Tâm Kinh Tụng giảng giải

Xá Lợi Tử (1)



Sơ tổ tụng:

“Đạt đạo tâm là gốc,

Tâm tịnh lợi thêm nhiều,

Như sen nhô mặt nước,

Cũng vậy, giác đạo nguồn.

Thường trụ tướng tịch diệt,

Các thứ trí khó qua,

Riêng vượt ngoài ba cõi,

Lại chẳng luyến ta-bà.

Giảng:

 “Đạt đạo tâm là gốc,

Tâm tịnh lợi thêm nhiều.”

Trong hàng đệ tử Thanh văn của Đức Phật Thích-ca, ngài Xá-lợi-phất là bậc Trí huệ đệ nhất (còn bên hàng Bồ-tát thì ngài Văn-thù-sư-lợi là đệ nhất). Tuy nhiên, ở đây Sơ tổ mượn danh xưng “Xá-lợi-tử” này để khai thị cho chúng ta về bản chất cốt lõi của sự tu tập.

Muốn đạt đạo, trước hết chúng ta phải quay về nhận lấy tâm của chính mình, chứ tuyệt đối không tìm kiếm đạo ở bên ngoài. Rất nhiều người thường định nghĩa “ngoại đạo” là những tôn giáo hay pháp môn khác ngoài Phật giáo. Nhưng dưới nhãn quan của Thiền tông, ngoại đạo thực chất là ngoài tâm cầu đạo.

Cho dù chúng ta mang danh nghĩa là Phật tử, tu theo lời Phật dạy, mà tâm cứ hướng ngoại tìm kiếm, chạy theo các pháp bên ngoài thì đó cũng chính là ngoại đạo. Ngược lại, dù ở bất kỳ hoàn cảnh hay tôn giáo nào, nếu biết quay về nhận diện và sống với tự tâm thanh tịnh thì đó mới là chánh đạo.

Chư vị Bồ-tát trong tiền thân từng thị hiện qua rất nhiều hình tướng khác nhau: lúc làm tiên nhân, lúc tu theo Phạm Thiên, khi làm ngoại đạo, lúc làm vua chúa, dân thường… Các ngài làm đủ mọi nghề nghiệp, hình tướng nhưng chưa từng rời bỏ Tâm Bồ-đề, chưa từng quên mất bản lai diện mục của chính mình. Làm tất cả các việc mà không rời tự tâm, đó mới là ý nghĩa thực sự của việc “hướng về vô thượng đạo”.

Trong các kinh điển, Đức Phật thường khẳng định: Dù cúng dường vô lượng vô biên chư Phật qua vô lượng kiếp, hoặc thực hành khổ hạnh cùng cực (như ăn mỗi ngày một hạt mè, hạt gạo…) trong suốt bao nhiêu kiếp đi nữa, cũng không bằng một người trì tụng kinh điển đại thừa – tức là quay trở về nhận lấy tự tính của chính mình.

Phật thành đạo là thành cái gì? Đức Phật thành đạo chính là sự giác ngộ, nhận lại được tâm của chính mình và làm chủ được nó.

Tuy nhiên, có một thực tế là chúng ta thường chỉ “hiểu” lý thuyết chứ chưa “nhận” được, hoặc nhận rồi mà chưa thể sống được với nó. Giống như lời Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm, hay như chư Tổ thường nói: “Đốn ngộ tuy đồng Phật / Đa sanh tập khí thâm.

Chúng ta tuy đã có hạt giống Phật, đã tin nhận và ngộ được lý pháp, nhưng bao nhiêu đời kiếp luân hồi quen thói tham, sân, si, ái dục…; huân tập những thói quen cũ quá sâu dày, nên trong chốc lát không thể buông bỏ ngay được.

Giống như một người nghiện ma túy hay ghiền rượu. Họ thừa biết chất kích thích ấy đang hủy hoại sức khỏe, làm gia đình đau khổ, đẩy họ vào con đường tội lỗi. Thế nhưng, mỗi khi cơn nghiện nổi lên, họ hoàn toàn bất lực trước chính thói quen do mình tạo ra. Tham, sân, si cũng vậy. Chúng ta quen thói bảo vệ cái ngã giả tạm này (thân ngũ uẩn tứ đại), phân biệt ta – người, sinh tâm thương ghét, chống đối…

Có câu chuyện một cô gái vì lỡ lầm vướng vào ma túy khiến cha mẹ vô cùng đau khổ. Thương cha mẹ, cô quyết tâm cai nghiện. Lên cơn nghiện, cô đập phá cửa phòng, thậm chí tự mình xin cha dùng dây xích sắt xích vào cửa sổ. Nhưng vì sức mạnh lúc lên cơn quá lớn, cô giựt đứt xích sắc, phá bung cả khung cửa sổ chạy đi tìm thuốc. Cuối cùng, người cha phải đổ hẳn một khối bê tông lớn giữa nhà, dùng dây xích thật dày để xích con lại giúp con vượt qua những cơn vật thuốc quằn quại. Nhờ sự quyết tâm sắt đá của bản thân cùng sự trợ duyên kiên định của người cha, cô mới vượt qua được ngục tù của cơn nghiện.

Câu chuyện đó là bài học lớn cho người tu học Phật. Biết rõ thói quen phiền não dẫn dắt ta trôi lăn trong sanh tử là một chuyện, nhưng chiến thắng được nó lại là chuyện khác. Đức Phật từng dạy: “Thắng một vạn quân trận không bằng tự thắng mình; tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất.

“Tâm tịnh lợi thêm nhiều”: Khi tâm đã thanh tịnh, lợi ích thu về là vô lượng. Trong kinh điển, Đức Phật từng dạy: “Cột tâm ở một chỗ, không việc gì chẳng xong. Việc nhiếp tâm vào một chỗ mang lại hai tầng lợi ích lớn lao:

  • Giúp ta có đủ sức mạnh nội tâm để nhẫn chịu và vượt qua mọi khổ đau, thử thách.
  • Khi tâm định tĩnh sâu xa, năng lượng tự nhiên sẽ sinh phát (phát sinh định lực và thần thông).

Trong lịch sử Thiền sư Việt Nam, có thiền sư Từ Đạo Hạnh, vì muốn trả thù cho cha đã quyết định trì tụng Chú Đại Bi ròng rã suốt ba năm với một tâm niệm duy nhất là cầu đắc thần thông để trả thù. Nhờ sự nhiếp tâm cao độ, sau ba năm ông đắc thần thông thực sự. Khi đấu pháp với kẻ thù, ông chỉ dùng một chiêu là chiến thắng. Tuy nhiên, nhờ phước lực trì tụng Chú Đại Bi ba năm, ngay sau khi trả được thù, tâm ông chợt thức tỉnh và hối hận sâu sắc. Ông buông bỏ oán thù, xuất gia tu học và sau này trở thành một vị thiền sư lỗi lạc.

Câu chuyện trên cho thấy ngay cả khi nhiếp tâm với một tâm niệm chưa hoàn toàn thanh tịnh mà công năng còn lớn lao nhường ấy, huống hồ là khi tâm đã đạt đến sự thanh tịnh hoàn toàn.

Chư Phật và Bồ-tát sở dĩ được tự tại trong sanh tử, muốn đi đến cõi nào thì đến, muốn hóa hiện thân tướng ra sao tùy ý, chính là vì tâm các ngài đã hoàn toàn thanh tịnh, không còn bị lôi cuốn bởi sức mạnh của nghiệp lực trong ba cõi. Còn chúng ta, vì tâm còn đầy dẫy niệm sanh diệt, nên bị nghiệp dẫn dắt trôi lăn trong lục đạo, giống như kẻ tù nhân bị giam cầm trong ngục tối, mọi sinh hoạt đều phải tuân theo sự quản thúc khắt khe, hoàn toàn không có chút tự do.

Nói về ngũ dục lạc (tài, sắc, danh, thực, thùy): Người thế gian thường tìm kiếm qua lao động vất vả, qua tiền tài, danh vọng. Thậm chí có những hoàn cảnh khó khăn đến mức bữa cơm hằng ngày chỉ có cơm chan nước lả, lâu lâu mới có được một bữa cá thịt. Muốn hưởng thụ ngũ dục mà không có phước báu thì chỉ chuốc lấy nhọc nhằn, cùng cực. Trong khi đó, nếu tâm thanh tịnh, tự khắc các phước báo và sự tự tại sẽ hiện tiền.

Nhiều người lầm tưởng niềm vui ngũ dục là lớn nhất, nhưng thực chất niềm vui thế gian vô cùng tạm bợ.

  • Giống như niềm vui khi đội bóng chiến thắng, người ta hò hét, quên đi cả bệnh tật, đau đớn hay những phập phồng lo âu về sự sống chết trước mắt. Nhưng khi tiếng còi mãn cuộc vang lên, cảm giác trống trải, đau đớn và thực tại phũ phàng lại quay về nguyên vẹn.
  • Ngược lại, niềm vui trong thiền định là thứ niềm vui nội tại sâu sắc, lâu dài và vi diệu.

Có một hành giả tham dự khóa tu thiền thất 7 ngày. Sau những giờ ngồi thiền miên mật, trong khi nhiều người cảm thấy mỏi mệt, vị này lại vô cùng hoan hỷ, mong chờ từng phút giây được ngồi thiền. Khi được giám thiền hỏi nguyên nhân, vị ấy hồn nhiên kể rằng cứ mỗi lần nhập định, trước mắt ông lại hiện ra một bức tường với cánh cửa mở ra một khu vườn ngập tràn hoa cỏ lạ lùng, hương thơm ngào ngạt vi diệu mà trần thế chưa từng có. Ông say sưa dạo chơi trong cảnh giới đó cho đến khi xả thiền.

Dù đây mới chỉ là sự vướng kẹt ở cảnh giới khinh an, nhưng nó cũng đủ minh họa cho việc hỷ lạc trong thiền định vượt xa thế gian dường nào. Hay như câu chuyện tôn giả Mục-kiền-liên xuống địa ngục thăm Đề-bà-đạt-đa; dẫu Đề-bà-đạt-đa đang chịu hình phạt khổ sở trong vạc dầu sôi, nhưng nhờ năng lực định tâm, ngài vẫn cảm thấy mát mẻ như đang ở cõi trời Tam Thiền, không hề phiền não.

Do đó, lời dạy của Sơ tổ “Đạt đạo tâm là gốc, tâm tịnh lợi thêm nhiều” chính là chiếc chìa khóa vàng: Hãy chăm bón cái gốc rễ tự tâm cho thật vững chãi, thanh tịnh; tự khắc hoa trái của sự an lạc, giải thoát và tự tại sẽ sum suê.

“Như sen nhô mặt nước,

Cũng vậy, giác đạo nguồn.

Hình ảnh hoa sen vươn lên khỏi mặt nước mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Khi ở dưới nước, ngó sen cắm sâu vào bùn nhơ, thứ bùn lầy đục ngầu và hôi tanh. Thế nhưng, khi hoa sen nhô lên khỏi mặt nước để nở rộ, chúng ta hoàn toàn không tìm thấy một chút bùn nhơ nào vương lại trên cánh hoa.

Sự tích hợp ấy tượng trưng cho hành trình tu tập của người học Phật:

  • Nơi sinh trưởng: Hoa sen mọc lên từ bùn lầy, cũng giống như người tu hành đạt được sự giải thoát ngay giữa cõi đời ngũ trược ác thế này, giác ngộ ngay chính trong tâm sinh diệt chứ không phải tìm kiếm ở một cõi giới xa xôi nào khác.
  • Hương thơm thanh tịnh: Hương thơm của hoa sen rất đặc biệt. Nó không nồng nàn, ngây ngất hay gợi lên lòng tham ái, ái dục như hoa hồng hay các loài hoa thường được dùng làm nước hoa. Hương sen mang một nét thanh khiết, nhẹ nhàng, chỉ gợi lên sự an lạc và thanh tịnh trong tâm. Chính vì thế, hoa sen từ lâu đã được chọn làm biểu tượng cho sự giác ngộ, giải thoát và thanh tịnh tuyệt đối của người tu.

Khi đã đạt đến nguồn tâm giác ngộ, người tu cũng giống như hoa sen nhô lên mặt nước, hoàn toàn không bị ô nhiễm hay vướng mắc bởi bùn nhơ của cuộc đời.

Câu kệ tiếp theo khẳng định: “Cũng vậy, giác đạo nguồn.” Khi chúng ta quay trở lại nhận lấy nguồn tâm bản giác của chính mình thì tâm ấy sẽ thanh tịnh, trong sáng tuyệt đối.

Cho dù chúng ta đang sống giữa chốn ngũ trược ác thế đầy rẫy ô trược, tự tính thanh tịnh ấy vẫn nguyên vẹn, không bị nhơ bẩn, giống như bùn cứ là bùn, còn hoa sen vẫn tỏa ngát hương thơm thanh tịnh của chính mình.

Khi đã quay về sống với tự tính chân thật, các pháp sinh diệt ở bên ngoài hoàn toàn không thể làm lay động hay ảnh hưởng đến cái bản thể bất sinh bất diệt của tâm. Các pháp ô nhiễm, nhơ trược của thế gian không thể làm vẩn đục sự thanh tịnh sẵn có nơi tự tâm.

Có người sẽ đặt câu hỏi: Nếu nói tâm không bị ảnh hưởng, vậy khi tội nhân bị đọa vào địa ngục chịu hình phạt thì có bị ảnh hưởng không?

Chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa thân giả tạmtự tính chân thật:

  • Bản thân tự tính thanh tịnh chưa từng bị diệt vong hay tổn hại. Nếu tự tính ấy bị diệt, khi con người bị ném vào vạc dầu sôi hay lò lửa đỏ tan rã thành tro bụi, thì sẽ không bao giờ có thể tái sinh hay phục hồi lại thân thể để tiếp tục chịu hình phạt nữa. Sở dĩ sau khi tan rã mà vẫn có thân mới sinh ra để chịu khổ là vì tự tâm chưa từng diệt.
  • Tuy nhiên, do sức nặng của nghiệp lực và thói quen ác nghiệp đã huân tập, tự tâm ấy bị chi phối bởi luật vận hành của các pháp hữu vi, tự động chiêu cảm và tạo ra một thân mới để tiếp tục trả quả trong lục đạo luân hồi.

Tóm lại, trong khi thân ngũ uẩn phải chịu sự chi phối ngặt nghèo của luật nhân quả và pháp hữu vi, thì bản thể tâm thanh tịnh bên trong vẫn đứng ngoài mọi sự ô nhiễm. Hiểu được điều đó, ta mới thấy rõ vì sao chư vị Tổ sư dù đối diện với nghịch cảnh khốc liệt cỡ nào vẫn giữ được sự an nhiên tự tại, xem chốn đau khổ nhục hình nhẹ tựa cõi trời thiền định.

“Thường trụ tướng tịch diệt,

Các thứ trí khó qua.”

Tâm của chúng ta là pháp thường trụ, không bao giờ mất đi. Cho dù ta có trôi nổi trong ba cõi luân hồi, tâm ấy vẫn vẹn toàn. Ta ở đâu thì tâm thanh tịnh ở đó; nó vẫn hằng thường, vắng lặng và chưa từng sanh diệt.

Nếu bản thể thanh tịnh ấy mà có thể diệt, thì chúng ta đã hoàn toàn bị tiêu diệt từ lâu rồi. Chính vì tâm không diệt, nên ta mới có thể trôi lăn trong sanh tử từ vô thủy cho đến nay, và sẽ tiếp tục ở vị lai nếu ta không chịu tu tập, quay về nguồn cội. Tâm chân thật chưa từng có lúc nào không hiện diện; nó là pháp thường trụ. Thân tứ đại của chúng ta có thể diệt chỗ này, sanh chỗ khác, nhưng nhờ có cái tâm bất sanh bất diệt ấy làm nền tảng, sự tái sinh mới có thể diễn ra. Nếu không có tâm bất sanh bất diệt đó, cái chết sẽ là sự tiêu diệt vĩnh viễn.

Ta có thể dùng ví dụ về không gian để dễ bề chiêm nghiệm. Khi căn nhà cũ bị hỏa hoạn cháy rụi, ta vẫn có thể xây dựng một ngôi nhà mới trên chính mảnh đất và khoảng không gian ấy. Nếu khoảng không gian và nền đất đó cũng tiêu tan theo ngọn lửa, thì làm sao ta còn chỗ để cất nhà?

Cũng vậy, chính vì chỉ có thân tướng hư hoại mà không gian tánh của tâm không hề mất, ta mới có thể tiếp tục tiếp nhận các thân tướng sanh diệt khác. Nếu tâm thanh tịnh này mà theo tướng sanh diệt rồi mất hẳn, thì lấy gì để làm chỗ dựa cho các pháp sanh diệt tiếp diễn? Chính nhờ tâm thể thường trụ, bất biến, ta mới có thể dung chứa và sinh ra muôn pháp.

“Thường trụ tướng tịch diệt”: tâm của chúng ta chưa từng bị diệt, và nó vốn dĩ “tịch diệt”. “Tịch” là rỗng lặng, “diệt” là vắng lặng; tịch diệt nghĩa là rỗng lặng và vắng lặng tuyệt đối. Tâm ấy vừa thường trụ, vừa rỗng lặng, thanh tịnh, hoàn toàn không bị nhơ nhiễm bởi bất cứ trần cấu nào.

Khi nhìn hư không, ta có thể phần nào hình dung được tự tính của tâm. Trong hư không, muôn vật hiện diện, có dơ có sạch, có tốt có xấu…, nhưng tự tánh hư không thì không mang một tướng trạng nào. Hư không chứa đựng tất cả mà không hề bị ô nhiễm bởi bất cứ điều gì: tướng sắc đẹp hay xấu đều không thể làm đổi thay hư không; âm thanh ồn ào hay thanh tịnh cũng không thể vấy bẩn được nó…

Hư không là một thể trùm khắp, thanh tịnh và lặng lẽ. Tâm thể của chúng ta cũng y hệt như thế. Khi Đức Phật dạy rằng tâm của chúng ta rỗng lặng như hư không, Ngài đang nói về mặt bản thể – một bản thể trùm khắp vạn pháp, chưa từng bị pháp làm cho nhiễm ô, cũng chưa từng bị đổi thay theo hoàn cảnh.

“Các thứ trí khó qua”: Câu “các thứ trí khó qua hàm ý rằng không có một trí tuệ nào có thể vượt ra ngoài hay vượt qua được tâm thanh tịnh của chính mình. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả mọi thứ trí tuệ đều từ tâm này mà sinh ra.

Trong hệ thống kinh điển Bát-nhã, Đức Phật đã giảng giải rất rõ ràng: dù là trí tuệ của Phàm phu, của Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, hay thậm chí là trí tuệ của Phật, tất cả đều không thể vượt qua pháp Đại thừa – chính là tâm thanh tịnh của chúng ta. Mọi trí tuệ đều xuất phát từ tâm: Phật trí sinh từ Phật tâm, tâm ta sinh ra trí của ta, Bồ-tát trí sinh từ tâm Bồ-tát.

Trí tuệ của ta vươn tới đâu, sự thấu hiểu sâu sắc đến đâu, thì cũng nằm trong phạm vi của tâm ấy. Nhờ có tâm thể trùm khắp đó, ta mới có thể phát sinh trí tuệ. Nếu không có tâm thanh tịnh, sẽ chẳng có một loại trí tuệ nào có thể hình thành – ngay cả trí tuệ phàm phu cũng không thể có, huống hồ là trí Phật.

Do đó, ở đây Tổ mới nói “các thứ trí khó qua, bởi vì mọi trí tuệ đều do tâm sinh ra; trí tuệ vốn nằm trong tâm và do tâm tạo ra, thì làm sao có thể vượt qua được chính cội nguồn sinh ra nó?

“Riêng vượt ngoài ba cõi,

Lại chẳng luyến Ta-bà

Cụm từ “vượt ngoài ba cõi” chỉ cho tâm thanh tịnh của chính mình – bản thể ấy hoàn toàn không bị tam giới trói buộc, nên gọi là vượt ngoài ba cõi.

Nếu tâm này thực sự bị tam giới trói buộc, chúng ta sẽ vĩnh viễn không thể giải thoát. Sở dĩ ta có thể tu tập để đạt được sự giải thoát, vượt thoát ba cõi, trở thành các bậc A-la-hán, Bồ-tát, hay Phật – những bậc tự tại trong sanh tử, dạo chơi khắp các thế giới trong vũ trụ này – là vì tâm thanh tịnh ấy vốn dĩ chưa từng bị ba cõi trói buộc từ muôn đời.

Chính vì vậy, một khi ta nhận lại được tâm thanh tịnh của mình và không còn để những thói quen cũ dẫn dắt, ta sẽ tự động bước ra khỏi ba cõi một cách rất tự nhiên. Bản thân tâm ấy vốn dĩ đã là siêu việt, vượt ngoài ba cõi.

Đã vượt ngoài ba cõi thì “lại chẳng luyến Ta-bà”. Tâm thanh tịnh không có sự đắm luyến cõi Ta-bà; nó không thương mà cũng chẳng ghét. Một khi đã không còn thương ghét, hà cớ gì lại vướng luyến cõi Ta-bà?

Nếu tâm ấy thực sự ưa thích cõi Ta-bà, nó đã chẳng thể rời bỏ nơi này. Nhưng thực tế là nó không vướng mắc bất cứ điều gì. Tâm thanh tịnh trùm khắp muôn phương, hoàn toàn không có tâm niệm ưa hay ghét.

Ta có thể quan sát hư không làm ví dụ: hư không không hề ưa hay ghét bất cứ vật gì hiện diện trong nó. Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong không gian, và không gian làm chủ tất cả, sinh ra tất cả mà không hề mang tâm ái luyến. Nếu không gian mà luyến ái một pháp nào đó, nó đã biến thành pháp ấy và mất đi tính chất trùm khắp của mình.

Ta có thể thấy rõ điều này qua những hiện tượng tâm lý đời thường. Chẳng hạn, khi một người nổi sân, nếu họ chấp chặt cái sân đó là chính mình, lúc bấy giờ trong tâm họ chỉ còn hình ảnh của cơn giận. Nếu tâm thanh tịnh của chúng ta mà biến thành sân hận, thì làm sao có thể dứt sạch được sân?

Nhưng sự thật không phải vậy. Sân hận chỉ là một pháp sanh diệt, sinh ra rồi lại diệt đi. Một người nếu cứ giận hờn hoài chắc chắn sẽ tổn thọ. Những cơn giận dữ tột độ có thể làm huyết áp tăng cao, thậm chí gây vỡ mạch máu hoặc đột quỵ – trong thực tế, chuyện người ta tức quá mà qua đời không phải là hiếm. Vui quá mức cũng có thể dẫn đến kiệt sức.

Chính vì thân thể này có cơ chế tự bảo vệ để giữ gìn sự an toàn, nên bắt buộc ta phải quên đi những cảm xúc cực đoan ấy. Thời gian quả là một liều thuốc nhiệm mầu làm phai mờ tất cả, giúp ta buông bỏ những nỗi buồn sâu kín. Quy luật của các pháp vốn là như thế: buồn không lâu, vui chẳng dài, và sân hận cũng qua đi, bởi tất cả đều là pháp sanh diệt phát xuất từ cái gốc vô thường, chứ không thể che lấp được tâm thể chân thật.

Tâm của chúng ta không hề đắm luyến bất cứ chốn nào, cũng chẳng xả bỏ nơi nào, nên mới được tự tại vô ngại. Đó chính là bản diện chân thật của tâm ta.

Dưới cái nhìn của Tổ sư, hình tượng ngài Xá-lợi-tử không ai khác chính là biểu trưng cho tâm chân thật ấy – đó cũng là chốn để ta đạt đạo, là nơi để ta thấy đạo. Chỉ cần quay về nương tựa và nhận diện lại thể tính thanh tịnh của chính mình, lợi ích thu về là vô lượng vô biên.

Giống như đóa hoa sen vươn lên khỏi mặt ao bùn nhơ, hoàn toàn không bị bùn nhơ làm ô nhiễm, lại tỏa hương thơm ngát – đó chính là hương thanh tịnh của tâm thể hằng trụ, vắng lặng, chưa từng bị các pháp sanh diệt làm cho vấy bẩn.

Tâm ấy vượt qua tất cả mọi trí tuệ từ phàm phu cho đến Bồ-tát và Phật, bởi vì nó chính là cội nguồn dung chứa và sinh ra muôn vàn trí tuệ. Nó vượt ra ngoài ba cõi, vượt khỏi cõi Ta-bà này, vì từ muôn thuở nó vốn chưa từng bị trói buộc.

Những sự trói buộc chỉ là thói quen của phàm tình. Khi ta không còn để những thói quen ấy dẫn dắt nữa, tâm thanh tịnh sẽ tự nhiên trùm khắp vũ trụ, tự tại không vướng bận. Đó chính là ý nghĩa thâm sâu của từ Xá-lợi-tử qua sự giảng luận của Tổ, ngài đang nói đến bản tâm thanh tịnh sẵn đủ trong mỗi chúng ta.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.