Thầy Quản chúng Nội viện tăng:
Kính bạch trên Thầy! Hôm nay ngày đầu năm Nhâm Ngọ, toàn thể tăng chúng chúng con đồng nhất tâm quỳ dưới chân Thầy, kính dâng lên lời chúc thọ nhân Thầy sống qua tuổi thất thập cổ lai hy.
Kính bạch Thầy! Theo thông tục, mỗi lần tết đến xuân về mọi người đều vui mừng chúc tụng, nhưng chúng con cảm nhận đây là thời gian của sự sống đang rút ngắn dần lại, kể cả từ trên Thầy cho đến chúng con. Tuy nhiên, nhờ sống trong dòng sữa pháp của Thầy, được Thầy hướng dẫn chỉ dạy, chúng con cảm nhận được, tin được trong cuộc vô thường sanh diệt này, còn có cái chân thật hằng hữu nơi mình, mà chúng con đã bỏ quên từ vô lượng kiếp đến giờ, nên sống lăn lộn trong dòng sanh tử triền miên, mờ mịt, không lối ra.
Hôm nay, nếu không được ánh sáng khơi dậy của Thầy, chúng con cũng không biết cuộc đời mình sẽ ra sao, đời tu thế nào, cũng như cuộc sống này có ý nghĩa gì. Vì vậy, đối với ân sâu này, chúng con không biết đền đáp sao cho cùng. Chúng con chỉ nguyện tinh tấn tu hành, giữ vững niềm tin đối với con đường Thầy đã hướng dẫn, chỉ dạy và đem ánh sáng này chia sẻ cùng mọi người, lấy cách đó để đền đáp trong muôn một.
Giờ đây trong không khí trang nghiêm của toàn chúng hội ngày đầu năm, chúng con thành tâm nguyện Tam bảo gia bị cho Thầy sức khỏe luôn được dồi dào, tứ đại thường an hòa, để Thầy thành tựu nhiều Phật sự dồn dập sắp tới, và con đường Thiền Trúc Lâm này được sáng mãi, vững vàng và truyền rộng đến khắp mọi người, để đem lại lợi ích cho nhiều người còn đang khao khát trông chờ. Đây là những lời chân thành của chúng con kính dâng lên Thầy nhân ngày đầu năm mới này.
Sau cùng, ngưỡng mong Thầy từ bi ban cho những lời nhắc nhở đầu năm, để chúng con nương theo đó được thêm sức mạnh tiến tu và giữ vững niềm tin tiến mãi trên con đường chánh pháp không lui sụt. Ngưỡng mong trên Thầy từ bi chứng minh và hứa khả cho chúng con được ân triêm công đức.
Ni sư Quản chúng Nội viện ni:
Ngưỡng bạch Thầy! Hôm nay mùa xuân lại về trên vùng đất mù sương núi rừng xanh biếc, toàn thể ni chúng chúng con về đây quỳ dưới chân Thầy, cung kính dâng lên lời chúc đầu xuân.
Chúng con thành tâm kính chúc Thầy pháp thể an nhiên, thanh tịnh để nêu cao đuốc tuệ sáng ngời cho chúng con cùng tất cả chúng sanh trên bước đường giác ngộ giải thoát.
Kính bạch Thầy! Với tinh thần phát huy trí tuệ, nâng cao ý chí xuất trần, Thầy vẫn không nệ tuổi già sức nhọc, đã đem hết tâm huyết ban cho chúng con những lời dạy thiết tha sâu lắng, truyền đạt đạo mầu, trưởng dưỡng cho chúng con qua những tháng năm dài trong suốt quãng đường tu học. Gần đây, mỗi lần thuyết giảng, với trí vô sư Thầy đã truyền vào tâm tư mỗi chúng con một sức sống, một bầu nhiệt huyết khiến chúng con vô cùng phấn khởi, gắng vươn lên. Nhưng kể từ hôm nay, thời gian chỉ còn mười hai tháng nữa, Thầy phải lui về ngơi nghỉ, để cho chúng con tự lái con thuyền mà người lái đò tuổi tác già nua đã thấm mệt. Sắp tới đây, chúng con biết Thầy cũng sẽ tiếp tục tất bật trong suốt thời gian còn lại chỉ vì bản nguyện lợi tha không ngừng nghỉ. Ôi! Làm sao chúng con có thể nói hết được tấm lòng với tâm lão bà tha thiết của Thầy đối với chúng con.
Kính bạch Thầy! Nhân ngày đầu xuân này, cảm niệm thâm ân vô cùng to lớn của Thầy, chúng con nguyện sẽ nỗ lực công phu tu tập bằng giới thân huệ mạng mà Thầy đã nuôi lớn trong chúng con. Chúng con nguyện sẽ chuyển hóa thành những chất liệu ngọt ngào, tươi mát để nung nấu cho thế hệ mai sau, hầu tiếp nối ngọn đèn Trúc Lâm Yên Tử, mãi mãi soi sáng cho chúng con cùng tất cả chúng sanh trên bước đường thực hiện lý tưởng giải thoát.
Kính bạch Thầy! Một lần nữa chúng con không quên nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho Thầy được nhiều sức khỏe, sống lâu để pháp âm của Thầy từ đỉnh núi Phụng Hoàng vang mãi trong thế giới mênh mông vô tận này.
Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho lòng chân thành của chúng con kính dâng lên Thầy nhân ngày đầu xuân.
Hòa thượng:
Sau lời tăng ni cầu chúc tôi nhân dịp năm mới, tôi cũng có ít lời nhắc nhở toàn thể tăng ni.
Như quý vị đã biết, thời gian làm Phật sự của tôi đã tới giai đoạn phải dừng nghỉ. Kể từ đây về sau, nhất là năm này, mọi việc dồn dập, nhu cầu Phật sự ở nơi này, nơi nọ, trong nước hoặc nước ngoài rất nhiều, nên khi cần nhân sự, tôi thấy ai đáng tin cậy, phân công đi thì quý vị phải hăng hái, chấp nhận chứ không được lần lữa, từ chối hoặc rút lui. Đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai tôi nhắc quý vị, từ đây về sau phải tập làm chủ mình, tập cứng cỏi lên, bởi vì không còn là giai đoạn quý vị nương tựa mãi ở tôi nữa mà phải tự lực, phải cố gắng. Ở hoàn cảnh dễ, khó, thuận, nghịch nào quý vị cũng phải can đảm vượt qua, làm sao giữ vững được lập trường của mình, xứng đáng là người lâu nay Phật tử đã trông cậy. Ai cũng biết thiền viện Trúc Lâm là nơi tôi đã đem hết tâm lực lo sắp đặt và gắng sức chỉ dạy cho quý vị tu. Nếu quý vị là người thay tôi ra làm Phật sự mà lại có những chuyện lôi thôi, bị chê trách thì đó là lỗi rất lớn. Vì vậy, quý vị phải vững vàng, nghiêm chỉnh trong tất cả các công tác quý vị gánh vác.
Thứ ba là tôi khuyên quý vị đừng bao giờ tự mãn, thấy mình đã thành công rực rỡ rồi, đã xứng đáng rồi. Mà lúc nào cũng phải thấy mình là người đang chập chững, đang đi, còn nhiều vấp váp. Như vậy mới có sự dè dặt, cẩn thận, chứ nếu quý vị tự mãn thì sẽ có ngày đổ vỡ, nghiêng ngả, chứ không được tròn. Đó là điều rất thiết yếu cần phải nhớ.
Tôi thấy tăng ni có hai chứng bệnh. Bệnh tự mặc cảm, nghĩ mình không làm gì được, nên bảo làm việc gì thì rụt rè, nhút nhát, thối lui. Một bệnh nữa là tự thấy mình đủ sức, làm chuyện gì cũng được. Vì quá tự tin, quá chủ quan nên khi ra làm việc sẽ có những việc bị hỏng. Cho nên, quý vị phải cẩn thận trước những công tác tôi phân cử. Quý vị phải làm với tính cách thận trọng, dè dặt, khiêm nhường nhưng luôn quyết tâm. Được vậy thì Phật sự mai sau mới được vững bền. Đó là những lời nhắc nhở để tăng ni nhớ mà thực hiện. Vậy tất cả hãy đứng dậy rồi sau đó tôi sẽ dạy thêm một bài pháp đầu năm.
Thầy Quản chúng Nội viện tăng:
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Trên chúng con đã được Thầy từ bi nhắc nhở, chỉ dạy, chúng con xin y giáo phụng hành và cố gắng thực hành theo. Giờ này chúng con xin được đầu thành đảnh lễ cúng dường.
Hòa thượng:
Quý vị ngồi xuống hết đi rồi tôi nói bài pháp đầu năm cho nghe. Tất cả quý vị ráng đem hết tinh thần lắng nghe để thấy rõ đường lối tu của Thiền viện, đồng thời cũng thấy rõ Thiền tông và kinh điển là một chứ không phải hai. Tôi đã nói năm nay sẽ giảng kinh Kim Cang cho tăng ni và Phật tử nghe, nhưng chưa giảng. Hôm nay, tôi đem tinh thần Thiền tông, tinh thần trực chỉ, tức là chỉ thẳng, đối chiếu qua một số đoạn trong kinh Kim Cang, cho quý vị thấy tinh thần trực chỉ của Thiền tông với kinh Kim Cang không hai không khác, để ứng dụng tu. Vì vậy bài pháp này đơn giản, ngắn gọn nhưng rất thâm thúy, quý vị hãy hết lòng lắng nghe.
Chúng ta đọc sách Thiền, không ai không thuộc câu châm ngôn trong nhà thiền: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.” Bất lập văn tự là lối chỉ dạy không kẹt trong ngôn ngữ của Thiền tông. Giáo ngoại biệt truyền là lối truyền ngoài giáo lý, nói ngoài đây là không lấy đầy đủ trong những bộ kinh mà chỉ thẳng những điểm then chốt cho chúng ta. Trực chỉ nhân tâm là chỉ thẳng tâm người để thấy tánh thành Phật. Như vậy, tinh thần Thiền tông trong bốn câu này, hai câu đầu chỉ nói lên ý nghĩa bên ngoài, hai câu sau mới nói thẳng về Thiền. Thiền là gì? Thiền là chỉ thẳng tâm người, nhận ra bản tánh mình là Phật, nên nói kiến tánh thành Phật.
Vậy giá trị ở đây là giá trị trực chỉ, tức là chỉ thẳng. Chỉ thẳng bằng cách nào? Trước hết, tôi đối chiếu với các pháp môn tu của đạo Phật Việt Nam. Như trong pháp môn Tịnh độ, đức Phật dạy dùng câu niệm Phật “Nam-mô A-di-đà Phật”, niệm mãi, niệm cho tới nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung được Phật đón về Cực lạc. Như vậy, giá trị của pháp tu Tịnh độ là niệm Phật đến chỗ nhất tâm. Chỗ nhất tâm ở đây với chỗ trong nhà Thiền gọi là trực chỉ nhân tâm có khác nhau không?
Bên nhà Thiền thì chỉ thẳng nơi tâm, tâm mình là cái tâm bất sanh bất diệt, nhận được tâm bất sanh bất diệt là nhận ra được bản tánh, tu hành thành Phật. Còn bên Tịnh độ dạy mình niệm Phật tới nhất tâm, tức là tới tâm bất sanh bất diệt. Còn niệm là còn sanh diệt, đến chỗ nhất tâm là bất sanh bất diệt, tâm đó là tâm Phật. Như vậy, Thiền chỉ thẳng tâm bất sanh bất diệt, còn Tịnh độ qua trung gian là câu niệm Phật, nương đó mà niệm, niệm mãi cho tới được nhất tâm. Đó là tôi đối chiếu Thiền với pháp môn thứ nhất là Tịnh độ.
Pháp môn thứ hai là Mật tông. Mật tông dạy mình niệm tụng thần chú, tụng bất cứ thần chú nào mà mình tin tưởng là linh thiêng nhất, có giá trị nhất, tụng mãi, tụng mãi cho tới tam mật (thân mật, ngữ mật và ý mật). Thân mật bằng cách ngồi bắt ấn, ngữ mật là tụng chú không bị sai sót, ý mật là ý duyên theo câu chú, không có một niệm nào dấy động; tới đó mới được đức Phật Đại Nhật xoa đầu thọ ký. Tam mật, nói thẳng về ý mật thì không có niệm thứ hai, như vậy cũng gặp chỗ mà Thiền tông gọi là nhân tâm, con người chân thật, tâm bất sanh bất diệt của chính mình.
Như vậy, niệm Phật nhất tâm thì được Phật A-di-đà rước, tụng chú tam mật thì được đức Phật Đại Nhật xoa đầu thọ ký. Hai pháp này, một thì qua trung gian câu niệm Phật, một thì qua trung gian câu thần chú, nhưng kết quả cuối cùng đều gặp nhau.
Đến pháp thứ ba là thiền Nguyên thủy. Thiền Nguyên thủy, đa số dùng lối quán chiếu Tứ niệm xứ: quán thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã, chuyên tâm vào một pháp quán cho đến khi đạt được các thiền định như: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đến cuối cùng là Diệt thọ tưởng định, tức diệt tận định thì chứng quả A-la-hán. Diệt thọ tưởng định là định diệt hết các cảm giác đối với sáu trần. Thọ là xúc chạm với ngoại trần có cảm giác khổ vui…, tưởng là tâm suy nghĩ ở trong. Cảm giác đối với trần bên ngoài và tâm suy nghĩ ở trong đều dứt sạch thì chứng được quả A-la-hán, nhập Niết-bàn, tức là Vô sanh. Như vậy, muốn đi tới chỗ Vô sanh thì bên trong phải dứt tưởng, đối ngoài phải dứt cảm thọ. Thiền này dễ tu vì có nhiều cấp bậc: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền…
Còn Thiền tông thì sao? Thiền tông không chia thứ lớp Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền… thành ra người ta thấy khó tu vì không có chặng nào để dừng chân. Nhưng người tu thiền có qua mấy bậc đó không? Như Sơ thiền giải nghĩa là gì? Ly sanh hỷ lạc. Ly cái gì? Ly ngũ dục. Lìa ngũ dục mà sanh ra sự vui thích. Khi quý vị ngồi thiền tâm yên tịnh, sáng suốt, đối với dục lạc thế gian thấy nhẹ nhàng, không còn vướng bận nữa, lúc đó mình cũng vui nhưng không nói chứng Sơ thiền, tại sao? Vì Thiền tông không muốn dùng những chỗ phương tiện để dừng nghỉ, mà muốn chỉ thẳng chỗ tột cùng. Chúng ta đi đến đích cuối cùng mà không cần tựa vào mấy trạm đó nghỉ ngơi. Vậy nên không thấy có chứng đắc, không có chứng đắc nên thấy sự tu hơi khó.
Còn bên Nguyên thủy có từng bậc nên thấy dễ, nhưng phần nhiều những cái dễ lại hay mắc kẹt. Khi chứng được cái này, chứng được cái kia thì thấy mình có sở đắc. Có sở đắc thì thế nào? Mình có chứng người kia chưa chứng là họ thua mình, vì có hơn thua, nên sanh ra phân biệt. Thiền tông không mắc kẹt ở chỗ đó. Thiền Nguyên thủy tu tới Diệt thọ tưởng định thì tâm tưởng ở trong, cảm giác với sáu trần, hai thứ đó không còn nữa thì đến Niết-bàn hay gọi là Vô sanh. Bên Thiền tông tu tới chỗ đó, sẽ nói thế nào, ở phần sau sẽ đi sâu hơn, đoạn này tôi chỉ nói đại khái vậy thôi.
Thứ tư là đối chiếu với kinh Kim Cang. Trong kinh Kim Cang, hai câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề nội dung hỏi phương pháp hàng phục tâm và an trụ tâm. Hàng phục tâm tức là hết tưởng, an trụ tâm là không dính với sáu trần, còn thọ tức là chưa an trụ. Ở đoạn sau tôi sẽ đối chiếu cho quý vị rõ. Như vậy, kinh Kim Cang chỉ thẳng người tu muốn đến kết quả cứu cánh thì phải hàng phục tâm, phải an trụ tâm. Nếu mình hàng phục được tâm là hết tưởng, an trụ tâm thì hết động, không động không tưởng là chỗ diệt thọ tưởng định chứ gì, đến đó là Niết-bàn. Nhưng có khác là bên Nguyên thủy chỉ đi đến diệt thọ tưởng định là được Niết-bàn, Niết-bàn đó là mới được, chứ không phải sẵn có, còn Thiền tông đến chỗ cứu cánh là trở về với tâm Phật sẵn có của mình. Vì vậy mà hai bên có chỗ sai biệt.
Bây giờ tôi nói chỗ trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật của nhà thiền, đối chiếu với kinh Kim Cang. Đây, bài thơ tôi thường dẫn, nhưng mỗi lần nhắc lại là mỗi lần mới. Bài thơ của thiền sư Mãn Giác:
Xuân khử bách hoa lạc,
Xuân đảo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Chỉ sáu câu thơ quý vị thấy được đạo lý gì? Xuân khứ bách hoa lạc tức là mùa xuân qua đi thì trăm hoa rụng. Xuân đảo bách hoa khai là mùa xuân đến thì trăm hoa nở. Trong hai câu này, ngài mượn mùa xuân và những cành hoa dường như diễn tả cho cảnh xuân tươi đẹp, nhưng sự thật hoa đó chỉ chung cho muôn vật trên thế gian. Từ cây cối, núi non, cho đến nhà cửa, ruộng vườn…, tất cả những sự vật hiện có hình tướng đều được biểu trưng bằng hình ảnh hoa nở, hoa tàn. Hoa nở hoa tàn là theo thời gian xuân đến xuân đi, muôn vật bị thời gian cuốn trôi đi, sanh diệt diệt sanh không dừng. Hình ảnh đó để nói muôn vật là vô thường tạm bợ, không bền lâu vì bị thời gian chi phối. Muôn vật bị thời gian chi phối còn con người thế nào? Cũng bị chi phối luôn, cho nên:
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Sự trục nhãn tiền quá là trước mắt mình muôn sự vật đều trôi qua, tức bị thời gian cuốn trôi hết. Như vậy mình thế nào? Nhìn lên đầu mình, tóc đã bạc rồi. Thời gian đã cuốn đi tất cả, không chừa một thứ gì, sự vật bên ngoài là vô thường, con người cũng không ngoại lệ, đó là luật chung. Như vậy cái gì vô thường thì tạm bợ, không thật. Muôn vật vô thường, tạm bợ, không thật, con người cũng vậy. Ai thấy rõ ràng như vậy, nhận định được như vậy, không nghi ngờ thì sẽ thấy muôn vật, mỗi hình dáng, mỗi tướng mạo, đều là hiện tướng vô thường, không một thứ nào nằm ngoài. Đến hai câu sau:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Đừng bảo mùa xuân qua rồi thì tất cả những đóa hoa đều rụng hết. Lấy đâu làm bằng chứng? Đây! Vào mùa đông, đêm hôm qua, ở trước sân chùa vẫn còn một cành mai tươi sáng đẹp đẽ. Như vậy thì tất cả những bông hoa kia theo thời tiết sanh diệt bị cuốn trôi hết, chỉ có một cành mai trong thời tiết lạnh lẽo giá rét vẫn nguyên vẹn, còn đang nở tươi thắm. Cành mai đó để chỉ cái gì? Tất cả đều bị vô thường chi phối, nhưng còn có một cái không bị chi phối. Đó là cái chân thật của mỗi người. Như vậy con người, muôn vật có hình tướng đều bị vô thường cuốn phăng đi, nhưng trong đó có một cái chưa bao giờ bị thay đổi, vẫn tồn tại miên viễn. Cái đó được tượng trưng bằng hình ảnh một cành hoa mai giữa mùa đông.
Chúng ta thấy lời thơ đơn giản mà đẹp, đầy ý nghĩa, đọc qua thấy rất hay. Trong kinh Kim Cang, Phật có nói ý đó không? Có đoạn đức Phật nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” Vậy có bao hàm trọn ý bốn câu thơ trước chưa?
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” tức là cái gì có hình có tướng đều là hư dối. Vì nó vô thường, tạm bợ. Hoa, người có tướng nên bị vô thường chi phối. “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”, nếu thấy các tướng đó không phải tướng là thấy Phật, nghĩa là sao? Nghĩa là chúng ta dùng trí tuệ Bát-nhã soi tường tận tất cả các pháp thế gian có hình tướng đều là duyên hợp hư giả, đều bị vô thường chi phối; biết rõ nó là hư giả, tạm bợ là chúng ta thấy Phật.
Trong thơ nói thấy được hoa mai ở mùa đông, còn trong kinh dạy nếu thấy rõ các tướng là không thật, hư dối là thấy Phật. Như vậy kinh nói những lời cao siêu có tính cách giải thoát, còn thơ nói có vẻ mỹ miều hơn, phải không? Hình ảnh mỹ miều cho người nghe thích thú, chứ sự thật đều chỉ chung một điểm. Bên kia chỉ rõ mọi sự vật chịu sự chi phối của vô thường, con người cũng chung số phận đó. Thấy được, biết được như vậy rồi, không lầm lẫn nữa thì chúng ta sẽ thấy cành mai ở giữa mùa đông. Còn trong kinh Phật dạy cái gì có tướng đều hư dối, người nào thấy được những tướng đó không thật thì sẽ thấy Phật.
Như vậy lời kinh khác một chút là ngôn ngữ mang vẻ triết lý, lời thơ thì đượm vẻ văn chương, nên hai bên dùng lời diễn tả khác nhau, chứ trọng tâm không hai. Ngài Mãn Giác, một thiền sư Việt Nam đời Lý dùng sáu câu thơ diễn đạt được ý kinh Kim Cang, chỉ cho chúng ta dùng trí tuệ soi sáng để thấy được Phật. Đó là so sánh bài thơ của Tổ ở đời Lý với một đoạn trong kinh Kim Cang. Kế đây, sẽ nói ông Tổ đời Trần thấy thế nào? Trước khi nói đến Tổ đời Trần thì xin nhắc lại một chút về Lục Tổ.
Đức Lục Tổ ở Trung Hoa ngộ đạo ở câu nào, đoạn nào trong kinh Kim Cang? Khi Ngũ Tổ giảng tới câu ngài Tu-bồ-đề hỏi người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao an trụ được tâm, Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Nghĩa là muốn an trụ chỗ tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đối sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp không dính kẹt, thì Lục Tổ la lên một hơi: “Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình bất sanh bất diệt…” Tại sao Tổ bất chợt la lên như vậy? Bởi vì, cũng như chúng ta, lâu nay Tổ cứ ngỡ tâm duyên theo cảnh, phân biệt cảnh là tâm mình. Đến lúc Ngũ Tổ đọc kinh Kim Cang, chỉ cho Lục Tổ thấy cái tâm không dính mắc với sáu trần mới thật là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, còn dính mắc với sáu trần thì không phải. Ngay khi đó Lục Tổ thấy rõ cái tâm tánh chân thật của mình, nên chợt la lên.
Khi ta thấy tâm chân thật không có một niệm, lúc đó có tâm hay không tâm? Bây giờ, thử hai phút không dấy nghĩ điều gì trên thế gian này, chúng ta còn biết không, mình hiện có hay không có, đang biết hay vô tri? Chúng ta đâu phải là vật vô tri, phải không? Không nghĩ mà đang biết, cái biết đó không có hình dáng, động tịnh gì.
Còn ngày nay chúng ta cứ cho suy nghĩ là biết, có nghĩ mới biết. Bởi cho cái nghĩ là biết, là tâm mình, nên quên cái không nghĩ mà hằng biết. Do quên cái hằng biết không nghĩ suy, chạy theo cái nghĩ suy mới biết nên khởi tâm so đo, tính toán, hơn thua, phải quấy suốt cả ngày, cứ vậy mà điên đảo.
Giờ đây chúng ta dừng được cái tâm theo sáu trần kia, thì cái chân thật đang tri đang giác này hiện tiền. Cái đang tri đang giác hiện tiền, không tướng mạo, không sanh diệt nên Lục Tổ nói đâu ngờ mình sẵn có tánh chưa từng sanh diệt, đâu ngờ mình sẵn có tánh hoàn toàn thanh tịnh…
Còn khi nghe nói không nghĩ điều này, điều kia, không dính sáu trần, cho là lúc đó không có tâm, đó là mê lầm muôn đời của mình. Cái thật luôn hiện hữu mà mình bỏ quên, cứ chạy theo cái lăng xăng điên đảo, bám vào nó cho là mình, nên tạo nghiệp sanh tử.
Giờ đây mình biết cái lăng xăng điên đảo là giả, là hư dối, không theo nó nữa thì thấy Phật ngay. Phật đó ở đâu? Phật ngay nơi mình. Đó là trực chỉ, chỉ thẳng ông Phật của chính mình. Chứ không phải niệm Phật, trì chú rồi mới thấy Phật. Chỉ cần không cho những niệm lăng xăng dấy động, không bị vọng tưởng dẫn đi, không bị lục trần lôi kéo, tâm yên tịnh, trong sáng, hằng giác hằng tri, đó là ông Phật của chính mình. Như vậy có chỉ thẳng không?
Cái gì nói thẳng người ta không quan tâm, nói quanh co họ lại chịu. Nói vòng vo trên trời trên mây thì người ta để ý, còn chỉ thẳng họ lại coi thường. Cái bệnh của chúng sanh là như vậy! Nghe nói tu chứng Sơ thiền, rồi chứng Nhị thiền thì thích, thấy có chứng đắc thì chịu, còn chỉ thẳng tâm mình hiện đó là Phật thì lại lơ là.
Nhị thừa tu tới cuối cùng là Diệt thọ tưởng định tức không còn thọ tưởng. Mà không tưởng là hàng phục tâm, không thọ là an trụ tâm. Không còn hai thứ thọ tưởng tức là Vô sanh, Niết-bàn. Mình ham Niết-bàn lại không chịu nhận cái tâm hằng hữu bất sanh bất diệt của mình.
Chúng sanh bỏ cái tâm bất sanh bất diệt, lại thương cái tâm chạy lăng xăng: thương ghét, buồn giận, hơn thua, phải quấy… Do thương, quyến luyến nó, nên bỏ không được. Khi suy nghĩ nhiều, phân biệt giỏi cho là khôn, lúc nào dừng không suy nghĩ thì cho là khờ là ngu. Đó là lầm lớn vô cùng.
Chúng ta tu phải ngồi thiền hai tiếng đồng hồ cay đắng như vậy là để làm gì? Để hàng phục tâm, để an trụ tâm. Như vậy khi hàng phục tâm, an trụ tâm được rồi thì ông Phật của mình hiện ra. Ông Phật đó mới là Phật thật, còn ông Phật ở đâu đến thì không phải thật. Kinh Kim Cang chỉ thẳng cho chúng ta thấy cái lẽ thật đó.
Các thiền sư đời Trần, vị nào chỉ chỗ đó? Bốn câu kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Đạo của ngài Trần Nhân Tông khi làm Thái thượng hoàng nói rất rõ ràng, tôi chỉ dẫn hai câu cuối thôi:
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Trong nhà có báu đừng tìm kiếm đâu xa. Ngài nói trong nhà có báu để người ta ham một chút, chứ sự thật trong nhà có ông Phật, có tâm bất sanh bất diệt rồi, đừng tìm kiếm ở đâu hết. Muốn thấy ông Phật đó phải làm sao? “Đối cảnh vô tâm”, là đối với sáu trần không chạy theo, không dính mắc, đó là thiền, là cơ hội để thấy hòn ngọc quý của mình. Vậy chỗ thấy của ngài có khác chỗ thấy của đức Phật hay Lục Tổ không? Lục Tổ nói đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh…, cái thanh tịnh sẵn có chỉ cho tâm mình, ở đây ngài Trần Nhân Tông gọi là hòn ngọc báu. Mình có sẵn hòn ngọc báu, đừng tìm ở đâu khác, cứ ngay nơi mình mà nhận lấy. Như vậy Tổ chỉ thẳng nơi mình đã có sẵn, giờ làm sao thấy? Chỉ cần đối cảnh vô tâm.
Tôi hỏi quý vị, như con vượn con khỉ, lăng xăng, lộn xộn chuyền từ cây này qua cây kia là sướng, hay nằm chèo queo dưới gốc cây ngủ là sướng? Nếu ngủ khỏe thì cứ nằm queo dưới gốc cây ngủ khỏe hơn, nhảy chuyền chi cho mệt. Bây giờ chúng ta cũng vậy, muốn tâm yên lặng thì buông hết, cho nằm yên đó, sáng suốt, khỏe biết chừng nào! Nhưng đâu được vậy, tâm cứ nhảy chuyền hết điều này tới việc nọ. Nhiều khi muốn ngủ mà ngủ không được, cứ bóp đầu, bóp trán, lăn qua, trở lại, tâm chuyền nhảy mãi không chịu yên. Tu mà không chịu bỏ, cứ nuôi dưỡng tâm chuyền nhảy đó hoài, càng nuôi dưỡng tâm càng khuấy động, động chừng nào thì càng tối tăm mờ mịt chừng ấy. Chỉ cần lóng lặng tâm lăng xăng thì mọi cái hay đẹp, cao siêu đã sẵn ở trong đó phát ra, nên nói chúng ta đã có sẵn kho báu.
Kho báu nhà mình có sẵn mà không khươi ra lấy xài, lại đi tìm của báu bên ngoài. Chúng ta cứ đi học ở chỗ này, chỗ kia, học đủ thứ của người ta đem về làm của mình, còn kho của mình không chịu lấy ra xài, đi lượm lặt chỗ này chỗ nọ năm xu bảy tiền về xâu một xâu đem cất trong tủ, lấy làm hài lòng lắm! Thiền tông chỉ thẳng ngay nơi mình sẵn có kho vàng ngọc, mở ra lấy, đừng đi lượm lặt đồ bỏ của ai làm chi. Nghe người này nói điều gì hay hay, ghi về học, nghe người kia nói cái gì lạ lạ, thâu vô nhớ hết. Có gì quý mà chúng ta tiếc từng đồng xu đồng điếu của người khác, đó chỉ là đàm giãi của cổ nhân thôi, cái kho báu thật nơi mình mới là thứ quý báu vô cùng mà ta lại không ngó ngàng tới.
Như vậy, chỗ đặc biệt của Thiền tông là chỉ thẳng. Mà rất đáng thương chúng sanh lại thích những thứ quanh co, chỉ thẳng thấy ngán quá, không vô nổi, đi theo cái quanh co dễ hơn, nhưng cũng dễ bị lạc, bị mắc kẹt. Nên với người biết tu, thật tu, qua lời chỉ thẳng, chịu khó quan sát kỹ thì có ngày sẽ thấy, không nghi ngờ. Đó là tôi nói cho quý vị biết rõ tinh thần trực chỉ của Thiền tông.
Có một số người nghe chỉ thẳng không thích, lại thích những cái quanh co hoặc có trung gian. Có trung gian như trong kinh Viên Giác, kinh Lăng-nghiêm nói, đêm mùng bảy, mùng tám có mặt trăng nhưng nhiều người không thấy, có người thấy trước nên nói “đêm nay có trăng”, người không thấy hỏi “trăng ở đâu”. Nếu người thấy chỉ đáp ở hướng tây, sợ người kia không biết hướng đó ở đâu, nên buộc lòng phải chỉ: “Đây, theo ngón tay tôi thì thấy mặt trăng.” Nghe nói theo ngón tay sẽ thấy mặt trăng rồi cứ nhìn đầu ngón tay hoài, làm sao thấy được mặt trăng! Bây giờ, nếu có người hỏi mặt trăng ở đâu, mình nói ở hướng tây, người mắt sáng nhìn thẳng về hướng tây, thì họ sẽ tự thấy, khỏi cần qua ngón tay. Còn mình dùng ngón tay chỉ cho họ, họ cứ ngỡ ở đầu ngón tay, ngó chăm chăm vào đầu ngón tay, không thấy mặt trăng, có tội cho họ không?
Cũng như vậy, kinh Phật dạy để chúng ta biết đường tu, chúng ta không nương kinh để tu, mà đem ra đọc hoài. Đọc kinh cho đó là tu thì giống như chấp ngón tay làm mặt trăng, cứ nhìn đầu ngón tay cho là mặt trăng. Đó là lầm lẫn lớn. Bởi có trung gian nên dễ có lầm lẫn.
Còn chỉ thẳng mặt trăng ở hướng tây, cứ nhìn một hồi sẽ thấy. Nhìn thẳng đó thấy mặt trăng thì thấy, không thấy thì thôi chứ không mắc kẹt ở ngón tay. Bởi vậy cái trung gian có lợi mà cũng có hại. Lợi là người khéo nương ngón tay để nhìn ra xa thì sẽ thấy mặt trăng, còn người không khéo, cứ bám vào ngón tay thì không bao giờ thấy được mặt trăng. Còn trực chỉ thì nói thẳng hướng đó, cứ nhìn hướng đó tự thấy, không dùng phương tiện gì hết.
Như vậy, tinh thần chỉ thẳng này không cho chúng ta mắc kẹt. Đi thẳng là khi chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi không một niệm chạy theo cảnh, theo người, lúc đó đang sống với tâm hiện hữu của mình, sau này người ta hay dùng từ sống với cái hiện là, cái đang là. Hiện là, đang là là gì? Chỗ không nghĩ suy gì hết, đi biết đi, ngồi biết ngồi, ăn biết ăn, mọi hành động đều biết rõ ràng. Sống với cái không niệm nghĩ suy dấy động là biết sống với cái chân thật hiện là, sống được với kho báu nhà mình.
Như vậy, Thiền tông chỉ thẳng chỗ tột cùng đó, đối với kinh điển không hai không khác. Tại sao không mượn lời dạy trong kinh, mà lại chỉ thẳng? Vì chúng sanh nhiều bệnh hoạn, có người muốn cho họ tin nên nói kinh này có đầy đủ phước đức, ai trì tụng thì có phước đức lớn, nhiều người mắc kẹt nơi phước đức đó nên trì hoài, mà không nương kinh để thấy cái chân thật. Vì vậy, Thiền tông dùng một câu nói, một bài kệ chỉ thẳng, người nghe sáng ý, sẽ nhận biết được chỗ các ngài muốn chỉ. Biết được như vậy là thấy rõ tinh thần Thiền, bằng không cứ kẹt mãi không ra khỏi.
Tôi chỉ nêu hai bài kệ của hai vị thiền sư Việt Nam, một vị ở đời Lý, một vị đời Trần, đối chiếu với kinh Kim Cang, cho quý vị thấy các thiền sư Việt Nam cách Phật tổ rất xa nhưng chỗ nhận thấy không khác với Phật tổ. Như vậy trong khi ứng dụng tu, ai là người đã thấy, ai là người chưa thấy, qua một câu nói hoặc một bài thơ chúng ta nhận định kỹ, biết rõ ràng. Điều căn bản là phải biết rõ gốc thật của chính mình, chứ không khéo, nghe ai nói quanh co hơi lạ thường, tưởng đó là hay, là đặc biệt, liền vội tin thì không tốt. Người thấy được gốc thật đó, mọi lời nói, hành động của họ đều chỉ thẳng cái đó, chứ không nói gì khác. Như vậy, xưa từ Phật tổ cho đến ngày nay, người nhận được, tu đến nơi, đều thấy nhau gặp nhau, chứ không khác.
Đó là chỗ căn bản tôi muốn chỉ cho tất cả chư tăng ni và Phật tử nhân ngày đầu năm. Vì năm nay là năm cuối, tôi không còn dạy nữa, nên tôi muốn chỉ thẳng. Cái gì tôi thấy, tôi biết chỉ cho quý vị thấy biết mà ứng dụng tu. Tôi nói hết để sau này không ai trách “đơn giản như vậy sao Thầy không chỉ”, phải không? Đơn giản mà không chịu hiểu, không chịu thấu đáo để ứng dụng là do lỗi của quý vị.
Thầy Quản chúng Nội viện tăng:
Kính bạch trên Thầy! Vừa rồi chúng con đã được Thầy từ bi chỉ dạy cho những lời pháp rất thâm sâu, vi diệu, đến chỗ tinh ba của Phật pháp, của nhà Thiền. Chúng con nguyện cố gắng nghiền ngẫm kỹ, nhận định chín chắn để ứng dụng vào đời sống của mình, tu hành cho đến nơi đến chốn, không phụ lòng từ bi chỉ dạy hết tình của Thầy.
Giờ này toàn thể tăng ni, Phật tử chúng con một lần nữa xin được đảnh lễ cúng dường Thầy nhân ngày đầu năm mới này. Kính mong Thầy từ bi chứng minh.