Nội dung:
Trước khi bậc Đạo sư ra đời, bà được sanh ở Devadaha, trong gia đình Mahā Suppabuddha. Tên gia đình của bà là Gotamī, bà là em gái của Mahāmāyā. Các thầy đoán tướng tiên đoán rằng các người con của hai chị em sẽ là vị chuyển luân vương. Vua Suddhodāna khi đến tuổi trưởng thành cưới cả hai chị em. Sau đó, bậc Đạo sư đản sanh, và trong khi chuyển pháp luân, ngài đi đến Vesāli độ phụ vương chứng quả A-la-hán trước khi mệnh chung.
Mahāpajāpati muốn xuất gia. Bà xin phép bậc Đạo sư nhưng không được chấp nhận, bèn cắt tóc đắp y, và sau thời giảng kinh về tinh cần nỗ lực, bà ra đi với năm trăm Thích-ca nữ mà các người chồng đã xuất gia, đến Vesāli xin bậc Đạo sư cho xuất gia. Với sự can thiệp của tôn giả A-nan, bậc Đạo sư chấp nhận và dạy Tám kỉnh pháp cho các Tỳ-kheo-ni.
Sau khi xuất gia, Mahāpajāpatī đến yết kiến đức Phật và đứng qua một bên. Ngài thuyết pháp cho bà và bà tinh cần tinh tấn chứng được quả A-la-hán với trí tuệ trực giác và phân tích. Năm trăm Tỳ-kheo-ni sau khi nghe Nandaka giáo giới, đều chứng được sáu thắng trí.
Một ngày kia, khi bậc Đạo sư ngồi giữa thánh chúng tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên), ngài xác nhận Mahāpajāpati là vị có kinh nghiệm đệ nhất, sống hưởng thọ hạnh phúc giải thoát Niết-bàn. Để nói lên lòng biết ơn, Mahāpajāpatī tuyên bố chánh trí của mình trước mặt Thế Tôn, tán thán hạnh đức của ngài đã giúp đỡ hộ trì cho bà mà trước đây bà không được gặp.
Bậc Giác ngộ anh hùng!
Con xin đảnh lễ Ngài,
Ngài là bậc tối thượng,
Giữa mọi loài chúng sanh,
Ngài giải khổ cho con,
Cùng rất nhiều người khác.
Liễu tri mọi đau khổ,
Gột sạch nhân khát ái,
Con đường Thánh tám ngành,
Đoạn diệt, ta chứng ngộ.
Trước ta sống là mẹ,
Là con, là cha, anh,
Là ông nội, ông ngoại,
Đời sống trước là vậy,
Không rõ biết như thật,
Luân hồi tìm không gặp.
Nay ta thấy Thế Tôn,
Thân này thân tối hậu,
Sanh tử được đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.
Siêng, tinh cần nỗ lực,
Thường kiên trì tinh tấn,
Hãy thắng, đệ tử Phật,
Hoà hợp, đảnh lễ Ngài.
Vì hạnh phúc nhiều người,
Ma-da sanh Cù-đàm,
Giải tỏa nhóm khổ đau
Cho người bị bệnh chết.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch từ Pāli)
Sư ni Đại Ái Đạo Kiều-đàm-di đang du hành tại thành Tỳ-xá-ly, ở chùa Cao Đài cùng năm trăm vị đại Tỳ-kheo-ni là bậc A-la-hán, các lậu đã sạch.
Khi ấy sư ni Đại Ái Đạo nghe chư Tỳ-kheo nói: “Còn không quá ba tháng, Như Lai sẽ diệt độ dưới cội cây sa-la song thọ, tại thành Câu-thi-na.” Sư ni nghe thế, liền khởi nghĩ: “Ta không cam thấy Như Lai diệt độ, cũng không cam thấy A-nan diệt độ. Nay ta nên diệt độ trước.” Sư ni đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ dưới chân Phật, lui ngồi một bên, bạch Phật:
– Con không cam thấy Thế Tôn và A-nan diệt độ. Cúi xin Thế Tôn cho phép con diệt độ trước.
Phật lặng thinh hứa khả. Sư ni lại bạch:
– Cúi mong Thế Tôn, từ nay về sau cho các Tỳ-kheo-ni thuyết giới.
Phật bảo:
– Nay ta cho Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni thuyết cấm giới, như ta trước đã thi hành cấm giới, để khỏi sai lầm.
Sư ni liền đến trước Phật, lễ dưới chân Phật, và đứng chắp tay thưa:
– Từ nay con sẽ không còn thấy dung nhan Thế Tôn, cũng không thấy chư Phật tương lai, chẳng còn thọ bào thai, hằng trụ vô vi. Hôm nay rời hình dáng Thế Tôn, không bao giờ thấy lại.
Sư ni đi nhiễu Phật bảy vòng, nhiễu A-nan bảy vòng, nhiễu chúng Tỳ-kheo rồi trở lui ra về. Về đến trong chúng Tỳ-kheo-ni, Sư ni bảo chúng:
– Nay ta muốn vào Vô dư y Niết-bàn. Vì sao như thế? Vì đức Như Lai không bao lâu sẽ diệt độ. Các người nên tùy nghi mà thi hành.
Khi ấy Tỳ-kheo-ni Sai-ma, Ưu-bát-sắc, Cơ-lợi-thi, Xá-cừu-lê, Xa-ma, Bát-đà-lan-giá, Bà-la-giá-la, Ca-chiên-diên, Xà-da và năm trăm vị đồng đi đến chỗ Phật, đứng qua một bên. Tỳ-kheo-ni Sai-ma (Khemā) là thượng thủ trong năm trăm Tỳ-kheo-ni, đại diện bạch Phật:
– Cả thảy chúng con nghe Thế Tôn không bao lâu sẽ diệt độ, chúng con không cam thấy Thế Tôn và A-nan diệt độ, cúi xin Thế Tôn cho phép chúng con diệt độ trước. Chúng con ngày nay nhập Niết-bàn là rất hợp thời.
Phật lặng thinh hứa khả. Tỳ-kheo-ni Sai-ma cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni thấy Thế Tôn lặng thinh hứa khả liền đến lễ dưới chân Phật, đi nhiễu ba vòng rồi trở lui. Chư Tỳ-kheo-ni về đến chùa, sư ni Đại Ái Đạo đóng cửa giảng đường, đánh chuông báo chúng, trải toạ cụ nơi đất trống, bay lên hư không. Ở trong hư không, Sư ni ngồi nằm đi lại hoặc phát ra ánh lửa, dưới thân ra khói, trên thân ra lửa, hoặc toàn thân phát lửa, toàn thân phát khói, hoặc hông trái tuôn nước, hông phải tuôn lửa, hông phải tuôn ra nước, hông trái tuôn ra lửa, hoặc phía trước ra lửa, phía sau ra nước, phía trước ra nước, phía sau ra lửa, toàn thân ra lửa, toàn thân ra nước.
Sư ni làm những thứ biến hoá xong, trở lại toạ cụ ngồi kiết già, chánh thân chánh ý buộc niệm ở trước mà nhập Sơ thiền. Từ Sơ thiền xuất nhập Nhị thiền, từ Nhị thiền xuất nhập Tam thiền, từ Tam thiền xuất nhập Tứ thiền, từ Tứ thiền xuất nhập Không xứ, từ Không xứ xuất nhập Thức xứ, từ Thức xứ xuất nhập Vô sở hữu xứ, từ Vô sở hữu xứ xuất nhập Phi phi tưởng xứ, từ Phi phi tưởng xứ xuất nhập Diệt thọ tưởng xứ; từ Diệt thọ tưởng xứ xuất nhập lại Phi phi tưởng xứ, từ Phi phi tưởng xứ xuất nhập lại Vô sở hữu xứ, từ Vô sở hữu xứ xuất nhập Thức xứ, từ Thức xứ xuất nhập Không xứ, từ Không xứ xuất nhập Tứ thiền, từ Tứ thiền xuất nhập Tam thiền, từ tam thiền xuất nhập Nhị thiền, từ Nhị thiền xuất nhập Sơ thiền; từ Sơ thiền xuất nhập lại Nhị thiền, từ Nhị thiền xuất nhập Tam thiền, từ Tam thiền xuất nhập lại Tứ thiền, nhập Tứ thiền xong Sư ni diệt độ.
Bấy giờ, trời đất rung động, bốn phương gió mát thổi đến, chư thiên ở trên không trổi nhạc, chư thiên Dục giới buồn khóc, hương hoa thần diệu rải trên thân Sư ni cúng dường.
Tiếp theo đó, Tỳ-kheo-ni Sai-ma, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-sắc, Tỳ-kheo-ni Cơ-lợi-thi Cù-đàm-di, Tỳ-kheo-ni Xá-cù-ly, Tỳ-kheo-ni Xa-ma, Tỳ-kheo-ni Ba-đà-lan-giá-la, Tỳ-kheo-ni Ca-chiên-diên, Tỳ-kheo-ni Xà-da, đều là hàng thượng thủ của năm trăm Tỳ-kheo-ni, mỗi vị đi đến chỗ đất trống, trải toạ cụ, phi thân lên hư không, ở trong hư không, ngồi nằm đi lại làm mười tám pháp biến hóa cho đến nhập thọ tưởng diệt, rồi vào Niết-bàn. Cả thảy năm trăm vị Tỳ-kheo-ni đều làm như thế mà vào Niết-bàn.
Khi ấy có hai vị Sa-di-ni là Nan-đà, Ưu-bát-nan-đà trông thấy các thầy mình đều diệt độ, tâm kinh hãi, sầu não tự quán sát: “Phàm là pháp có hợp đều phải tan.” Chính khi quán sát, liền chứng được Tam minh, Lục thông. Hai vị phi thân lên hư không, làm mười tám pháp biến hoá xong nhập Niết-bàn.
(Trích dịch kinh Tăng Nhất A-hàm)
Trong thời đức Phật tại thế, bà được sanh trong nước Magadha (Ma-kiệt-đà) ở Sāgala (Xá-kiệt), thuộc gia đình hoàng tộc, tên là Khemā. Nhan sắc đẹp đẽ với da như vàng, bà trở thành vương phi vua Bimbisāra.
Khi Thế Tôn ở tại Veluvana (Trúc Lâm) bà không đi đến yết kiến đức Phật vì sợ Thế Tôn chỉ trích lỗi của mình. Vua muốn bà đi thăm Trúc Lâm, nên nhờ người tán thán ngôi vườn này, cuối cùng bà bằng lòng đi với vua đến tinh xá. Không thấy Thế Tôn, nhưng vua muốn bà thấy cho được Thế Tôn, dù phải bắt bà ở lại. Khi bà sắp sửa từ giã tinh xá, vẫn chưa gặp được Thế Tôn, các người hầu cận giữ bà ở lại và đưa bà đến gặp đức Phật một cách miễn cưỡng.
Đức Phật dùng thần lực hóa hiện một tiên nữ rất đẹp đang đứng quạt cho ngài, sắc đẹp thắng xa sắc đẹp của bà rất nhiều. Trước mắt bà, nữ nhân được hóa hiện ấy lớn lên trở thành già yếu, răng rụng tóc bạc da nhăn và ngồi ngã xuống đất với chiếc quạt. Khemā thấy vậy, tự hỏi không biết thân mình có chịu hoàn cảnh tương tự như vậy hay không. Thế Tôn biết tâm trạng của bà, bèn nói lên bài kệ:
Người đắm say ái dục,
Tự lao mình xuống dòng,
Như nhện sa lưới dệt.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ không màng.
(Pháp Cú 347)
Bậc Đạo sư nói xong, bà chứng được quả Dự lưu. Sau được vua cho phép xuất gia và trở thành vị A-la-hán. Bà tu tập thiền quán và nổi danh về môn tu này. Khi đức Phật ở Jetavana (Kỳ Viên) đã đặt bà vào hàng Thiền quán đệ nhất.
Một ngày kia, bà ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây, ác ma hiện lên dưới một hình thức người thanh niên và cám dỗ bà với lòng dục như sau:
Nàng vừa trẻ vừa đẹp,
Ta vừa trẻ vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Hãy vui hưởng, Khemā!
Bà đáp:
Với thân hôi thối này,
Bệnh hoạn và mỏng manh,
Ta nhàm chán ghét bỏ,
Dục ái đã nhổ lên.
Dục ví như gươm giáo,
Các uẩn đoạn đầu đài,
Điều ngươi nói dục lạc,
Nay ta đã xa lìa.
Mọi nơi hỷ duyệt đoạn,
Khối si ám tan tành,
Hãy biết vậy, ác ma!
Ngươi bị hại, Ma vương.
Ngươi đảnh lễ vầng sao,
Ngươi thờ lửa rừng sâu,
Ngươi không biết như thật,
Kẻ ngu nghĩ rằng tịnh.
Còn ta, ta đảnh lễ,
Bậc Giác ngộ thượng nhân,
Giải thoát mọi khổ đau,
Hành lời Đạo sư dạy!
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Có một đoạn đối đáp của Sư ni Khemā với vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala, được ghi lại trong Samyutta Nikaya IV (Tương Ưng Bộ – thiên Sáu Xứ chương Tương Ưng Không Thuyết).
– Thưa Nữ tôn giả, đức Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
– Tâu Đại vương, đức Như Lai không dạy rằng Như Lai có tồn tại sau khi chết.
– Thưa Nữ tôn giả, vậy là đức Như Lai không tồn tại sau khi chết?
– Tâu Đại vương, đức Thế Tôn cũng không dạy rằng Như Lai không tồn tại sau khi chết.
– Thưa Nữ tôn giả, thế thì đức Như Lai tồn tại, đồng thời không tồn tại sau khi chết?
– Tâu Đại vương, đức Thế Tôn cũng không dạy rằng Như Lai tồn tại, đồng thời không tồn tại sau khi chết.
– Thưa Nữ tôn giả, thế thì đức Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết?
– Tâu Đại vương, đức Thế Tôn cũng không dạy như thế.
– Thưa Nữ tôn giả, tại sao đức Thế Tôn lại không dạy như thế?
– Tâu Đại vương, cho phép tôi hỏi Ngài một câu hỏi và Ngài trả lời xem Ngài nghĩ thế nào? Tàu Đại vương, Ngài có một kế toán viên hay một tài sư hay một ngân khố viên có thể đếm được cát sông Hằng và có thể bảo rằng: “có bao nhiêu hạt cát, bao nhiêu trăm, bao nhiêu ngàn hay bao nhiêu trăm ngàn hạt cát” được chăng?
– Thưa Nữ tôn giả, tôi không có được người như thế.
– Hoặc Ngài có một kế toán viên hay một tài sư hay một ngân khố viên có thể đong được nước trong đại dương và có thể bảo rằng: “có bao nhiêu thùng nước, bao nhiêu trăm, bao nhiêu ngàn hay bao nhiêu trăm ngàn thùng nước” được chăng?
– Thưa Nữ tôn giả, không thể được.
– Tại sao vậy?
– Đại dương thì sâu, không đong, không vốc được.
– Nếu muốn biết bản thể của Như Lai nhờ vào những thuộc tánh danh sắc thì cũng như thế. Ở nơi Như Lai những thuộc tánh danh sắc đã bị loại bỏ, sức của chúng đã bị đoạn trừ, giống như một cây cọ bị nhổ bật hẳn lên và để nằm đó không còn phát triển được nữa. Tâu Đại vương, Như Lai vượt ngoài những đo lường hữu vi thế gian. Bản thể của Như Lai cũng như đại dương thâm sâu không thể đo lường. Vì vậy bảo rằng Như Lai tồn tại hay không tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết thì thật không đúng.
(Hòa thượng Thích Chơn Thiện dịch)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh trong dòng Bà-la-môn ở Sāvatthi, tên là Sakulā. Khi đức Phật nhận tinh xá ở Jetavana (Kỳ Viên) bà trở thành tín nữ. Sau khi nghe một vị A-la-hán thuyết pháp, bà phát nguyện xuất gia, tinh cần triển khai thiền quán và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Về sau tùy theo lời phát nguyện, bà được Thế Tôn tán thán là Thiên nhãn đệ nhất. Sau khi suy tư đến quả chứng của mình, bà phấn khởi hoan hỷ và nói lên bài kệ:
Khi sống ở gia đình,
Nghe Tỳ-kheo thuyết pháp,
Ta thấy pháp vô uế,
Đạo Niết-bàn bất tử.
Ta từ bỏ con cái,
Cả tài sản, lúa gạo,
Cạo tóc ta xuất gia,
Sống đời sống không nhà.
Ta làm người học nữ,
Tu tập con đường chánh,
Đoạn tận tham và sân,
Đoạn từng lậu hoặc một.
Thọ giới Tỳ-kheo-ni,
Ta nhớ đời quá khứ,
Thiên nhãn ta thanh tịnh,
Không uế, khéo tu tập.
Thấy các hàng ngoại diện,
Do nhân sanh biến hoại,
Ta đoạn mọi lậu hoặc,
Mát lạnh ta tịch tịnh.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh ở Sāvatthi, con gái của vị trưởng kho bạc. Vì da bà màu tim của sen xanh, nên được gọi là Uppalavannā. Khi bà đến tuổi trưởng thành, vua và thường dân giành nhau đến cưới. Vị trưởng kho bạc không thể làm vừa lòng mọi người, bèn nghĩ ra một kế để giải quyết. Ông gọi Uppalavannā đến và bảo bà xuất gia. Vì căn cơ đã thuần thục, nên bà nhận lời ngay. Bà được đưa đến tinh xá Tỳ-kheo-ni để xuất gia.
Sau một thời gian, khi bà phụ trách công việc dọn dẹp phòng để làm lễ Bố-tát, bà thắp ngọn đèn và quét phòng, rồi lấy ngọn đèn làm tướng để thiền quán. Không bao lâu, bà chứng được quả A-la-hán. Bậc Đạo sư ngồi giữa đại chúng ở Jetavana ấn chứng cho bà là Thần thông đệ nhất.
Bà suy tư trên quả an lạc của thiền và thánh quả, nói lên một số bài kệ.
– Bà sung sướng nói lên quả chứng của mình:
Ta biết các đời trước,
Thiên nhãn được thanh tịnh,
Trí biết được tâm người,
Nhĩ giới được trong sạch.
Ta chứng được thần thông,
Lậu tận ta đạt được,
Ta chứng sáu thắng trí,
Lời Phật dạy làm xong.
– Bà hiện lên một thần thông với sự chấp thuận của bậc Đạo sư và ghi như sau:
Do hiện hoá thần thông,
Ta đến xe bốn ngựa,
Ta đảnh lễ chân Phật,
Thế giới chủ quang vinh.
– Bà bị ác ma đến quấy phá tại rừng cây sa-la, bà trách móc ác ma.
Ác ma:
Nàng đi đến gốc cây,
Đang nở hoa tuyệt đẹp,
Nàng đến đứng một mình,
Dưới gốc cây có hoa.
Nàng đến chỉ một mình,
Này kẻ dại khờ kia,
Sao nàng lại không sợ,
Có kẻ cám dỗ nàng?
Bà:
Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như ngươi,
Mảy lông ta không động,
Ta chẳng gì hoảng hốt.
Ác ma làm gì ta,
Khi ngươi đến một mình?
Ác ma:
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng nhà ngươi,
Ta đứng giữa hàng my,
Ngươi không thấy ta đứng.
Bà:
Với tâm khéo nhiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Sáu thắng trí ta chứng,
Lời Phật dạy làm xong.
Các dục giống gươm giáo,
Chém nát các uẩn ta,
Những dục mà ngươi gọi,
Là lạc thú cuộc đời.
Ngày nay dục lạc ấy,
Với ta không hấp dẫn.
Ở tất cả mọi nơi,
Hỷ lạc được đoạn tận,
Khối tối tăm mù ám,
Đã bị làm tan nát.
Hỡi này kẻ ác ma,
Ngươi hãy biết như vậy.
Ngươi chính là ác ma,
Ngươi đã bị bại trận!
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Thế Tôn bốn mươi chín ngày tại cung trời Đao-lợi vì mẹ thuyết pháp. Lúc trở về bốn chúng, tám bộ cùng đến nghênh tiếp. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc nghĩ rằng: “Ta thân ni, tất phải ở sau đại tăng mà gặp Phật, chi bằng dùng thần lực, biến làm chuyển luân thánh vương ngàn người con vây quanh, đến gặp Phật. Quả là mãn nguyện!”
Đức Phật vừa trông thấy, liền quở:
– Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc, sao lại vượt đại tăng mà gặp ta. Ngươi tuy thấy thân ta mà chẳng thấy pháp thân ta. Tu-bồ-đề ngồi yên trong hang núi lại thấy ta.
(Trích dịch kinh Tăng Nhất A-hàm)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh vào một gia đình Bà-la-môn, dòng họ Kosiya ở Sāgala. Được sống trong giàu sang, bà được gả làm vợ một nhà quý tộc tên là Pippali (Kassapa) ở làng Mahātittha. Khi người chồng xuất gia, bà giao tài sản cho bà con để đi xuất gia. Bà sống năm năm tại Titthiyārāma (chỗ một phái ngoại đạo), sau đó bà được Mahāpajāpati cho thọ đại giới, nhờ triển khai thiền quán, bà chứng được quả A-la-hán. Khi bậc Đạo sư ở Jetavana (Kỳ Viên) ngồi phân loại các Tỳ-kheo-ni, bà được đức Phật tán thán là có biệt tài đệ nhất về đời sống quá khứ.
Một ngày kia bà nói lên những bài kệ về kinh nghiệm quá khứ và tán thán hạnh của trưởng lão Kassapa (Đại Ca-diếp).
Con thừa tự chư Phật,
Ca-diếp khéo thiền định.
Biết được đời quá khứ,
Thấy cõi trời đoạ xứ.
Ẩn sĩ đoạn diệt sanh,
Thắng trí được thành tựu
Cùng với Ba minh này,
Là Phạm chí Ba minh.
Cũng vậy nàng Bhaddā
Người xứ Kapila,
Nàng là bậc Ba minh
Đã đoạn được sự chết,
Mang thân này cuối cùng,
Sau khi thắng ma quân.
Thấy nguy hại ở đời,
Hai chúng tôi xuất gia.
Chúng tôi được chế ngự,
Đoạn tận các lậu hoặc,
Cảm xúc thành mát lạnh,
Được tịch tịnh giải thoát.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Hôm nọ, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà (Bhaddā) tại thành Xá-vệ, hướng dẫn năm trăm Tỳ-kheo-ni du hoá trong thành. Tỳ-kheo-ni Bạt-đà đi đến chỗ vắng dưới cội cây, trải toạ cụ ngồi kiết già, buộc niệm ở trước, tự nhớ vô số việc đời trước liền tự cười. Có Tỳ-kheo-ni ở xa trông thấy Bạt-đà cười, bèn đến trong chúng Tỳ-kheo-ni bàn nhau, đồng đến chỗ Tỳ-kheo-ni Bạt-đà, hỏi:
– Trưởng lão có nhân duyên gì mà ngồi dưới gốc cây tự cười?
Tỳ-kheo-ni Bạt-đà bảo năm trăm Tỳ-kheo-ni:
– Ta đến dưới cội cây này, tự nhớ việc vô số đời trước, lại thấy những thân đã trải qua thuở xưa, chết đây sanh kia, thảy đều thấy rõ ràng.
Bấy giờ, có nhiều thầy Tỳ-kheo nghe Tỳ-kheo-ni Bạt-đà tự nhớ vô số đời trước, đồng đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ dưới chân Phật, lui về một bên, đem việc bạch lại Như Lai. Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Các ông thấy trong số Thanh văn Tỳ-kheo-ni, có ai tự thấy việc vô số đời trước như Tỳ-kheo-ni này chăng?
Chư Tỳ-kheo bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, không thấy.
Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Trong số đệ tử Thanh văn của ta, người tự nhớ vô số đời trước, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà là bậc nhất.
(Trích dịch kinh Tăng Nhất A-hàm)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh ở Vesali (Tỳ-xá-ly) con gái của người chị võ tướng Sīhā. Do vậy bà được đặt tên là Sīhā, như tên người cậu của bà. Khi đến tuổi trưởng thành, bà nghe bậc Đạo sư thuyết pháp cho người cậu, Sīhā trở thành một tín nữ và được phép cha mẹ cho xuất gia.
Khi tu tập thiền quán, bà không thể chặn đứng tâm tư chạy theo ngoại vật khả ý. Bảy năm bị dày vò, bà kết luận: “Làm sao ta thoát khỏi nếp sống uế nhiễm này? Ta hãy chết, tốt hơn.” Rồi bà cột sợi giây trên cây, đút cổ vào thòng lọng để thắt cổ. Trong giây phút cuối cùng, với sự tinh cần chất chứa từ trước cho đến nay, bà cố gắng triển khai thiền quán. Đối với bà đời sống hiện tại thật sự là đời sống cuối cùng. Trong giờ phút ấy, trí tuệ bà được viên mãn với nội tâm thiền quán, bà chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Mở thòng lọng ra, bà trở về tinh xá, được thành một vị A-la-hán, bà sung sướng phấn khởi nói lên bài kệ:
Không như lý tác ý,
Bị dục tham ám ảnh,
Ta trước bị dao động
Không chế ngự được tâm.
Bị phiền não chi phối,
Lạc tưởng ngự trị ta.
Tâm ta không thăng bằng,
Bị tham dục chi phối.
Bảy năm sống ốm yếu,
Vàng da, dung sắc xấu,
Ngày đêm không an lạc,
Ta sống chịu khổ đau.
Do vậy ta lấy dây,
Đi vào giữa khu rừng,
Tốt hơn ta treo cổ,
Còn hơn sống hạ liệt.
Làm chắc dây thòng lọng,
Ta cột ở cành cây,
Quàng thòng lọng quanh cổ,
Tâm ta liền giải thoát.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Bà sanh tại Rājagaha (Vương Xá), là con gái của trưởng giả Bà-la-đà, vị thủ khố của nhà vua, và sống rất được cưng chiều. Một hôm quân lính dẫn một tên cướp đem đi hành hình. Bà trông thấy khi dẫn ngang qua nhà bà, bà bỗng đâm yêu hắn kỳ lạ, bèn xin cha lo lót cho hắn thoát chết và được gả cho tên cướp.
Lễ cưới cử hành, tên cướp dụ bà mang lễ vật lên núi cúng tế. Đến bờ vực thẳm, hắn lột hết nữ trang của bà và định giết bà. Thừa lúc sơ hở, bà xin hắn cho bà được hôn hắn lần cuối, hắn bằng lòng, bà bèn nhân lúc đó xô hắn xuống bờ vực. Trở về, bà chán ngán thế tục, bèn xin xuất gia theo giáo phái Ni-kiền Tử và trở thành hùng biện đệ nhất.
Bà đi khắp nơi thách thức các triết nhân tranh biện và thắng tất cả. Một hôm bà đến Sāvatthì cùng với tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) tranh luận. Bà bị trí tuệ của Tôn giả nhiếp phục và xin đảnh lễ làm thầy. Tôn giả Sariputta khuyên bà quy y Phật.
Sau khi được nghe Thế Tôn thuyết pháp, bà chứng quả A-la-hán, liền đó được thọ đại giới và gia nhập Ni đoàn.
Một hôm, Tỳ-kheo-ni Quân-trà-la Hệ Đầu tự nghĩ: “Ta nghe Thế Tôn không bao lâu sẽ diệt độ. Ngày tháng đã hết, ta nên đến thăm hỏi Thế Tôn.”
Lúc ấy Sư ni liền đi ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, đến chỗ Thế Tôn. Xa trông thấy Thế Tôn dẫn theo chúng Tỳ-kheo cùng năm trăm đồng tử sắp đến Sa-la song thọ. Sư ni đi đến nơi, đầu mặt lễ dưới chân Phật bạch:
– Con nghe Thế Tôn không bao lâu nữa sẽ diệt độ.
Phật bảo:
– Như Lai sẽ diệt độ vào giữa đêm nay.
Sư thưa:
Con xuất gia học đạo chưa viên mãn bản nguyện, mà Thế Tôn đã bỏ con diệt độ. Cúi mong Thế Tôn vì con nói pháp vi diệu, khiến con được viên mãn bản nguyện.
Thế Tôn bảo:
– Nay con nên suy xét về cội nguồn đau khổ.
Sư trầm ngâm giây lâu thưa:
– Bạch Thế Tôn, thật khổ! Bạch Như Lai, thật khổ!
Phật hỏi:
– Con quán gì mà nói thế?
Sư thưa:
– Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, lo buồn rối loạn khổ, oán thù gặp gỡ khổ, thương yêu xa lìa khổ. Tóm lại, năm ấm tràn trề khổ. Bạch Thế Tôn, con quán nghĩa này nên nói khổ.
Chính khi suy xét nghĩa này, liền tại chỗ Sư chứng được Tam minh. Sư bạch Phật:
– Con không cam thấy Thế Tôn diệt độ. Xin Thế Tôn cho phép con diệt độ trước.
Phật lặng thinh hứa khả. Sư liền từ tòa đứng dậy, lễ dưới chân Phật, đến trước Phật, thân phi lên không, làm mười tám phép biến hóa, hoặc ngồi hoặc nằm hoặc đi lại, trên thân ra khói lửa, hoặc thu lại tự do không chút chướng ngại, hoặc phóng nước lửa đầy dẫy cả hư không. Biến hoá xong, Sư nhập Vô dư Niết-bàn.
Khi ấy, Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Trong hàng đệ tử Thanh văn của ta, Tỳ-kheo-ni được trí tuệ nhanh chóng bậc nhất là Quân-trà-la Hệ Đầu.
(Trích dịch kinh Tăng Nhất A-hàm)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà sanh ra là con gái vị giáo sĩ của vua Bimbisāra (Bình Sa Vương) và được đặt tên là Somā. Khi đến tuổi trưởng thành, bà trở thành một tín nữ. Về sau bà xuất gia và nhờ triển khai thiền quán, bà chứng được quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ.
Ở tại Sāvatthi, một ngày kia bà đi vào rừng Andhavana để nghỉ ban ngày và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma đến, muốn phá sự an tịnh cô độc của bà nên tàng hình không cho bà thấy và nói lên như sau:
Địa vị khó chứng đạt,
Chỉ thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt?
Bà cự lại ác ma:
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu.
Ở tất cả mọi nơi,
Hỷ lạc được đoạn tận,
Khối tối tăm mù mịt,
Đã bị làm tan nát.
Hỡi này kẻ ác ma,
Ngươi hãy biết như vậy,
Ngươi chính là ác ma,
Ngươi đã bị bại trận.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh làm công chúa con vua nước Alavī, tên là Selā. Bà cũng được biết với tên Alavikā (người nước Alavi). Khi đến tuổi trưởng thành, bậc Đạo sư cảm hoá được vua cha, làm lễ xuất gia cho nhà vua và cùng đi đến Ālavi.
Selā chưa lập gia đình, cùng đi với phụ vương nghe thuyết pháp và trở thành một tín nữ. Về sau bà xuất gia, chuyên tu thiền quán và cuối cùng nhờ thiện duyên tốt đẹp, nhờ trí tuệ được triển khai, bà nhiếp phục được thân hành, khẩu hành, ý hành và chứng được quả A-la-hán.
Về sau, bà trở thành một trưởng lão ni ở Sāvatthi. Một hôm bà đi khỏi Sāvatthì để nghỉ ban ngày tại Andhavana và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma muốn phá sự an tịnh độc cư của bà, dưới hình thức một người lạ mặt đến với bà và nói như sau:
Nàng sẽ không thoát khỏi,
Thoát ly khỏi đời này,
Như vậy hạnh viễn ly,
Nàng dùng để làm gì?
Hãy thọ hưởng dục lạc,
Chớ bứt rứt về sau.
Nghe rồi, bà suy nghĩ: “Đây là ác ma muốn ngăn chặn ta không được hưởng Niết-bàn. Nó không biết ta đã chứng quả A-la-hán, vậy ta hãy làm cho nó mở mắt.”
Bà nói lên bài kệ:
Các dục giống gươm giáo,
Chém nát các uẩn ta,
Những dục mà ngươi gọi,
Là lạc thủ cuộc đời.
Ngày nay dục lạc ấy,
Với ta không hấp dẫn,
Ở tất cả mọi nơi,
Hỷ lạc được đoạn tận.
Khối tối tăm mù ám,
Đã bị làm tan nát,
Hỡi này kẻ ác ma,
Ngươi hãy biết như vậy.
Ngươi chính là ác ma,
Ngươi đã bị bại trận!
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh vào trong một gia đình quyền quý ở Rājagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Sukkā (sáng suốt). Khi đến tuổi trưởng thành, bà phát tâm tin Phật ở trong gia đình của bà và trở thành một tín nữ. Về sau, bà được nghe Dhammadinnā thuyết pháp. Quá cảm xúc bởi bài thuyết pháp, bà xuất gia với Dhammadinnā. Sau khi tu thiền quán, bà chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Được năm trăm Tỳ-kheo-ni đoanh vây, bà trở thành một vị thuyết pháp giỏi. Một ngày kia, sau khi đi vào thành Vương Xá khất thực, ăn xong toàn thể ni chúng trở về tinh xá của Tỳ-kheo-ni. Tại đây Sukkā thuyết pháp cho toàn thể ni chúng, thuyết hay cho đến nỗi các Tỳ-kheo-ni cảm thấy như được nhận từ bà những đường mật ngọt ngào, thấm nhuần với nước bất tử. Tất cả đều ngồi nghe, hoàn toàn im lặng nhiệt tâm tín thành. Một vị thần cây đứng ở cuối sân nghe pháp, quá xúc động bởi lời thuyết giảng, nên đi ra khỏi thành Vương Xá, vừa đi vừa tán thán hạnh thuyết pháp tuyệt diệu của bà và nói như sau:
Hỡi này, người Vương Xá,
Các ngươi đã làm gì?
Giống như người ngủ mê,
Bị say vì uống mật!
Các ngươi không hầu hạ,
Sukkā thuyết lời Phật.
Chúng tôi nghĩ bậc trí,
Uống được nước cam lồ.
Dòng nước thật thuần tịnh,
Không có gì chướng ngại,
Chẳng khác kẻ đi đường,
Đón nhận nước trời mưa.
Khi nghe thần cây nói như vậy, dân chúng rất lấy làm phấn khởi và đi đến chăm chú nghe bà thuyết pháp.
Thời gian sau, khi đang sửa soạn từ giã cuộc đời, bà muốn nói lên pháp môn đã dạy đưa đến giải thoát như thế nào, bà tuyên bố chánh trí của mình:
Hỡi này, nàng Sukkā!
Người con của ánh sáng!
Được ly tham tịch tĩnh,
Nhờ ánh sáng chánh pháp,
Hãy mang thân cuối cùng,
Sau khi thấy ma quân.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Phật và chúng Tỳ-kheo đang ở trong thành Tỳ-xá-ly bên hồ Di Hầu, được dân chúng cúng dường tứ sự sung mãn. Ngược lại, lục sư ngoại đạo cũng ở trong thành này mà không được cúng dường. Chúng bực tức họp nhau lại bàn luận, định dẫn đến chỗ Phật để cùng Phật tranh luận, cố tình chiết phục Phật cho dân chúng mất niềm tin.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Du-lô hay tin này, bèn bay lên hư không, đến chỗ lục sư ngoại đạo nói kệ:
Thầy ta không ai bằng,
Tối tôn không người hơn,
Ta là đệ tử Ngài,
Tên là Du-lô Ni.
Ngươi nếu có cảnh giới,
Hãy cùng ta nghị luận,
Ta sẽ đáp mọi việc,
Như sư tử chụp nơi.
Lại, ngoài thầy ta ra,
Vốn không có Như Lai,
Nay ta Tỳ-kheo-ni,
Đủ hàng phục ngoại đạo.
Tỳ-kheo-ni Du-lô nói kệ rồi, lục sư ngoại đạo trông lên còn không thấy tướng mạo huống là nghị luận. Lúc đó, dân chúng trong thành Tỳ-xá-ly nhìn xa thấy Tỳ-kheo-ni ở trong hư không cùng lục sư nghị luận, song lục sư không thể đáp được một câu, dân chúng vui mừng kêu to:
– Ngày nay, lục sư bị Tỳ-kheo-ni khuất phục.
Lục sư hổ thẹn ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, không dám trở lại. Bấy giờ, nhiều thầy Tỳ-kheo nghe Tỳ-kheo-ni Du-lô cùng lục sư nghị luận đắc thắng, liền đến chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật, bạch lại việc trên.
Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Tỳ-kheo-ni Du-lô có đại thần túc, có đại oai thần, trí tuệ đa văn, ta hằng nghĩ rằng: “Không có ai tranh luận với lục sư nổi, chỉ có Như Lai và Tỳ-kheo-ni này.”
Thế Tôn lại bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Các ông thấy những Tỳ-kheo-ni khác, có ai hay hàng phục ngoại đạo như Tỳ-kheo-ni này chăng?
Chư Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn, không.
Thế Tôn bảo:
– Trong hàng Thanh văn đệ tử của ta, vị Ni hay hàng phục ngoại đạo, Tỳ-kheo-ni Du-lô là bậc nhất.
(Trích dịch kinh Tăng Nhất A-hàm)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh trong một gia đình quý tộc thuộc dòng họ Thích-ca, tên là Nandā. Bà có danh là Nandā hoa khôi.
Bậc Thế Tôn giác ngộ, đi đến Kapilavatthu và độ cho Nanda và Rāhula xuất gia. Khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mệnh chung và bà Mahāpajāpati xuất gia, bà tự nghĩ: “Anh trưởng của ta đã chối từ không thừa tự quốc độ, xuất gia và trở thành đấng Thế Tôn, một bậc siêu nhân. Con của Ngài là Rāhula cũng xuất gia, anh của ta là Nanda cũng xuất gia. Mẹ của ta Mahāpajāpati cũng xuất gia, chị của ta là mẹ của Rāhula cũng xuất gia. Vậy ta ở nhà làm gì, ta hãy xuất gia?”
Bà xuất gia không phải vì lòng tin, mà chính vì lòng thương yêu bà con trong gia đình. Bà xuất gia như vậy, nên sau khi từ bỏ gia đình, bà vẫn tự kiêu với sắc đẹp của mình và không chịu đến yết kiến đức Phật, vì sợ đức Phật quở trách bà.
Trường hợp của bà cũng giống như trường hợp Tỳ-kheo-ni Abhirūpa Nandā với sự sai khác: Khi bà thấy hóa thân của một nữ nhân do đức Phật hiện ra, nữ nhân ấy dần dần trở thành già xấu, tâm của bà dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.
Đức Phật thấy vậy, thuyết pháp cho bà như sau:
Nandā, hãy nhìn thân,
Bệnh, bất tịnh, hôi thối,
Hãy tu tâm bất tịnh,
Nhất tâm khéo định tỉnh.
Như thân này, thân ấy,
Như thân ấy, thân này,
Hôi thối và rửa nát,
Chỉ kẻ ngu thích thú.
Như vậy quán thân này,
Ngày đêm không mệt mỏi,
Với trí tuệ của ngươi,
Do vậy hãy thoát ly.
Với trí tuệ của ngươi,
Thoát khỏi kiêu sắc đẹp,
Và người si nhìn thấy,
Với cái nhìn như thật.
Bà nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên quả thứ nhất. Muốn giúp bà đạt được những quả vị cao hơn, Thế Tôn dạy thêm:
– Này Nandā, trong cái thân này không có chút gì là tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt bị già chết chi phối.
Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng máu thịt,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa.
(Pháp Cú kệ 150)
Khi đức Phật nói xong, bà liền chứng quả A-la-hán. Nghĩ đến sự chiến thắng của mình, bà sung sướng với lời dạy của Thế Tôn và nói thêm:
Với tâm không phóng dật,
Như lý, quán thân ấy,
Tánh như thật thân này,
Được thấy trong và ngoài.
Ta nhàm chán thân này,
Nội tâm được ly tham,
Không phóng dật ly hệ,
Ta an bình tịch tịnh.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Bà sanh tại Sāvatthì, trong một gia đình nghèo khổ. Khi trưởng thành, bà được gả cho một gia đình giàu có và bị nhà chồng khinh thường. Đến khi bà sanh được một đứa con trai thì bà được đối xử tốt hơn. Nhưng bất ngờ, đứa con bị bệnh và chết, bà đau khổ phát cuồng, bèn ẵm xác con đi khắp nơi cầu xin cứu chữa.
Bà đến tinh xá xin Thế Tôn cứu đứa bé, đức Phật bảo bà hãy đến nhà nào không có người chết bao giờ, xin về một hạt cải, Thế Tôn sẽ cứu được đứa bé. Bà đem xác con đi từng nhà tìm xin, nhưng nhà nào cũng có người chết. Bà chợt tỉnh ngộ, hiểu được lời Thế Tôn dạy, bèn đem con vào nghĩa địa, rồi xin Phật xuất gia. Thế Tôn thuyết pháp, ngay đó bà liền chứng được Sơ quả và được gia nhập Ni đoàn. Do tinh tấn triển khai thiền quán, chẳng bao lâu bà chứng A-la-hán và được Thế Tôn khen ngợi bà là Tỳ-kheo-ni Thô y đệ nhất.
Trong thời đức Phật hiện tại, bà sanh trong gia đình vị thủ ngân khố của nhà vua ở Sāvatthì. Đến tuổi trưởng thành, bà giao du với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ định ngày gả bà cho một chàng trai xứng đôi, bà trốn đi với tình nhân và sống tại một ngôi làng nhỏ. Lúc sắp sanh, bà bảo chồng đưa về nhà cha mẹ, vì ở đây không ai săn sóc, nhưng chồng bà cứ hẹn lần lựa. Cho đến khi biết chồng không muốn đi về, bà liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, tin cho người láng giềng biết rồi bỏ về nhà cha mẹ. Người chồng về liền đuổi theo gặp bà, giữa đường bà sanh được người con, rồi hai vợ chồng lại đi trở về làng.
Đến kỳ sanh nở thứ hai, sự việc xảy ra như lần trước, nhưng có điểm khác biệt như sau: Giữa đường mưa to gió lớn nổi lên, người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho bà tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng bà chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng, bà bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn bà nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con và trải qua một đêm như vậy.
Đến sáng bà đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi, bà khóc than suốt đêm. Vì mưa to nước sông dâng lên đến đầu gối, bà lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con để lội qua sông. Bà để đứa lớn ở bờ bên này, bồng đứa nhỏ lội qua sông. Bà đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại và để nó trên bờ bên kia. Bà lội trở lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng thấy một con diều hâu bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dù bà xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Đứa bé lớn bên bờ này nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu, liền lội xuống sông nên bị nước cuốn trôi.
Thế là người chồng và cả hai đứa con đều bị chết. Bà vừa khóc vừa đi về thành Sāvatthì, lại được tin mưa to gió lớn hồi hôm đã làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ bà. Cha mẹ và em đều chết vừa làm lễ hoả táng xong. Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, bà hóa điên dại, ăn mặc hở hang, bà vừa khóc vừa than
Hai con ta đã chết,
Chồng ta cũng chết luôn,
Rồi trên giàn hoả táng,
Cha ta và mẹ ta,
Cùng đứa em trai ta,
Vừa làm lễ thiêu đốt!
Bà đi lang thang đây đó, khóc than nỗi khổ đau của mình. Vì bà mang xiêm áo tả tơi, bà được gọi là Patācārā (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy thế gọi bà là người điên, có kẻ ném đá, có người quăng đồ nhớp bụi bặm lên bà.
Bậc Đạo sư ở Jetavana (Kỳ Viên) đang thuyết pháp, thấy bà đi vào, biết căn cơ trí tuệ của bà đã chín muồi, ngăn cản không cho người xua đuổi và cho phép bà lại gần, khiến hồi tỉnh lại. Cảm thấy xấu hổ, bà nằm phục xuống đất. Một người đưa cho tấm y, bà quấn vào mình và thỉnh Phật cứu độ. Bà kể lại thân phận:
– Thế Tôn, hãy cứu độ cho con. Một đứa con của con bị diều hâu mang đi, một đứa bị nước cuốn trôi, chồng con bị rắn cắn chết, cha mẹ và em con bị căn nhà sup đổ đè chết vừa hỏa táng.
Đức Phật nói:
– Này Patācārā, đừng nghĩ rằng ngươi đến với một người có thể cứu độ cho ngươi. Như nay ngươi than khóc vì con chết, vì chồng chết, vì cha mẹ chết. Cũng vậy, ngươi đã than khóc trong kiếp luân hồi của ngươi vì rằng con, chồng và cha mẹ chết của ngươi còn nhiều hơn nước sông bốn biển.
Nước bốn biển ít hơn,
Nước mắt của loài người,
Khóc than vì đau khổ,
Vậy sao nàng huỷ hoại,
Sanh mạng của chính mình,
Trong khóc than sầu khổ!
Nghe Thế Tôn dạy về con đường diệt khổ, nỗi khổ đau của bà được nhẹ dần. Đức Phật khuyên thêm:
– Ôi Patācārā! Một người mệnh chung thì con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa. Cho đến hiện tại, họ cũng không giúp đỡ được gì. Do vậy, người có trí sống đời sống giới đức thanh tịnh, thành tựu con đường hướng đến Niết-bàn.
Rồi đức Phật dạy:
Các con, cha, bà con,
Không phải chỗ nương tựa,
Khi thân hoại mệnh chung,
Bà con huyết thống nàng,
Không thể che chở nàng!
Thấy được sự thật này,
Kẻ trí sống giới đức,
Và mau chóng thành tựu,
Con đường hướng Niết-bàn!
Bậc Đạo sư nói xong, bà chứng được quả Dự lưu và xin xuất gia. Đức Phật đưa bà đến chúng Tỳ-kheo-ni và cho phép được xuất gia. Bà tinh tấn tu hành, cố gắng thành đạt những quả vị cao hơn. Một hôm lấy nước rửa chân, khi đổ nước thấy nước chảy một khoảng đường ngắn rồi biến mất. Bà đổ thêm nước và con đường nước chảy dài hơn. Đến lần thứ ba bà lại đổ nước, con đường nước chảy dài hơn và biến mất. Dựa trên sự kiện này làm nền tảng suy tư, bà nghĩ: “Cũng vậy là loài người, chết trẻ, chết nửa chừng và chết già.”
Đức Phật ở tại hương phòng phóng hào quang hiện ra trước mặt bà và dạy rằng:
– Hỡi Patācārā, như vậy là cuộc sống của loài người, cuối cùng cũng phải mệnh chung. Vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy sự sanh diệt của năm uẩn. Dù cho chỉ thấy được một ngày hay chỉ một sát-na, còn hơn là sống một trăm năm mà không thấy được sự thật ấy.
Người sống một trăm năm,
Không thấy pháp sanh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sanh diệt.
(Pháp cú 113)
Khi Thế Tôn nói xong, Patācārā chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của mình khi còn là một học nữ, bà tán thán sự kiện đã giúp bà được quả vị cao hơn và nói bài kệ:
Với cày, cày ruộng đất,
Gieo hạt giống trên đất,
Loài người được tài sản,
Nuôi dưỡng vợ và con.
Sao ta giới đầy đủ,
Làm theo Đạo sư dạy,
Lại không chứng Niết-bàn
Không nhác, không dao động?
Khi ta đang rửa chân,
Làm cho dòng nước chảy,
Thấy được nước rửa chân,
Từ cao chảy xuống thấp,
Nhờ vậy tâm được định,
Như ngựa hiền khéo luyện.
Rồi ta cầm cây đèn,
Bước vào ngôi tinh xá,
Nằm trên chiếc giường nhỏ,
Ta nhìn quán ngọn đèn.
Rồi lấy cây kim nhỏ,
Dìm tim đèn xuống dầu,
Thấy cây đèn Niết-bàn,
Tâm ta được giải thoát.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)
Trong thời đức Phật hiện tại, bà được sanh trong một gia đình quý tộc ở Sāvatthi. Sau khi lập gia đình, bà sanh được mười con trai con gái nên có biệt danh là “người nhiều con”. Khi chồng xuất gia, bà giao lại cho các con cai quản gia đình và giao cả gia sản cho con trai, không giữ gì cho thân mình. Các con trai và con dâu nuôi dưỡng bà, không bao lâu trở mặt khinh rẻ. Bà buồn cho thái độ của các dâu con, nên xuất gia trở thành Tỳ-kheo-ni.
Bà suy nghĩ, lớn tuổi mới xuất gia nên hết sức tinh cần tinh tấn. Trong khi hầu hạ các Trưởng lão ni, bà thức đêm tu học, bà kiên trì học tập không biếng nhác không xao nhãng, như người chụp nắm các cột trong mái hiên hay chụp nắm cành cây trong đêm tối để tránh đầu khỏi va chạm. Hạnh tinh tấn của bà được mọi người biết. Bậc Đạo sư biết trí tuệ của bà đã chín muồi, nên phóng hào quang hóa hiện trước mặt bà và nói bài kệ:
Ai sống một trăm năm,
Không thấy câu bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử.
(Pháp cú 114)
Khi đức Phật nói câu này xong, bà chứng quả A-la-hán, Thế Tôn tán thán bà là Tỳ-kheo-ni tinh tấn đệ nhất. Một hôm, suy tư đến quả chứng của mình, bà phấn khởi nói lên những bài kệ:
Ta sanh được mười con,
Trong thân chất chứa này,
Do vậy ta già yếu,
Ta đến Tỳ-kheo-ni.
Bà thuyết pháp cho ta,
Về uẩn xứ và giới,
Nghe pháp bà thuyết giảng,
Cắt tóc ta xuất gia.
Ta học lời bà dạy,
Thiên nhãn ta thanh tịnh,
Ta biết các đời trước,
Chỗ ta sống đời trước.
Ta tu pháp vô tướng,
Nhất tâm khéo thiền định,
Tức thời ta giải thoát,
Không chấp thủ tịch tịnh.
Năm uẩn được liễu tri,
Đứng lại, gốc bị cắt,
Tham dục, ta không có,
Căn cứ địa kiên trì?
Từ nay ta không còn
Vấn đề phải tái sanh.
(Trích dẫn Trưởng Lão Ni Kệ do HT. Minh Châu dịch)