Tổ Bồ-đề Đạt-ma tụng:
Sáu năm cầu đại đạo,
Hành sâu chẳng lìa thân,
Tâm trí tuệ giải thoát,
Đến bờ kia tột cùng.
Thánh đạo không, rỗng lặng,
Như vậy nay tôi nghe,
Phật hành ý bình đẳng,
Thời đến tự siêu quần.
Giảng:
“Sáu năm cầu đại đạo,
Hành sâu chẳng lìa thân,”
Mở đầu hai câu kệ, Tổ nhắc lại giai đoạn sáu năm tu khổ hạnh của Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni nơi rừng già. Năm năm tầm sư học đạo, sáu năm khổ hạnh, trải qua biết bao phương pháp tu hành khắc khổ, ngài đều thực chứng và vận hành ngay trên chính sắc thân này chứ chưa từng rời xa nó.
Từ kinh nghiệm của đấng Giác Ngộ, Tổ chỉ ra cốt tủy của Thiền học: Cho dù hành giả có đi sâu vào định cảnh, quán chiếu thâm sâu đến mức độ nào đi chăng nữa, cũng tuyệt đối chẳng lìa cái thân này. Thân ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) tuy là pháp duyên sinh giả hợp, không có tự tánh chân thật, nhưng nó lại chính là chiếc thuyền, là trú xứ mà Bản tâm chân thật đang nương tựa để hiển lộ diệu dụng.
Chúng ta không thể hướng ngoại tìm tâm nơi chiếc bàn, cái ghế, cũng không thể tìm Phật ở một cõi nào xa xôi ngoài tự tánh. Nếu rời bỏ thân ngũ uẩn này, hành giả sẽ hoàn toàn mất đi phương hướng và chỗ nương để nhận diện tự tâm.
Như Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền từng khai thị: “Trên khối thịt đỏ au có một vị vô vị chân nhân, thường từ cửa mặt các ngươi ra vào”. “Khối thịt đỏ au” chính là báo thân ngũ uẩn đầy dẫy bất tịnh và sinh diệt này, nhưng ngay nơi đó lại đang chứa một “Vị chân nhân không ngôi vị” – tức là Phật tánh bản nhiên của chính mình.
Cổ đức cũng thường ví điều này là “Hoa sen trong lò lửa”. Thân ngũ uẩn đầy dẫy phiền não và sinh diệt tựa như một lò lửa hừng hực, nhưng ngay trong lò lửa ấy lại hiện diện một đóa hoa sen thanh khiết – tự tánh. Đó là lý do vì sao nói “Phật thật ngồi trong nhà”. Thân ngũ uẩn này chính là ngôi nhà, và vị Phật thật xưa nay vẫn luôn an tọa ở bên trong. Muốn tìm Phật, muốn nhận diện chủ nhân ông, hành giả bắt buộc phải đi vào chính ngôi nhà này chứ không thể chạy tìm bên ngoài.
“Tâm trí tuệ giải thoát,
Đến bờ kia tột cùng.”
Khi hành giả biết nương nơi thân ngũ uẩn để quán chiếu sâu sắc, nhận ra bản chất rỗng lặng của vạn pháp, thì Trí tuệ Bát-nhã tự hiển lộ. Chính cái tâm trí tuệ bản nhiên này mới có năng lực đưa hành giả vượt qua dòng sông sinh tử, “đến bờ kia tột cùng” (ba-la-mật-đa) – tức là trạng thái giải thoát viên mãn.
Tiến trình “hành thâm” ấy không mang tính chất thu lượm hay đạt được một cái gì mới từ bên ngoài. Thực chất, đó là một hành trình phản tỉnh, nhận lại kho báu vốn dĩ đã có sẵn trong nhà.
Giống như một gã cùng tử suốt đời chạy đôn chạy đáo khắp nơi để làm thuê cuốc mướn, chịu bao khổ cực kiếm từng đồng sinh nhai; đến khi mệt mỏi quay trở về căn nhà cũ của cha mẹ, đào lên mới kinh ngạc phát hiện ra ngay dưới nền nhà mình vốn dĩ có một khối vàng ròng khổng lồ, giàu sang vô lượng.
Sự tu tập cũng lại như thế. Hành giả sau bao kiếp tầm cầu học hỏi bên ngoài, rốt cuộc quay về soi rọi lại chính mình mới thấu đạt năng lực hiện tiền. Đúng như Thiền tông luôn nhấn mạnh: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Quay lại soi chiếu chính mình là bổn phận gốc, chẳng thể từ bên ngoài mà đạt được).
Để học nhân không rơi vào chấp không hay lý luận suông, Thiền tông chỉ thẳng cách thức nhận diện Vị chân nhân ấy thông qua các diệu dụng hằng ngày.
Tổ Nham Đầu Toàn Khoát từng khai thị cho ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn khi ngài còn kẹt trong kiến giải bên ngoài: “Từ cửa mà vào chẳng phải của báu trong nhà, phải từ hông ngực lưu xuất“. “Từ hông ngực lưu xuất ” chính là sự bừng sáng của tự tánh từ bên trong, không vay mượn từ chữ nghĩa hay giáo lý của người khác.
Làm sao để nhận biết được Tự tánh ấy đang hiện tiền trên thân ngũ uẩn? Tổ sư chỉ thẳng vào cái biết thấy của mắt, cái biết nghe của tai, cái biết vị của lưỡi…. Thân này nếu là một cái xác không hồn, nếu không có Phật tánh hằng tri hằng giác bên trong, thì mắt không thể phân biệt màu sắc, tai không thể cảm nhận âm thanh…
Chư Tổ không thể chỉ vào cái bàn, cái ghế để bảo đó là Tự tánh, bởi chúng là vật vô tri. Các Ngài chỉ có thể mượn sáu cái cửa (sáu căn) nằm ngay trên thân ngũ uẩn này để giúp chúng ta nhận ra cái Bản thể hằng hữu phía trong. Khi mắt đang nhìn thấy, tai đang nghe thấy, hành giả nhận biết rõ ràng, cái “Tánh Biết” ấy không sinh không diệt, không đi không đến.
Thấu đạt năng lực sâu mầu ấy hoàn toàn chẳng lìa nơi thân chính là một bước chuyển ngoặt quan trọng trên lộ trình tu học. Thân tuy giả tạm nhưng là trú xứ của chân lý; nương vào sáu cửa của ngũ uẩn để nhận ra Chủ nhân ông, đó chính là diệu lý vô song mà Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma đã mật truyền qua đoạn kệ tụng này.
Đi sâu vào trạng thái hành thâm, Sơ tổ triển khai tiếp hai câu kệ về thực tướng của đạo quả:
“Thánh đạo không, rỗng lặng,
Như vậy, nay tôi nghe.”
Khi Tổ dạy “Thánh đạo không, rỗng lặng”, chúng ta cần hiểu chữ “Không” này dưới nhãn quan Bát-nhã tối thượng. “Không” ở đây hoàn toàn không phải là sự ngoan không, trống rỗng hay không có gì cả; trái lại, nó biểu thị cho trạng thái rỗng lặng bản nhiên, thanh tịnh và tuyệt đối không bị trói buộc bởi hai bên đối đãi (nhị nguyên).
Bản tâm chân thật xưa nay vốn tự thanh tịnh, nó là chủ thể sinh ra muôn pháp chứ chính nó không bị kẹt vào bất kỳ một pháp nào. Nếu Bản tâm dính mắc vào một bên, nó sẽ không bao giờ dung chứa hay sinh khởi được bên còn lại.
Điều này đã được Đức Thế Tôn hiển thị rất rõ trong Kinh Lăng Nghiêm: Nếu Tánh Thấy của chúng ta bị đồng hóa hoặc dính chặt vào ánh sáng, chúng ta sẽ không thể nào nhận biết được bóng tối. Ngược lại, nếu nó dính chặt vào bóng tối, ta cũng không thể nhận biết được ánh sáng. Chính nhờ Tánh Thấy vốn thanh tịnh, không thuộc về cả sáng lẫn tối, nên nó mới nhận biết được cả hai hiện tượng sáng và tối. Sáng và tối là hai tướng trạng đối đãi, luôn chuyển dịch và biến đổi lẫn nhau, chúng không có tự tánh và không tự biết chúng là gì; chỉ có cái Bản thể hằng tri hằng giác đứng phía sau mới là chủ thể nhận biết tất cả.
Để làm rõ cái “biết” thanh tịnh này, Thiền tông có điển tích luận về hạt châu của chính Sơ tổ Bồ-đề Đạt-ma: Bản thân hạt châu tuy quý báu nhưng nó hoàn toàn không tự biết mình quý hay mình sáng. Hạt châu trở nên quý là nhờ có “cái biết” của con người nhìn vào và định giá cho nó.
Tương tự như vậy, đối với con người, vàng ngọc là báu. Nhưng nếu đặt một thỏi vàng và một miếng thịt trước mặt một con chó, nó sẽ chọn miếng thịt chứ không màng đến thỏi vàng. Chó chọn miếng thịt vì nương theo bản năng ngũ uẩn, đối với nó miếng thịt là thứ có thể ăn được và có giá trị trực tiếp. Còn con người quy định giá trị cho vàng vì biết từ một thỏi vàng có thể hoán đổi ra muôn vàn vật chất khác. Qua đó ta thấy, cả vàng, thịt hay hạt châu thảy đều không tự định đoạt được giá trị của chính nó. Mọi giá trị cao thấp, quý tiện trên cuộc đời này đều là do tâm thức biến hiện và gán ghép vào.
Bản tâm chân thật của chúng ta cũng giống như hư không đại đồng. Chính vì hư không rỗng lặng, không ngăn ngại nên nó mới có khả năng bao hàm, dung chứa toàn bộ núi sông, đất đai, vạn vật. Nếu hư không bị lấp đầy bởi một vật chất cố định, nó sẽ mất đi công năng dung chứa. Tâm ta cũng thế, sở dĩ có thể ứng biến và sinh ra muôn pháp là vì bản chất của nó xưa nay chưa từng dính mắc hay bị ô nhiễm bởi bất kỳ một pháp sinh diệt nào.
“Như vậy nay tôi nghe” là dịch nghĩa cụm từ “Như thị ngã văn” – câu mở đầu quen thuộc trong tất cả các kinh điển Phật giáo. Qua câu kệ này, Sơ tổ muốn khai thị cho chúng ta một thái độ hành trì tột cùng: Hãy để vạn pháp hiện hành đúng như thực trạng vốn có của chúng.
“Như thị” nghĩa là như thế, là như vậy. Pháp vốn dĩ như thế nào thì hãy để nó y nguyên như thế đó, hành giả tuyệt đối không xen tạp cái tâm phân biệt, so đo, tính toán hay nhân ngã bỉ thử của mình vào.
Sự vật vốn thanh tịnh, vàng chỉ là vàng, cát chỉ là cát, đất chỉ là đất. Vàng không tự thấy mình quý, cát cũng không tự thấy mình tiện. Vạn pháp vận hành hoàn toàn khách quan theo quy luật duyên khởi. Thế giới này sở dĩ trở nên điên đảo, ô nhiễm hay bất tịnh là do tâm phân biệt của chúng sanh nhào nặn và biến hiện ra, chứ bản thân vạn pháp chưa từng có tướng nhơ sạch.
Bởi vậy, người đạt được Chánh Giác chính là nhập vào cảnh giới “Như Thị”. Chỉ cần nghe, thấy và nhận biết vạn pháp đúng như chúng đang là, trả vạn pháp về đúng vị trí nhân duyên của nó, không sinh tâm bám chấp hay xua đuổi, thì ngay khoảnh khắc ấy, Bản tâm thanh tịnh lập tức hiện tiền.
Kinh điển của Đức Phật tuy nhiều, nhưng cốt tủy đôi khi chỉ nằm trọn trong hai chữ “Như Thị”. Khi hành giả sống được với cái thấy “như vậy”, trả thế giới lại cho sự tự vận hành của duyên sinh, thì vạn pháp dù có biến chuyển muôn hình vạn trạng cũng không thể trói buộc được ta. Lúc bấy giờ, ta nhận chân được rằng muôn pháp tuy do tâm ta phân biệt mà hiển lộ (tựa như con cái do mình sinh ra), nhưng ta hoàn toàn tự tại, tiêu dao, làm chủ vạn pháp một cách vô ngại. Đó chính là ý nghĩa cứu cánh mà cụm từ “Như vậy nay tôi nghe” muốn trao gửi.
“Phật hành ý bình đẳng,
Thời đến tự siêu quần.”
“Phật hành ý bình đẳng”, nghĩa là cái hạnh thực hành của một vị Phật chính là “ý bình đẳng”. Bậc Giác Ngộ là người đã hoàn toàn quét sạch mọi tâm niệm phân biệt, so đo, tính toán giữa hơn và kém, tốt và xấu, thánh và phàm. Sở dĩ Đức Thế Tôn kiến lập được cái ý bình đẳng tuyệt đối ấy là vì Ngài đã hoàn toàn an trú và làm chủ Bản tâm thanh tịnh của mình.
Đối với nhãn quan của Phật, vạn pháp hiển hiện trong trạng thái “Như thị” – sự vật như thế nào thì để yên như thế đó. Chính nhờ tâm bình đẳng vô phân biệt này, Đức Phật thương yêu tất cả chúng sanh một cách đồng đẳng. Ngài nhìn oán thân bình đẳng, xem tất cả hữu tình đều như đứa con duy nhất của mình là La-hầu-la, trong tâm Ngài không hề có khái niệm thân sơ, thương ghét hay đối đãi thế gian.
Ngược lại, phàm phu chúng ta chưa thể hành trì được ý bình đẳng là bởi vì ta luôn đặt cái “Ngã giả” (cái ta sinh diệt của thân ngũ uẩn này) làm trung tâm của vũ trụ. Hễ đối duyên tiếp cảnh, ta liền đem cái ngã giả này ra để cân đong đo đếm xem điều gì có lợi, điều gì có hại cho mình. Khi đã bám chấp vào cái ngã sinh diệt, ta tất yếu phải chịu sự chi phối của các pháp sinh diệt, từ đó phát sinh tâm niệm hơn thua, phải quấy, đúng sai, rồi chuốc lấy khổ não và bị trói buộc mãi trong vòng thương ghét. Nếu nhận ra và sống được với cái Bản tâm chân thật, cái ngã giả tự động tiêu biến, tâm bình đẳng sẽ tự khắc hiện tiền.
Tuy nhiên, nếu hiểu trên lý tánh, thì chính ngay câu “Phật hành ý bình đẳng”, Sơ tổ đã chỉ cho chúng ta thấy ông Phật thật của mình xưa nay luôn bình đẳng, không vì mình thương hay ghét mà “cái biết” của mình có đổi thay, nó bình đẳng biết tất cả. Không vì mình đang sân mà mắt thấy sắc đều rực lửa, không vì mình đang tham mà tất cả sắc đều biến thành đẹp v.v… Nó vẫn vậy, sắc thế nào thấy thế ấy, tiếng thế nào nghe thế ấy…, bình đẳng không đổi.
“Thời đến tự siêu quần”. Chữ “Thời” trong câu “Thời đến tự siêu quần” là một từ vô cùng sâu mầu. “Siêu quần” nghĩa là vượt thoát khỏi tầng bậc của phàm phu, vượt qua tri kiến chúng sanh để bước vào dòng Thánh. Tổ dạy rằng: Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, hành giả sẽ tự động chứng ngộ, không cần phải nôn nóng, cưỡng cầu hay thúc ép.
Người tu hành chân chánh tuyệt đối không được có tâm mong cầu chứng đắc. Càng ham muốn, càng mong cầu giải thoát hay thần thông thì càng tự tạo ra chướng ngại cho chính mình.
Năm mươi loại ngũ ấm ma trong Kinh Lăng Nghiêm đã chỉ rõ: Ở ba ấm đầu tiên (Sắc, Thọ, Tưởng), hành giả sở dĩ bị ma sự quấy phá, dẫn dắt vào đường tà là do trong tâm khởi lên niệm mong cầu, ham chứng đắc. Đến hai ấm cuối (Hành và Thức), người tu lại lầm tưởng mình đã chứng ngộ, tự đặt ra các cảnh giới rồi bám chấp nên rốt cuộc vẫn bị kẹt lại trong vòng ấm ma, không thể giải thoát viên mãn.
Bởi vậy, công phu chân chánh là phải để thời tiết nhân duyên tự đến một cách tự nhiên. Hành giả chỉ việc bình thường dụng công: hằng ngày nỗ lực quay về với tự tâm, những thói quen chạy theo các pháp sinh diệt thì thầm lặng buông xả, không cho chúng nhiễu loạn. Cứ kiên trì huân tập như vậy cho đến khi các tập khí ngàn đời không còn khả năng chi phối, nội tâm hoàn toàn rỗng lặng, tự khắc sẽ thấu đạt bản tính.
Tiến trình này giống như việc chăm sóc một cái cây. Người trồng cây không cần phải nóng lòng quy định ngày giờ ra quả, mà chỉ cần cần mẫn tưới nước, bón phân, chăm sóc đúng phương pháp. Đến khi chu trình sinh trưởng của cây đầy đủ, thời tiết nhân duyên đến, cây sẽ tự động ra hoa và kết trái. Khi quả đã chín muồi, vàng ươm, nó sẽ tự động rụng xuống chứ không cần ai cưỡng ép. Nếu ta vì nôn nóng mà dùng các biện pháp kích thích, ép uổng khi cây chưa đủ tuổi, cây có thể sẽ chết hoặc cho ra những loại trái tật nguyền, độc hại. Việc tu hành cũng lại như thế, ép nhặt chừng nào thì lỗi chừng đó.
Lịch sử Thiền tông đã chứng minh, sự ngộ đạo của chư Tổ đều diễn ra ngay khoảnh khắc tâm thức đã đạt đến độ thuần thục và thời tiết nhân duyên vừa vặn chạm tới:
Chữ “Thời” mà Sơ tổ Đạt Ma trao gửi chính là lời nhắc nhở vô giá: Bản tâm thanh tịnh, rỡ ràng vốn dĩ xưa nay vẫn luôn hiện tiền và chiếu soi nơi mỗi người. Chúng ta chưa thể nhập được hoàn toàn là do thói quen dính mắc và đuổi theo các pháp hư dối chưa chịu dừng lại. Hành giả chỉ cần bền bỉ “phản quan”, nhận diện tất cả các pháp hữu vi đều như mộng huyễn bọt bóng để không bám chấp, trả tâm về trạng thái vô cầu. Khi công phu thuần thục, thời tiết nhân duyên khế hợp, tự tánh sẽ tự động bừng sáng, đưa hành giả đạt đến chỗ “siêu quần” tự tại.