Gayaśāta
Ngài họ Uất-đầu-lam ở nước Ma-đề, cha hiệu Thiên Cái, mẹ là Phương Thánh. Bà Phương Thánh thọ thai, một đêm mộng thấy có người cầm gương báu đến nói: “Tôi đến.” Bà chợt tỉnh giấc, nghe toàn thân nhẹ nhàng thanh thản, khác hơn ngày thường. Trong nhà có mùi hương lạ, vài lần hào quang xuất hiện. Bảy ngày sau bà sanh ra ngài. Thân ngài trong sáng giống như lưu ly.
Ngài thích chỗ vắng vẻ, nói ra những lời siêu việt. Nhà cha mẹ ngài ở trên núi Bảo-lạc-ca. Sau khi ngài ra đời, ngôi nhà này luôn luôn có áng mây tía che đậy trên không. Tổ Tăng-già-nan-đề nhân thấy áng mây ấy, tìm đến gặp ngài. Từ đó, ngài theo làm đệ tử Tổ.
Về sau, ngài được Tổ truyền tâm ấn và thống lãnh đồ chúng. Tùy duyên, ngài đi vân du khắp nơi để giáo hóa làm lợi ích cho quần sanh.
Khi tuổi đã già, ngài du hóa đến nước Nguyệt Chi. Trong nước này có người dòng Bà-la-môn tên Cưu-ma-la-đa tuổi được ba mươi tu theo ngoại đạo, chủ thuyết tự nhiên. Ông có nuôi một con chó, mỗi khi ăn xong, con chó ra hành lang dưới tấm rèm nằm. Có những khi mưa gió ướt cả mình, mà nó vẫn nằm đó. Người nhà sợ nó lạnh đuổi đi chỗ khác, rồi nó cũng trở lại chỗ đó nằm. Cưu-ma-la-đa lấy làm lạ, đem việc này hỏi thầy ông, nhưng không giải được điều gì. Ông mong có dịp gặp những bậc tu hành đạo đức cao cả để nhờ giải nghi.
Ngài cùng đồ chúng đi đến gần nhà người Bà-la-môn này, bỗng thấy khí Đại thừa xông lên, ngài dừng lại bảo chúng:
– Khí này nếu vòng tròn như khoen đeo tai là có Bồ-tát bên cạnh. Nay khí này tương tự vòng tròn ắt có thánh nhân ở gần đây.
Thầy trò đi một đỗi, bỗng có người Bà-la-môn đến hỏi thị giả: “Thầy đây là người gì?” Thị giả đáp: “Là đệ tử Phật.” Người ấy liền chạy thẳng vào nhà đóng cửa lại. Ngài đi theo đến nơi gõ cửa. Trong nhà nói vọng ra:
– Nhà này không có người.
Ngài hỏi:
– Đáp không người đó là ai?
Cưu-ma-la-đa nghe nói có vẻ lạ, nghi là bậc đạo hạnh bèn mở cửa ra thấy ngài, ông chào và thỉnh ngồi ghế giữa, đoạn đem nghi vấn về con chó ra hỏi. Ngài giải thích:
– Con chó này là cha của ông, bởi có chút ít nghiệp nên đọa làm súc sanh. Xưa kia cha ông đem cả ngàn đính vàng để trong cái hũ lén chôn dưới rèm. Đến khi người chết, chưa gặp ông để trối lại, vì còn tiếc của này nên sanh ra làm chó để gìn giữ. Nếu ông đào lấy được, ắt nó sẽ bỏ đi.
Cưu-ma-la-đa liền cho người đào chỗ con chó nằm, quả nhiên được hũ vàng đúng như lời ngài nói. Ông hết lòng kính phục phát nguyện xuất gia. Ngài hoan hỷ chấp nhận làm lễ xuất gia thọ giới và cho làm thị giả.
Vị Tổ này ra đời có rất nhiều điềm lạ, như chúng ta đã đọc trong phần chánh văn. Ở đây chỉ nhắc lại nhân duyên trước khi sanh ngài ra. Mẹ ngài nằm mộng thấy có người cầm gương báu đến nói: “Tôi đến.” Bà chợt tỉnh dậy thì cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng khỏe khoắn, bảy ngày sau sanh ra ngài. Điều này những vị nào đã làm mẹ thì có kinh nghiệm. Thường các bậc thánh nhân nương tựa vào thai mẹ, người mẹ luôn luôn có những hiện tượng tốt như thích ăn chay, thích làm việc thiện, thì biết rằng đứa con ra đời sau này sẽ có chủng tử lành.
Thân ngài trong sáng giống như lưu ly, ưa thích chỗ vắng vẻ, thường nói ra những lời siêu việt. Ngôi nhà ngài ở luôn có áng mây tía che. Tổ Tăng-già-nan-đề nhân thấy áng mây ấy, tìm đến gặp ngài. Sau đó, ngài xuất gia làm đệ tử Tổ.
Sau khi được Tổ truyền tâm ấn, ngài thống lãnh đồ chúng vân du khắp nơi để giáo hóa làm lợi ích cho quần sanh. Đến nước Nguyệt Chi, có Bà-la-môn tên Cưu-ma-la-đa, ba mươi tuổi tu theo chủ thuyết tự nhiên của ngoại đạo. Nhà ông có nuôi một con chó, mỗi khi ăn xong, nó ra hành lang dưới tấm rèm mà nằm. Những khi mưa gió ướt mình nó vẫn nằm đó. Cưu-ma-la-đa lấy làm lạ, đem việc này hỏi thầy nhưng thầy không giải thích được. Ông mong gặp những bậc tu hành đạo đức cao cả để nhờ giải nghi.
Tổ cùng đồ chúng đi đến gần nhà người Bà-la-môn này, ông thấy đệ tử Phật nên không thích không muốn gặp, bèn chạy vô nhà đóng cửa lại, nhưng Tổ cũng không bỏ qua liền đến gõ cửa, trong nhà Cưu-ma-la-đa nói vọng ra rằng: Nhà này không có người. Khi đáp như vậy là đã lên tiếng có người rồi. Vì vậy mà Tổ hỏi: Đáp không người đó là ai? Ông không trả lời được nên đành mở cửa ra, mời Tổ vô nhà ngồi. Nhân đó đem câu chuyện con chó mà hỏi. Tổ liền giải thích:
– Con chó này là cha của ông, bởi có chút ít nghiệp nên đọa làm súc sanh. Xưa kia cha ông đem cả ngàn đinh vàng để trong cái hũ lén chôn dưới rèm. Đến khi người chết, chưa gặp ông để trối lại, vì còn tiếc của này nên sanh ra làm chó để gìn giữ. Nếu ông đào lấy được, ắt nó sẽ bỏ đi.
Cưu-ma-la-đa cho người đào chỗ con chó nằm, quả nhiên được hũ vàng đúng như lời ngài nói.
Tổ đã thấu triệt lý nhân quả, thấy rõ được sự thật mới dám kể lại chuyện này, để người có niềm tin mà giáo hóa họ. Nếu không có bằng chứng mà nói con chó là cha, họ không tin nhân quả rồi nổi sân cự lại. Do đó, khi nghe Tổ giải thích ông hết lòng kính phục, phát nguyện xin xuất gia.
Nghe câu chuyện này, người không hiểu cho là mê tín. Nhưng người hiểu rõ lý luân hồi thì không có gì lạ. Bởi vì tâm còn luyến ái của cải, nhà cửa, đồ dùng quý báu… nên khi sắp chết sẽ tùy theo nghiệp mà trở lại. Nếu có phước thì trở lại làm người để giữ, vô phước trở lại làm súc vật để giữ của. Như trường hợp con chó nói trên, đó là cái gốc khổ của chúng sanh.
Thấy cơ duyên đã mãn, ngài kêu Cưu-ma-la-đa đến dặn dò:
– Xưa Như Lai đem đại pháp nhãn trao cho tổ Ca-diếp truyền lần đến ta, nay ta truyền lại cho ngươi. Ngươi nghe ta dạy:
Hữu chủng hữu tâm địa,
Nhân duyên năng phát mạnh.
Ư duyên bất tương ngại,
Đương sanh sanh bất sanh.
Dịch:
Có giống có đất tâm,
Nhân duyên hay nảy mầm.
Đối duyên chẳng ngại nhau,
Chính sanh, sanh chẳng sanh.
Cưu-ma-la-đa cung kính vâng dạy, đảnh lễ lãnh thọ. Ngài dùng mười tám phép thần biến rồi viên tịch. Đồ chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Tổ thấy ngài Cưu-ma-la-đa thấu triệt đạo lý và cơ duyên giáo hóa của Tổ đã viên mãn, ngài liền nói kệ truyền pháp cho Cưu-ma-la-đa:
Có giống có đất tâm,
Nhân duyên hay nảy mầm.
Đối duyên chẳng ngại nhau,
Chính sanh, sanh chẳng sanh.
Có hạt giống có đất tâm, đầy đủ nhân duyên thì hạt giống nảy mầm. Vậy hạt giống, đất tâm là cái gì? Chúng ta ai cũng có sẵn tâm thể sáng suốt yên tịnh, gọi là tâm địa hay đất tâm. Tùy duyên mà gieo giống vào đất tâm, đầy đủ nhân duyên thì sanh trưởng, nhưng các duyên không làm chướng ngại nhau. Tại sao chính khi sanh lại không có sanh? Nếu đạt lý nhân duyên thì không có thật sanh, thật tử. Bởi vì căn cứ vào lý nhân duyên thì tự tánh là Không, duyên hợp gọi là sanh, duyên tan gọi là tử. Cho nên khi sanh không có cái thật sanh, khi tử không có cái thật tử. Vì các pháp tự tánh như huyễn, thì có gì là sanh tử. Biết được sanh mà chẳng sanh là rõ được lý vô sanh.
Nghe bài kệ này rồi, ngài Cưu-ma-la-đa cung kính đảnh lễ thọ trì. Nói kệ truyền pháp xong, Tổ thị hiện mười tám phép thần biến rồi viên tịch. Đồ chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.