Tâm Kinh Tụng giảng giải

Độ Nhất Thiết Khổ Ách



Sơ Tổ tụng:

Vọng buộc thân nên khổ,

Nhân ngã tâm tự mê,

Niết-bàn đạo thanh tịnh,

Ai chịu nhận tâm duyên.

Ấm giới sáu trần khởi,

Ách nạn nghiệp theo liền,

Nếu rõ tâm hết khổ,

Nghe chóng ngộ Bồ-đề.

Giảng:

“Độ nhất thiết khổ ách” nghĩa là Qua hết thảy khổ ách. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma đã hiển thị con đường vượt thoát ấy qua tám câu thơ:

“Vọng buộc thân nên khổ,

Nhân ngã tâm tự mê.

Tổ chỉ thẳng căn nguyên của mọi nỗi khổ đau trên cuộc đời: “Vọng buộc thân nên khổ”. Bản thể Chân tâm vốn tự tại, chưa từng bị trói buộc vào thân tứ đại. Thế nhưng, do niệm ngu si vô minh khởi lên, chúng sanh tự dối gạt mình, đem lòng bám chấp và trói buộc chặt chẽ vào cái ngã giả này rồi tự chuốc lấy khổ não.

Khi đã lầm chấp thân này là thật, ta liền bị nó xoay chuyển: đói khổ, no khổ, nóng khổ, lạnh khổ; ai đánh đập ta thấy khổ, ai mắng chửi ta thấy nhục, ai tán thán, thương yêu ta lại thấy hạnh phúc, vui mừng… Toàn bộ chuỗi cảm thọ buồn vui, sướng khổ của phàm phu thảy đều bị cột chặt vào sự thăng trầm của cái túi da ngũ uẩn.

Câu kệ tiếp theo: “Nhân ngã tâm tự mê”: vạch trần cái thấy nhị nguyên điên đảo. Chúng sanh hằng ngày phân biệt ta và người, hơn và kém, thân và sơ, thực chất đó là trạng thái tự mình mê muội. Nếu đặt lên bàn cân quán chiếu:

  • Về mặt hiện tượng (Ngũ uẩn): Thân của ta và thân của người khác nhau về tướng trạng, nhưng thảy đều là pháp duyên sinh, là cấu trúc tạm bợ cấu thành từ đống trần bất tịnh và đều đi đến chỗ hoại diệt.
  • Về mặt bản thể (Chân tánh): Tánh thấy, tánh nghe, tánh nhận biết hằng tri nơi ta và nơi người vốn đồng đẳng, thanh tịnh như nhau. Sự chiếu soi của Chân tánh nơi mỗi người vận hành một cách vô ngại và không hề xung đột, lấn đoạt hay chọi nhau. Khi mắt ta thấy sắc, mắt người khác cũng thấy sắc; hai cái thấy ấy cùng hiển thị mà chẳng hề va chạm.

Thế nhưng, sự tranh chấp, đố kỵ và đấu tranh chỉ phát sinh khi con người khởi tâm “nhân ngã”, muốn vơ vét mọi thứ lợi lộc, thuận cảnh về để cung phụng cho cái ngã giả của mình.

Ngay cả trong môi trường thiền môn tu tập, nếu hành giả chưa sạch tâm chấp ngã, hễ đối diện với một vật cúng dường ngon ngọt, một lời khen chê, hay một chút quyền lợi nhỏ, lập tức tâm niệm hơn thua, ganh tỵ liền trỗi dậy. Người ta sẵn sàng tranh chấp, bảo vệ quan điểm của mình là đúng, lời nói của mình là hơn hết, còn người khác là sai lệch. Đó chính là hành vi lấy cái dối vọng làm cái chân thật, lao vào cuộc chiến nhân ngã trên các tướng sinh diệt, nhân duyên hòa hợp để rồi tự chuốc lấy luân hồi trầm luân.

“Niết-bàn đạo thanh tịnh,

Ai chịu nhận tâm duyên.”

Đối lập với thế giới duyên sinh đầy tranh chấp là cảnh giới “Niết-bàn đạo thanh tịnh”. Niết-bàn ở đây không phải là một cõi giới xa xôi ở bên ngoài sau khi chết, mà chính là trạng thái tịch tĩnh, thanh tịnh vốn có của Tự tánh.

Tổ đặt câu hỏi phản quan cứu cánh: “Ai chịu nhận tâm duyên?”

Bản tánh Niết-bàn thanh tịnh của chúng ta tuyệt đối không bao giờ nhận hay dính mắc vào các duyên bên ngoài. Nếu nó chịu nhận và đồng hóa với ngoại duyên, nó sẽ lập tức bị biến đổi và mất đi công năng chiếu soi bản nhiên.

Thực tế công phu cho thấy, ngay khoảnh khắc tai ta nghe một lời nhục mạ, mắng chửi (duyên ác), thì đồng thời tánh nghe ấy vẫn nhận biết rõ ràng tiếng chim hót, tiếng gió thổi bên tai; nó không hề bị câu chửi làm cho ô nhiễm hay gián đoạn. Hoặc ngay khi thân xác phải chịu cơn đau đớn tột cùng do bị đánh đập, thì ngay sát-na đó, mắt ta vẫn thấy sắc, tai vẫn nghe tiếng một cách bình nhiên. Chân tâm hằng tri hằng giác đứng phía sau vốn tự tại, hằng hữu và chưa từng bị trói buộc bởi bất kỳ nghịch cảnh hay thuận cảnh nào.

Vậy cái gì đang duyên theo pháp và sinh tâm đau khổ, oán hận? Đó chính là cái “Tâm duyên” (vọng tâm phân biệt, thói quen pháp chấp tích tụ từ ngàn đời). Cái tâm bám chấp ấy vốn là giả dối, duyên theo các pháp huyễn hóa bên ngoài. Cái giả chấp vào cái giả, hai thứ không thật đụng nhau tạo nên một chuỗi sinh diệt, qua đi không để lại dấu vết, chứ Bản thể xưa nay chưa từng suy suyển.

Để thấu suốt bản chất huyễn mộng của tâm duyên và pháp chấp, chúng ta hãy so sánh với việc xem một bộ phim:

Trên phim, hai diễn viên nhập vai vô cùng xuất sắc: người A đóng vai Quý phi độc ác, ra sức hành hạ, đánh đập người B trong vai nữ tỳ đáng thương; họ căm hận nhau, khóc lóc, oán thù nhau như thể không đội trời chung. Thế nhưng, ngay khi máy quay đóng lại, bước vào phía sau hậu trường, họ lập tức cởi bỏ xiêm y, trở lại làm những người bạn tri kỷ, cùng cười đùa và chăm sóc, rót nước cho nhau…

Cuộc đời này của chúng sanh cũng chính là một đại hí trường như thế. Do tâm duyên sinh biến hiện, đời này hai kẻ thù hận, tìm mọi cách hãm hại nhau; nhưng do nhân duyên oán đối chi phối, qua đời sau họ lại đầu thai làm hai mẹ con hoặc hai cha con trong một gia đình. Dưới nhãn quan của thế gian, người ta nhìn vào thấy họ là tình cốt nhục thân bằng quyến thuộc, nhưng thực chất bên trong vẫn âm ỉ dòng chảy oán thù từ kiếp trước.

Vậy thì mối quan hệ nào mới là chân thật? Là kẻ thù hay là mẹ con? Câu trả lời là: Chẳng có cái nào là thật cả. Tất cả chỉ là những vai diễn, những trạng thái thay hình đổi dạng của các pháp duyên sinh. Hai cái giả cộng lại với nhau muôn vàn lần thì kết quả cuối cùng vẫn hoàn toàn là giả dối.

Khi hành giả có mắt tuệ nhìn thấu dòng chảy huyễn hóa này, ta sẽ nhận ra mọi tâm niệm thương ghét, bám chấp hằng ngày đều cực kỳ tạm bợ và phù du. Dù ta có cố công yêu thương, quyến luyến một người đến mức nào, khi thân hoại mạng chung, mỗi người theo một nghiệp cảnh (người sanh cõi trời, kẻ đọa địa ngục…), không thể gặp lại. Ngay cả khi vì tình chấp nặng nề, thần thức không chịu rời đi mà biến thành loài phi nhân lẩn quất bên cạnh con cái, thì ta cũng chẳng thể ôm ấp, chẳng thể chuyện trò hay can thiệp vào cuộc đời của chúng được nữa. Pháp tánh của thế gian vốn là duyên sinh và vô thường; cái tâm muốn bám chấp, muốn nắm giữ thực tế cũng chẳng thể giữ được cái gì.

Hiểu rõ diệu lý “Độ nhất thiết khổ ách” qua lời Tổ dạy, chính là việc hành giả chấm dứt sự ngu si, phá tan ảo tưởng về cái ngã giả ngũ uẩn. Khổ nạn không tự đến để hành hạ ta, mà do vọng tâm tự cột buộc vào thân rồi tự chuốc lấy đau khổ.

Chỉ cần một niệm thức tỉnh, nhận diện vạn pháp như hoa đốm giữa hư không, như kịch nghệ nơi hậu trường, trả thế giới về cho sự vận hành khách quan của duyên khởi, và hằng sống với Bản tánh Niết-bàn vô vi, không duyên theo các pháp sinh diệt. Ngay khoảnh khắc tâm vô cầu, vô chấp ấy hiện tiền, hành giả lập tức bước qua mọi khổ ách, đạt đến bờ kia tự tại giải thoát.

“Ấm giới sáu trần khởi,

Ách nạn nghiệp theo liền.”

Tổ khái quát toàn bộ cấu trúc của vạn pháp và thân tâm qua cụm từ “Ấm giới sáu trần khởi. Thực chất, đây chính là cách gọi vi tế của Thân và Cảnh:

  • Ấm (Ngũ uẩn): Gồm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức – cấu thành nên thân tướng giả tạm này.
  • Sáu trần: Gồm Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp – tức là thế giới hiện tượng, cảnh giới bao quanh bên ngoài.
  • Mười tám giới: Được thiết lập khi Sáu căn (trên thân) tiếp xúc với Sáu trần (ngoài cảnh) mà phát sinh Sáu thức (sự phân biệt bên trong).

Bản chất của “ấm, giới, sáu trần” vốn chỉ là các pháp duyên sinh, vận hành theo tự tánh khách quan của chúng. Tuy nhiên, tai họa bắt đầu khi các pháp ấy “khởi” lên, nghĩa là hành giả khởi tâm tham đắm, điên đảo bám chấp, lầm tưởng cấu trúc giả dối này là một cái Ngã chân thật.

Một khi tâm chấp thủ vừa xuất hiện, lập tức “ách nạn nghiệp theo liền”. Nghiệp ở đây chính là thói quen huân tập, tích lũy qua ba nghiệp Thân, Miệng, Ý. Khi ta coi thân và cảnh là thật, ta sẽ vì sự tồn tại và lợi ích của cái ngã ấy mà hành động. Đừng lầm tưởng rằng chỉ khi tạo ác nghiệp mới chịu ách nạn; ngay cả khi tạo thiện nghiệp với tâm mong cầu, bám chấp, hành giả vẫn phải chịu ách nạn của vòng quay sanh tử.

Người tu tập thiện nghiệp mà không rời tâm chấp ngã, tuy được phước báo sanh về cõi trời, cõi người, nhưng đó vẫn là cảnh giới trầm luân trong Tam giới. Chỉ cần một niệm lầm lạc, một sát-na thối chuyển tạo ác nghiệp, phước trời tiêu tán, thần thức lập tức đọa lạc vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Chừng nào còn kẹt trong vòng quay sinh diệt của ba cõi, chừng đó hành giả vẫn chưa thể thoát khỏi khổ ách của vô thường.

Khác với phàm phu, chư vị Bồ-tát dấn thân vào cuộc đời làm tất cả các thiện sự nhưng tâm các ngài luôn tự tại vì thấu đạt lý vô ngã. Các ngài hành trì hạnh “Vi vô vi, vô sở bất vi” (Làm tất cả mọi việc mà như không làm gì cả).

Trong kinh Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Đức Phật từng đưa ra ví dụ sâu sắc về một vị huyễn sư:

Vị huyễn sư dùng thần thông hóa hiện ra một đại chúng đông đảo, rồi lại hóa hiện ra tiền bạc, trân bảo để làm việc bố thí, cúng dường cho chính đại chúng huyễn hóa đó. Đứng trên lập trường của ảo thuật, vị ấy có tự thấy mình đang làm việc thiện hay không? Câu trả lời là không. Bởi cả năng thí (người cho), sở thí (người nhận) và vật thí (vật đem cho) thảy đều là những hiện tượng ảo ảnh, không có tự tánh chân thật.

Đối với hàng Bồ-tát, vạn pháp ở thế gian cũng đồng một bản chất như vậy. Mọi hiện tượng mà chúng sanh có thể can thiệp, mọi tài bảo đem đi bố thí, cúng dường thực chất chỉ là những pháp duyên khởi, lấy cái giả dối này để trang trải cho cái giả dối kia. Nhìn thấu bản chất huyễn mộng ấy, các ngài hành thí mà “không trụ vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp” như tinh thần kinh Kim Cang đã chỉ dạy.

Mọi thiện sự, ác sự biểu hiện trên thân tướng này chỉ là những vai diễn trên sân khấu Tam giới. Trọng yếu là Bản tâm chân thật của hành giả không đi theo dòng sinh diệt của tuồng đời. Bồ-tát nương vào cái thân huyễn để làm việc huyễn, đi vào cõi huyễn để độ chúng sanh như huyễn. Các ngài vào sinh tử mà không sợ hãi, không trốn chạy sinh tử, bởi lẽ các ngài thấu suốt rằng sinh tử vốn không có thật, tựa như hoa đốm giữa hư không, chẳng thể làm trói buộc được Tự tánh thanh tịnh.

“Nếu rõ tâm hết khổ,

Nghe chóng ngộ Bồ-đề.”

Hai câu kệ cuối cùng: “Nếu rõ tâm hết khổ, / Nghe chóng ngộ Bồ-đề” chính là đốn ngộ chỉ thẳng. Khi hành giả nhận ra Bản tâm chân thật, biết rõ cái gì là thực, cái gì là hư vọng, lập tức mọi khổ não thảy đều tiêu tan.

Con đường thực chứng hiển lộ rõ nhất qua chữ “Nghe”. Trong kinh Lăng Nghiêm, khi hai mươi lăm vị Bồ-tát và bậc Thánh A-la-hán trình bày căn bản sở ngộ của mình qua các căn, trần, thức và đại, Đức Phật đã bảo ngài Văn Thù Sư Lợi lựa chọn một căn viên thông nhất, phù hợp nhất với căn tánh chúng sanh cõi Ta-bà. Ngài Văn Thù đã lựa chọn Nhĩ căn viên thông của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát.

Tại cõi Ta-bà này, âm thanh và sắc tướng là phương tiện giáo hóa chủ yếu, nhưng Nhĩ căn (tai) sở hữu công đức vượt trội hơn Nhãn căn (mắt):

  • Mắt (Nhãn căn): Bị giới hạn bởi không gian, chỉ thấy phía trước mà không thấy phía sau, chỉ có 800 công đức.
  • Tai (Nhĩ căn): Không bị ngăn ngại bởi không gian, xa gần đều nghe, mười phương cùng lúc đều thấu suốt, trọn vẹn 1200 công đức.

Nương vào Nhĩ căn, hành giả thực hành pháp tu “Phản văn văn tự tánh” (Xoay cái nghe lại để nhận ra tự tánh của mình). Hãy quán chiếu: Khi có âm thanh phát ra, ta nghe thấy tiếng; khi âm thanh tắt đi, ta nghe thấy sự tĩnh lặng. Tiếng có sinh có diệt, nhưng cái Tánh nghe nơi ta thì chưa từng sinh diệt. Nếu Tánh nghe sinh diệt theo tiếng, thì khi tiếng mất đi, ta sẽ không thể nhận biết được trạng thái “không có tiếng”.

Chính cái Tánh nghe hằng tri hằng giác, trùm khắp và bất động này mới là Bản thể chân thật của mỗi chúng sanh. Trong thiền môn, chư vị tôn túc thường dùng tánh nghe để khai thị cho đệ tử:

  • Khi tôn giả A-nan hỏi ngài Đại Ca-diếp rằng ngoài y và bát, Đức Thế Tôn còn truyền lại điều gì khác chăng, ngài Ca-diếp liền gọi: “Anan!”, tôn giả đáp: “Dạ!”. Ngài Ca-diếp bảo: “Cây phướn trước chùa ngã “. Chỗ ngộ đạo không nằm ở cây phướn ngã, mà nằm ngay nơi tiếng “Dạ” – nơi cái nghe lập tức hiển lộ Bản tâm hiện tiền.
  • Lại như Quốc sư Huệ Trung gọi thị giả ba lần, thị giả đều thưa “Dạ” ba lần. Quốc sư liền nói: “Tưởng đâu ta phụ ngươi, ai ngờ ngươi phụ ta”. Cái Tánh nghe hằng hữu ngay nơi tiếng dạ ấy, chỉ vì thị giả chạy theo phân biệt duyên cớ bên ngoài mà bỏ quên Tự tánh đang hiển lộ rõ ràng.
  • Hoặc câu chuyện vị Thiền sư hỏi thị giả về tiếng kêu bên ngoài của con nhái bị rắn bắt. Khi thị giả đáp đó là tiếng nhái kêu, Thiền sư liền quở: “Bên ngoài có chúng sanh khổ, bên trong lại khổ chúng sanh “. “Chúng sanh bên trong” chính là vọng tâm của người thị giả, vì chạy theo âm thanh bên ngoài mà khởi niệm phân biệt, đánh mất trạng thái tịch tĩnh của Bản tâm.

Lý luận tuy cao siêu, nhưng để thể nhập được Tánh nghe bất sinh diệt ấy, bước đi nền tảng không thể tách rời là việc nghiêm trì Giới luật. Đức Phật thiết lập Giới luật không ngoài mục đích giúp tâm hành giả dứt trừ sự phán xét và bám chấp nhị nguyên.

Tông chỉ cốt tủy của đạo Phật xưa nay luôn vận hành theo tiến trình: Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ.

  • Giới (Thanh tịnh ba nghiệp): Khi hành giả giữ gìn giới pháp, đoạn tuyệt các ác niệm tổn hại chúng sanh qua Thân, Miệng, Ý, tâm phân biệt hơn thua sẽ tự động giảm trừ. Khi lòng từ bi trùm khắp, hành giả không còn thấy có sự đối đãi giữa mình và người khác.
  • Định (Thể của Tự tánh): Khi ba nghiệp đã thanh tịnh, nội tâm không còn dấy loạn, không còn bị lôi kéo bởi các trần cảnh bên ngoài, trạng thái rỗng lặng, bình đẳng và bất động của Tự tánh (Định) tự nhiên hiện tiền.
  • Tuệ (Dụng của Tự tánh): Từ trong định thể thanh tịnh ấy, ánh sáng tuệ giác tự tánh (Tuệ) sẽ tự động chiếu soi, giúp hành giả hốt nhiên đại ngộ, nhận ra bản thể xưa nay vốn tự đầy đủ, tròn vẹn và thanh tịnh.

Tóm lại, tám câu kệ của Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma đã vạch trần toàn bộ trò chơi huyễn hóa của “ấm, giới, sáu trần”. Khổ nạn chỉ là bóng ma do tâm chấp thủ dựng lên trên sân khấu cuộc đời.

Chỉ cần hành giả tỉnh thức, mượn giới pháp để lắng dịu ba nghiệp, dùng tuệ giác để xoay cái nghe trở lại với Tự tánh bất sinh diệt, lập tức sẽ nhận ra Bản tâm thanh tịnh vốn có. Đó là con đường ngắn nhất, thù thắng nhất để chứng ngộ Bồ-đề, vượt thoát mọi ách nạn sanh tử luân hồi.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.