì tổn giảm. Tuy nhiên ly tán chưa đến, ngại gì dự bị sắp đặt? Sở dĩ, chất đá làm nhà, cưa cây đóng hòm, bưng đất đổ đống làm khám. Các việc đã đủ, đầu xây hướng nam, chân về hướng bắc, nằm ngang qua núi. 

Chỉ mong đến giờ, đồng đạo chớ trái ý ta. Người biết tâm thì chẳng đổi chí ta. Dặn sâu! Lại dặn!… 

Ngài Tuyết Phong trước khi tịch, làm bài minh ghi trên tháp: Phàm từ duyên mà có là trước sau thành hoại, chẳng từ duyên mà được, muôn kiếp thường vững. Thân này do duyên hợp, thân ấy còn hay mất? Trong thân có cái nào không từ duyên hợp không? Chúng ta luôn nói mắt thấy tai nghe là nhân duyên, nhưng kinh Lăng-nghiêm Phật dạy tiếng có sanh có diệt, tánh nghe không sanh diệt. Có tiếng thì nghe tiếng, không tiếng thì nghe không tiếng, dù có tiếng không tiếng cũng đang nghe, không phải đợi duyên mới có. Con mắt có cảnh thấy cảnh, không cảnh thấy không. Cảnh là duyên lúc có lúc không, tánh thấy có cảnh không cảnh vẫn thấy, không cần đợi duyên. Chúng ta lầm nhận, đợi có cảnh mới gọi là thấy, đợi có tiếng mới gọi là nghe, luôn luôn lệ thuộc duyên. Duyên thì sanh diệt, cái không thuộc duyên thì không hoại, chỉ vì chúng ta quên, luôn chạy theo duyên nên bị hư hoại.

Tuy nhiên ly tán chưa đến, ngại gì dự bị sắp đặt? Chất đá làm nhà, cưa cây đóng hòm, bưng đất đổ đống làm khám… đó là lời dặn dò về sau.

Sư trụ Mân Xuyên hơn bốn mươi năm, học giả mùa Đông mùa Hạ chẳng dưới số một nghìn năm trăm người. 

Ngài Nham Đầu Toàn Khoát hiểu sâu mà đồ chúng không nhiều. Ngài Tuyết Phong là sư đệ mà đồ chúng đông một nghìn năm trăm.

Đời Lương niên hiệu Khai Bình năm thứ hai (908) vào tháng ba, Sư có chút ít bệnh. Mân Soái sai lương y đến xem mạch. Sư bảo: 

– Ta chẳng phải bệnh, trọn chẳng uống thuốc. 

Sư để kệ và trao pháp xong, ngày mùng hai tháng năm, sáng đi dạo Lam Điền, chiều về tắm rửa, nửa đêm nhập diệt. Sư thọ 87 tuổi, 59 tuổi hạ. 

Cuộc đời ngài có nhiều đặc biệt. Lúc mới ra đời thấy tràng phan… gặp Tăng thì mừng vui, chứng tỏ duyên tu rất nhiều đời, nghiệp mòn mỏng, nên trong đời này thảnh thơi, còn những vị khác thì không được vậy. Như trong chúng ta, có người phát tâm tu từ hồi nhỏ, chưa phạm tội sát sanh, chưa làm khổ ai nên ít tạo nghiệp. Còn có những người phải năm mười năm, hai ba chục năm lăn lộn trên đời, khổ vui đủ thứ, ân oán đủ điều rồi mới đi tu, nợ đó làm sao hết được? Vì thế khi ra đi không được thong thả.

Ngài Tuyết Phong có bài kệ, nơi khác ghi lại:

Nhân sinh thúc hốt tạm tu du 

Phù thế na năng đắc cửu cư. 

Xuất Lãnh tài đăng tam thập nhị 

Nhập Mân tảo thị tứ tuần dư.

Tha phi bất dụng tần tần cử

Kỳ quá ưng tu tuyền tuyền trừ.

Phụng báo mãn triều chu tử quý

Diêm vương bất phạ bội kim ngư. 

Dịch:

Kiếp người nhanh chóng thoáng phù du

Cõi tạm ai từng được lâu.

Ba chục thêm hai ra khỏi Lãnh 

Bốn mươi tuổi lẻ trở về Mân. 

Người sai chẳng khiến thường thường nhắc 

Ta lỗi cần nên gấp gấp trừ.

Kính bảo cả triều hàng chu tử 

Diêm vương chẳng sợ mũ kim ngư. 

Kiếp người nhanh chóng thoáng phù du, cõi tạm ai từng ở được lâu. Ý ngài khuyên chúng ta nên tỉnh thức. Kiếp người rất nhanh chóng, thời gian trong khoảnh khắc, sớm còn chiều mất không có gì lâu, cõi này là cõi tạm, không ai ở mãi nơi đây được.

Ngài kể việc của mình làm bằng chứng: Ba chục thêm hai ra khỏi Lãnh, ba mươi hai tuổi ra khỏi Lãnh Nam, du phương tham học. Bốn mươi tuổi lẻ trở về Mân, đến hơn bốn chục tuổi trở về Mân là Phúc Kiến; Lãnh Nam bây giờ là Vân Nam, Lưỡng Quảng. Thời gian du phương học đạo, khi ra đi ba mươi hai tuổi, trở về hơn bốn chục tuổi, qua rất nhanh…

Ngài nhắc chúng ta tu: Người sai chẳng khiến thường thường nhắc, ta lỗi cần nên gấp gấp trừ. Nếu có ai làm quấy làm sai, chúng ta không nên nhắc mãi; phải luôn nhớ lỗi của mình, gấp trừ lỗi của mình. Đa số người đời thì ai sai nhớ hoài nhắc hoài, lỗi gì của mình thì thông qua mau.

Kính bảo cả triều hàng chu tử, chu là đỏ son, tử là đỏ tía, ý chỉ các vị quan trong triều hay hàng cao sang quyền quý. Diêm vương chẳng sợ mũ kim ngư, khi làm quan thì đội mũ mão, nhưng tạo tội xuống gặp Diêm vương không tha.

Cái chết không lựa chọn kẻ sang người hèn. Dù sang như quan trong triều vẫn phải chết. Bình sinh nên nỗ lực tu, đừng phí thì giờ theo việc thị phi thiên hạ. Không thể lấy quan tước của mình đối phó với lão Diêm vương.

 


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.