Hôm nay là ngày Tất niên. Những năm về trước tôi gọi là “ăn tất niên”, còn năm nay tôi gọi là “lễ tất niên” vì bà con đông quá. Vốn phần Tất niên này dành riêng cho chư tăng chư ni tại thiền viện Trúc Lâm. Nhưng ngày nay tăng ni các nơi cũng như Phật tử tụ hội về đông nên buổi lễ này trở thành long trọng. Phần chủ yếu, căn bản của buổi Tất niên vẫn không thay đổi. Trước tiên chư tăng chư ni mỗi bên cử đại diện ra trình bày tất cả những ý nguyện trong sinh hoạt của năm rồi có thực hiện được không và chúc mừng năm mới.
Vậy đại diện bên tăng ra trình bày trước, rồi đến đại diện bên ni.
Thầy trụ trì Trúc Lâm Tăng:
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Kính bạch trên Thầy, kính bạch quý Thầy!
Hôm nay đêm tất niên của năm Nhâm Ngọ, một đêm lịch sử tại thiền viện Trúc Lâm được sự họp mặt đông đảo của các thầy, các huynh đệ trong hàng đệ tử đệ tôn của Thầy cùng quý Phật tử, một lòng tụ về đây để chuẩn bị đón năm mới, đồng thời với ý nghĩa trân trọng kính lễ thượng thọ của Thầy và quan trọng hơn hết là đồng nhất tâm kính lễ tiễn Thầy vào thất, để Thầy thực hiện một tâm nguyện sâu xa vượt ngoài ngôn từ. Chúng con đại diện cho chư tăng tại thiền viện Trúc Lâm kính thành dâng lời trình bạch.
Kính bạch Thầy,
Bao nhiêu năm qua, kể từ Chơn Không khơi nguồn, Thầy đã truyền mạch sống Thiền tông trải dài và lan rộng theo thời gian. Cho đến ngày hôm nay, mạch sống này đã lớn mạnh lên và niềm tin đối với chúng con thật vững vàng, không còn nghi ngờ. Chính nhiều huynh đệ chúng con đã thực sự thể nghiệm qua mạch sống Thiền tông ấy mà Thầy đã tận tâm hướng dẫn. Điều đó chứng minh rõ ràng cho một lẽ thật không cần phải lý luận nhiều và càng làm sáng tỏ Phật pháp sống thực ngay giữa thế gian này, chứ không phải những điều mơ hồ mập mờ hẹn qua bên kia thế giới.
Kính bạch Thầy,
Tâm nguyện của Thầy thấy cái gì hay là muốn truyền đạt lại cho mọi người cùng hiểu cùng sống chứ không thể ngồi yên hưởng một mình. Đến hôm nay tâm nguyện cao cả đó đã được nở hoa kết trái không uổng công, nhưng rồi đến lúc Thầy phải dừng nghỉ, thật không khỏi khiến cho chúng con bùi ngùi chấn động. Tuy nhiên, chúng con cũng hiểu rằng Thầy dừng nghỉ đây là Thầy đang thực hiện một bước tiến vững chắc và có nhiều ý nghĩa vượt ngoài thường tình. Chính đó là sức mạnh là bước ngoặt, sức sống ngầm đánh mạnh vào mỗi huynh đệ chúng con. Khiến chúng con càng tha thiết công phu hơn nữa để không phải bị bỏ lại đàng sau xa tít.
Kính bạch Thầy,
Chúng con kiểm lại gần mười năm qua thiền viện Trúc Lâm đã tiếp sức sống của Thầy và vươn lên. Mặc dù có kẻ đến người đi theo lẽ vô thường nhưng trong đây vẫn chớp lóe ra những tia sáng kim cang dẫn đường về cho bao tâm hồn đang lạc lõng bơ vơ. Và nhiệm mầu thay, cuối cùng Trúc Lâm đã trở về chốn tổ Yên Tử một đường xuyên suốt gốc ngọn trước sau, cho thấy duyên lớn của Tổ đạo hẳn không phải ngẫu nhiên đặt bày ra.
Đêm nay ngồi dưới chân Thầy, chúng con thầm cảm thấy một sức sống vi diệu đang lan tỏa không thể nghĩ bàn. Trên đây là những lời chân thành phát xuất từ nội tâm của chúng con chứ không phải là những lời màu mè trên chữ nghĩa suông. Chúng con xin kính trình bạch lên Thầy nhân buổi tất niên đặc biệt này. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho lòng biết ơn sâu sắc của chúng con đối với Thầy, và kính mong Thầy từ bi ban cho chúng con những lời chỉ dạy tâm huyết trong đêm lịch sử cuối năm tại thiền viện Trúc Lâm này.
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Hòa thượng:
Tiếp đó bên ni đại diện để đọc lời trình.
Ni trưởng trụ trì Trúc Lâm Ni
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Ngưỡng bạch Thầy, kính bạch chư đại đức tăng ni cùng toàn thể Phật tử. Hôm nay là ngày lễ tất niên đặc biệt, chúng con rất cảm động. Trước tiên con xin kính trình lên Thầy và chư đại đức tăng ni về sự diễn tiến của chúng con trong mười năm qua. Về phần tu, chúng con cũng đã được Thầy đem hết tâm sức hướng dẫn. Chúng con nhận được và sống được, có đầy đủ niềm tin đối với đạo. Đó là kết quả của Thầy đã mong muốn và truyền đạt cho chúng con. Đối với sự tu hành, huynh đệ chúng con cũng có những phát kiến đặc biệt, thể hiện công phu nỗ lực, kính dâng lên Thầy chứng minh.
Kính bạch Thầy,
Hôm nay trước Phật đường cùng toàn thể đại chúng trang nghiêm thanh tịnh, chúng con đủ duyên lành được quỳ dưới chân Thầy, cung kính dâng lên lời chúc mừng năm mới. Chúng con thành tâm kính chúc Thầy được nhiều sức khỏe, sống lâu để hướng dẫn chúng con trên bước đường thực hiện lý tưởng giải thoát. Hôm nay cũng là ngày chúng con cung kính tiễn đưa Thầy lui về ngơi nghỉ để trưởng dưỡng những gì Thầy nói được và làm được, hầu dẫn dắt chúng con trên bước đường học đạo.
Thầy đã hy sinh đem hết tâm huyết của mình chỉ vì mục đích đưa chúng con đến nơi an ổn vĩnh hằng.
Kính bạch Thầy, lòng Thầy luôn luôn cho đi mà không bao giờ nhận lại. Sanh ra thân chúng con là cha mẹ, nuôi lớn giới thân huệ mạng chúng con là Thầy. Tất cả những gì chúng con có được ngày hôm nay cũng từ nơi Thầy mà có. Chúng con biết sống trở thành người xuất gia chân chính cũng từ nơi thân giáo của Thầy. Thầy đã nuôi mầm hạt giống trí tuệ vô sư cho chúng con, gieo niềm tin vững chắc nơi trí tuệ tự tâm của chính mình.
Ôi! Sông sâu còn có thể dò, non cao còn có thể đo, nhưng lòng Thầy đối với chúng con thì vô cùng vô tận.
Kính bạch Thầy,
Cảm niệm công ơn sâu dày này, đối trước Thầy, chúng con nguyện sẽ nỗ lực công phu hằng phát huy trí tuệ để làm hành trang trên bước đường thực hiện lý tưởng giải thoát.
Kính bạch Thầy,
Giờ đây chúng con như những con chim non rời mẹ, tự tìm mồi nuôi sống. Chúng con luôn phải ý thức trọng trách của mình để tiếp nối những gì Thầy đã truyền đạt, để cho dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử chảy mãi không cùng. Giờ đây thời gian ngừng lại để chúng con cung kính tiễn đưa Thầy lui về ngơi nghỉ. Một đánh dấu kỷ niệm sâu sắc đối với những người con đang hướng về Thầy với tấm lòng quy ngưỡng kính thương vô hạn. Một lần nữa chúng con thành tâm nguyện cầu mười phương Tam bảo gia hộ cho Thầy sức khỏe dồi dào, phước trí trang nghiêm, tuệ đăng thường chiếu, hầu dẫn dắt chúng con trên bước đường về lại quê hương.
Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho lòng chân thành của chúng con.
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Hòa thượng dạy:
Hai vị đại diện cho Tăng và Ni đã phát biểu rồi, bây giờ đến phần tôi nhắc nhở chư tăng ni trên con đường tu hành. Trước hết, tôi chủ quan một chút nói việc làm của mình cho tăng ni và Phật tử biết. Khi lên Đà Lạt và thành lập thiền viện Trúc Lâm Yên Tử tại núi Phụng Hoàng này, tôi chỉ ước mong bên tăng nuôi được năm chục vị, bên ni nuôi được năm chục vị, đó là mãn nguyện của tôi rồi. Có nhiều vị khách quan hỏi tôi, xứ Đà Lạt đồ ăn mắc mỏ, nuôi số chúng cả trăm người, tiền đâu mà Thầy có? Tôi không trả lời được, thấy chung quanh toàn là thông, chẳng có gì bán được. Đó là cái nhiều người phải lo cho tôi mang một gánh nặng, không biết có làm tròn không.
Nhưng thật ra cái gì cũng phải tùy duyên tùy phước, nếu đủ duyên phước thì muốn ít được nhiều, thiếu duyên phước thì muốn đến đâu cũng không thể thực hiện được. Tôi chỉ muốn chừng ấy, nhưng dần dần bên tăng lên đến bảy tám chục, bên ni cũng bảy tám chục, thực tình không thiếu ăn thiếu mặc ngày nào. Những cái đó từ đâu mà có? Đó là gốc từ Phật tử thương, nghĩ rằng tôi đem hết tâm huyết lo cho tăng ni tu. Đã lo tu thì làm gì ra tiền, nên Phật tử thương mà giúp đỡ. Qua mười năm rồi mọi việc đâu vào đấy an ổn. Những lớp người đến trước tu hành, có những người tôi rất tin và hy vọng mai kia sẽ làm được nhiều Phật sự lớn.
Tôi hài lòng với việc làm của tôi tại đây. Ở những nơi khác, mỗi thiền viện chỉ nở lớn thôi chứ không thu hẹp lại. Lâu lâu về thăm, thấy thiền viện nào cũng phát triển, chúng đông hơn mà cũng đủ cơm ăn áo mặc. Như thế, tâm người tốt thì hoàn cảnh chung quanh sẽ cảm thông và hưởng ứng, giúp đỡ cho chúng ta. Còn nếu tâm mình ích kỷ, lợi danh thì chung quanh sẽ không hưởng ứng. Do đó tôi khẳng định rằng, trên con đường xây dựng Phật pháp ở thế gian này, nếu ai chân thành quyết tâm lo cho đạo, lo đúng chánh pháp thì nơi đó không thiếu.
Giờ đây Thiền viện đang lên, chúng càng ngày càng đông và chung quanh mở mang càng đẹp mà tôi bắt đầu đóng cửa thất. Vì vậy chư tăng chư ni ở đây thấy như hơi chới với, nghĩa là đang dạy đang hướng dẫn tu, bây giờ dừng không dạy không hướng dẫn nữa thì ai lo việc đó?
Năm này là năm xáo trộn của thiền viện Trúc Lâm. Người có khả năng tôi cử đi nơi này nơi kia, còn người thường thường tôi giữ ở lại. Như bên Tăng, mấy người thiên hạ tin tưởng, tôi cho đi hết, bên Ni còn tốt vì người lớn vẫn ở như cũ, chỉ những người trung trung đi về quê, về các chùa Tổ làm Phật sự. Bên Ni tôi ít bận tâm, còn bên Tăng hơi nhọc một chút. Tại sao tôi không để những người lớn ở lại giúp đỡ mà cử đi nơi khác? Vì tôi nghĩ ở nơi đất mới người mới mà cho những người chưa đủ tư cách, chưa đủ khả năng đến lãnh đạo e dễ thất bại. Còn ở đây nề nếp đã sẵn rồi, chư tăng ở đây muốn tu muốn học đều đủ điều kiện. Nên tôi tin rằng dù cho những người yếu một chút hướng dẫn cũng không đến nỗi nào suy sụp, hơn nữa lại có mặt tôi ở gần. Do đó tôi để lại những người vừa phải, không giữ hết những người lớn. Nhưng tôi tin rằng, qua Tết tất cả mọi việc hai bên Tăng và Ni đều ổn định, chỉ xáo trộn lúc cuối năm này thôi, rồi đâu cũng vào đấy. Tôi ngồi yên thì chung quanh cũng yên chứ không có gì. Đó là sự sắp đặt của tôi, nói cho chư tăng chư ni biết.
Xa hơn chút nữa, như tôi đã nói ở Thường Chiếu ngày đám giỗ, những việc làm của tôi muốn ít mà được nhiều, phải vậy không? Thường Chiếu ngày xưa cũng vậy, khi từ Chơn Không xuống tôi nói rằng chỉ cần Thường Chiếu nuôi được năm chục tăng tu hành đàng hoàng tôi cũng mãn nguyện, nhưng bây giờ thì được hơn cả trăm rồi. Ngoài ra tôi không bao giờ có mộng mở thiền viện ở nước ngoài. Nếu tôi có cái ý đó thì khi xưa thầy Huyền Vi và thầy Nhất Hạnh rủ tôi học tiếng Anh tôi đã hưởng ứng. Nhưng tôi chỉ cần học tiếng Việt, học chữ Hán để dịch Kinh và viết sách là đủ cho tôi làm Phật sự rồi.
Cái mộng mơ lập thiền viện ở nước ngoài không có, bây giờ ngẫu nhiên hai ba năm nay đã thành: ở Mỹ có sáu, Úc có bốn, Canada một, Pháp một. Như vậy có đó là tại sao? Vì lòng chân thành của tôi muốn cho Phật pháp được hưng thịnh, nhất là Phật pháp ở Việt Nam. Hồi xưa tôi có những mặc cảm, như lần đi Nhật chung trên một chuyến tàu với hai linh mục. Hai vị cho biết sang Nhật để học tu thiền. Tôi nghĩ rằng, Việt Nam mình từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ XVIII, các vị thiền sư liên tục nối tiếp nhau, mà bây giờ không ai biết tới, cộng thêm nhiều thầy của mình cũng chạy qua Nhật học tu thiền, còn thiền của xứ mình thì bị vùi chôn, có đau không? Tôi xót xa cái gì tổ tiên mình đã gầy dựng nên, tạo lập thành, mình là con cháu lơ là bỏ qua rồi đi học của người này người kia. Vì thế, tôi quyết làm sống dậy thiền tông đời Trần để thiền tông Việt Nam vẫn có giá trị như từ trước. Chúng ta khỏi cần đi học ở đâu, cần phải khai thác cái sẵn có của tổ tiên mình. Đó là trách nhiệm hết sức lớn. Trước năm 1970 ở Việt Nam không ai biết Thiền tông là gì, kể cả những người xuất gia, ai cũng hăm dọa tu Thiền điên. Nên bước đầu giới thiệu thiền tôi đặt tên Tu viện Chơn Không, được lên đó thì tu pháp nào cũng được. Nhưng khi lên Chơn Không, chúng tôi chỉ dạy đường lối tu Thiền. Ban sơ ở Chơn Không nảy mầm chỉ có mười người, tới khóa hai là hơn hai mươi thôi, ngày nay thì đông đảo như vầy. Chính vì chủ trương của tôi hợp với tâm niệm yêu quý quê hương đất nước, yêu quý tinh thần dân tộc Việt Nam trong nước và ngoài nước. Vì vậy ở trong nước mình đã thành hình rồi, thì những vị Phật tử ở nước ngoài cũng khao khát. Nói rằng tôi lập các thiền viện ở nước ngoài, thật ra tôi không đổ ra một đồng xu, tôi cũng không ở lâu dài. Tất cả đều do Phật tử góp sức với nhau, chung lập thành những Thiền viện rồi cúng dường.
Cái thành công ở nước ngoài là cái thành công của tinh thần Phật tử yêu quê hương, yêu quý Phật pháp Việt Nam. Tôi là người đứng ra nhận chịu trách nhiệm rồi cho người qua hướng dẫn chỉ dạy. Như vậy ước mơ của tôi có chừng năm, mà kết quả lên đến mười. Tại sao? Tôi nghĩ mình phải làm gì cho đạo pháp được hưng thịnh, phải làm gì cho quê hương, cho dân tộc được tốt đẹp. Tâm niệm đó đã đem đến những kết quả tốt đẹp như hiện nay.
Mọi việc đã thành tựu như vậy đáng lẽ tôi phải tiếp tục điều khiển duy trì. Nhưng khi được hài lòng rồi thì tôi buông tay, có tàn nhẫn không? Đa số người nói Thầy tàn nhẫn quá, đang dạy, đang thành lập mà bỏ luôn. Người nông cạn thì trách tôi như vậy, nhưng người hiểu thấu thì thông cảm. Chúng ta tu Phật phải hiểu thấu đáo lời Phật dạy, phải ứng dụng tu những lời đó đến nơi đến chốn. Nếu chỉ học một số kinh sách rồi mang ra giảng, Phật tử nghe thích rồi hài lòng, như vậy chỉ nặng về kinh sách không nặng về sự tu. Phật cũng dạy nếu người nào đọc tụng kinh hay, đó là thầy tụng, người nào thuộc kinh giảng kinh nhiều đó là thầy giảng kinh; người nào hiểu rồi chuyên tu mới gọi là thầy tu. Quý vị muốn làm thầy gì?
Chúng ta là thầy tu thì phải làm tròn bổn phận của mình, không thể lơ là. Bổn phận mình là phải tu. Ngày trước tôi đi học, học xong chương trình rồi mà sự hiểu biết còn mơ màng chưa nắm vững, nhưng học tới đâu dạy lại tới đó. Đến khi tôi buông hết việc để tu, nhân ngồi tu mà những cái hồi xưa chưa biết bây giờ thấu rõ. Tất cả những gì tôi phát minh được đều nhờ cái tu mà ra. Chúng ta không thể hài lòng việc học, học có giới hạn chừng mực, chính cái tu của mình mới thấu đáo.
Ngày nay tôi có cái nhìn khẳng định không nghi ngờ. Ngày xưa học trong kinh Phật dạy, ai làm lành như giữ năm giới, tu thập thiện, thì nghiệp dẫn sanh vào cõi người cõi trời, người làm ác thì đọa trong ba đường dữ. Học biết danh từ rành rẽ. Nhưng sự thật tôi không biết tại sao người tu thiện lại được sanh cõi lành, người làm ác bị sanh cõi dữ? Bây giờ tôi thấy rõ như sự thật ở trước mắt không nghi ngờ. Như chúng ta đang ngồi chơi trong nhà trong thất, bỗng dưng khởi nghĩ “Bây giờ đi tới xóm chơi cho vui”, lúc đó cái gì dẫn mình đi tới xóm? Cái khởi nghĩ dẫn đi phải không? Rồi giả sử chúng ta ngồi chơi thảnh thơi bỗng khởi nghĩ “Tới quán mua bánh về uống nước”, rồi đi tới quán phải không? Vừa khởi nghĩ là thúc đẩy mình đi. Nếu người ngồi ở nhà không khởi nghĩ gì hết, thì người đó đi đâu? Họ không nghĩ thì họ không đi, tức là ngồi tại chỗ. Nghiệp là sức mạnh dẫn chúng ta đến chỗ nào muốn đến. Phật thường dạy người sắp lâm chung, “Nếu người tu Tịnh độ nhớ niệm Phật đừng quên, niệm Phật được về cõi Phật; còn những người tu thập thiện ngũ giới khi gần chết, nhớ mình giữ năm giới tròn sẽ được sanh về cõi người, người tu thập thiện thì biết rằng mình sanh cõi trời, tưởng mình sanh lên cõi trời thì được sanh cõi trời.” Như vậy nghiệp gốc từ tưởng niệm, vừa khởi nghĩ khởi tưởng thì đi theo. Nhà Phật gọi là cận tử nghiệp, cái nghiệp mà khi sắp chết hướng về chỗ nào thì đi tới chỗ đó.
Người tu Thiền khi sắp chết hướng đi đâu? Đây tôi nói cho tất cả quý vị biết căn bản của sự tu. Bởi vì lâu nay chúng ta cứ sợ nghiệp, nghiệp dẫn đi đường này đường nọ mà không sợ niệm khởi. Có nghiệp nào niệm không khởi mà có không? Nghiệp lành từ niệm khởi lành mà tạo, nghiệp dữ cũng từ niệm khởi dữ mà tạo. Niệm khởi là gốc để tạo thành nghiệp đi trong luân hồi lục đạo. Bây giờ thầy tu mình muốn đi đường nào?
Thực sự nếu người tu theo Tịnh độ thì chuyên niệm Phật, nhớ Phật, khi gần tịch được trợ niệm để về Cực lạc. Niệm Phật thì được sanh về cõi Phật. Nếu người sắp chết nhớ ai để oán thù, giận hờn thì đi về đâu? Đi đến chỗ đánh nhau, chỗ đau khổ. Phật dạy chúng ta tu phải giữ niệm thanh tịnh hay niệm hướng về chỗ mình muốn đến. Tất cả người tu niệm Phật hướng về Cực lạc, còn nay ông thầy tu Thiền này không biết đi đâu? Lo chưa?
Như tôi đã nói, “Nếu mình muốn đi tới xóm, đi tới quán thì đi tới quán, tới xóm; nếu không muốn đi thì ngồi tại nhà”. Nhà này là nhà của ai? Lục Tổ dạy Huệ Minh, Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Bản lai diện mục là bộ mặt thật, khi buông được niệm thiện niệm ác thì chúng ta sống được với cái thật của chính mình.
Chúng ta tu Thiền là muốn sống với cái thật của mình, không muốn sanh nơi này nơi nọ. Như về Cực lạc cũng phải tu một thời gian nữa, nhưng ở Cực lạc thuận duyên, có Phật dạy tu dễ. Đó là điểm ưu của người tu Tịnh độ. Người tu Thiền như chúng ta, rõ ràng không nghi ngờ, nhìn theo cái nhìn của Lục Tổ vô niệm là tông. Tông chỉ của Lục Tổ là vô niệm, là không khởi nghĩ. Không khởi niệm mà tâm mình vẫn biết rõ ràng. Cái biết khởi nghĩ là cái biết sanh diệt, không khởi nghĩ mà biết thì cái biết đó hằng hữu không đổi thay. Đó là Niết-bàn.
Người tu Thiền thấy Niết-bàn hằng hữu ngay nơi mình không đâu xa, không tốn công chạy tìm kiếm, chỉ đừng có niệm chạy theo ngoại cảnh. Không niệm chạy theo ngoại cảnh thì đó là mình, biết trở về với cái chân thật của mình. Chúng ta tu là để được định, định là dừng tâm khởi nghĩ, Niết-bàn hiện tiền. Chúng ta ngày đêm tọa thiền là cốt để dừng vọng niệm suy nghĩ, dừng được thì gọi là định. Dừng niệm khởi tức là dừng cái tạo nghiệp. Niệm khởi là cái manh nha của tạo nghiệp, niệm hết khởi rồi thì còn ai tạo nghiệp, cái gì tạo nghiệp? Không có nghiệp thì nhập Niết-bàn, giải thoát sanh tử. Đó là chỗ mà người tu chúng ta thấy manh mối rõ ràng, không phải tưởng tượng, cũng không phải ai bắt buộc. Chúng ta biết rõ lẽ thật nơi mình, có sẵn không sanh không diệt, chỉ vì chạy theo niệm khởi nên phải chịu sanh đi tử lại không biết bao nhiêu lần. Chúng ta thấy rõ, đường lối tu của mình rất thực tế. Khi còn nghĩ tốt nghĩ xấu, tưởng như có mình; khi bỏ hết rồi lúc đó còn mình không? Mình cũng ngồi tỉnh bơ. Ngồi tỉnh mà không nghĩ, tức là tâm không sanh không diệt, Lục Tổ gọi là Bản lai diệt mục (mặt thật muôn đời). Chúng ta có sẵn mặt thật đó mà vì nghĩ đông nghĩ tây nên quên mất. Nếu tin mình có bộ mặt thật thì phải bỏ cái nghĩ đông nghĩ tây. Phải bỏ cái này thì cái kia mới xuất hiện, còn niệm đuổi theo chạy đông chạy tây thì nó không hiện. Vì vậy mà chúng ta khổ công tu, bắt buộc phải ngồi thiền, sám hối… để những thói quen, những nghiệp cũ yếu dần, mình làm chủ nó. Như vậy khả dĩ mới buông hết được, mới xả tất cả để tâm thanh tịnh.
Tôi dẫn hơi xa về lịch sử Phật. Sau khi thành đạo, ngài chưa muốn đi thuyết pháp, chư thiên đảnh lễ thỉnh cầu, ngài nói rằng pháp ngài chứng đắc rất vi diệu, khó nghĩ khó tin nên không thể nói bày. Chư thiên ba phen thỉnh cầu, ngài mới theo truyền thống chư Phật ba đời mà lập bày phương tiện, bắt đầu chuyển pháp luân. Như vậy từ bài kinh Tứ Đế ban đầu nói nơi vườn Lộc Uyển cho đến các bài kinh sau đều là phương tiện. Chỗ chân thực ngài chưa chỉ cho ai.
Phật như lương y tùy bệnh cho thuốc, pháp của ngài là thuốc trị bệnh chúng sanh. Đã là thuốc thì khi bệnh lành phải bỏ, không phải thuốc cứ dùng suốt đời. Như pháp quán Bất tịnh để trị bệnh tham dục. Các Tỳ-kheo ngày xưa quán thành tựu rồi thấy nhàm chán ghê tởm thân này, bèn mượn người giết giùm. Nhiều thầy Tỳ-kheo cũng làm như vậy khiến trong chúng vắng hẳn đi. Phật hỏi nguyên do, ngài quở rầy bảo rằng, Ta dạy quán bất tịnh khi thấy kết quả thân ô uế thì phải chuyển quán, không nên tiếp tục để đến nỗi tự tử.
Như vậy mới thấy pháp của Phật là phương tiện dùng để trị bệnh, hết bệnh rồi thì phải chuyển qua cái khác, nếu cứ chấp vào đó cho là cứu cánh thì đi tới chỗ bại hoại. Thuốc trị bệnh rất có hiệu nghiệm, dễ thấy dễ biết nhưng không phải là cứu cánh. Nói theo kinh Kim Cang pháp của Phật như chiếc bè qua sông, qua đến bờ phải bỏ chiếc bè lại. Hoặc như kinh Viên Giác: “Pháp của ta như ngón tay chỉ mặt trăng, thấy mặt trăng thì phải bỏ ngón tay.”
Lời Phật dạy còn sử dụng ngôn ngữ phương tiện, nhưng có một cái ngoài phương tiện. Đó là chỗ này. Phật đưa cành hoa sen lên, nhìn tất cả chúng, ai cũng ngơ ngác, ngài Ca-diếp mỉm cười. Phật nói, “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, nay phó chúc cho Ma-ha Ca-diếp.” Rất khó giải thích tại sao chánh pháp là nhãn tạng. Thật ra chánh pháp mà Phật trao cho ngài Ca-diếp là cái kho ở con mắt. Ngài nhìn lên thấy Phật đưa hoa sen, Phật nhìn ngài Ca-diếp, ngài liền thấu hiểu Phật muốn nói cái gì, chỉ cái gì. Đó là chánh pháp ở kho con mắt trao cho Ca-diếp. Ngài Ca-diếp ngộ lý Thiền từ cái thấy nơi mắt. Vì thế các đời Tổ sư hoặc dùng con mắt hoặc dùng lỗ tai để làm cửa vào đạo.
Kinh Lăng-nghiêm, Phật đưa tay lên để chỉ tánh thấy cho ngài A-nan. Vì A-nan không nhận ra nên Phật bảo, “Ông quên mình theo vật.” Quên mình là quên cái gì? Quên cái hay thấy của mình, mà chỉ thấy cái tay bên ngoài. Nếu lúc đó nhớ cái hay thấy, tức là biết, biết tức là tâm. Chúng ta có tâm thấy biết rõ ràng, tâm ấy có tướng mạo không? Nó có lăng xăng trong đầu không? Cái khởi nghĩ thì lăng xăng sanh diệt, cái biết đó tràn khắp, không tướng mạo, không sanh diệt. Chúng ta ai cũng thấy ai cũng nghe, nhưng chỉ thấy cảnh nghe tiếng mà không biết mình có cái hay thấy, cái hay nghe. Chư tổ nhà thiền hay dùng thủ thuật, chỉ từ cái thấy, cái nghe. Như ngài A-nan hỏi ngài Ca-diếp, ngoài y kim lan, Phật còn dạy thêm gì không? Ngài Ca-diếp gọi: “A-nan!” A-nan “Dạ!” Ngài Ca-diếp bảo: “Cây phướn trước chùa ngã.” Ý ngài không phải nói chuyện cây phướn, mà nói rằng: Cái hay nghe của ngươi đó, là cái Phật chỉ cho ta. Y là vật làm chứng, người đời không biết cứ tranh giành nhau, không nhận ra cái thật của Phật chỉ.
Từ khi Phật đưa cành hoa, tổ Ca-diếp nhận biết thì chánh pháp nhãn tạng đó có ngôn ngữ văn tự không? Không ngôn ngữ văn tự, chỉ là đơn giản nhận ra nơi mình có cái chân thật. Nếu nói theo các kinh khác, như kinh Pháp Hoa, Lăng-nghiêm, Niết-bàn… dùng bằng những danh từ đặc biệt như Phật tánh, chân tâm… Hoặc như kinh Hoa Nghiêm thì gọi là phá hạt bụi lấy quyển kinh. Dùng ví dụ đó để nói ngay trong thân này có quyển kinh lớn trùm cả tam thiên đại thiên thế giới. Đó là lối diễn đạt mà ngày xưa đọc tôi không hiểu, nghe nói như chuyện trên trời trên mây. Nhưng giờ tôi nhớ tới đâu biết tới đó, không có gì lạ.
Chúng ta đã dùng mắt tai, nhưng giờ ngồi thiền không dùng mắt dùng tai mà dùng ý. Tức là khi dấy niệm liền biết. Khi trước tôi thắc mắc chủ trương của Lục Tổ là vô niệm, chủ trương của Tam tổ Tăng Xán là bất nhị. Như vậy vô niệm với bất nhị có khác không? Đó là những vấn đề, nếu không nghiền ngẫm kỹ, chúng ta tưởng các Tổ mâu thuẫn. Sự thật, chúng ta dấy niệm là có hai. Quý vị nghĩ giùm tôi một cái gì mà không mắc kẹt đối đãi hai bên, nghĩ được không? Vì thế, khởi nghĩ là đối đãi, nghĩ về người thì phân biệt tốt xấu, nam nữ… đối đãi. Nghĩ về vật cũng vậy, luôn luôn ở trong đối đãi. Không mắc kẹt hai bên thì hết nghĩ, hết nghĩ tức là vô niệm, có gì lạ. Tam tổ Tăng Xán và Lục tổ Huệ Năng đều chỉ chung một đường lối, là phải dừng tâm niệm chạy ngược chạy xuôi. Dừng được rồi thể chân thật mới hiện hữu, nếu không dừng được tâm chạy hai bên đó thì chúng ta sẽ đi trong sanh tử. Vì nghĩ thiện thì đi cõi lành, nghĩ ác thì đi cõi dữ. Như vậy, tất cả chư tổ chỉ dạy không khác nhau.
Chỗ chư tổ chỉ dạy có giống chỗ Phật chỉ dạy không? Khi mới thành đạo, ngài không thể chỉ cho người ta hiểu, nói cho người ta biết được, nên chư thiên thỉnh ngài dùng phương tiện. Riêng ngài muốn nói thẳng, đó là đưa cành hoa sen. Khi có người nhận được, ngài ấn chứng rằng người ấy đã nhận được chỗ chân thực mà ngài muốn nói. Nhìn thật kỹ, hiểu thật sâu chúng ta thấy con đường Thiền tông rất giản đơn thực tế, thực tế đến không thể ngờ.
Lâu nay chúng ta đều tin rằng mắt thấy tai nghe là nhờ có đối tượng bên ngoài, không ngờ có đối tượng hay không đối tượng chúng ta vẫn thấy vẫn nghe. Tánh biết của mắt thấy, tai nghe, thân xúc chạm… lúc nào cũng có sẵn, nhưng chúng ta quên mình mà theo vật. Cái hiểu biết không sanh diệt, không tướng mạo thì giới hạn nó chừng cỡ nào, chừng bao nhiêu tuổi? Nó trùm hết thời gian không gian, không có gì ngăn trở được. Kinh Hoa Nghiêm nói: Phá vi trần, xuất kinh quyển. Tức là đập hạt bụi lấy ra quyển kinh, quyển kinh ấy biên chép tất cả chân lý trên vũ trụ này.
Chủ trương của đạo Phật thiền tông đi thẳng vào con người, đi thẳng vào lẽ thật, không có phương tiện quanh co. Tổ Đạt-ma có nói tông chỉ: Bất lập văn tự giáo ngoại biệt truyền. Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Hai câu sau là, chỉ thẳng nơi tâm mình, nhận ra bản tánh thành Phật. Khi tất cả niệm phải quấy tốt xấu lặng hết mà hằng biết thì lúc đó cái gì biết? Cái tâm thể trùm khắp biết. Ở đây có hai chặng, tôi nói cho tất cả hiểu rõ, bởi vì chắc không còn giảng lần thứ hai như thế này nữa, nên phải nói cho hết.
Khi ngồi thiền, chúng ta thấy niệm khởi, rầy nó, nó tan; chốc lát niệm khác khởi lên, rầy nó, nó tan. Chúng ta biết niệm khởi và lặng, cái thấy biết ấy là gì? Phải chân tâm không? Chỗ này rất quan trọng. Chúng ta sử dụng trí tuệ Bát-nhã để phá cái lầm mê chấp tâm là thật. Niệm khởi là tâm thế gian, biết nó là vọng tưởng không theo, đó là phá cái chấp thật. Còn dùng phương tiện phá chấp thì phương tiện đó cũng chưa phải cứu cánh, nó là trí Bát-nhã phá tất cả.
Thiền sư Duy Tín nói: “Trước ba mươi năm, tôi thấy núi sông là núi sông. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy thấy núi sông không phải là núi sông. Ba mươi năm sau, tôi thấy núi sông là núi sông.” Như vậy, cái thấy núi sông là núi sông trước và cái thấy núi sông là núi sông sau, khác nhau ở chỗ nào? Cái thấy sau khác cái thấy trước. Tức là thấy các pháp tuy có mặt như vậy nhưng đều như huyễn, tâm không thật, cảnh không thật. Ba mươi năm sau không còn chấp nặng về thân, về cảnh. Thân cảnh không chấp thì khi đó thế nào? Sống với tâm thể như như, núi sông là núi sông, khỏi cần phá dẹp gì cả!
Người xưa tu, khi nói lên lời gì là đem hết tâm can nói cho chúng ta nghe, các ngài không giấu giếm, nhưng vì chúng ta không tu tập như các ngài nên không hiểu. Nếu ai cũng thật tu thì thấy những lời ấy là chân lý không nghi ngờ. Hỏi lại trong chúng, sau ba mươi năm thấy núi sông không phải là núi sông, có ai được mười năm chưa? Đó là phương pháp dùng trí tuệ Bát-nhã phá dẹp. Nói ba mươi năm, chứ nếu khéo phá dẹp thì thời gian ngắn hơn. Hiện nay chúng ta tu, cốt làm sao đạt được chỗ chân thật đó, không nên chạy theo ảo ảnh, tưởng rằng tu sẽ được thần thông tiên cảnh… Không nên mắc kẹt những thứ đó, phải thấy thực tu là bỏ cái hư dối để sống với cái chân thật. Cái chân thật đó ở đâu mà có? Nó đã sẵn, gọi là tánh. Tánh là cái sẵn có mà bỏ quên. Chúng ta tu biết được thân giả, biết được tâm hư dối, không theo nữa thì sống với tánh giác. Tánh giác không tìm kiếm đâu xa, chính là cái thực tế đang hiện tiền ngay nơi mỗi người.
Người tu Thiền có mong ước điều gì huyền bí không? Rất thực tế, thực tế hơn khoa học. Khoa học còn tìm lên cung trăng, hoặc tìm thế giới này thế giới nọ xa xôi, còn chúng ta ngay nơi đây có, buông được cái điên đảo, vọng tưởng kia thì cái này hiện ra, dễ như trở bàn tay. Dễ không? Sao bà con làm thinh vậy! (Đại chúng cười.) Tu cụ thể như vậy, chúng ta nắm thật vững, để tự tu và chỉ cho những người khác tu.
Đường lối tu tôi chủ trương và chỉ lại cho tăng ni, có một số người nghe tôi nói trắng như vậy cho rằng tu rất khó, phải nói cái gì huyền bí hơn kia. Bất ngờ lúc nào đó tâm ta bặt rồi mới thấy! Tinh thần tu thoại đầu được người ta chấp nhận. Thời đại này tu thoại đầu hơi khó. Đa số mọi người bị hai thứ bệnh: bệnh huyết áp cao và bệnh mất ngủ. Tu thoại đầu thì phải một mực đề cử câu khán lên, đi đứng ngồi nằm chỉ sống với thoại đầu. Không khéo lâu ngày tức ngực đau đầu. Đau đầu thì huyết áp cao, hoặc làm người ta mất ngủ, cũng là bệnh nguy. Chúng ta cứ nói thẳng pháp tu Tri vọng, nhận lại chân tâm, thong thả tu, lâu dần dẹp sạch tập khí như vậy không bị bệnh. Nếu nói như giữ bí mật, như là một cái gì huyền bí để người ta phải tìm kiếm, đôi khi gây họa không tốt. Tôi nói rõ ràng đường lối tu của mình, nó phù hợp với thời của chúng ta. Người dạy tu phải nhận thức, một là khả năng của mình, hai là hoàn cảnh của người chung quanh. Dạy người tu thế nào chỉ có lợi chứ không có hại, như vậy mới tốt. Nếu dạy tu mà có khi phát cuồng phát điên, gia đình họ buồn khổ thì không tốt. Tôi từng nói thà tôi chịu khổ chứ tôi không muốn làm cho ai khổ lây vì tôi.
Chúng ta tu theo Thiền tông, Thiền tông này khác hơn Thiền tông đời Đường đời Tống bên Trung Hoa. Là Thiền tông chỉ thẳng, đối chiếu với kinh Phật. Tôi hài lòng nhất là bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Sơ tổ Trúc Lâm. Ngài nói rất rõ: Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền. Đối với sáu trần bên ngoài đừng chạy theo thì thiền ở ngay đó.
Đơn giản làm sao, trực chỉ chứ không giấu giếm. Đường hướng của ngài thích hợp với đường lối của chúng ta hiện tại, nên tôi khai thác để chúng ta có một chỗ tựa căn bản tu hành. Chúng ta dẫn lời Tổ dạy để chứng minh việc tu, người ta mới tin lời nói của mình.
Tất cả tăng ni và Phật tử ở đây tu theo đường hướng tôi hướng dẫn. Đường hướng đó, thực ra nếu tu cứng cỏi rồi, tức là như ngài Duy Tín nói “thấy núi sông là núi sông”, không còn nhọc nhằn, thảnh thơi vô cùng, nhàn hạ vô cùng, vui vẻ vô cùng. Tại sao? Sống được với cái thật của mình, có gì phải lo buồn. Lo buồn là vì còn chấp hai bên, được mất hơn thua… tìm kiếm những thứ vừa ý mình. Hiện tại thật tánh hiện hữu không cần tìm kiếm, không tìm kiếm thì có gì lo buồn? Vì vậy người tu thấy được nhận được lẽ thật rồi thì trên đường tu nhàn hạ thảnh thơi. Nhưng khi bắt đầu dụng công thì phải cố gắng, đối cảnh vô tâm. Nếu đối cảnh đa tâm thì không thành thiền. Chúng ta thường giong ruổi theo cảnh trần gọi là tâm viên ý mã, nên kìm chế cực khổ. Khi tâm viên ý mã đó thuần thục, dừng lại rồi mới được thảnh thơi. Lúc đầu phải khó khăn kìm hãm, vì vậy bắt buộc phải ngồi thiền. Ngồi ít nhất hai giờ mới được yên, ngồi nửa giờ chưa thấy yên. Ngồi hai giờ thì nửa giờ đầu còn lăng xăng lộn xộn một chút, nhưng qua giờ thứ hai tâm dần trầm lặng, mới có kết quả. Vì vậy, ở đây tôi chủ trương tăng ni phải ngồi hai tiếng, không ngồi ít hơn. Chúng ta tu cho xứng đáng không phải tu cầm chừng.
Đó là những lý do nêu lên cho tất cả quý vị thấy. Nhìn kỹ con đường Phật tổ dạy không có hai, hơi khác là đi quanh và đi tắt. Thiền tông là đường trực chỉ, đi thẳng không quanh co. Như nói tu niệm Phật được nhất tâm, Phật đón về Cực lạc thì có quanh co không? Nhất tâm là thấy Phật rồi, nói về Cực lạc để cho người ta ham một chút. Người đời đa số tu muốn hưởng hạnh phúc, không muốn sống đến chỗ vô sanh. Vì thế nói sanh chỗ nào sung sướng thì thích hơn, nói vô sanh thì buồn lắm. Không hiểu rằng khi tu đến chỗ vô niệm cũng còn cái gì nữa, Lục Tổ chưa nói. Vô niệm thì không tướng, nên cũng gọi là vô tướng; không tướng thì trùm khắp, không vướng mắc chỗ nào, cũng gọi là vô trụ.
Đường đi rất rõ, không có gì nghi ngờ, chúng ta cứ như vậy tiếp tục đi. Chịu khó bươi đống rác để lấy ngọc, đừng giữ đống rác mà quên ngọc. Khi nào nhận được hòn ngọc trong túi sẵn sàng, khi đó mới xem thân này như đống rác; nếu không nhận ra hòn ngọc thì coi trọng thân này quý như vàng bạc. Hiểu thấu đáo rồi thì trên đường tu chúng ta rất an ổn vui tươi, không có gì lo sợ; chỉ dạy cho ai cũng không ngần ngại. Đó là một lẽ thật mà gần đây tôi chiêm nghiệm rất kỹ, thấy rất rõ. Những năm về trước, tôi chỉ giảng cho biết có chân tâm, không chỉ rõ ràng. Đã thấy rõ rồi thì tôi ở ngoài chơi sung sướng hơn, sao đóng cửa nhập thất, có mâu thuẫn không? Chúng ta thấy rõ, nhưng khi làm Phật sự không cho phép không suy nghĩ. Ngày mai đi giảng tối nay có nghĩ gì không? Đôi khi đang ngồi thiền, sực nhớ đề tài giảng, giảng cái gì, cái gì… Đầu mình cũng lăng xăng rồi! Đó là giảng được, làm Phật sự được mà chưa sống đạo được.
Bây giờ tôi cắt hết mọi việc để không ai đòi hỏi tôi cái gì, như vậy tôi thực sống được trọn vẹn với tôi. Sống được trọn vẹn rồi, thấy có nguồn an lạc đầy đủ nơi mình, tôi chỉ dạy mấy chú mới an lạc được. Nếu tôi còn loanh quanh thì chỉ dạy chưa rốt ráo thì làm Phật sự có khi được khi mất. Như khi tôi đi Mỹ, Phật tử đặt những câu hỏi thì mình phải khởi nghĩ để trả lời, khởi nghĩ thì thời gian đó bị chi phối. Bây giờ tôi cắt đứt hết để làm một việc. Việc tôi làm tròn, thành tựu thì sau tôi dạy hay không dạy, quý vị cũng thấy tin tưởng tiến tới, không e dè. Nếu tôi cứ đi giảng được nhiều người nghe, rồi hài lòng tự mãn, thiên hạ mời tôi đi giảng hoài, phước thì có đó, nhưng chỗ tột cùng thì chưa tới. Vì vậy thời gian dành cho tôi từ đây về sau thấy như ích kỷ, nhưng chính là mục tiêu cho quý vị quy hướng mai kia. Việc làm đó cần hay không cần? Đó là việc cần cho những người sau. Bản thân tôi, làm được gì hưởng cái đó, với người đi sau, thấy được tin được thì người ta mới tu theo.
Gần đây, tôi đi Pháp, có một cư sĩ viết thư hỏi tôi, tôi đọc rồi thấy ngại quá! Nói rằng: “Thưa Thầy, người tu hành chân chính có phải bị… bệnh không?” Ông ấy liệt kê: Hòa thượng Minh Châu bị bệnh, Sư bà gì đó cũng bị bệnh, Hòa thượng Huyền Vi cũng bị bệnh. Như vậy còn chỗ nào để cho tôi nương tựa? Khi đặt những câu hỏi đó mới thấy trách nhiệm mình nặng quá, tôi chỉ trả lời nhè nhẹ. Tôi nói, sở dĩ ngày nay quý thầy bị bạo bệnh là do Phật tử thương cúng dường nhiều thức ăn đặc biệt. Quý thầy từ bi, cúng mà không ăn thì Phật tử buồn, ăn những thức ăn không hợp dễ sanh bệnh. Chúng ta là người tu, hướng dẫn Phật tử cùng tu thì phải nhắm thẳng con đường đi làm sao để có kết quả thực sự, để người sau tin tưởng.
Đó là những điều tôi thấy, tôi rất lo. Việc thứ hai nữa, hiện giờ những người đồng lứa đồng tuổi với tôi đã viên tịch gần hết. Tôi còn sót lại là cái duyên lớn, tôi phải dùng thời gian vào chỗ cần thiết, không thể thả trôi chờ đến lúc mình viên tịch thì không kịp. Cho nên tôi phải có thời gian tận lực, tận lực là lối nói theo thế gian, tôi cần thời gian để nuôi dưỡng cái thai Thánh của mình. Như có hôm tôi nói rồi, chỉ nhớ trong đầu một chữ Như. Khả dĩ tôi ra đi còn tươi cười một chút và đủ lòng tin sau này. Đó là ý nghĩa và cũng là trách nhiệm rất nặng nề đối với tôi. Vậy thì hôm nay là buổi cuối năm, cũng là buổi giảng chót ở tại thiền viện này, cùng tăng ni và toàn thể Phật tử, tôi nói đầy đủ về bản hoài hiện tại và tương lai của tôi cho quý vị biết rồi, mong tất cả nếu thấy hay thấy đúng thì ráng tu, đừng lơ là, mất thân này khó được trở lại, nên phải ráng tu!