Nāgārjuna
Ngài cũng có tên là Long Thắng, dòng Phạm chí ở miền Tây Ấn. Thuở nhỏ, ngài bẩm tánh thông minh, vừa nghe Phạm chí tụng bốn bộ kinh Phệ-đà là ngài thuộc lòng văn nghĩa. Đến hai mươi tuổi, ngài đi châu du khắp các nước tìm học các môn thiên văn địa lý, toán số, sấm ký và các học thuật của ngoại đạo. Môn nào ngài học đến đều xuất sắc hơn mọi người.
Nhân một cơ duyên chẳng lành, ngài nhận thức được các pháp là vô thường đau khổ nên vào núi ở ẩn. Số người tìm đến cầu học với ngài rất đông.
Bồ-tát Long Thọ ra đời sau đức Phật Niết-bàn khoảng sáu trăm năm, nổi tiếng nhất về truyền bá chánh pháp Đại thừa. Có nhiều chỗ nói ngài là nhà khảo cổ nổi tiếng. Những kinh điển Đại thừa bị mai một mà đến đời ngài thì được truyền bá và viết thành những quyển luận rất có giá trị.
Thuở nhỏ, ngài là người thông minh tài giỏi, học thông tất cả môn thiên văn địa lý, toán số, sấm ký và các học thuật của ngoại đạo. Nghe Phạm chí tụng bốn bộ kinh Phệ-đà liền thuộc lòng văn nghĩa.
Sau này có một nhân duyên không lành, thấy cuộc đời vô thường, ngài vào ẩn trong núi. Là một nhân tài nổi tiếng, cho nên khi ẩn trong núi mà vẫn có nhiều người tìm đến tham học. Vì vậy sau ngài có cả năm trăm vị nhân tài.
Sau khi gặp tổ Ca-tỳ-ma-la cảm hóa, ngài xin xuất gia được Tổ độ cho và truyền tâm ấn. Từ đó, ngài vân du thuyết pháp khắp nơi, lần lượt đến miền Nam Ấn. Dân chúng xứ này chỉ sùng phước nghiệp, từ khi ngài đến đem pháp yếu chỉ dạy, họ tự bảo nhau: “Chỉ phước nghiệp này là việc tối thắng, nói về Phật tánh thì đâu thể thấy!”
Ngài nhân đó bảo họ:
– Các ngươi nếu muốn thấy được Phật tánh thì trước hết bỏ tâm ngã mạn đi, mới có thể thấy được.
Họ hỏi ngài:
– Phật tánh lớn hay nhỏ?
Ngài đáp:
– Chẳng nhỏ chẳng lớn, không rộng không hẹp, không phước không báo, chẳng chết chẳng sống.
Dân chúng nghe ngài nói tột lý, vui mừng nguyện học pháp ấy. Ngài liền ngay trên tòa hóa thân như vầng mặt trăng. Dân chúng tuy nghe thuyết pháp mà không thấy có hình ngài. Trong ấy có con một ông nhà giàu tên là Ca-na-đề-bà, thấy thế liền cảm ngộ.
Đề-bà bảo dân chúng:
– Biết tướng này chăng?
Dân chúng thưa:
– Chúng tôi không thể phân biệt được.
Đề-bà nói:
– Đây là Bồ-tát thị hiện để biểu thị Phật tánh, muốn chúng ta hiểu rõ vậy. Vô tướng tam-muội giống như mặt trăng tròn là nghĩa Phật tánh rỗng rang sáng suốt.
Đề-bà nói dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-tát hiện ngồi an nhiên chỗ cũ nói kệ:
Thân hiện viên nguyệt tướng,
Dĩ biểu chư Phật thể.
Thuyết pháp vô kỳ hình,
Dụng biện phi thanh sắc.
Dịch:
Thân hiện tướng trăng tròn,
Để nêu thể chư Phật.
Nói pháp không hình ấy,
Dùng rõ phi thanh sắc.
Toàn chúng nghe xong đều cảm ngộ cầu xin xuất gia. Ngài triệu tập các bậc thánh tăng đến truyền giới. Trong số xuất gia này, Đề-bà là người dẫn đầu.
Sau khi gặp tổ Ca-tỳ-ma-la, ngài ngộ đạo và được truyền tâm ấn. Ngài vân du giáo hóa khắp nơi lần lượt đến miền Nam Ân, có một vùng dân chúng chỉ sùng phước nghiệp, cho phước nghiệp là tối thắng. Khi tới đó ngài dạy cho họ về Phật tánh, họ tự bảo nhau chỉ có phước nghiệp là tối thắng, nói về Phật tánh thì đâu thể thấy!
Nhân đó ngài bảo họ: Các ngươi muốn thấy Phật tánh, thì trước hết phải bỏ tâm ngã mạn mới có thể thấy được. Tại sao muốn thấy Phật tánh phải bỏ tâm ngã mạn? Vì bao nhiêu vọng tưởng điên đảo gốc từ chấp ngã mà ra, muốn hết vọng tưởng điên đảo thì phải phá chấp ngã. Phá chấp ngã thì bao nhiêu vọng tưởng điên đảo theo đó mà hết, vọng tưởng điên đảo hết rồi thì Phật tánh hiện bày. Vì vậy ngài bảo: Muốn thấy Phật tánh phải bỏ tâm ngã mạn.
Họ hỏi Phật tánh lớn hay nhỏ? Câu hỏi này giống như những người nhà quê. Nghe nói Phật tánh, mà không biết Phật tánh lớn hay nhỏ? Ngài trả lời: Chẳng lớn chẳng nhỏ, không rộng không hẹp, không phước không báo, chẳng chết chẳng sống. Tại sao? Vì Phật tánh không tướng mạo, nên không hạn cuộc trong cái lớn nhỏ, rộng hẹp. Phật tánh là vô sanh nên không hạn cuộc ở trong chết sống. Vô sanh là từ trước đến giờ chưa từng sanh thì đâu có diệt mà chết. Không diệt thì làm gì có sanh mà sống.
Phật tánh tròn đầy sáng suốt thanh tịnh, cho nên không phước cũng không báo. Bởi vì phước báo là phước do mình tạo, rồi được hưởng quả. Như vậy phước báo cũng là sanh diệt, Phật tánh thì thanh tịnh sáng suốt không sanh diệt nên không phải là phước báo. Người biết được lý này cao siêu mà hâm mộ là người đã nhiều đời gieo trồng căn lành. Nghe Tổ trả lời như vậy dân chúng vui mừng phát tâm nguyện học theo pháp ấy.
Khi nói pháp, Tổ liền hiện ra tướng mặt trăng tròn, dân chúng tuy nghe tiếng thuyết pháp mà không thấy ngài. Toàn chúng không ai hiểu gì, chỉ có ngài Ca-na-đề-bà trông thấy liền ngộ. Ngài mới hỏi trong dân chúng rằng: Biết tướng này chăng? Dân chúng thưa: Chúng tôi không thể phân biệt được. Đề-bà nói: Đây là Bồ-tát thị hiện tướng trăng tròn để biểu thị Phật tánh, muốn chúng ta hiểu rõ vậy.
Vô tướng tam-muội giống như mặt trăng tròn, nghĩa là Phật tánh tròn đầy rỗng rang sáng suốt mà không hình tướng. Cho nên trong nhà thiền thường dùng mặt trăng tròn để chỉ cho Phật tánh. Đề-bà nói dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-tát hiện ngồi an nhiên chỗ cũ nói kệ:
Thân hiện tướng trăng tròn,
Để nêu thể chư Phật.
Nói pháp không hình ấy,
Dùng rõ phi thanh sắc.
Thân ngài hiện ra tướng mặt trăng tròn là để biểu thị bản thể chư Phật. Thuyết pháp không có hình tướng kia, là dùng để biện rõ nó không phải là âm thanh sắc tướng. Khi thân ngài hiện ra tướng mặt trăng tròn không nói câu nào, để hiển thị Phật tánh tròn sáng mà không tướng mạo. Người ngộ được lý trên là ngộ được bản tánh.
Hình ảnh thuyết pháp này giống như ở hội Linh Sơn Phật đưa cành hoa sen lên nhìn đại chúng mà không nói gì cả. Nhưng ở đây có vẻ huyền bí, hiện vầng trăng tròn không nói câu nào. Người căn cơ bén nhạy nhìn thấy liền lãnh hội. Toàn chúng nghe xong liền cảm ngộ xin xuất gia, trong số đó ngài Đề-bà là vị đệ tử xuất sắc nhất.
Từ ngữ viên nguyệt tướng trong bài kệ truyền pháp liên hệ đến câu chuyện thiền Nhật Bản sau đây:
Một nhà sư đang ngồi tu trong am trên núi. Hôm đó đêm rằm trăng sáng tròn, có một chú ăn trộm rình mò muốn lấy cắp. Khi ấy nhà sư thấy chú ăn trộm rất đáng thương, nhìn tới nhìn lui thấy không có gì, liền cởi chiếc áo rách cho. Nhưng cái áo rách đâu có giá trị gì! Nhà sư nhìn lên trời thấy mặt trăng tròn sáng đẹp đẽ, liền nói: Ước gì tôi lấy được mặt trăng này đem cho người bạn đáng thương kia thì quý biết bao nhiêu.
Ý muốn nói nhà sư đã tỉnh giác, nhận ra được Phật tánh tròn sáng sẵn có nơi mình, nhưng rất tiếc anh chàng kia có của báu mà không biết dùng, cứ lê cái thân đi rình mò kiếm những manh áo rách, thật là đáng thương biết mấy! Ước gì anh ấy nhận được mặt trăng thật nơi mình thì sẽ sung sướng biết chừng nào. Đó là ý nghĩa rất thâm sâu trong nhà thiền.
Một quốc gia ở miền Nam Ấn, có đến năm ngàn người tu theo ngoại đạo được nhiều phép lạ, vua và quốc dân đều thọ giáo nơi họ, khiến đạo Phật mờ tối. Ngài thấy thế cảm động bèn đổi hình thức, mặc áo trắng đợi mỗi khi vua ra thành, ngài cầm cây cờ đi trước, hoặc ẩn hoặc hiện. Làm như thế đến bảy lần.
Hôm nọ, vua lấy làm lạ kêu lại hỏi:
– Ngươi là người gì dám đi trước ta, mà bắt không được, thả chẳng đi?
Ngài đáp:
– Tôi là người trí, biết tất cả việc.
Vua nghe ngạc nhiên, muốn thí nghiệm, nói:
– Chư thiên nay đang làm gì?
Ngài đáp:
Chư thiên đang đấu chiến với a-tu-la
Vua hỏi:
– Làm sao biết được?
Ngài đáp:
– Nếu Bệ hạ muốn biết chốc lát sẽ thấy chứng nghiệm.
Quả nhiên, phút chốc thấy gươm giáo tay chân ở trên không rơi xuống. Vua và quốc dân rất kính phục ngài. Nhân đó, ngài chuyển họ trở lại quy y Tam bảo.
Ngài đến vùng Nam Ấn, nhà vua và dân chúng tu theo ngoại đạo gần hết. Thấy Phật giáo nơi đây lu mờ, ngài mới tìm cách để chuyển hóa. Muốn chuyển hóa dân chúng trước phải chuyển hóa nhà vua. Vì vậy ngài đổi hình thức giả người thường mặc áo trắng, đợi mỗi khi vua ra thành ngài cầm cờ đi trước, khi ẩn khi hiện. Nhà vua thấy lạ mới kêu hỏi: Ngươi là người gì dám đi trước ta mà bắt không được, thả chẳng đi? Ngài đáp: Tôi là người trí, biết tất cả việc. Đáp câu đó là để khích cho nhà vua hỏi tiếp. Nhà vua cũng là tay cừ khôi, nghe nói người trí mà không chịu hỏi chuyện thế gian lại hỏi chuyện trên trời: Chư thiên nay đang làm gì?
Người trí biết tất cả thì biết chuyện thế gian chứ không thể biết chuyện trên trời. Nhà vua hỏi chuyện trên trời để ngài không trả lời được. Nhưng ngài không chịu thua đáp: Chư thiên đang đấu chiến với a-tu-la. Nhà vua liền bẻ lại: Làm sao biết được? Như vậy là muốn đặt ngài vào thế bí. Nhưng ngài liền đáp: Nếu Bệ hạ muốn biết, chốc lát sẽ được chứng nghiệm. Quả nhiên, phút chốc thấy gươm giáo tay chân từ trên hư không rơi xuống, chẳng biết có thật không, hay là ngài hóa ra. Thấy vậy nhà vua nghi ngờ nhưng cũng đầu hàng, vì không biết lấy đâu làm bằng chứng. Ngài dùng phương tiện giáo hóa chuyển họ trở lại quy y Tam bảo.
Một hôm, ngài gọi Ca-na-đề-bà đến dặn dò:
– Như Lai lấy đại pháp nhãn tạng trao cho tổ Ca-diếp, truyền cho đến đời ta, nay ta trao cho ngươi. Hãy nghe kệ:
Vị minh ẩn hiển pháp,
Phương thuyết giải thoát lý.
Ư pháp tâm bất chứng,
Vô sân diệc vô kỷ.
Dịch:
Vì sáng pháp ẩn hiển,
Mới nói lý giải thoát.
Nơi pháp tâm chẳng chứng,
Không sân cũng không hỷ.
Dặn dò xong, ngài nhập Nguyệt luân tam-muội rồi hiện tướng thần biến vào Niết-bàn.
Ngài sáng tác nhiều bộ luận để xiển dương giáo pháp Đại thừa:
Bồ-tát Mã Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp Đại thừa, chính ngài Long Thọ là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho đến vô tận ngọn đuốc Đại thừa. Những tác phẩm của ngài, bộ Trung Luận có giá trị nhất, đến nay đã dịch ra nhiều thứ tiếng để truyền bá khắp thế giới.
Ngài sắp Niết-bàn mới gọi đệ tử là Đề-bà dặn dò và nói kệ truyền pháp:
Vì sáng pháp ẩn hiển,
Mới nói lý giải thoát.
Nơi pháp tâm chẳng chứng,
Không sân cũng không hỷ.
Muốn cho người thấu hiểu được tâm chân thật không ẩn cũng không hiển, nên mới nói lý giải thoát. Đối với tất cả pháp, tâm không có chứng đắc, thì không có sân có hỷ. Tại sao? Vì người tu theo Thiền tông muốn đến chỗ cứu cánh thì không còn thấy năng chứng và sở chứng. Nếu còn thấy năng chứng sở chứng thì cái ngã chưa hết, nếu ngã chưa hết là còn sân còn hỷ, là còn đối đãi. Bởi vì năng chứng là người, sở chứng là pháp, còn có người có pháp là còn có hai. Người đạt đến chỗ viên mãn cứu cánh vượt ngoài đối đãi năng và sở, cho nên nói không chứng, không đắc, không sân không hỷ.
Nói kệ truyền pháp xong, ngài nhập Nguyệt luân tam-muội rồi hiện tướng thần biến vào Niết-bàn.
Ngài sáng tác nhiều bộ luận để xiển dương giáo pháp Đại thừa:
Bồ-tát Mã Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp đại thừa, chính Bồ-tát Long Thọ là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho đến vô tận ngọn đuốc Đại thừa. Những tác phẩm của ngài bộ Trung Luận có giá trị nhất, đến nay đã dịch ra nhiều thứ tiếng để truyền bá khắp thế giới.
Khi nói tới Bồ-tát Long Thọ thì chúng ta không thể nào quên được bộ luận nổi danh nhất của ngài là Trung Quán Luận. Người học Phật bây giờ, muốn hiểu nghĩa lý thâm sâu của Phật pháp thì không thể bỏ qua bộ luận này.
Trước khi Thiền tông truyền vào Trung Hoa, đề xướng phương pháp tu thiền nổi tiếng là ngài Trí Khải. Ngài Trí Khải chịu ảnh hưởng của ngài Huệ Tư, ngài Huệ Tư chịu ảnh hưởng của ngài Huệ Văn thuộc thiền phái Thiên Thai. Ngài Huệ Văn ngộ bài kệ trong Luận Trung Quán: “Nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc danh vi giả danh, điệc danh trung đạo nghĩa”, nên lập ra ba pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung quán.
Đọc bộ Trung Luận thấy lối lý luận quá khúc chiết, người thường không hiểu nổi. Nếu hiểu được thì thấy thật là hay. Tất cả những kinh điển Đại thừa của Phật, trong đó ngài xiển dương mạnh mẽ nhất là bộ Bát-nhã. Sau này ngài lại viết nhiều bộ luận để giải thích về bộ Hoa Nghiêm. Vì vậy chúng ta biết rằng tinh thần Đại thừa Phật giáo sống dậy rất mạnh mẽ ở Ấn Độ sau Phật Niết-bàn khoảng sáu trăm năm, Bồ-tát Long Thọ là người có công to lớn nhất. Tuy trước ngài đã có tổ Mã Minh, nhưng tổ Mã Minh chỉ gieo mầm, đến ngài mới là rực rỡ.