Xuân Phụng Hoàng

Lễ Chúc Tết Tân Tỵ - Mùng một tết Tân Tỵ (24-01-2001) -



Thầy Quản chúng Nội viện tăng: 

Kính bạch Thầy! Hôm nay nhân ngày đầu năm Tân Tỵ, toàn thể tăng chúng chúng con đồng nhất tâm quỳ trước Thầy, kính dâng lên lời chúc mừng năm mới.

Kính bạch Thầy! Giờ này, mọi người bên ngoài đang vui với niềm vui của thế tục thì ở đây chúng con có được ít nhiều niềm vui trong đạo, được sống phần nào trong chánh pháp, dưới sự hướng dẫn của Thầy. Để từ đó huynh đệ chúng con lần lượt khám phá ra lẽ thật ngay chính mình, đây là một ân lớn mà chúng con không thể diễn tả bằng lời.

Tuy nhiên, chân chúng con sẽ còn phải bước những bước thật dài. Nhớ lời tuyên bố của Thầy còn hai năm nữa Thầy sẽ nghỉ, chúng con tự cảm nhận thời gian còn được gần gũi, trực tiếp với Thầy sẽ không còn nhiều. Do đó chúng con sẽ phải tự tinh tấn tu nhiều hơn để tạo cho mình một chỗ nương tựa vững vàng, để ngày kia sẽ không phải chới với. Chúng con nguyện tiếp tục truyền mãi con đường này không đoạn dứt. Sự tinh tấn đó sẽ đem lại niềm vui cho Thầy và lấy đó để thay lời chúc mừng năm mới. Chúng con nghĩ như vậy sẽ có ý nghĩa nhiều hơn.

Đây là những lời chân thành của chúng con kính dâng lên Thầy trong ngày đầu năm mới này, ngưỡng mong Thầy chứng minh cho. Và chúng con cũng nguyện cầu Tam bảo gia bị cho Thầy sức khỏe được an lành, sự đến đi của Thầy được không trái thời và đại nguyện của Thầy được tròn đủ. Sau cùng, chúng con kính mong Thầy từ bi ban cho những lời nhắc nhở sách tấn đầu năm để chúng con tinh tấn tu hành.

Ngưỡng mong trên Thầy từ bi chứng minh và hứa khả cho chúng con được ân triêm công đức.

Ni sư Quản chúng Nội viện ni: 

Ngưỡng bạch Thầy! Hôm nay là ngày đầu năm, chúng con hội đủ duyên lành được quỳ dưới chân Thầy, cung kính dâng lên lời kính chúc Thầy được nhiều sức khỏe, sống lâu, hằng được an lành trong hương vị chánh pháp của Như Lai.

Kính bạch Thầy! Thấm thoắt một năm trôi qua, một năm đầy những khó khăn, trở ngại, buồn vui đã chồng chất lên Thầy, thế mà Thầy vẫn âm thầm chịu đựng không một lời than. Tuy thân tứ đại của Thầy có yếu dần theo năm tháng mà đại nguyện của Thầy vẫn vươn cao. Thầy luôn thiết tha mong mỏi chúng con sớm trở về với con người chân thật của chính mình, vì thế Thầy đã không nề tuổi già sức nhọc, ráo cổ, khô môi chỉ vì muốn cho chúng con luôn sống tỉnh giác. Ôi, lòng từ bi của Thầy bao la như đại dương, vô cùng cao quý!

Kính bạch Thầy! Chỉ còn hai năm nữa, với tuổi tám mươi, Thầy phải có thời gian ngơi nghỉ. Thời gian càng ngắn lại bao nhiêu thì nỗi bâng khuâng lo lắng của chúng con càng chồng chất bấy nhiêu. Lo làm sao nơi mỗi chúng con phải tự thể hiện được kết quả công phu thật sự của mình. Có vậy mới mong đền đáp được phần nào công ơn giáo dưỡng của Thầy đã mở sáng cho chúng con.

Kính bạch Thầy! Cảm niệm thâm ân sâu dày này, hôm nay nhân ngày đầu xuân, chúng con nguyện sẽ nỗ lực phát huy trí tuệ, làm người tỉnh, sống vui để xứng đáng là kẻ phát chí xuất trần. Một lần nữa, chúng con thành tâm nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho Thầy pháp thể an lạc vô biên, để nêu cao đuốc tuệ chánh pháp cho chúng con, cùng tất cả chúng sanh trên bước đường học đạo và hành đạo. Ngưỡng mong Thầy từ mẫn chứng minh cho chúng con đê đầu kính lễ cúng dường.

Hòa thượng

Đó là lời chúc tết của tăng và ni, lý đáng cũng dành phần cho Phật tử, nhưng ở trong Tham vấn đường quá chật, Phật tử ngồi ở ngoài không tiện chúc tết, thôi thì đại diện hai bên tăng ni cũng tạm đủ. Giờ tới phần tôi, sang năm mới tôi chúc cho tất cả tăng ni và Phật tử được một mùa xuân miên viễn. Đơn giản vậy thôi, được một mùa xuân miên viễn.

Nghe nói một mùa xuân miên viễn, quý vị không hiểu tại sao mỗi năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mà chúc mùa xuân miên viễn thì chỉ có vỏn vẹn một mùa xuân, không có hạ, thu, đông. Đứng về mặt thời tiết làm gì có một mùa xuân mãi được. Như vậy, vì sao lại nói mùa xuân miên viễn?

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với quý vị về một mùa xuân còn mãi. Buổi nói chuyện này, tôi sẽ trích dẫn những bài thơ của các vị thiền sư ở Trung Hoa, Việt Nam trước kia, để quý vị thấy ý nghĩa của mùa xuân miên viễn.

Ngày đầu năm như sáng sớm hôm nay, chúng ta thường gọi là tết gì? Ờ! Tết Nguyên đán. Nguyên là trước, là ban đầu; đán là buổi sáng, tức là buổi sáng đầu tiên của một năm. Như vậy, tết Nguyên đán là một buổi sáng đầu năm. Năm nay là năm gì? Năm trước là Canh Thìn rồi, năm nay là Tân Tỵ. Như vậy gọi năm rồng năm rắn gì cũng được, không quan trọng. Điều quan trọng là ngày đầu tiên, để chuẩn bị cho một năm mới, chúng ta phải làm gì, phải sống thế nào để hưởng được một mùa xuân miên viễn, đó là chuyện cần thiết. Vậy, trước phải hiểu trong nhà thiền nói xuân là chỉ cho cái gì, rồi sau chúng ta mới biết làm sao để sống được một mùa xuân miên viễn.

Xuân, chỉ cho mùa đầu trong một năm, ba tháng đầu của năm gọi là mùa xuân. Trong nhà thiền nói về mùa xuân có hơi khác một chút. Bây giờ tôi dẫn chuyện một thiền khách đến thiền sư Chân Không, hỏi: “Khi sắc thân bại hoại thì thế nào?” Sắc thân bại hoại thì thế nào, nói nôm na một chút là khi thân này chết thì thế nào. Ngài Chân Không trả lời: “Xuân đến xuân đi ngỡ xuân hết. Hoa nở hoa tàn chỉ là xuân.” Như vậy “xuân đến xuân đi” là chỉ xuân thời gian, khi nó đến thì chúng ta đón mừng, khi nó đi thì nói hết xuân, mùa xuân qua rồi. Sự thật là xuân đến thì hoa nở, xuân đi thì hoa tàn, nhưng dù hoa có nở, có tàn cũng chỉ là xuân thôi. “Hoa nở hoa tàn” chỉ cái gì? Hoa nở hoa tàn là dụ cho sắc thân, sắc thân được sanh ra rồi bại hoại. Nhưng thiền khách không biết khi bại hoại rồi thế nào. Thì ngài trả lời dù cho sắc thân sanh ra hay bại hoại nó cũng vẫn là xuân. Vậy chữ “xuân” của ngài Chân Không nói đây là xuân gì? Xuân bất sanh bất diệt. Mà xuân đó ở đâu? Thân chúng ta có sanh, có tử, sanh tử liên miên, sanh diệt bao nhiêu lần nhưng không ngoài cái thể bất sanh bất diệt của chân tâm hay Phật tánh. Như biển cả, sóng có dấy động, có lặng đi trăm ngàn lần nó cũng không ngoài mặt biển. Đó là cái thấy tột đến chỗ cứu cánh bất sanh bất diệt, chứ không phải nhìn theo chiều thời gian sanh diệt của thân này hay của thời tiết. Đây tôi dẫn một bài thơ của thiền sư ni Vô Tận Tạng.

THƠ XUÂN

Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân,

Mang hài đạp phá lãnh đầu vân.

Quy lai ngẫu quá mai hoa hạ,

Xuân tại chi đầu dĩ thập phân.

Dịch:

Trọn ngày tìm xuân chẳng thấy xuân, 

Giày gai đạp nát đỉnh mây ngàn.

Trở về chợt đến vườn mai cũ,

Xuân ở đầu cành sẵn mười phần.

Vị thiền sư ni này thấy thế nào? Cả ngày đi tầm xuân, kiếm xuân mà tìm mãi không thấy xuân ở đâu, trèo núi đến đỗi giày rách tua hết, mà cũng không thấy xuân. Trở về đến vườn mai trước cửa, nhìn từng cành mai, lá mai thấy xuân hiện đầy đủ trong đó. Sao mà lạ vậy! Tìm xuân ở trên núi không có, tìm nơi này nơi kia không ra, rốt cuộc xuân nằm sẵn trên cành mai bên cạnh nhà mình. Như vậy có uổng công đi kiếm hay không?

Vị ni này muốn nói gì với chúng ta? Chữ xuân trong “tầm xuân bất kiến xuân” là chỉ cho xuân ngài Chân Không muốn nói ở trên, xuân bất sanh bất diệt. Lâu nay mình không nói tầm xuân mà nói tầm đạo. Mình cứ đi xa, tìm chỗ thật vắng, rừng sâu hang thẳm để tìm đạo, đi tìm đáo để cuối cùng đạo ở đâu? Đạo có trên đầu non không? Có ở trong hang sâu, hố thẳm không? Không có. Đi tìm đến đỗi giày rách nát hết mà không thấy đạo, thôi thì trở về vườn mai của mình, nhìn kỹ thấy đạo tràn trề từ trên cành, trên lá mai chứ không ở đâu xa.

Như vậy, muốn thấy đạo hay pháp thân chân thật, chúng ta đừng cất công đi tìm kiếm phương trời này, góc biển nọ làm chi cho mệt. Chúng ta phải quay lại, ngay nơi mình nó đã sẵn đủ rồi. Chúng ta chịu khó nhìn lại thì sẽ thấy, chứ đừng tìm kiếm nơi nào cho nhọc nhằn.

Quý vị tu bao nhiêu năm rồi, rách bao nhiêu đôi dép, tốn bao nhiêu mồ hôi mà thấy đạo chưa? Chắc đi lâu quá, tìm xa quá mà vẫn không thấy. Bây giờ quý vị khỏi tìm ở đâu hết, với cái thấy của vị ni này, đạo ở vườn mai nhà mình. Còn những thiền sư khác nói ở đâu? Ở dưới gót chân. Gần làm sao! Nó không xa, chỉ chịu khó quay lại, tìm nơi mình thì thấy.

Như vậy đạo ở chỗ nào? Nói giản đơn, ở trước mắt. Đạo ở ngay trước mắt sao mình không thấy? Nếu ai thắc mắc như vậy thì lỗi lớn vô cùng. Nếu thấy đạo tức là thấy đường ở ngoài chứ không thấy đạo thật, đạo thật đó có thấy được không? Đạo thật ở nơi mình, chính là cái mà thấy muôn vật, thấy hoa nở, thấy hoa tàn, thấy tất cả; cái bị thấy không phải đạo mà cái thấy được tất cả, nói gọn hơn là cái hay thấy đó là đạo, đã sẵn bên mình rồi, khỏi cần tìm, khỏi cần kiếm ở đâu, thường trực nơi mình mà mình quên thôi.

Xét lại trong kinh, quý vị thấy Phật dạy quá rõ. Đức Phật đã từng chỉ: Sự vật ta thấy ở ngoài là sanh diệt, cái hay thấy thì không sanh không diệt. Âm thanh ở ngoài là tướng sanh diệt, cái hay nghe thì hằng hiện hữu. Như vậy, ngay nơi mình có cái hay thấy, hay nghe, không người nào thiếu, cái đó chính là đạo. Nhưng quý vị chịu nhận cái hằng thấy hằng nghe của mình hay là thích cảnh và tiếng ở ngoài? Hàng ngày thấy cảnh, nghe tiếng chỉ theo nó chứ ít ai nhớ mình có cái hay thấy, hay nghe. Nhìn hoa, nói hoa này đẹp hoa kia xấu, là chỉ biết hoa ở ngoài mà quên cái hay thấy của mình. Nghe người nói, cứ nhớ tiếng khen hay chê, phải hay quấy, tức là chỉ nhớ tiếng, không nhớ cái hay nghe của mình. Thấy cảnh nghe tiếng, mãi chạy theo thanh sắc, tìm ở ngoài nên quên mất không nhận cái hay thấy, hay nghe là cái thật của mình.

Vì mê lầm nên đuổi theo cảnh sắc, âm thanh, muốn hết mê lầm thì sao? Phải quay lại. Nói quay lại chứ không có cái gì quay hết, chỉ nhớ mình cái hay thấy, hay nghe đang hiện tiền là thấy đạo, chứ khỏi cần chạy tìm ở đâu, nhưng ít ai chịu làm vậy. Tóm lại, biết nhớ lại cái hay thấy, hay nghe là biết quay trở lại mình, còn nhớ hình sắc, âm thanh bên ngoài là bị ngoại trần lôi kéo.

Người xưa cứ nhắc tới nhắc lui, bảo chúng ta phải quay trở lại mình, mình mới là gốc. Thấy nó dễ, nó gần làm sao. Bởi vậy, hồi trước đọc bài kệ của anh hàng thịt sau khi thức tỉnh nói ra, thấy thật lạ. Mới hôm qua là tâm dạ-xoa, bữa nay là mặt Bồ-tát, sao dễ quá, không cần làm gì hết mà lại được vậy.

Tôi lập lại bài kệ để quý vị nhớ. Khi anh hàng thịt ngộ đạo rồi, anh liền đọc bài kệ:

Tạc nhật dạ-xoa tâm 

Kim triệu Bồ-tát điện 

Bồ-tát dữ dạ-xoa 

Bất cách nhất điều tuyến. 

Dịch:

Hôm qua tâm dạ-xoa 

Sáng nay mặt Bồ-tát 

Bồ-tát và dạ-xoa 

Không cách một đường tơ.

Không cách một đường tơ thì quý vị phải bước bao nhiêu bước? Chỉ cần quay lại là xong. Nhưng không biết tại sao có người tu mấy chục năm mà quay lại không nổi! Không biết lực gì cản làm cho mình muốn quay lại mà không được, cứ chạy ra ngoài hoài. Chạy ra ngoài là tâm dạ-xoa giết hại người, quay lại là mặt Bồ-tát liền. Như vậy Bồ-tát và dạ-xoa không cách một đường tơ, chỉ cần quay lại. Không cách một đường tơ thì cái gì ngăn trở? Cái quên nó cản trở. Quên là mê, nhớ bên ngoài, không chịu quay lại nhớ trong, nên nó cản trở mình không thấy lẽ thật. Chỉ cần hết quên thì có đầy đủ tâm Bồ-tát. Bởi vậy, tuy nói công phu rất sâu dày, nhiều năm nhiều tháng chứ thật tình chỉ một phen nhớ lại liền đủ. Cái nhớ lại quý vị thấy tốn chừng bao nhiêu công? Không tốn gì hết. Quên thì chạy ra ngoài, bây giờ nhớ thì không chạy, nhớ mình đang hiện tiền, bấy nhiêu đó thôi. Nhớ một lần chưa đủ, đó chỉ mới một phen tỉnh, tỉnh được một phút hai phút, còn nhớ suốt ngày mới gọi là giác.

Như vậy, người xưa cốt chỉ cái chân thật sẵn đủ ở nơi mọi người. Nhưng mọi người không chịu nhìn nhận, không chịu nhớ, mải mê đuổi theo những sanh diệt tạm bợ bên ngoài, rồi khổ sở, đớn đau, than thở,… đủ thứ hết, đó là tại mê. Bây giờ tu là phải tỉnh, phải nhớ lại mình, đừng chạy theo cảnh nữa, đó là biết quay về đường giác, không vậy thì sẽ đi mãi trên đường mê.

Dưới đây là một thiền sư nói về hình ảnh của mùa xuân. Ngài nói xuân trong hoàn cảnh khác hơn bà ni ở trên. Bà ni nói đi tìm xuân, còn ngài khi sắp tịch mà nói xuân. Thường người sắp tịch rên rỉ, thở hổn hển, nhọc nhằn… đủ thứ, có rảnh đâu mà làm thơ. Vậy mà nhiều thiền sư khi sắp tịch liền nói một bài thơ rất tuyệt diệu để cho người sau nhớ mãi. Thiền sư Mãn Giác, khi sắp tịch ngài gọi đồ đệ lại, đọc một bài thơ:

Xuân khử bách hoa lạc,

Xuân đảo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Bà ni nói trở lại vườn mai thấy xuân đã có trên đầu cành. Thiền sư Mãn Giác cũng nói một cành mai, một cành mai trước sân. Khi sắp tịch ngài nói bài kệ này để nói lên điều gì?

Xuân đi thì trăm hoa rụng, xuân đến trăm hoa nở, sự việc trôi qua trước mắt, tuổi già đã đáp trên đầu rồi. Bốn câu thơ này ngài diễn tả xuân theo thời gian. Xuân đi xuân đến đó là năm kia qua năm này lại, liên tục mãi, thời gian trôi qua giáp một vòng rồi đáo lại, cứ như thế mà qua lại tuần hoàn. Thời gian trôi chảy như vậy, sự vật chung quanh chúng ta thế nào? Mỗi khi mùa xuân đến thì thấy hoa nở, mùa xuân đi thấy hoa rụng, hoa rụng hoa nở bị sanh diệt diệt sanh liên tục không ngừng. Đó là chỉ cho các pháp thế gian, còn con người có đồng chung số phận đó không? Nhìn lại con người cũng bị chi phối. Trước mắt mọi việc cứ trôi qua mãi, sực nhớ lại đầu mình tóc đã bạc. Như vậy dòng thời gian không chỉ cuốn trôi hết thảy mọi vật bên ngoài, mà cuốn luôn cả con người. Không thứ gì còn đứng vững, nguyên vẹn trước ngày tháng vô thường. Có vậy mới thấy ai có mặt trên thế gian này, rồi cũng lần lượt năm này qua năm khác, cứ thế kẻ trước người sau đều đi mất.

Bốn câu thơ diễn tả sự biến chuyển theo thời gian, từ muôn vật tới con người, không ai chống đỡ được, không thứ gì thoát khỏi được. Nghe bốn câu này có vẻ bi quan buồn bã, nhưng tới hai câu sau ngài kết thúc thật tuyệt vời:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, 

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Đừng bảo mùa xuân tàn thì hoa rụng hết, ở trước sân, đêm hôm qua còn có một cành mai. Để nói, theo thông lệ, thời gian cuốn trôi tất cả, sự vật và con người đều bị tàn phai biến hoại, nhưng trong đó vẫn có cái chưa từng bị thời gian chi phối, đó là một cành mai.

Như vậy, trong cõi đời vô thường sanh diệt, vẫn có cái thường hằng bất sanh bất diệt. Nếu chúng ta chỉ sống theo cái tầm thường, theo dòng chảy của thời gian thì không có gì bền vững lâu dài. Nếu đi ngược lại thì còn có một thứ chưa từng sanh diệt, ở đây tượng trưng bởi một cành mai. Cành mai chỉ cho cái thường hằng không biến đổi.

Vậy khi từ giã cõi đời chúng ta hết hay còn? Câu hỏi này trả lời hơi khó. Sau khi chết, nếu nói hết thì không có gì để bàn, nếu nói còn, vậy hỏi còn cái gì, còn bằng cách nào? Nếu nói còn thì có hai cách: Một là còn phải luân hồi, đó là cách đi theo nghiệp thiện ác, chìm nổi trong lục đạo. Hai là có cái còn mãi chưa bao giờ bị đổi thay, biến chuyển. Cái này không khó nhận, quý vị lắng tâm sẽ thấy. Khi chúng ta dấy niệm nghĩ suy phân biệt gọi là tâm, có nghĩ suy cho là có mình. Biết nghĩ suy phân biệt nên nói là có tâm, vậy tâm là cái biết nghĩ suy. Khi không khởi nghĩ suy phân biệt, ngồi lặng lẽ, không có một niệm chừng một, hai phút, lúc đó quý vị có tâm không? Không có một niệm duyên theo bóng trần cảnh mà lúc đó mắt vẫn thấy sắc, tai vẫn nghe tiếng xung quanh, xúc chạm cái gì chúng ta đều biết. Cái biết đó là gì? Biết là tâm. Như vậy, tâm nghĩ suy phân biệt là tâm duyên theo bóng trần, chợt sanh chợt diệt, tùy duyên tùy cảnh chứ không thật. Còn cái tâm hằng tri hằng giác, không đợi nghĩ suy mà thường có mới không sanh diệt. Nó không sanh diệt vì nó không duyên bóng hình nào. Tự nó là biết, cảnh đến, cảnh đi đều biết rõ ràng, không có dấy động để so sánh, đối chiếu, phân biệt.

Tâm đó thênh thang trùm khắp, không chỉ ở nơi con người mà trùm hết. Bởi vì không có hình tướng thì không giới hạn, không giới hạn thì nói nó lớn bao nhiêu? Thênh thang không bờ mé.

Như vậy, chúng ta có cái biết trùm khắp không có chừng mực, không có giới hạn nhưng ta không nhớ mà chỉ sống với cái biết khi các căn tiếp xúc với trần cảnh khởi phân biệt hay dở, tốt xấu, hơn thua, phải quấy…, nên gọi là mê. Còn nhớ mình đang có cái biết trùm khắp, hiện tiền thì đó là tỉnh. Cái biết đó không có hình dáng, nó chỉ biết thôi, chứ không thêm cái gì nên không thay đổi, thường hằng miên viễn. Còn cái biết phân biệt thì tùy duyên tùy cảnh, có đủ mặt: duyên tốt nó theo tốt, duyên xấu nó theo xấu, đổi thay luôn luôn.

Như vậy, chúc quý vị một mùa xuân miên viễn là hằng sống với cái chân thật. Khi sống được với cái biết miên viễn đó quý vị có buồn, có vui không? Không buồn không vui, vì có buồn tức có vui, có vui tức có buồn, còn buồn vui là sanh diệt không phải chân thật.

Nói đến mùa xuân hoa cỏ xinh tươi là vui, sống được với tâm miên viễn không buồn cũng không vui thì sao lại dùng mùa xuân vui tươi để chỉ cho nó? Tuy không buồn, không vui nhộn nhưng gương mặt lúc nào cũng tươi sáng. Gương mặt tươi sáng đó là vui, là mùa xuân. Ngày nay chúng ta khi vui thì cười tít mắt toe miệng, khi buồn thì khóc mếu máo, nên dù cười hay khóc cũng đều là khổ chứ không vui. Còn cái vui thường nhiên, lặng lẽ, đó mới là vui chân thật. Vì vậy, chúng ta sống với mùa xuân không có thời tiết, không có giới hạn năm này tháng nọ, không bị cái vui buồn trong sanh diệt chi phối nữa, nên nó mãi là xuân.

Thiền sư Mãn Giác trước khi tịch muốn nhắc cho đồ đệ biết, mang thân này rồi ai cũng phải chết, có sanh thì có diệt, đó gọi là sanh tử của kiếp người. Nhưng trong sự sanh tử lận đận lao đao đó vẫn còn một cái an nhiên tự tại, miên viễn không tận diệt, đó là cành mai nở trong mùa đông.

Quý vị thấy người xưa tu tới giờ phút ra đi rất an nhiên tự tại vì thấy được lẽ thật. Còn chúng ta ngày nay, gần ra đi thì đau khổ rên rỉ, buồn bã khóc than…. là vì chỉ biết cái thân sanh diệt mà không biết mình có cái chưa từng sanh diệt. Chỉ biết có mỗi thân sanh diệt nên khi mất nó thì khổ. Nếu biết mình có cái chân thật thì chuyện thân này còn mất chỉ là trò chơi, như bong bóng nước hợp rồi tan, không có gì quan trọng. Quan trọng là cái thường hằng của mình, sống được với nó thì ra đi tự tại không lo không sợ. Tuy nhiên, thân này khi hoại cũng hành hạ đau đớn, nhưng vì mình không lệ thuộc vào thân, vào cảm giác của xác thịt này nên không bị khổ. 

Đó là tôi nói cho quý vị hiểu ý nghĩa bài kệ, còn đây là bài dịch:

Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười.

Trước mắt việc đi mãi,

Trên đầu già đến rồi.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai.

Thân này hoại đừng tưởng là hết mà còn có một cái vĩnh viễn thường hằng nơi mình mà mình quên, nếu nhớ được thì không còn lo sợ sanh tử.

Đó là xuân của một thiền sư đời Lý, bây giờ tôi nói xuân của một thiền sư đời Trần. Bài Xuân Nhật Tức Sự của thiền sư Huyền Quang, bài này bị nhiều nhà thơ thế tục phê bình “một thiền sư mà làm thơ xuân tình cảm lai láng”. Những nhà thơ thế tục thấy vậy, còn chúng ta thấy khác hơn.

Tôi đọc bài thơ này, quý vị xem có giống ý kiến của các nhà phê bình không.

XUÂN NHẤT TỨC SƯ

Nhị bát giai nhân thích tủ trì,

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả liên vô hạn thương xuân ý,

Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Dịch:

TỨC CẢNH NGÀY XUÂN

Thêu gấm thưa tay dáng mỹ nhân,

Líu lo oanh hót, khóm hoa gần.

Đáng thương vô hạn, thương xuân ý,

Chỉ tại dừng kim, chẳng mở lời.

Diễn tả theo phàm tục cho quý vị thấy. Nhị bát giai nhân thích tủ trì, là cô gái mười sáu tuổi đang ngồi thêu gấm trong ngày xuân. Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly là trên khóm hoa tử kinh có chú chim hoàng oanh hót. Hai câu này diễn tả hình ảnh một cô gái mười sáu tuổi, tay cầm kim thêu gấm, bên cạnh hay ở trước sân có một bụi hoa tử kinh đang nở rộ, có chim hoàng oanh đậu trên đó hót véo von. Hình ảnh đẹp quá chừng, phải không? Tiếp theo là khả liên hạn thương xuân ý, tận tại đình châm bất ngữ thì. Khả liên tức là đáng thương, thương vô hạn cái ý xuân. Thương chỗ nào? Thương tại chỗ cô dừng kim không thêu và làm thinh không mở lời, dễ thương quá chừng quá đỗi. Lời thơ hiểu theo nghĩa thường thì quả là tình cảm dạt dào.

Tôi không nhìn theo thường tình mà thấy theo lẽ đạo. Tôi chỉ cho quý vị thấy tài của ngài Huyền Quang, làm thơ dường như trần tục mà rốt cuộc là đạo lý sâu thẳm vô tận. “Đáng thương vô hạn, thương xuân ý”, thương ở chỗ nào? “Chỉ tại dừng kim chẳng mở lời.” Trong kinh giải thích nghĩa của Niết-bàn là dừng nghiệp. Tạo nghiệp là đan dệt. Còn đan dệt là tạo nghiệp, dừng lại không đan dệt là Niết-bàn. Như vậy dừng đan dệt tức là dừng tạo nghiệp, dừng nghiệp là Niết-bàn. Đến chỗ “đạo bổn vô ngôn”, đạo vốn không lời, ngài Huyền Quang diễn tả bằng hình ảnh cô gái không mở miệng nói.

Tuy mùa xuân có người đẹp, cảnh đẹp, có chim hót nhưng tôi thích nhất chỗ dừng nghiệp, chỗ không còn lời để nói, chứ không phải thích cô gái, thích cảnh. Như vậy thích cái gì? Thích Niết-bàn, thích đạo, chỗ đó mới tuyệt vời, còn cảnh người con gái, cảnh chim hót, hoa nở là trò chơi, không đáng kể. Điều đáng quý trọng nhất là chỗ cuối cùng không còn tạo nghiệp, nhập Niết-bàn, chỗ không lời để diễn tả đạo tột cùng. Ngài Huyền Quang dùng hình ảnh thế gian để phô bày đạo lý thâm sâu. Người đời không thấy, không biết được nên đọc bài thơ đó họ tưởng là ngài bị tình cảm trói buộc.

Chúng ta thấy những vị thiền sư từ Trung Hoa đến Việt Nam, khi mùa xuân đến các ngài cảm hứng làm thơ để diễn tả mùa xuân. Trong đó, cuối cùng chỗ nào cũng chỉ cho chúng ta thấy cái chân thật miên viễn của mỗi người, cái đó là trên hết, là tột cùng. Chúng ta không phải chỉ sống vui chơi với thời gian xuân, hạ, thu, đông mà phải sống vui mãi mãi với mùa xuân chân thật của chính mình. Năm mới, tôi cầu chúc cho tăng ni, Phật tử được một mùa xuân miên viễn, mùa xuân ngừng tay, không còn thêu gấm, mùa xuân không còn lời để nói. Đó là mùa xuân người xưa đã thấy, đã hưởng được. Các ngài làm thơ, tả cảnh xuân, nhưng thật tình chỗ các ngài muốn chỉ cho chúng ta không phải là xuân thời gian tạm bợ, mà là mùa xuân muôn kiếp vĩnh viễn.

Bây giờ quý vị chịu sống với mùa xuân đó không? Dạ chịu. Chịu mà còn yếu quá, chỉ có phân nửa, vậy là chưa can đảm, chưa quyết tâm. Tại sao mọi người mừng mùa xuân tạm bợ có mấy tháng, còn mùa xuân suốt kiếp lại không thích, chỉ ưa chuộng cái tạm thời mà không quyết tâm trở về cái miên viễn? Do mê lầm nên khổ đau trong kiếp luân hồi sanh tử.

Mục tiêu người tu hướng đến chính là chỗ chân thật vĩnh cửu này. Quý vị không được nói cái đó khó, không thể làm được, không thể tiến tới. Vì vậy tôi mong năm này và những năm sau, tăng ni ai ai cũng được hưởng một mùa xuân miên viễn như mùa xuân của các thiền sư tôi vừa kể.

Thầy Quản chúng Nội viện tăng

Vừa rồi, toàn thể chúng con đã được Thầy từ bi nhắc nhở và đánh thức cho chúng con một mùa xuân miên viễn nơi mỗi người, chính đây là sức sống chân thật nhiệm mầu mà chúng con đã bỏ quên từ lâu. Giờ đây được Thầy nhắc nhở, chúng con nguyện khéo tinh tấn sống nhớ lại chỗ chân thật này, để sống cuộc sống thật đầy đủ ý nghĩa của một đời tu, cũng như không cô phụ lòng kỳ vọng của Thầy.

Giờ đây chúng con xin đầu thành đảnh lễ tạ ơn Thầy. Kính xin Thầy chứng minh.  


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.