Sơ tổ tụng:
Thể Như Lai không tướng
Tràn đầy khắp hư không,
Trên không khó lập có,
Trong có chẳng thấy không
Xem tợ trăng trong nước,
Nghe như gió bên tai,
Pháp thân nào tăng giảm,
Ba cõi gọi “chân không”.
Giảng:
“Thể Như Lai không tướng,
Tràn đầy khắp hư không.”
Ở đoạn này, Tổ tiếp tục mượn ý nghĩa của câu “bất tăng bất giảm” để nói về thể tánh thanh tịnh của chính mình. “Thể Như Lai” chính là thể tâm thanh tịnh của chúng ta, nó hoàn toàn không có tướng mạo, không có bất cứ hình tướng nào. Nó “tràn đầy khắp hư không” – giống như hư không bao la tràn đầy vậy.
Hư không vốn không tướng mạo nhưng trùm khắp tất cả. Giờ ta thử tìm biên tế của hư không xem có được không? Làm gì có tướng mạo mà định dạng, mà tìm biên tế? Ta chỉ có thể dùng từ “tràn đầy khắp” để diễn tả, nhưng khắp cỡ nào thì ngay cả hư không cũng vô biên tế, làm sao ta biết được nó bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu?
Thể Như Lai của chúng ta cũng như vậy, nó trùm khắp không khác gì hư không. Nếu tâm mình có biên tế, thì làm sao mình có thể tồn tại trong thế giới này? Chính vì tâm mình không có biên tế nên mình mới đi đâu cũng được. Dù là bị nghiệp lôi đi chăng nữa, thì nghiệp cũng từ tâm này mà sanh, tâm này dẫn mình đi. Nếu tâm mình không trùm khắp thì làm sao nó dẫn mình đi được?
Chúng ta hãy thử suy ngẫm: Nếu mình không ở trong cõi địa cầu này, thì mình có thể đi khắp quả địa cầu được không? Dù mình tự đi hay bị người khác bắt đi, thì mình phải ở trên địa cầu này mình mới đi khắp được. Hay như mình đang ở trên đất nước Việt Nam, mình mới có thể đi khắp nước Việt Nam. Nếu mình không ở cùng khắp thì làm sao mình đi cùng khắp được?
Cũng vậy, mình sanh diệt ở trong tam giới này; nếu mình không ở trong tam giới, không trùm khắp tam giới thì mình không thể nào di chuyển được. Cho nên, tâm mình phải trùm khắp thì mình mới đến được. Nghiệp lôi dẫn mình xuống địa ngục, thì tâm mình phải trùm khắp địa ngục thì mình mới đến đó được; dẫn mình lên thiên đường, thì tâm mình phải trùm khắp thiên đường thì mình mới lên được. Vì vậy, tâm mình trùm khắp, không hạn lượng, chẳng khác gì hư không bao la vậy.
“Trên không khó lập có,
Trong có chẳng thấy không.”
Ở đoạn này, ý Tổ muốn chúng ta vượt thoát hai bên đối đãi. “Trên không khó lập có, trong có chẳng thấy không” – sở dĩ nói như vậy là vì hai cái này đối đãi với nhau. Khi ta nói “không”, thì làm sao có thể là “có”? Ví dụ, khi ta bảo ở đây không có ly nước, thì không thể nào là có ly nước được. Và ngược lại, khi ta đã xác định đây là căn nhà, thì không thể nói là không có căn nhà. Một khi đã lập đối đãi, thì có cái này tất phải không có cái kia. Đó là bản chất của pháp đối đãi: sáng thì không thể tối, tối thì không thể sáng; muốn sáng thành tối thì sáng phải mất đi.
Cũng vậy, có sanh thì không có diệt, có diệt thì không có sanh. Khi một đứa bé đang sanh, thì làm sao gọi là đang mất? Đã nói có sanh thì không thể là diệt. Vậy nên, để phá cái tâm chấp của chúng sanh, Lục Tổ dạy chúng ta dùng chính pháp đối đãi để phá nhau: hỏi sáng thì lấy tối phá, hỏi tối thì lấy sáng phá, hỏi trần cấu thì lấy hư không phá v.v… Dùng hai cái đối đãi triệt tiêu lẫn nhau, vì bản chất chúng vốn không cùng tồn tại.
Thế nhưng, thể Như Lai của chúng ta thì sao? Nó trùm khắp, còn các pháp đối đãi thì triệt tiêu nhau, làm sao cái đối đãi ấy có thể là thể của mình được? Mình mới là người trùm khắp các pháp đó. Chúng ta hãy tự hỏi: Nếu thiện là mình, tại sao có lúc mình lại tạo ác? Nếu mình là thiện, mình phải mất đi khi ác khởi lên. Vậy cái lúc người làm ác đó là ai? Người đâu phải lúc nào cũng chỉ làm ác hay chỉ làm thiện, vậy chẳng lẽ cái tâm mình cứ biến đổi khi thiện khi ác sao? Không bao giờ!
Pháp sanh diệt đối đãi luôn triệt tiêu lẫn nhau, nên chúng không thể là mình. Chỉ có cái thể chân thật như hư không, trùm khắp, bao gồm cả thiện lẫn ác, cả hai bên đối đãi đó, mới chính là mình. Tổ chỉ ra điều này để chúng ta đừng bám víu vào các pháp đối đãi mà quên đi cái hư không trùm khắp, cái thể tâm lặng lẽ biết khắp của chính mình. Đó là phương cách Tổ giúp chúng ta bỏ được mê lầm, không còn bị kẹt vào cái chấp một bên hay hai bên nữa.
“Xem tợ trăng trong nước,
Nghe như gió bên tai.”
“Xem tợ trăng trong nước” nghĩa là sao? Khi ta thấy các pháp, hãy thấy giống như nhìn bóng mặt trăng trong nước vậy. Trăng ở trên trời mới là thật, còn trăng hiện trong nước chỉ là cái bóng, vốn không có thật. Những người ngu muội thường ví như kẻ dại khờ nhảy xuống hồ để hớt bóng trăng, đâu có được! Nếu chúng ta là người sáng suốt, khi thấy các pháp – những thứ vốn do nhân duyên hòa hợp mà thành – chúng ta sẽ biết ngay chúng chỉ là hình bóng, không có thực thể.
Còn “Nghe như gió bên tai” là khi nghe âm thanh, ta hãy xem nó như luồng gió thổi qua tai. Gió thổi qua thì có gì để ta phải phân biệt? Tiếng khen hay tiếng chửi, tiếng chim hót hay tiếng ồn ào, tất cả cũng chỉ như gió thoảng qua, qua rồi là mất. Nếu chúng ta không vì mấy tiếng đó mà khởi tâm thương ghét, thì làm sao chúng có thể làm chúng ta vui buồn được?
Có một vị hành giả đã công phu như thế này: khi tiếp xúc với tiếng khen, vị ấy tự hỏi: cái “vui” này từ đâu mà ra? Nó chỉ là sự hòa hợp giữa cái tai, âm thanh và sự quy định của tâm thức mà thôi. Vì là nhân duyên hòa hợp, nên khi nhân duyên tan, tiếng ấy mất đi thì cái vui kia cũng biến mất. Ngược lại với tiếng chửi cũng vậy. Hiểu được điều đó, vị ấy không còn bận tâm đến việc là tiếng khen hay tiếng chửi nữa.
Có câu chuyện về một người cha vì quá bực bội tiếng ồn karaoke bên hàng xóm mà đã gây ra án mạng, gia đình tan nát. Chỉ vì sân hận nổi lên mà cả một cuộc đời, một tương lai của đứa con, hay chính bản thân mình đều rơi vào bi kịch. Nếu lúc đó ông ấy xem tiếng ồn ấy như gió bên tai, thì đã không có chuyện gì xảy ra.
Đức Phật – bậc đại giác – Ngài luôn làm chủ các căn. Khi Ngài nhập định, dù bên ngoài có sét lớn đánh chết trâu, tiếng người la khóc om sòm v.v…, Ngài vẫn không nghe gì hết. Đó là vì Ngài chủ động đóng các căn lại. Còn chúng ta, chưa đạt đến cảnh giới ấy, thì ít nhất cũng phải học cách xem tiếng khen chê như gió bên tai.
Khi chúng ta thấu hiểu sự vô thường của các pháp, thấy được sự giả dối của “trăng trong nước” và “gió bên tai”, chúng ta sẽ không còn buồn phiền vì ai nữa. Ngay cả khi người ta ghét mình mà họ chết đi, thì còn ai để mình ghét? Nhưng quan trọng là phải tu ở bên trong tâm mình. Nếu vẫn còn giữ tâm ghét bỏ, thì đời sau gặp lại dù không quen biết, tâm thức vẫn sẽ khởi ác cảm. Vì vậy, chọn cái thiện hay chấp cái ác đều là ở trong vòng sanh tử, đều không tự tại.
Tóm lại, Tổ dạy chúng ta thấy nghe thì vẫn cứ thấy nghe đó, nhưng phải thấu được thật tướng của các pháp để không dính mắc. Thấy như trăng trong nước, nghe như gió bên tai – đó là cách chúng ta dụng công để không còn bị các pháp sanh diệt lôi kéo nữa.
“Pháp thân nào tăng giảm,
Ba cõi gọi “chân không”.”
Pháp thân thanh tịnh của chính mình vốn không hề có hai bên, nên cũng chẳng bao giờ có chuyện tăng hay giảm. Như kinh nói “bất tăng bất giảm”, Pháp thân xưa nay chưa từng tăng thêm một chút, cũng chẳng bao giờ giảm bớt một phân. Nó trùm khắp và nhận biết tất cả; nếu nó thuộc về phạm trù tăng hay giảm thì nó đã rơi vào sự đối đãi, mà đã đối đãi thì hai bên triệt tiêu lẫn nhau. Nếu ta là “tăng”, thì ta đâu thể là “giảm”? Nếu không là “giảm” thì sao ta nhận biết được “giảm”? Chính vì bản thể không tăng không giảm, nên ta mới nhận biết được các pháp có tăng có giảm. Chúng ta phải nắm vững lý luận này: chính vì mình không phân biệt, không rơi vào hai bên, mình mới nhận biết được thế giới phân biệt và hai bên đó.
“Ba cõi gọi chân không” nghĩa là thế nào? Tam giới này, hình tướng tuy như vậy, nhưng nếu tâm ta không trùm khắp thì làm sao ta nhận biết được tam giới, làm sao ta có thể sanh lên đọa xuống trong đó? Chính vì tâm trùm khắp, nên cái thân huyễn hóa này mới có thể vận động trong đó được. Chỗ này là chỗ chúng ta phải dám tin, dám nhận và dám sống với nó. Sự thật chính là như vậy, chỉ vì chúng ta quen sống trong sanh tử, quen làm kẻ hạ tiện, nên khi nghe đến cảnh giới vượt ngoài đối đãi, chúng ta không dám tin, sợ rằng nếu bỏ tâm đối đãi thì mình sẽ mất đi. Giống như Ngài A-nan từng lo lắng: nếu không suy nghĩ nữa thì mình thành cây cỏ hay sao? Chúng ta phải cẩn thận, mình có sẵn đó, chỉ là không dám nhận cái Pháp thân trùm khắp, không dám nhận sự chiếu soi của chính mình làm chủ nhân ông.
Như Ngài Phó Đại Sĩ từng nói: “Ngày ngày cùng Phật đi, đêm đêm ôm Phật ngủ”. Có ông Phật bên trong, chúng ta mới đi được, mới ngủ được v.v… Lúc ngủ mà biết nằm mơ, ấy là nhờ có ông chủ bên trong đó. Chúng ta vốn dĩ luôn đi cùng Phật, ngủ cùng Phật, chỉ là không chịu nhận, không chịu tin đó là ông Phật của chính mình mà thôi.
Tóm lại, câu “bất tăng bất giảm” cũng như những đoạn trước, đều chỉ cho chúng ta thấy tánh chân thật vượt ngoài đối đãi. Các pháp hai bên hiện tướng ở đời chỉ là giả dối, triệt tiêu lẫn nhau và không hề có thật. Hãy khẳng định chắc chắn như vậy để trở về với cái chân không trùm khắp của chính mình.