Nội dung:
Sư tục danh Triệu Pháp Hựu, quê ở Tu Võ, Cấp Quận. Thuở nhỏ, Sư tánh tình thành tín chất phác tự nhiên. Tuy nhỏ mà không ăn quá ngọ, cha mẹ cho là khác thường. Đến khi thành nhân, Sư quyết tâm tiến bước trên con đường giải thoát, thế mà đến năm hai mươi bảy tuổi mới được xuất gia.
Sư thờ sư ni Huệ Thông ở Quảng Lăng làm thầy. Sư tu hành giới luật rất nghiêm minh, thiền quán thanh bạch. Mỗi khi Sư nhập định đến đôi ba ngày mới xuất. Tâm chuyên trong tịnh cảnh, hình tướng như cây khô, những kẻ thô thiển không thể hiểu thấu được.
Niên hiệu Nguyên Gia thứ sáu (429) Lưu Tống Văn Đế, có thuyền chủ Nan-đề chở một số ni từ nước Sư Tử (Tích Lan) đến, tạm trú tại chùa Cảnh Phước, kinh đô nhà Tống, chư ni ấy hỏi Sư:
– Nước này từ trước đến nay có Ni ngoại quốc đến chăng?
Sư đáp: – Chưa có.
Chư ni hỏi:
– Các vị Ni xứ này trước đây thọ giới làm sao có đủ hai bộ Đại tăng?
Sư đáp:
– Chỉ theo Sư tăng thọ giới, không có Sư ni. Bởi do nhận hiểu Phật pháp và tín tâm kính trọng là phương tiện được giới. Như bà Đại Ái Đạo do pháp Bát kỉnh mà đắc giới, sau này mới làm Hòa thượng cho năm trăm Thích nữ xuất gia thọ giới.
Tuy Sư đáp như thế, nhưng trong lòng vẫn chẳng an, Sư đến hỏi Pháp sư và được giải đáp giống như ý kiến của Sư. Sư thưa:
– Nếu có đủ hai bộ Đại tăng, có thọ giới lại được chăng?
Pháp sư đáp:
– Giới định tuệ càng sâu càng quý, thọ lại thêm tốt có hại gì!
Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười (433) thuyền chủ Nan-đề lại chở mười một vị ni từ nước Sư Tử, sư ni Thiết-tát-la… sang kinh đô Tống. Những vị ni đến trước đã thông tiếng Trung Hoa nên tổ chức giới đàn tại chùa Nam Lâm, thỉnh pháp sư Tăng-già-bạt-ma (Samghavarman) làm chủ đàn.
Sư và ni chúng đồng xin thọ giới, đến trên ba trăm vị. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười tám (441) Sư được ba mươi tư tuổi, một hôm toạ thiền quên mất thời gian, trải qua nhiều ngày mà không xuất định. Duy-na thấy thế cố tình xúc chạm đến thân mà không thấy động, kinh hãi chạy đến báo cho ban chức sự trong chùa hay, cả chúng đồng đến xem, thấy thân Sư ngồi như chết chỉ còn hơi ấm, họ toan khiêng Sư dời sang nơi khác. Do nghe tiếng ồn ào, Sư liền xuất định, cười nói như thường.
Không biết sau này Sư tịch lúc nào và ở đâu.
Sư tục danh Lưu Thắng, quê ở Tiêu Quận. Sau khi xuất gia Sư giới luật tinh nghiêm, trì kinh không biết mỏi mệt. Chùa nằm trên sườn núi, chung quanh rừng rậm thâm u vắng bặt mọi âm ba tạp nhạp thế gian. Sư chuyên tâm tu thiền định, gột sạch trần lao.
Dưới núi có một người mất trâu, tìm kiếm mãi tới tối mà không được. Trông lên sườn núi, dường như lửa cháy sáng rực một vùng, họ tìm đến nơi lại là chùa Trúc Lâm mà không có lửa cháy. Thường ngày có con cọp theo hầu Sư, tùy đi đâu nó liền theo bên cạnh, Sư ngồi thiền nó cũng ngồi một bên. Trong chùa nếu có vị ni nào phạm tội chưa kịp sám hối, nó gầm thét dữ dội cho đến khi nào sám hối mới thôi.
Hôm nọ Sư có việc xuống núi, đi đường bỗng gặp một người nữ ở miền bắc tên Cửu Văn Khương, quê ở ở Bắc Bình, hỏi chuyện nhau thân mật như người bạn cũ. Cô vì hâm mộ Phật pháp, nghe phương nam Phật pháp mở rộng, nên trốn tìm sang đây cầu xin xuất gia. Sư cảm mến thâu nhận về chùa cho xuất gia.
Cô cố gắng khổ tu như Sư không kém. Hai vị không cần ăn cơm, chỉ ăn mè bắp mà thôi. Tiếng đồn đến kinh đô nước phương Bắc, họ tôn xưng là bậc thánh nhân, sai người đến đón rước hai vị. Hai vị vì không thích ở biên cảnh nên tìm cách cho họ chán ghét. Khi vua phương Bắc thiết trai thịnh soạn cúng dường, hai vị ăn uống coi như thích thú, khiến họ bớt lòng kính trọng. Được cơ hội tốt, hai vị xin lui về chùa cũ.
Đến năm 93 tuổi, Sư không bệnh ngồi kiết già viên tịch.
Sư quê ở Đơn Dương, xuất gia lúc còn bé, là đệ tử Sư ni Huệ Quả chùa Cảnh Phước. Sư tánh tình trung cẩn, nói năng thanh nhã, động tác hợp luật, áo thô cơm hẩm. Danh tiếng Sư đồn đến kinh thành. Thứ sử Dương Châu, Lang Da Vương Úc rất sùng mộ kính trọng.
Về sau, Sư theo học thiền quán với thiền sư Cương-lương-da-xá (Kālayaśa) tu hành đến chỗ tinh mật. Mỗi khi cùng chúng toạ thiền, Sư nhập định quên cả động tịnh, mãn giờ chúng xả đi tứ tán, chỉ riêng Sư ngồi như người chết. Duy-na thấy lạ báo tin cho cả chúng đến xem. Đến mấy giờ sau, Sư mới tự động xả thiền. Toàn chúng đều quý kính sự tu hành đắc lực của Sư.
Niên hiệu Đại Minh thứ bảy (463) nhà Lưu Tống,
Sư thị tịch, thọ hơn sáu mươi tuổi.
Sư họ Chu, người quê Cao Bình, Lữ Khâu, tánh tình chất phác trầm lặng, tiết tháo như nam nhi, nói năng bộc trực. Bảy tuổi đã biết ăn chay, ý chí dũng mãnh. Năm mười tám tuổi, Sư xuất gia ở chùa Tam Tằng Kinh Châu.
Sư giới luật tinh nghiêm, trong đạo ngoài đời đều khen ngợi. Khi ấy tại Giang Lăng có vị ni ở ẩn người Tây Thổ (Trường An) nổi tiếng đức hạnh, thấy Sư lấy làm lạ bèn cùng nhau kết bạn tu hành. Hai vị cùng an cư nhập hạ, tập tu Bát-chu tam-muội (Pratyutpanna Samādhi) thân tâm tinh tấn ngày đêm không nghỉ.
Thẩm Du Chi làm thứ sử Phổ Sa ra lệnh cho tăng ni hoàn tục. Sư lánh nạn ở ngoại thành, đến khi họ Thẩm bị dẹp, Sư trở lại Tây. Nam Tề thái úy đại tư mã Dự Chương Vương hoàng tử Tiêu Nghi trấn thủ tại Kinh Thiểm, nghe Sư có đạo hạnh, cho người thỉnh vào nội cung cúng dường tứ sự.
Khi ấy có thiền sư Huyền Sướng từ đất Thục đến Kinh Châu, Sư nghe tên đến cầu học pháp thiền và nghiên cứu chỗ tinh diệu. Huyền Sướng từng khen ngợi Sư đã tu tập nhiều đời. Sư đã giỏi pháp thiền lại trai giới nghiêm mật. Tại Dự Chương, vương phi và nội cung quyến thuộc đều kính tin và thọ pháp thiền với Sư. Mỗi khi thí chủ cúng vật thực, Sư nhận xong liền phân chia, không có ý cất giữ. Sư nuôi dưỡng ý chí cao viễn, không bận tâm đến mưu sanh sản nghiệp.
Vương trở về kinh đô, thỉnh Sư cùng đi. Vương lập ngôi chùa Phước Điền tại phía đông phủ đệ ở Đông Điền, Sư thường vào đây hành đạo.
Niên hiệu Vĩnh Minh thứ chín (491) nhà Nam Tề, bỗng nhiên Sư tự la: “Gấp, gấp, bệnh khổ.” Nhan sắc Sư vẫn bình thường, chỉ không chịu ăn, nên thân thể tiều tụy. Sư một bề đòi trở về chùa cũ. Về đến nơi là bình phục ngay. Song hơn mười ngày, Sư lại bị thỉnh trở lại. Về đến chùa Phước Điền, bệnh cũ của Sư tái phát, mọi người không biết lý do gì. Bỗng nhiên Vương qua đời(1), gia đình gặp họa liên tiếp. Vua Tề Vũ Đế lấy Đông Điền làm phụ cận, bèn dựng chùa Tập Thiện, dời Sư và ni chúng đến chùa Tập Thiện, còn chùa Phước Điền cho đạo nhân A-lê người ngoại quốc ở.
Từ ngày đến chùa Tập Thiện ít khi Sư bước chân đến Đông Điền. Phật tử vùng này vì kính trọng ni chúng, hằng thỉnh cầu Sư trở lại đây để họ cúng dường. Trúc phu nhân muốn lập thiền trai, cho người đến thỉnh Sư, Sư hứa khả, bảo:
– Rất tốt, bần đạo sẽ đến cùng quý phu nhân từ biệt.
Sư đến nơi, thọ trai xong, đòi bút mực viết:
( Vương là con thứ hai của Tề Cao Đế, tánh hiếu dễ hiền hậu, không màng quyền lực. Khi thái tử phạm lỗi lớn, Cao Đế nổi giận, Vương vội báo cho anh. Thái tử bị trách phạt, Cao Đế từng có ý định lập Vương thế vị Thái tử, song Vương vẫn tiếp tục phục vụ anh trai một cách trung thực và thẳng thắn nên tình anh em không bị ảnh hưởng. Vương bệnh, bị thái tử (cháu) phục thuốc hại chết. Không lau sau thái tử cũng chết.
Người đời hoặc chẳng biết,
Gọi ta là bà Chu.
Trai bảy ngày chợt thỉnh,
Thiền trai mãi chẳng thôi.
Viết xong, Sư cười nói như thường, để lời từ biệt:
– Hôm nay ra khỏi chùa là vĩnh biệt, tuổi già không thể trở lại.
Sau khi về chùa hơn một tháng, Sư cho hay có bệnh, qua mấy ngày liền tịch, thọ 69 tuổi. Nhằm ngày hai mươi tháng mười một niên hiệu Vĩnh Nguyên năm đầu (499) Tề Đông Hôn Hầu.
Sư tục danh Thanh Dương Bạch Ngọc, quê ở Thành Đô. Thuở nhỏ Sư đã mộ đạo tu hành mà cha mẹ không cho. Niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (432), thiền sư Cương-lương-da-xá (Kālayaśa) người Thiên Trúc vào đất Thục hoằng hoá thiền quán. Khi ấy Sư được mười một tuổi, xin cha mẹ thỉnh Thiền sư về nhà để thưa hỏi pháp thiền, cha mẹ bằng lòng. Da-xá một phen trông thấy Sư liền khen: “Người này có phần”, rồi chỉ dạy cho tu tập, đồng thời bảo ni Pháp Dục hàng ngày lui tới dạy bảo.
Cha mẹ Sư đã hứa hôn cho người bà con cô cậu, một hôm Sư bỏ nhà trốn đi tu, được ni Pháp Dục đón về chùa. Sư lập thệ rằng: “Nếu đạo tâm con không toại, còn bị sự bức bách, thề tự thiêu thân.”
Thứ sử Chân Pháp Sùng nghe được điều này, sai người rước Sư vào nha môn. Ông cho mời hết tăng ni, người trí thức cùng nha lại họp mặt đông đủ. Ông đứng ra hỏi Sư:
– Ngươi xét kỹ, có thể xuất gia trọn đời được chăng?
Sư đáp:
– Tôi phát nguyện đã lâu, xin Ngài thương cứu giúp.
Pháp Sùng khen tốt. Đồng thời sai người cho bên cô (nhà chồng hứa hôn) của Sư hay và bảo cho Sư được xuất gia. Bên nhà cô nghe dạy không dám cưỡng lý. Năm ấy Sư mới mười ba tuổi, xuất gia với ni Pháp Dục, cho hiệu là Đàm Huy.
Từ đấy Sư tu tập Thiền quán. Vừa hạ thủ công phu liền được chánh định. Trong chánh định Sư thấy hai luồng hào quang xuất hiện, một sáng như mặt trời, một trong như mặt trăng. Chính trong định Sư thầm nghĩ: “Hào quang sáng là đạo Bồ-tát, hào quang trong là pháp Thanh văn. Nếu quả như vậy thì cho hào quang trong mất, hào quang sáng còn.” Ngay lúc Sư nghĩ, hào quang trong biến mất, hào quang sáng hiện lên. Khi xả thiền, Sư đem việc này trình cho Pháp Dục nghe, Pháp Dục rất hoan hỷ, khen lành.
Đến khi Sư được mười sáu tuổi, bên nhà chồng nghi Sư dối gạt, sai người đến uy hiếp bắt đem về nhà. Bị bắt về nhà chồng, Sư kiên quyết thủ tiết, thà chết không cho xâm phạm. Việc tố lên Châu, cuối cùng bên chồng phải trả Sư về chùa.
Thứ sử nghe việc này rất khâm phục, đến hỏi ngài Cương-lương-da-xá, Da-xá đáp:
– Người này thiện căn sâu dày, chớ để trái bản nguyện.
Sau này, ngay trong lúc toạ thiền, Sư nhận rõ nghĩa Phật tánh, thường trụ Đại thừa… mà không do thầy dạy. Những bậc danh sư nghe tiếng, đua nhau đến cật lực vấn nạn, mọi người đều được thoả mãn. Danh của Sư đồn khắp xa gần, đương thời đều kính phục.
Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), Lâm Xuyên Vương2 tới Nam Duyện mời Sư đến thị trấn. Năm đó Sư được hai mươi mốt tuổi. Quan phiêu kỵ Thiểm Châu lại đưa Sư về Nam Sở, nam nữ đạo tục đưa tiễn có đến một nghìn hai trăm người. Sau này mẹ Sư đến thăm và mời về quê hương.
Do đức hạnh của Sư cao sâu nên đồ chúng ngày càng đông. Sư vận động xây cất tháp miếu điện đường ở phía tây bắc, hoàn thành một cách nhanh chóng. Lại xây dựng thêm ba ngôi chùa, thảy đều thần tốc. Dân chúng tán thán do thần lực gia trì, người thường không thể nào làm được.
Niêu hiệu Thiên Giám thứ ba (504) Sư được 83 tuổi, có chút ít bệnh, ngồi kiết già thị tịch. Tuy không cho hay mà quan dân kéo đến dự lễ rất đông.
Sư họ Hoài, người Bành Thành, cha là Tăng Trân dời đến ở Kiến Khang. Khi lên tám tuổi, Sư đã có chí mộ đạo và ăn chay.
Niêu hiệu Nguyên Gia thứ hai mươi bốn (447), Sư được mười sáu tuổi liền theo ni sư Tịnh Tú ở chùa Thiền Lâm xuất gia. Sư tu hành tinh tấn, giới luật không khiếm khuyết, xem khắp các kinh luật, sau chuyên về văn nghĩa Thập tụng. Sư học thiền quán với hai thiền sư Ấn và Thẩm, được các môn tam-muội.
Hai thiền sư này dời về Thiền Lâm, trong giới thiền học rất quý kính nên đua nhau học tập khá đông. Bởi người lui tới tấp nập, nên chùa Thiền Lâm trở thành ồn náo. Sư muốn tìm chỗ vắng vẻ ẩn cư. Mẹ của Lâm Xuyên Vương nhà Lưu Tống là Trương quý tần biết ý chí của Sư, muốn cúng ngôi nhà đang ở làm chùa, Sư từ chối không nhận.
Niêu hiệu Nguyên Huy thứ hai (474) mẹ Nhữ Nam Vương là Ngô Sung Hoa đứng ra xây cất ngôi chùa, gồm cả phòng nhà hơn năm mươi gian, thỉnh Sư trụ trì. Sư cùng bạn đồng hành hai mươi vị đến đây tu hành, lấy thiền tịch làm thú vui, nên đặt tên chùa là Nhàn Cư.
Thời loạn Tống Tề, thế đạo nhiễu nhương, song Sư một bề tu hành thanh tịnh, thiền định miên mật, phong trần chẳng động. Tề Văn Đế, Cánh Lăng Văn Tuyên Vương đối với Sư rất trọng hậu, sửa sang một ngôi chùa, mỗi mỗi đều trang nghiêm đẹp đẽ, quanh năm cúng dường không dứt.
Đến nhà Lương, thiên hạ thái bình, dân chúng mộ đạo, tăng tục bốn phương đua nhau dâng cúng. Song Sư vẫn không chất chứa của cải riêng, tùy có liền chia, hoặc chẩn tế cho tứ chúng hoặc làm phước phóng sanh. Đời Sư tạo được năm pho tượng Phật, chép kinh luật hơn một nghìn cuốn.
Niên hiệu Thiên Giám thứ mười bốn (515) nhà Lương, Sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 84 tuổi.