Hôm nay ngày hai mươi chín tháng mười hai là ngày cuối của năm Canh Thìn. Thường thì ở các nơi, các cơ quan người ta tổ chức lễ tất niên, còn trong chùa thì nhân ngày lễ truyền thống của dân tộc, mọi người ăn tất niên, chúng ta cũng phải làm theo. Nhưng sự tổ chức có những nét khác nhau: Ngoài thế gian thì ăn tất niên, còn chúng ta uống tất niên, đó là cái khác thứ nhất. Cái khác thứ hai là, ở ngoài đời công việc làm ăn trong gia đình hoặc cơ quan, qua một năm đến ngày tất niên, người ta kết toán cuối năm, biết được kết quả để cùng chia sớt, chung vui với nhau. Chúng ta thì ngược lại, chỉ kiểm điểm lại sự tu hành, xét xem một năm qua, sự tu hành tiến thoái như thế nào, để điều chỉnh, sửa lại cho tốt, đồng thời chuẩn bị sang năm mới, tu hành hay hơn, thành công hơn, chứ không phải mừng năm mới để vui chơi. Tất cả những gì xấu dở từ năm cũ còn sót lại, chúng ta ráng gạn lọc, chừa bỏ để năm tới được trong sạch, sáng suốt. Những điều hay tốt trong năm qua, chúng ta phải nuôi dưỡng cho tăng trưởng, phát triển thêm lên, để năm tới trên đường đạo càng mạnh mẽ, tinh tấn hơn.
Qua một năm rồi, trên đường tu của chư tăng, chư ni có những gì ưu khuyết, nên trình bày cho tất cả cùng nghe. Chúng ta nêu lên những cái dở không phải là điều xấu, điều nhục, mà nói ra để nhiều người cùng biết, rồi nhắc nhở nhau thức tỉnh, sang năm tới phải vươn lên, không còn những điều dở nữa. Với những người ham tu, có tinh thần cầu tiến, khi biết được điều dở xấu của mình thì càng cố gắng khắc phục, sự tu càng mạnh thêm, chứ không lui sụt. Như vậy mới đúng ý nghĩa tất niên trong nhà thiền.
Vậy trước hết bên tăng báo cáo, rồi đến bên ni. Quản chúng bên tăng đại diện kể sơ lược những thành tích tu trong năm qua, ưu khuyết như thế nào. Kế đó Quản chúng bên ni cũng kể lại những điều hay dở của năm rồi, cho toàn chúng cùng biết. Giờ đây quý vị chuẩn bị nghe báo cáo, để nắm vững tình hình tu học của chư tăng ni một năm qua. Phần tôi khai mạc rồi, bây giờ bắt đầu.
Thầy Quản chúng Nội viện tăng:
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Kính bạch Thầy! Vâng lời Thầy chỉ dạy, con thay mặt các huynh đệ bên tăng, kiểm lại trong năm qua, thấy rằng về phần tu hành, các huynh đệ tuy có người cũ, người mới, cũng có những người đã đi, nhưng vẫn có nhiều huynh đệ tu hành tinh tấn, có được những bước tiến tốt, gặt hái được lợi ích trong khi tu. Đó là điều giúp chúng con càng có thêm niềm tin đối với đường lối Thầy hướng dẫn, cũng như với chánh pháp Phật dạy là thiết thực, chân thật, chứ không phải là những điều chỉ có trên ngôn ngữ văn tự. Từ đó chúng con cũng vững thêm niềm tin để tu hành.
Còn phần công tác, nhất là các công tác gần đây, về việc xây dựng, con thấy trong chúng rất nhiệt tình phụ giúp những phần cần thiết, do đó công việc mau chóng thành tựu như Thầy đã sắp xếp. Nhờ vậy chúng con được bớt những thời giờ nhọc nhằn và trở lại nếp sinh hoạt tu hành trong thiền viện. Đó là những điểm ưu.
Bên cạnh điểm ưu, cũng có những điểm khuyết do tập khí huân tập nhiều đời của chúng con. Nên tuy ai nấy đều có tâm thiết tha tu hành, nhưng cũng không tránh khỏi những điều sơ sót. Chẳng hạn như công tác thì rất nhiệt tình, nhưng cũng vì làm nhiều nên mệt mỏi, thiếu sót thời khóa tu tập. Trong lúc làm việc còn bị nhiều duyên chi phối, cũng dễ mất mình vì những chuyện đâu đâu. Đó là điều chưa được miên mật.
Cũng có những trường hợp, ở lâu ngày rồi xem lờn, nên sanh ra những sơ sót, đó cũng là điều dở, chúng con cần phải chỉnh lại. Còn một điểm nữa là do chúng con không theo dõi kỹ, nên có trường hợp để cho huynh đệ tu hành thành bệnh hoạn, làm động chúng, là lỗi sơ sót của chúng con.
Ngoài ra, do những tập khí cũ nên còn một số điểm dở nhỏ, nhưng kiểm lại thì các huynh đệ ai đến đây đều vì mục đích tu hành, nên những sơ sót, dở tệ xảy ra là do bất giác, không làm chủ được, nên có những lỗi như vậy.
Đối với lục hòa, có một vài huynh đệ còn thành kiến riêng tư ngầm với nhau, chưa giải tỏa hết. Đó cũng là dở, nhưng do tập khí chấp ngã nhiều đời, chứ các huynh đệ cũng biết là dở mà bỏ chưa hết. Kính mong Thầy từ bi nhắc nhở sách tấn cho chúng con tiến tu thêm.
Đó là những điều hay cũng như dở chúng con kính trình lên Thầy.
Ni sư Quản chúng Nội viện ni:
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Ngưỡng bạch Thầy! Kính thưa toàn thể đại chúng và các Phật tử. Con xin vâng lời Thầy phúc trình sự tu học của chúng con trong một năm qua. Phần ưu cũng có mà khuyết cũng không ít, con xin trình lên Thầy.
Về phần ưu, nhìn chung sự tu của chúng con trong một năm qua, các huynh đệ khi tới phiên nhập thất, vào trong thất, cũng rất quyết tâm hạ thủ công phu nên có những kết quả tốt. Sau khi ra thất, các huynh đệ đã trình với Thầy, và con có hỏi thăm, các huynh đệ cũng trình bày, thì con thấy sự tu có tiến. Nhờ đó giúp các huynh đệ có đầy đủ niềm tin, vị nào cũng tin rất sâu, điều này làm con rất mừng. Đó là mặt tu hành tiến bộ. Còn về thời khóa, đầu năm mọi sinh hoạt của đại chúng đều đặn, không ai dám bê trễ lơi lỏng. Đó là những phần ưu con kính trình Thầy.
Bên cạnh điểm ưu đó, con thấy khuyết điểm cũng hơi nhiều. Như năm này, các huynh đệ con rất đa sự, bị các duyên bên ngoài như thầy tổ, cha mẹ của các vị bệnh rồi tịch, thành ra phải đi về. Có huynh đệ về nuôi ba má bệnh, ba má chết, làm đám xong rồi ở nhà khá lâu, có khi tới hai mươi ngày hoặc cả tháng. Con thấy đi lâu như vậy mất thời giờ tu học rất nhiều. Khi đi thế nào cũng lơi lỏng, trở về Thiền viện thời gian đầu, có lẽ tâm cũng chưa yên như trước. Bản thân chúng con cũng có bệnh, nên đi khám bệnh, trị liệu, mỗi lần đi mất ít nhất một tuần lễ hoặc mười ngày. Nên con thấy đó là khuyết điểm không liên tục sinh hoạt đều đặn theo nếp của Thiền viện. Cũng có một vài huynh đệ do vì nghiệp chướng, thân có nhiều bệnh, nên đối với thời khóa tu tập cũng hơi thiếu sót.
Một khuyết điểm nữa là tập khí của các huynh đệ cũng còn nhiều, nên đôi khi lầm lỗi. Có người được nhắc nhở thì cũng vui, có người lại buồn bực, phiền trách lại. Nhất là những người đệ tử, con hết lòng mong muốn làm tròn bổn phận của người thầy, nhưng có khi dạy được, có khi dạy cũng không được. Do đó có lúc con hơi buồn, nếu không nhắc thì thiếu trách nhiệm, còn nhắc nhở lại làm huynh đệ không vui, lòng con cũng kém vui, tức là đã quên mình rồi. Con thấy đó là khuyết điểm của con, con sẽ cố gắng vượt qua.
Kính bạch Thầy, cuối năm nay bên ni tụi con có xây dựng nhà khách. Huynh đệ phải làm phụ một số công tác, vì phần nào chúng con làm phụ được thì đỡ chi phí cho Viện. Có huynh đệ làm rất nhiệt tình, lại có những người rất uể oải, con cũng hơi buồn, vì làm việc chung mà huynh đệ không nhiệt tình đóng góp công sức, nhưng xét lại thì tại vì huynh đệ bệnh, nên con cũng không dám trách.
Đó là những điều mà con thấy được, con xin kính trình lên Thầy liễu tri cho. Ngoài ra Thầy còn thấy chúng con có những lỗi lầm nào khác mà không nhận thấy được, kính xin Thầy từ bi chỉ dạy cho.
Hòa thượng:
Như vậy phần tổng kết bên tăng bên ni đã trình bày rõ. Bây giờ tới phần tôi báo cáo, nghe báo cáo chắc quý vị cũng thấy lạ lắm. Nhưng tôi phải nói rõ cho tất cả tăng ni và Phật tử biết: Năm nay tôi được mấy cái không ngờ, những cái không ngờ đầu tiên của tôi từ năm rồi nó kéo lây tới năm nay. Tôi có tâm dùng người nào, gần người nào thì tôi tin trọn vẹn. Tôi thấy người cộng tác, chung lo mọi việc với mình là người tốt, tin rằng họ không bao giờ có tâm lui sụt, buông bỏ mình một cách bất ngờ. Nhưng không ngờ có những người đã sống gần và rất tốt đối với tôi cũng như đại chúng, mà tới chừng bị một duyên trần lôi kéo, họ ra đi không một lời từ giã. Thấy cảnh đó khiến tôi mất lòng tin những người thân hơi nhiều, đến đỗi tôi phải thốt ra một câu: Bạn là người có tài có đức, bạn rất thật thà, bạn xử sự với tôi rất chân tình nhưng tôi chỉ tin bạn năm mươi phần trăm, còn năm mươi phần trăm để dành phòng khi bất trắc. Tôi nói câu đó, quý vị thấy lòng tôi thế nào? Rất chua xót, vì mình quá tin người. Đó là điều bất ngờ thứ nhất, bất ngờ này hơi đau một chút.
Rồi đến bất ngờ thứ hai. Tôi là người cẩn thận tối đa trên phương diện hướng dẫn, chỉ dạy tu hành. Trước kia, khi tôi chủ xướng tu thiền, những người bạn đồng tu hay nhắc tôi “coi chừng tu thiền điên”. Lời nhắc đó làm tôi hết sức cẩn thận. Vì vậy bao nhiêu năm tự hạ thủ công phu tu, cho tới khi thấy được lợi ích lớn lao của con đường thiền, rồi đem ra dạy, do đã được cảnh báo trước, nên lúc nào tôi cũng cẩn thận, dè dặt, không để cho những điều mình chỉ dạy người khác tu mà bị điên.
Mình tự tu không điên thì phải dạy làm sao những người cùng tu cũng đừng điên, để giữ được uy tín của chính mình và trả lời cho những lời cảnh báo của người khác. Nhưng không ngờ năm nay lại có một chú ở đây điên. Tại sao tôi không ngờ như vậy? Bởi vì chú ấy từ nước ngoài về tha thiết muốn tu, nên tôi cho xuất gia, thọ giới Sa-di, tu tập ở đây một thời gian ngắn. Mới xuất gia chưa hiểu đạo bao nhiêu, nhưng chú ấy thấy quý thầy nhập thất ra, người nào cũng có tiến bộ, cũng hoan hỷ, chú rất thích. Thời gian ở lại đây không lâu rồi phải về trụ xứ, chú tha thiết xin tôi cho chú nhập thất một lần cho biết, để khi về bên kia, chú tiếp tục ứng dụng tu. Vì lòng thương người không có cơ duyên ở với mình lâu, nên tôi cho phép. Khi cho nhập thất tôi cũng ngại lắm, tôi nói rằng: “Chú mới quá mà xin nhập thất, e có những điều bất ổn, vì vậy khi nào có gì lạ phải báo cho tôi hay liền.” Nhưng rất tiếc, chú mới vô thất vài hôm, tôi có việc đi vắng, ở nhà chú tu thế nào không biết, tôi về thì nghe nói chú điên. Thành ra tôi mang tiếng dạy người tu thiền bị điên. Từ đó có tiếng đàm tiếu ở đây dạy tu thiền bị điên. Đó là điều tôi không ngờ. Nhưng tôi biết cái điên của chú ấy là vì nhất thời dụng công thái quá, không biết dung hòa điều chế, nên phát loạn vậy thôi. Rất tiếc lúc đó tôi không ở nhà, khi tôi về thì nó đã loạn rồi. Tôi có nói cho gia đình chú biết để họ an tâm. Cứ về cho chú an dưỡng, chích thuốc bồi bổ cho chú một thời gian là hết chứ không có chuyện gì, đừng sợ. Tôi qua Mỹ kỳ này chú đến thăm tôi, lúc này chú khỏe hoàn toàn, làm việc như trước, không còn điên nữa. Vậy mới biết, dụng công thái quá mà không nắm vững đường lối tu, nên xảy ra như vậy. Đó cũng là một điều bất ngờ cho tôi.
Một cái không ngờ kế nữa, khi sang Mỹ, tôi nghĩ mình qua bên đó dự lễ khánh thành, rồi giảng Phật pháp cho người nghe, không có gì đáng ngại. Đâu ngờ khi đi giảng bị người ta la rùm lên, chỉ trích tôi thế này thế kia, rồi báo chí, đài phát thanh chống đối kịch liệt, vang dậy cả nước Mỹ. Tôi cũng không ngờ có chuyện như thế xảy ra mà vẫn xảy ra. Đó là ba điều bất ngờ không được vui của tôi.
Bây giờ nói chuyện vui bất ngờ, nhưng vui bất ngờ này không phải “không ngờ” giống như Lục Tổ đâu. Cái không ngờ này khác một chút. Tôi lâu nay chủ trương mình tu và hướng dẫn tăng ni, Phật tử ở Việt Nam cùng tu, nên tôi không có tham vọng học ngoại ngữ. Hồi còn ở Ấn Quang, thầy Nhất Hạnh, thầy Huyền Vi dự định đi ngoại quốc, nên mời giáo sư về dạy tiếng Anh, rồi rủ tôi cùng học cho vui. Tôi nói: “Quý Thầy muốn giáo hóa người ngoại quốc thì cứ học, còn tôi thì thôi không học thêm nữa, để thời giờ tôi đọc tạng Kinh.” Vậy nên tôi mù tịt tiếng ngoại quốc, không biết gì hết.
Tôi không nghĩ mình sẽ làm Phật sự gì ở nước ngoài. Tôi chỉ lo học, lo tu rồi hướng dẫn tăng ni, Phật tử trong nước, được bao nhiêu mừng bấy nhiêu, chứ không có tham vọng gì. Nhưng không ngờ năm nay, Phật tử ở Texas lập một thiền viện, rồi phát tâm cúng dường luôn cho tôi và mời tôi qua khánh thành. Tôi nghĩ Phật tử nhiệt tâm lập thiền viện, bây giờ mọi thứ đã sẵn sàng, mời tôi qua khánh thành, để giúp cho những người thích tu thiền có chỗ tu tập thì mình đâu thể từ chối được. Như vậy, bỗng nhiên lại có một thiền viện do tôi hướng dẫn ở nước ngoài, đó là điều tôi không ngờ.
Gần đây thêm một điều không ngờ nữa. Quý vị biết điều gì không? Không ngờ Thông Giác tịch sớm quá, giao lại ngôi chùa Sùng Phúc, tôi lại thêm trách nhiệm điều hành. Bây giờ tôi phải ra Bắc sắp đặt việc chùa ngoài đó. Tôi đâu có trù tính mà bây giờ không ngờ lại có chuyện đó. Đó là điều không ngờ thứ hai.
Điều không ngờ thứ ba là lâu nay tôi tự thấy mình quê mùa dốt nát, không bao giờ nghĩ mình sẽ lên đài phát thanh, sẽ có mặt trên mạng internet, mà năm nay không ngờ tôi bị lên đài phát thanh, bị lên internet. Những điều mình không bao giờ tưởng tượng có thể xảy ra, cũng không nghĩ tới mà lại có. Như thế mới thấy, tất cả những sự việc xảy ra, tốt có xấu có, đều là điều mình không tính, không lường trước được.
Tôi có lòng tin vững chắc những điều hay, dở, tốt, xấu đến với mình đều do chủng duyên, do nghiệp mình đã tạo, cho nên cái gì tới tôi sẵn sàng chấp nhận. Xấu thì buồn một chút rồi cũng qua, tốt thì cũng vui một chút rồi thôi, tôi gắng làm tròn bổn phận của mình, mọi việc đều tùy duyên. Nhờ lòng tự tin đó mà tôi qua được những cơn sóng gió sắp chìm thuyền, mà trái lại không chìm, vẫn được bình an, không có gì đáng ngại.
Nếu nói theo thế gian, quý vị nghĩ tuổi tôi năm rồi tốt hay xấu? Nếu người ta coi tuổi tôi năm rồi chắc xấu lắm, cho nên mới xảy ra chuyện này chuyện nọ. Nhưng thế gian có hai mặt, bên cạnh cái tốt có cái xấu, bên cạnh cái xấu cũng có cái tốt, không chỉ một bề vui hay buồn. Thôi thì việc gì đến mình cứ cười, chấp nhận, sao cũng được hết, miễn là dở hay gì đến cũng không làm mình động tâm. Nếu chưa được hoàn toàn tự tại, thì có động tâm một lúc rồi thôi, chứ đừng nhớ mãi, buồn hoài hay mừng hoài là không tốt.
Như vậy, tôi nói để tăng ni có kinh nghiệm trên đường tu, trên đường làm Phật sự, không phải chúng ta muốn điều gì là được điều ấy. Có khi chúng ta hết sức tha thiết, muốn làm cho tốt, nhưng gặp duyên không thuận cũng có thể trở ngại, việc làm bị thất bại. Đôi lúc chúng ta không muốn, nhưng vì túc duyên đời trước đưa đẩy rồi chúng ta cũng phải gặp, cũng phải làm. Như vậy, cái xấu đến chúng ta đừng nản lòng, được cái hay chúng ta cũng đừng tự hào, tự mãn, nhất là đừng có tâm tự kiêu, ngạo mạn, tật đó không tốt đâu. Có vậy Phật sự chúng ta làm mới được vuông tròn.
Đừng nghĩ Thầy có phước, làm việc gì cũng đủ duyên, có người giúp đỡ, làm đâu được đó. Rồi khi quý vị làm có trục trặc, trở ngại lại thấy tại mình vô phước nên làm không được gì, liền chán. Không phải người đi trước hoàn toàn có phước hết đâu, cũng có những trở ngại. Chính hình ảnh đức Phật làm tôi rất vững lòng tin. Phật có đủ phước đức, phước của Phật vô lượng vô biên mà ngài có bị người ta chửi không? Phật vẫn bị người ta chửi. Phật có phước đức nhiều, ngài độ đệ tử chắc dễ dàng, người nào tu cũng thành thánh hết, mà đệ tử Phật có phải thánh hết không? Hay bên tăng có lục quần Tỳ-kheo, bên ni cũng có những người tệ như vậy. Người mà chúng ta nghĩ không bao giờ có thái độ chống đối Phật là Đề-bà-đạt-đa, ngoài đời ông là em chú bác của Phật, đi tu cũng chứng được một số thần thông, chứ đâu phải chưa được gì, vậy mà có phản Phật không? Cũng phản Phật như thường, muốn hại Phật, muốn làm giáo chủ. Những điều đó an ủi chúng ta rất nhiều. Phật phước đức vô lượng, mà trên đường giáo hóa chúng sanh, ngài cũng gặp đủ những duyên thuận và nghịch, chứ không phải một chiều thuận thôi. Ngày nay làm Phật sự có những cái hay, cái dở, nhìn gương đức Phật chúng ta thấy được an ủi và tự nhủ “Phật cũng gặp khó khăn huống gì con, con bị chuyện như thế là thường thôi”, nhờ vậy ta vui vẻ chấp nhận.
Quý vị thấy, nhờ học gương của đức Phật mà chúng ta có được lập trường, quyết tâm tiến mãi không dừng. Nếu không nhờ như vậy, chắc dễ thối tâm, bởi nghĩ mình thiếu duyên thiếu phước. Đa số người tu có mặc cảm đó, làm việc gì bị trở ngại bèn than: Mình thiếu duyên thiếu phước nên làm Phật sự không được, đành rút lui thôi. Đừng bao giờ nghĩ như vậy. Nếu gặp trở ngại thì phải ráng cố gắng hết sức mình, tới đâu hay tới đó, cuối cùng không được thì mới thôi, chứ đừng đổ thừa thiếu duyên thiếu phước rồi không làm gì, đó là lối nghĩ tiêu cực yếm thế, nên bỏ. Đó là nói về kinh nghiệm hay dở của bản thân tôi trong năm rồi.
Còn một điều rất không ngờ mà hồi nãy tôi chưa dám kể, là từ trước đến giờ trong lòng tôi có những quan niệm, những suy nghĩ khác hơn những người cùng tu, cùng học đương thời, khiến nhiều người có ý không bằng lòng mà tôi không có cơ hội nói. Bây giờ sẵn dịp bất ngờ được phóng viên phỏng vấn, tôi nói hết ra, chứ nếu không ai hỏi tôi đâu có cơ hội thố lộ. Chẳng lẽ mình viết bài đăng báo hay xin lên đài phát thanh nói hết những gì trong lòng. Thành ra tôi ôm ấp những điều đó trong lòng bấy lâu, bây giờ có người hỏi nên tôi nói ra, cho mọi người thông cảm, khỏe quá chừng!
Chỗ này tôi cũng xin lập lại cho tăng ni nhớ thật rõ. Mỗi người có mỗi cái nhìn khác nhau, có những người nghĩ lo cho đạo là tổ chức phải khéo, tập thể phải đông đúc, làm Phật sự tốt, đó là giữ được đạo. Có người nghĩ lo cho đạo là phải làm sao có hệ thống từ trên xuống dưới để nắm chắc các tín đồ, họ cần gì muốn gì mình đáp ứng, hoặc mình cần gì muốn gì thì chỉ bảo, họ phải răm rắp nghe theo. Riêng tôi thì không phải vậy, tôi nghĩ Phật pháp thường còn không phải ở cách tổ chức hay, hoặc ở cấp lãnh đạo có uy quyền, mà là do có người tu thấy được đạo, đạt được đạo. Người tu thấy đạo, đạt đạo thì Phật pháp còn. Từ khi đi tu cho đến nay, tôi vẫn giữ quan điểm này không thay đổi.
Vì sao tôi có cái nhìn như vậy? Thời đức Phật còn tại thế, khi ngài ngộ đạo thì trong toàn cõi Ấn Độ có ai biết đạo Phật là gì. Mà chính ngài sau khi ngộ đạo đi truyền bá, rồi từ từ người ta mới hiểu đạo Phật. Như vậy đạo Phật có gốc từ Phật ngộ đạo. Phật là người đầu tiên đem đạo truyền bá, rồi người ta mới biết và theo đạo Phật. Phật truyền bá là truyền chỗ ngài thấy, ngài ngộ, mọi người mới được biết và tu theo. Sau này chư tổ cũng vậy, những vị tổ Ấn Độ, Trung Hoa làm được Phật sự lớn lao, có vị nào không ngộ đạo đâu. Gần chúng ta nhất, những vị tu thiền là ngài Hư Vân, ngài Lai Quả, người không tu thiền mà chuyên giảng giáo lý như ngài Thái Hư. Về ngài Thái Hư, tôi đọc trong sử thấy ngài quyết tâm đóng cửa ba tháng đọc hết Đại tạng kinh. Trong ba tháng ngài chuyên chú đọc, một hôm bừng sáng lên, thấy rõ hết ý của kinh, từ đó ngài mới đem ra giảng dạy. Như vậy người nào tu, được mọi người tin tưởng, truyền bá có nhiều người nương theo tu học, đều có sở chứng sở đắc, cạn hoặc sâu, không có người nào không thấu đáo mà dám chỉ dẫn người. Tóm lại, từ đức Phật đến chư tổ đều nhờ đạt đạo mà Phật pháp truyền đến bây giờ.
Chúng ta xem thời cận đại những vị tổ khai sơn các chùa tổ ở ngoài Huế, có vị nào là người tầm thường, không thấy đạo mà lãnh đạo được một hệ phái không? Không có, người nào cũng ngộ đạo, ví dụ như tổ Liễu Quán, tổ Nguyên Thiều… Ở ngoài Bắc cũng thế, chư vị đã ngộ đạo rồi mới lập nên một hệ phái. Như vậy, chính khi ngộ đạo rồi mới truyền bá Phật pháp được lâu dài, chứ không phải cách tổ chức hay giỏi.
Ý thức được điều đó nên tôi thường lơ là tất cả những khâu tổ chức. Tôi chỉ muốn dồn hết tâm lực giúp tăng ni tu cho sáng đạo, để duy trì Phật pháp. Nếu tăng ni tu không ra gì, dù tôi có tổ chức hay, cũng không làm gì lợi ích cho đạo. Bao nhiêu tâm tư, sức lực của tôi chỉ dồn vào mục đích duy nhất này, nên quý vị tới đây tu thấy tôi có hơi khắt khe, phải không? Tăng ni không được đi chơi, vô thiền viện rồi như ở tù lỏng. Tại sao lại khó vậy? Thường ở các nơi, tăng ni đi học, cứ ít tháng cho đi thăm viếng chỗ này chỗ kia, rất vui vẻ. Còn ở đây tôi không cho quý vị đi nhiều mà bắt phải ở yên, có phải tôi khó khăn hay vì lý do gì mà tôi làm vậy? Vì tôi thấy, thời gian đi làm Phật sự, từ năm 1956 mãi tới năm 1968, tôi đi giảng nhiều nơi ở miền Nam, làm Phật sự nhiều mà cảm thấy không được vui, vì đối với đạo tôi chưa thấy rõ, chưa nắm chắc. Bởi vậy có một lần giảng kinh Kim Cang ở chùa Dược Sư, tôi dám nói một câu: “Kinh này chắc chúng ta để trên trang thờ chứ không bao giờ ứng dụng được.” Tại sao? Vì trong kinh có câu “muốn hàng phục tâm phải độ tất cả chúng sanh, nào noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng… vào Vô dư Niết-bàn”, mà mình không biết Niết-bàn ở đâu, làm sao độ hết chúng sanh vô Niết-bàn! Quý vị thấy khổ chưa? Thành ra lời kinh nói vậy mà mình không biết phải thực hành thế nào, hàng phục tâm không được thì làm sao tu, do đó tôi nói kinh Đại thừa chỉ để trên trang thờ.
Đó là những lời kinh ngày xưa mình học theo chữ nghĩa, chứ không hiểu hết, nên giảng tới đó liền bí, không giải quyết nổi. Tôi giảng, tôi dạy mà chính tôi không tin mình tu được, huống là người nghe. Vì vậy nên cần có nhiều năm tháng chuyên tu mới thấu đáo được.
Năm 1968, tôi xin nghỉ dạy ở Phật học viện Huệ Nghiêm và Vạn Hạnh để chuyên tu. Khi tu rồi, tôi mới phá tan hết những thắc mắc đó, có đủ lòng tin lời Phật dạy trong kinh điển. Đủ lòng tin rồi tôi mới thấy đạo Phật là vi diệu. Lời Phật dạy là vàng ngọc chứ không phải tầm thường nhưng vì mình còn phàm tục, chưa thấu hiểu nên sanh nghi ngờ. Từ đó tới nay, càng tu tôi càng thấy rõ đạo lý, càng tu càng vui lên, chứ như ngày xưa tôi xấu hổ lắm.
Lúc đi giảng dưới Rạch Giá, tôi với thầy Huyền Vi giảng cuốn Phật Học Phổ Thông Khóa II, giảng rồi đi về chùa Tam Bảo, có mấy Phật tử theo sau. Tôi với thầy Huyền Vi ngồi nơi bàn uống nước, có một Phật tử mặc áo tràng đàng hoàng, quỳ ở trước, tha thiết nói: “Bạch hai Thầy, hai Thầy giảng tụi con nghe thấy hay, nhưng con xin phép được hỏi, hai Thầy đã chứng được bậc nào trong Tứ thiền, Bát định rồi?” Nghe câu hỏi đó tôi chới với nên nín thinh. Thầy Huyền Vi trả lời: “Người tu chứng như uống nước, nóng lạnh tự biết, làm sao nói cho đạo hữu được.” Đó là nhờ thầy Huyền Vi lanh lợi cứu bồ, nhưng tôi cũng lắc đầu, âm thầm cảm thấy xấu hổ. Vì trong Khóa II dạy về Tứ quả Thanh văn, Tứ thiền, rồi Bát định… Khi giảng, nói thì hay, mục nào cũng cắt nghĩa được, vì vậy ông Phật tử tưởng quý thầy chứng được định nào rồi, nên tha thiết đến thưa hỏi. Phải trả lời sao đây? Trả lời không được, tôi nghĩ như vậy mình giống cái máy phát thanh, thâu vô cái gì thì phát ra cái đó, chứ thật bản thân mình không có gì hết. Do đó tôi quyết tâm bỏ tất cả để có thì giờ tu. Nếu không tu được thì không thể làm Phật sự được nữa. Đó cũng là một duyên cớ tốt, nhờ người ta hỏi mà mình phải xấu hổ để mình nỗ lực tu.
Bây giờ giả sử những vị đã học xong chương trình Phật học, Cao đẳng hoặc Đại học, đi giảng nói thao thao, nhưng khi có người hỏi: “Thế nào là Sơ thiền?”, trả lời: “Sơ thiền, ly sanh hỷ lạc”, rồi giảng một hồi tràng giang, hài lòng lắm nhưng thực tế đã chứng được Sơ thiền chưa? Chưa được. Đó chỉ là dùng ngôn ngữ lòe người thôi chứ thực tế mình chưa đến được, nắm được, có nói thì cũng là nói suông. Đó là điều tôi tự thấy xấu hổ, không chấp nhận như vậy, nên tôi quyết tâm tu.
Như vậy tôi là con người kỳ khôi, làm cái gì không biết thì không chịu nổi, phải mài mò, tìm kiếm làm sao nắm vững rồi tôi mới đủ lòng tin. Chứ còn nắm chưa vững thì không thể tin, vì thế tôi phải cố gắng làm cho được, tìm cho ra manh mối. Tuy lúc đi giảng nơi này nơi kia, tôi với thầy Huyền Vi cũng được liệt vào hạng giảng sư đáng kể. Đi dạy Đại học Vạn Hạnh, Huệ Nghiêm và các trường Trung học, mỗi tháng cũng được hưởng lương bổng kha khá. Nhưng tôi thấy không thể làm việc đó được nữa, mà phải làm sao tu hành cho được.
Cũng có nhiều người nói sao tôi không huấn luyện cho tăng ni ở đây biết giảng khá khá, để đi giảng chỗ này chỗ kia. Đó là nhu cầu cần thiết cho mọi người, các nơi đòi hỏi cũng nhiều, vậy mà tôi chỉ lo dạy tu. Quan niệm của tôi, người nào tu được, tu tiến tới đâu tôi thấy tin được, có người mời giảng, tôi đẩy ra cho giảng đại. Tại sao tôi lại dám làm vậy? Tôi biết những vị đó không được đào tạo kỹ về phương pháp giảng cho hay, cách tổ chức giỏi, nhưng tôi tin người đó thâm nhập, thông hiểu giáo lý, không nói sai, đối với tôi là đủ rồi, chứ không cần nói hay để thu hút Phật tử.
Nhiều khi giảng hấp dẫn nhưng nói trên trời trên mây, không thể ứng dụng thực tế. Học nhiều mà không biết cách thực hành thì có lợi ích gì! Tôi chỉ đòi hỏi cái thật tu. Vì vậy những người tôi cho đi giảng dạy, tôi tin họ không nói chuyện bên Tàu bên Tây cho vui tai, mà họ nói thật những điều họ đã hiểu đã tu.
Như vậy thì dù nói dở mà có giá trị, lời dạy không sai lầm, còn hơn nói hay, nói trên trời trên mây, rốt cuộc là nói suông. Người thầy nói được làm không được, học trò cũng làm không được, như vậy nói chơi chứ có lợi gì. Cho nên ở đây tôi nói rõ chủ trương của tôi cho tăng ni hiểu: Tôi không muốn quý vị làm những giảng sư hay, những thầy cô giáo giỏi, mà tôi muốn quý vị tu thấy được đạo lý đúng như thật, rồi tùy duyên mà hướng dẫn người. Nói ngọng nói lịu cũng không sao, miễn nói đúng đạo lý là được, nói hay nói khéo mà không hợp lẽ đạo, có lợi ích gì.
Nhiều vị không hiểu nên trách tôi lơ là quá, cứ cử người này người kia đi giảng dạy mà không chỉ dạy cách diễn giảng sao cho hấp dẫn, lôi kéo quần chúng, cứ xô đại xuống sông, mỗi người tự tìm cách bơi. Đây cũng giống thủ thuật trong nhà thiền “cha dạy con ăn trộm”. Người cha muốn dạy con đi ăn trộm mà không chỉ dẫn phải làm gì trước những tình huống bất trắc xảy ra. Đến nhà người, cứ đẩy con vô rương khóa lại, rồi còn la to báo động cho chủ nhà biết có trộm. Người con đang trong rương phải tự tìm cách thoát thân, ra được rồi thì đã thành nghề, chứ nếu dạy kỹ mà khi đối diện thực tế trong lòng trống rỗng, không biết cách tháo gỡ thì cũng không làm được gì.
Cho nên hiểu được chủ trương đường lối của tôi thì tăng ni ráng nghiền ngẫm tu hành. Bởi vì hết năm nay, chỉ còn hai năm nữa thôi, tôi sẽ nghỉ dạy. Quý vị cố gắng tu học, làm sao có đủ lòng tin sắt đá với đạo, ra giảng dạy không sợ không lo, không có gì nghi ngờ. Như vậy là tốt lắm rồi.
Phần tôi tự kiểm điểm đã xong rồi, giờ trở lại phần của tăng ni. Qua hai phần báo cáo của tăng ni, tôi đã thấy rõ những ưu khuyết của quý vị. Tôi xin nhắc tất cả, chúng ta chưa ai là thánh, nếu là thánh thì chắc khỏi ngồi đây học, ngồi đây tu. Còn tu học thì biết chúng ta là phàm tăng phàm ni, mà còn là phàm tức còn cái dở, chứ không thể nào hoàn toàn hay. Nghe quý vị báo cáo tăng ni có những phần ưu, những phần khuyết, tôi thừa nhận đó là một lẽ thật. Bởi vì chúng ta còn tâm chúng sanh, nên có những điểm rất tốt khi học theo gương người xưa. Nhưng cũng có những tật xấu dở vì nghiệp chướng tích lũy từ trước, bây giờ tu muốn bỏ mà bỏ cũng chưa được. Điều đó nhìn trong đại chúng tôi thấy rõ lắm.
Có những người sáng bị rầy, chiều bị rầy, tối bị rầy, ba buổi đều bị rầy mà cũng không sửa đổi được. Bây giờ nói làm sao, quăng đi đâu? Tôi nghĩ ngày xưa ngài Châu-lợi-bàn-đặc rất chậm lụt, học một bài kệ cũng không thuộc, học câu trước quên câu sau, nhưng tới chừng thức tỉnh, tu cũng chứng A-la-hán. Người ngày nay không đến đỗi chậm như vậy, thôi thì cũng phải thương mà dung, rồi từ từ dạy dỗ.
Tôi khuyên tất cả tăng ni mấy điểm. Điểm thứ nhất: Chúng ta biết được cái dở thì nên quyết tâm trừ dẹp, dù chưa sạch hết liền, nhưng phải quyết tâm bỏ chứ đừng lơ là. Nghe huynh đệ chỉ tật xấu của mình mà cứ để nguyên vậy thì không bao giờ tiến. Biết đó là xấu, được chỉ dạy thì phải cố gắng dẹp bỏ. Dù cho nó sâu dày tới đâu, nếu nổ lực rồi cũng có thể bỏ được. Chứ tìm cách bao che tật xấu của mình là cái cớ để lui sụt. Tăng ni phải hiểu cho thật kỹ: Ai chỉ lỗi cho mình thì nên mang ơn chứ đừng giận. Ai nói cái dở của mình, tuy cái dở đó chưa đến nỗi tệ nhưng cần phải biết để ngừa đón, nên phải ghi nhận. Được vậy chắc chắn quý vị sẽ tiến nhanh.
Điểm thứ hai: Quý vị thấy ở thế gian, trong gia đình cha mẹ, con cái năm ba người mà có hòa hết không? Nhiều khi vì tranh giành quyền lợi còn muốn giết hại nhau, huống là chư tăng chư ni mỗi bên năm bảy chục người, kẻ phương này, người xứ kia tụ họp về. Mỗi người hấp thu sự giáo dục khác nhau, do đó mới có những tâm niệm, cử chỉ, hành động khác nhau. Ở trong chúng, người này khác người kia nên có sự bất hòa, không thể tránh khỏi. Muốn cho mọi người sống chung với nhau mà không bị trở ngại, không bị những cái chướng làm buồn giận thì phải khéo dung hòa.
Dung hòa là sao? Chữ dung hòa tôi muốn nói ở đây là phải điều hòa những thứ mình trái với người khác hoặc người khác trái với mình. Người kia có mười điểm trái ngược với mình, mình cũng có mười điểm không giống họ, muốn cho vui hòa mỗi bên bớt xuống năm điểm, thì có thể điều hòa với nhau được. Chứ ai cũng muốn giữ mười điểm khác biệt của mình thì không bao giờ hòa với nhau được.
Như tôi thường ví dụ: Nước với lửa chống nhau, lửa cháy mà lấy nước tạt lên thì tắt liền, đem lửa đun nước, sôi lên một lát thì bay hơi hết. Hai thứ không thể hòa chung nhau, nhưng giờ chúng ta muốn có cơm ăn thì phải làm sao? Phải có nước có lửa. Có nước, có lửa mà muốn có cơm ăn thì phải điều hòa chừng mực. Nước tới mức nào, lửa tới độ nào để chín cơm, mình điều hòa được như vậy thì nước lửa là hữu ích. Chứ đòi hỏi nước cũng như lửa, lửa cũng như nước sao được. Nếu lửa mát như nước thì còn nấu được gì. Còn nếu nước mà nóng như lửa thì làm sao vo gạo nấu cơm được. Cho nên cần có cái nóng cái lạnh, chúng ta khéo điều hòa được cái nóng lạnh đó là thành công.
Sống trong chúng cũng vậy, năm bảy chục người không ai giống ai, mỗi người khéo bớt đi cái khác lạ của mình một chút. Ví dụ có người gọi lại nói “huynh có tật hay nói lớn”, thì mình không nên nói “tôi quen tật đó rồi, không bỏ được”, mà phải nói “ờ phải, nói lớn không tốt, tôi cũng đang tập bớt lại, nói nhỏ thôi”.
Nếu một huynh nào đó làm công việc thì rất siêng năng, làm quên thân, mà bảo ngồi thiền lại làm biếng thì phải làm sao để điều? Khi quá nghiêng về công việc thì đã dồn hết sức trong đó rồi, đâu còn sức để ngồi thiền nữa. Cho nên phải giảm bớt việc làm để điều qua việc tu, chứ đừng cực đoan, thấy mình làm được, ai nấy đều khen, rồi cắm đầu làm hoài thì hết tu. Không tu được thì một thời gian sau cảm thấy thua thiệt, huynh này tu tiến, huynh kia tu tiến mà mình tu không ra gì, rồi thối tâm. Đó cũng là một sự thối thất. Thế nên phải luôn luôn biết điều hòa, đừng để một việc gì quá trớn, chính cái quá trớn làm hỏng cả cuộc đời mình, quý vị phải nhớ rõ.
Như vậy trên đường tu chúng ta tự kìm chế những gì quá trớn, quý vị tự kiểm xem mình có cái gì quá trớn? Cái quá trớn chính là sở thích riêng của mỗi người: có người thích làm, người thích đọc sách, người thích ngồi tu, người thích nấu ăn,… đủ thứ thích hết. Vì vậy phải điều sở thích đó trở lại quân bình thì việc làm mới được đầy đủ trọn vẹn, huynh đệ cũng không phàn nàn, không oán trách, chứ cứ theo sở thích riêng của mình thì không thể giữ lục hòa, sống chung với nhau được.
Như vậy hòa chính là phải khéo điều. Mình giảm bớt một phần cực đoan của mình, người khác cũng giảm bớt một phần của họ, mỗi bên đều giảm bớt sẽ dẫn tới chỗ dung hòa với nhau. Từ dung hòa mới đi tới lục hòa được, chứ nếu không biết dung hòa thì không thể nào có lục hòa. Vì vậy tăng ni phải nhìn lại bản thân, nhìn lại huynh đệ, rồi nhắc nhở nhau, đừng có cái cực đoan. Tập kìm chế sao cho cuộc sống quân bình, tu học và công tác đều đặn, không có cái cực đoan bên này bên kia.
Cho tới cách nói nín cũng vậy, có người nói líu lo nghe không hết, có người thì im lìm cả ngày, không nói câu nào. Đó cũng là bệnh cực đoan. Mình phải tập nói vừa phải, khi nào cần thì nói, không cần thì nín, không phải chuyện gì cũng nói, chuyện bên Tây bên Tàu cũng đem nói cho người khác nghe. Nói mãi nghe mệt lỗ tai, người ta cũng chán. Nên hãy hạn chế bớt, nói những gì cần thiết, đừng nói lời vô ích. Còn người cứ làm thinh hoài thì người khác cũng không hiểu như thế nào, họ sẽ đoán anh đó, chị đó có chuyện gì buồn riêng tư, rồi họ nghĩ không hay về mình. Vì vậy cũng phải nói qua lại cho huynh đệ thông cảm, hiểu mình, biết mình, chứ đừng có chỉ một bề im thin thít, cả ngày không nói, cũng không muốn cười. Không cười lâu ngày sẽ sanh bệnh hoạn. Nên phải nói, cười vui vẻ với nhau, làm thinh hoài cũng là bệnh, không phải tốt.
Vậy tăng ni phải điều hòa lại, mỗi người ai cũng có tật, ai cũng đều có sở thích riêng, không ai giống ai, biết điều hòa thì cuộc sống trong chúng mới được tốt đẹp. Không điều được thì khó sống chung với nhau. Nếu ai cũng làm theo sở thích riêng thì sẽ thiếu sự thông cảm nhau, không thể hợp tác làm được việc gì, kể cả tu cũng khó thành công.
Đó là tôi nói về tăng ni, còn cư sĩ thì tôi nói ít câu thôi. Việc điều hòa này chắc cư sĩ cũng phải học nữa. Tôi thấy Phật tử ai cũng tốt, cũng biết tu nhưng có người nóng tính, có người ưa hờn, có người hay nói xiên nói xỏ. Vậy nên quý vị cũng phải khéo điều lại, mình nóng thì phải ráng điều phục, chứ đừng nói “tật tôi nóng lắm, đừng chọc tôi”. Nói vậy là bảo vệ tật nóng của mình. Trường hợp khác, khi thấy người nào đó có lỗi, không chịu chỉ ngay mà nói xiên nói xéo, có người góp ý thì lại biện hộ rằng “nói thẳng thì sợ họ buồn”. Nhưng nói xiên nói xỏ họ có buồn không? Chắc họ cũng không vui được. Cho nên mình phải tập tính thật thà, đừng xiên xỏ ai, việc thế nào thì nói thế ấy, trong huynh đệ làm được vậy thì gần gũi nhau, chung lo Phật sự được tốt đẹp hơn. Đó là tôi nói đơn giản cho quý vị biết để có một cuộc sống vui hòa, hợp đạo lý.
Nãy giờ tôi nói những điều hay dở của tôi, của tăng ni trong năm rồi. Bây giờ bắt đầu nói chuyện rất thiết yếu, để nhắc cho tăng ni nắm vững đường lối tu.
Như tôi đã nói nhiều lần, hồi xưa lúc tôi còn ở chùa Ấn Quang, tạng Kinh ở chùa Lưỡng Xuyên được đưa về để trong thư viện. Thấy có tạng Kinh tôi thích lắm nên xin với hai Hòa thượng Giám đốc và Phó Giám đốc cho tôi quản lý thư viện. Lúc đó tôi với thầy Nhất Hạnh đều rất thích tu thiền, nhưng mỗi người mày mò tìm kiếm mỗi cách. Khi bắt đầu tu thiền, tôi chỉ theo Lục Diệu Pháp Môn của ngài Trí Khải đại sư dạy. Nhưng tôi vẫn tha thiết muốn tìm hiểu Thiền tông, nên ráng đọc mấy cuốn sách thiền. Càng đọc tôi càng buồn, mình đang tìm một pháp tu mà các vị Tổ nói trên trời trên mây, mình không hiểu ý nghĩa thì làm sao tu được. Tôi đọc rất nhiều lần rồi đâm ra chán nản. Ví dụ như trường hợp tổ Hoàng Bá, ngài Lâm Tế mới hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?”, Tổ liền đánh, như vậy làm sao mình hiểu. Do đó tôi thấy cách dạy của các ngài sao kỳ quặc quá, khó hiểu khó nhận. Sử của chư tổ tôi cũng chịu khó đọc, như bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục gồm mấy mươi quyển, tôi đọc thật kỹ mấy lần. Đọc rồi lắc đầu, không sao hiểu được. Sau tới Sử 33 Vị Tổ, tôi cũng đọc kỹ, rồi cũng lắc đầu, không biết làm sao nếm được vị của nó.
Sau này nhập thất, tôi cố gắng tu, khi có được chút tỉnh lực rồi, mới đem Sử 33 Vị Tổ ra đọc. Tôi đọc đến vị tổ đầu tiên ở Trung Quốc là tổ Huệ Khả. Ngày trước, tôi đọc phần đó tới mấy lần, tổ Huệ Khả thưa tổ Bồ-đề-đạt-ma: “Bạch Hòa thượng! Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Câu đó rất hợp với tâm trạng tôi, mình cũng đang tìm pháp an tâm, ngồi thiền mà tâm bất an hoài, bây giờ xin học pháp an tâm thì thích hợp đáo để. Nhưng tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho!”, thì tôi cụt hứng liền, không biết làm sao mà đem ra. Lúc đó cứ nghĩ: “Làm sao đem cái tâm ra được để mà an. Nếu không đem tâm ra được thì Tổ làm sao an tâm cho mình, nếu tâm mình không an thì làm sao tu!” Lúc đó đọc nhiều lần mà vẫn không thấm. Sau nhờ nhập thất có công phu, nên đọc tới đó tôi thấy liền: Nói “đem tâm ra ta an cho” là bảo mình phải tìm coi tâm bất an ở đâu. Tìm đem ra được ngài sẽ an cho. Đó là câu nói lừa mình mà mình không ngờ. Quay lại tìm cái tâm bất an đó coi nó ở đâu, tìm thí nó liền mất. Tìm không thấy, tổ Huệ Khả rất thật thà thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.” Câu nói rất thật, bởi vì tìm lại thì nó mất tiêu rồi, đâu có thấy. Tổ Đạt-ma chỉ thẳng: “Ta an tâm cho ngươi rồi.” Một câu hết sức nhẹ nhưng từ đó tổ Huệ Khả liền biết đường vào. Chúng ta đọc hoài mà không biết đường vào, là vì kẹt ở câu Tổ bảo đem tâm ra, cứ suy nghĩ không biết tâm ở đâu mà đem ra, chứ không chịu xoay lại tìm.
Đến khi tổ Huệ Khả nói “con tìm tâm không được”. Tổ Đạt-ma liền bảo “ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Bây giờ tôi mới thấy rõ ràng tâm bất an của mình là vọng tưởng điên đảo chạy tứ tung. Mà vọng tưởng điên đảo đó ai cũng ngỡ là thật, cho là tâm mình. Vì lầm vọng tưởng điên đảo là thật, là tâm mình nên bị nó dẫn chạy lung tung, rồi nói bất an. Khi ngài Huệ Khả xin Tổ chỉ pháp an tâm, Tổ lại không giải thích, không nói trắng ra, mà bảo “đem tâm ra ta an cho”, khi tìm lại tâm vọng tưởng chạy nhảy đó xem nó ở đâu thì nó mất tăm mất dạng. Lúc đó tâm không còn chạy nhảy nữa, tức là an. Ngay nơi đó tôi thấy đường vào của tổ Huệ Khả. Mới thấy cái tài của tổ Bồ-đề-đạt-ma – không dạy điều gì hết mà dạy rất kỹ. Thật là hay!
Nhà thiền dạy ta luôn nhớ “phản quan tự kỷ”, tức là “nhìn lại chính mình”. Cái tâm bất an ở chỗ nào tìm cho ra. Phản quan là soi sáng lại chình cái tâm niệm lăng xăng đó, thì nó tự mất. Chỗ tổ Đạt-ma chỉ cho tổ Huệ Khả là phản quan lại để thấy niệm không thật, tự nó tiêu tan, đó là an tâm.
Còn pháp niệm Phật, dùng một câu niệm cho tới nhất niệm, không nghĩ gì hết, chỉ còn câu niệm Phật, như vậy xong chưa? Trong pháp tu Tịnh độ: Niệm đến vô niệm, vô niệm mới nhất tâm. Còn một niệm là nhất niệm chứ chưa phải nhất tâm. Trong kinh thường nói câu niệm Phật là một phương tiện, như người đi đường đạp gai, tìm cây gai khác lể cây gai cũ ra. Như vậy nếu cây gai thứ hai còn để lại thì đã hết bệnh chưa, vết thương lành không? Không lành. Lể lấy cây gai cũ ra rồi, cây gai thứ hai cũng phải quăng đi. Như vậy, niệm Phật đến chỗ nhất niệm để hết những niệm lăng xăng khác. Nhưng cái nhất niệm đó cũng buông luôn mới đến vô niệm, vô niệm thí nhất tâm.
Như vậy, khi tu không phải mượn một pháp rồi giữ mãi, mà đến lúc nào đó cũng phải buông luôn, mới đạt đến chỗ rốt ráo. Ví dụ như câu thoại đầu: “Trước khi cha mẹ chưa sanh, ta là ai?”, mình phải khán câu đó cho tới lúc nào thành khối nghi. Khối nghi vỡ rồi thì mới ngộ đạo, đã ngộ rồi thì không còn dùng câu thoại đầu nữa.
Cho nên người tu như người qua cầu, cầu tre hay cầu bằng cây cau, có tay vịn hoặc không có tay vịn. Tay vịn giống như có pháp, nương nó qua thì rất dễ, nhưng sau phải bỏ phương tiện. Còn không có tay vịn như không có pháp, đi qua rất khó, nhưng sau không mất công bỏ. Không có tay vịn mà đi qua được thì cầu nào cũng qua được. Có tay vịn qua được đến lúc gặp cầu khác không tay vịn thì khó qua nổi. Đó là tôi giải thích nôm na cho quý vị biết.
Trong nhà thiền thường bảo “mạt vàng tuy quý rơi vào tròng mắt cũng khó chịu”. Lâu nay chúng ta cứ nói bị bụi, cát rơi trong mắt rất xốn. Mình tưởng bụi, cát là thứ không đáng quý rơi vô mắt thì xốn, nếu đem mạt vàng bỏ vô mắt, có xốn không? Cũng xốn y như bụi cát vậy. Con mắt trong sáng, tự nó trong sáng, thêm một cái gì vào đó đều là bệnh. Cho nên nói còn một pháp tức là còn bệnh.
Như vậy còn một pháp tức còn bệnh chưa phải thật sáng, chừng nào không còn một pháp nào hết mới là trong sáng, nên có câu nói “mạt vàng tuy quý rơi vào tròng mắt cũng khó chịu”. Bởi vì tâm ta tự trong sáng rồi, còn một niệm nào thì chưa phải đến chỗ thật, chỗ tột cùng, dù quý như câu niệm Phật hay câu thần chú cũng là niệm. Ví dụ đó ít có người để ý, tôi nói cho quý vị hiểu rõ, để thấy được đường lối tu thiền.
Đường lối tu ở đây chỉ cần phản quan, nhìn những niệm lăng xăng đó thì nó tan, biết vọng bỏ vọng thì nó mất. Dần dần cho tới khi vọng không còn khởi nữa thì lúc đó còn cái gì để bỏ không? Không có pháp nào để bỏ. Như vậy, chỉ dùng trí sáng chiếu rọi lại, thấy từng niệm khởi là hư ảo không thật thì niệm lặng.
Tôi rất thấm câu “thể không mà thành sự” của ngài Khuê Phong nói. Cái thể của niệm khởi đó là không, mà ta theo nó thì thành sự. Ví dụ, mình đang vui vẻ, ai nói một câu trái ý liền nổi giận, cái nổi giận đó trước có không? Không có, thể nó là không. Do có người nói trái tai liền nổi giận lên, nổi giận mà theo nó một hồi thì đập lộn nhau, đủ thứ chuyện xảy ra. Như vậy, thể của niệm là không thật, nếu theo nó là thành nghiệp, thành nghiệp thì có đủ khổ vui, có khổ vui thì phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi. Cho nên, muốn giải thoát khỏi lục đạo luân hồi thì căn bản phải dứt hết niệm, niệm phải lặng, phải sạch. Chứ còn niệm tức vẫn còn tạo nghiệp, không thể dứt luân hồi.
Tôi rất thấm thía lời các vị tổ dạy. Như trong Tín Tâm Minh, tổ Tăng Xán nói “tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm”, tin tâm mình là không còn hai, còn hai là chưa tin tâm mình. Như vậy, chúng ta nghĩ thiện nghĩ ác là hai hay một? Là hai, đó là những niệm sanh diệt, chưa phải là tâm thật của mình. Vì vậy Lục Tổ bảo thượng tọa Minh: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?” Ngay nơi đó thượng tọa Minh liền ngộ. Mới thấy tường tận chỗ cứu cánh của đạo là tu để giải thoát nghiệp, vì nghiệp dẫn chúng ta đi trong luân hồi lục đạo, thiện thì đi ba đường lành còn ác thì rơi ba đường dữ. Vậy không còn niệm thiện niệm ác thì đi đường nào? Không còn cái gì dẫn mình đi trong lục đạo nữa nên hết luân hồi sanh tử. Lý lẽ rõ như ban ngày không có gì giấu giếm hết, nhưng tiếc thay mình không nhìn thấy được cái gốc đó.
Chúng ta tu là thấy từng niệm khởi dấy lên liền buông, biết nó giả không theo hoặc nhìn lại nó, nó mất. Cứ vậy dần dần vọng lặng hết, lúc đó chỉ còn tâm chân thật. Tâm chân thật đó không có hình dáng. Vì không có hình dáng nên không có tướng mạo, không tướng nên không có sanh diệt. Vậy tâm thể sẵn có nơi mỗi người chính là cái tâm bất sanh bất diệt. Chúng ta sống được với tâm này là giải thoát sanh tử, còn chạy theo niệm sanh diệt, phải quấy, thiện ác thì đi trong sanh tử.
Thấy được, hiểu được điều này mới biết pháp thiền chư tổ dạy là cội gốc, là nền tảng của đạo Phật. Đó là con đường thẳng tắt chứ không quanh co. Vì chúng ta nhắm thẳng ngay gốc tạo nghiệp, biết rõ đầu mối tạo nghiệp liền buông, liền dừng thì nghiệp đâu còn. Còn nếu đi theo lối quanh co, trước phải tu Ngũ giới, Thập thiện rồi làm đủ tất cả điều lành, quán từ bi, hỷ xả…, đi một vòng quanh mới đến chỗ cứu cánh. Còn pháp này đi thẳng tắt, từ niệm đầu dấy lên mình đã thấy liền buông, thì những niệm khác tiếp theo cũng không còn. Như vậy là chúng ta đi thẳng trên con đường giải thoát một cách trực diện chứ không quanh co. Đường lối chúng ta đang tu chính là theo Thiền tông, bắt đầu từ tổ Huệ Khả.
Pháp của Phật cốt để trị bệnh cho chúng sanh. Chúng sanh có bệnh gì thì Phật có pháp trị bệnh nấy, còn lối tu nhìn thẳng niệm khởi liền không theo, thì trị bệnh gì? Đó không phải trị bệnh mà là ngừa bệnh. Thường y học nói nên chữa bệnh hay ngừa bệnh? Ngừa bệnh là trên hết. Dấy niệm mới có thiện ác, bây giờ vừa dấy niệm liền buông thì đâu có thiện ác mà nói có bệnh, không bệnh thì đâu cần chữa. Vừa dấy niệm liền buông là chặn ngay niệm ban đầu, tôi thường nói là “bóp chết ngay từ trong trứng nước”. Nghĩa là ngay trong trứng nước nó đã chết rồi, thì đâu có tạo tác chuyện này chuyện nọ. Những điều này tôi tin chắc trăm phần trăm chứ không còn nghi ngờ. Nói tin chắc cũng chưa hết ý, mà phải nói tôi thấy rõ như vậy, đúng như vậy, không thể nào khác hơn. Tôi nhắc cho tăng ni, Phật tử biết chủ trương đường lối tu nơi đây để cho tất cả hiểu, ứng dụng tu có lợi lạc cho mình cho người.
Phàm làm việc gì phải nắm vững việc làm đó, nắm chắc chủ trương, đường lối và kết quả, chứ không nắm vững thì nghe người ta khen thế này mình vui thích, chê thế kia thì buồn giận, không ưa. Nắm vững rồi thì thấy tận gốc tận ngọn sự tu hành, mặc ai khen chê không có gì làm lay chuyển niềm tin được.
Tối nay, ngày cuối năm tôi đã nói hết tâm tình với quý vị rồi, quý vị ráng làm sao chuẩn bị cho năm tới tốt đẹp, sáng sủa và thành công hơn.
Tôi cũng nói thêm một chút, có nhiều vị thấy ở đây mình chú trọng nhập thất, quý vị biết tại sao không? Bởi kinh nghiệm bản thân, thời gian nhập thất là thời gian tôi tỏ sáng nhiều, cho nên tôi tin tăng ni khi nhập thất cũng sẽ tỏ sáng. Mà quả đúng như vậy, mỗi năm ba đợt nhập thất ra trình thì cũng có được năm, mười người tuy không sáng trọn vẹn nhưng có lóe sáng chút chút. Do vậy tôi thấy đường lối tu của mình, quả thật là có kết quả chứ không phải là chuyện tưởng tượng.
Nói thật thì hơi đụng chạm một chút, nếu chúng ta ở chùa, tối khuya hai thời công phu, thì suốt đời chắc cũng không thấy điều gì mới. Ở đây chúng ta tu, có thời gian nhập thất, thì sẽ có những cái thấy mới. Tôi nói một cách cụ thể là có cười và có khóc. Nghĩa là ra thất có những người cười hoặc khóc, là vì trước kia họ chưa từng thấy, chưa từng biết nay biết được họ cười, xúc động quá họ khóc, không ngăn được. Tăng ni nhập thất ra trình tôi, chuyện khóc cười thường xảy ra không phải hiếm. Như vậy để quý vị yên lòng, biết sự tu hành của mình thật sự có kết quả. Đường lối tu hành này, đều qua kinh nghiệm bản thân tôi, rồi mới dạy cho quý vị tu, chứ không phải tôi tưởng tượng ra, rồi chỉ bày cho quý vị.
Như vậy còn hai năm nữa tôi nghỉ dạy, yêu cầu tăng ni phải thế nào? Một là hạn chế đi lại để ở nhà tu rút. Hai là ít nghĩ đến những chuyện chơi, cấm tuyệt không được đi núi lấy cây về làm kiểng, không được đi kiếm mấy cục đá to về làm cảnh. Bởi vì đây là thời gian tu rút, còn hai năm nữa tôi nghỉ mà quý vị tu không ra gì thì uổng, cho nên phải dồn hết tâm lực trong sự tu. Thời gian giới hạn lắm, chưa chắc gì tôi sống tới hai năm nữa. Vì vậy những trò chơi có tính nguy hiểm, mất thì giờ, quý vị nên tránh để dồn hết khả năng nghị lực của mình vào sự tu hành cho có kết quả.
Tôi phải nói cho quý vị hiểu, phải nhắc cho nhớ. Nhiều khi quý vị cứ nói tôi khó, tôi khó là vì ai? Quý vị sáng đạo thì tự nhờ chứ tôi không được hưởng gì, không chừng lúc đó tôi đi mất tiêu rồi. Như tôi cho cất nhà là để quý vị ở, tôi đâu có ở, nhưng vì muốn cho người sau có chỗ ở tu, nên tôi phải làm. Bây giờ có đường lối tu và muốn quý vị tu có kết quả nên tôi phải khó, phải kìm chế. Vì vậy tất cả phải nỗ lực, đừng lơ là. Đó là lời nhắc nhở cuối năm của tôi.
Phần nhắc nhở đã xong, tới phần thứ hai là ăn tất niên, nhưng buổi tối thì uống chứ không có ăn, ban trà nước đậu đem trà nước lại đi! Người Việt Nam mình rất thực tế, lễ lạc gì cũng nói “ăn” trước: ăn tết, ăn trung thu, rồi ăn tất niên, ăn giao thừa… Đó là thực tế, vì thường người ta hay nói câu “có thực mới vực được đạo”, nên ăn rồi mới làm việc này việc nọ, không ăn thì không làm được gì hết.
Kế nữa, còn một chuyện nhỏ tôi mới thấy và có nói cho một vài vị nghe. Thường thường mình hay gọi tín đồ Công giáo, tín đồ Phật giáo, Tín đồ Cao đài, tín đồ Hòa hảo, phải không? Nhưng tôi thấy chữ tín đồ đó không hợp với người Phật tử.
Bên Công giáo thường gọi là tín hữu, bên Phật giáo gọi nhau là đạo hữu, cũng là mượn của bên Cao đài. Thật ra mình gọi là Phật tử thì đúng hơn. Bởi chữ tín là tin, tín đồ đến với đạo bằng lòng tin, tin có một đấng tuyệt đối. Còn người đến với đạo Phật phải dùng trí tuệ, cho nên môn đồ đạo Phật gọi là Phật tử. Phật tử là sao? Là con của bậc giác ngộ, sống bằng trí chứ không phải niềm tin. Nói rộng một chút, người đến với đạo Phật, phải bằng trí tuệ giác ngộ. Có người giác ngộ ít, người giác ngộ nhiều, nhưng đều phải giác ngộ. Đến bằng trí tuệ giác ngộ mà gọi là tín đồ hay tín hữu là sai rồi, cho nên gọi là Phật tử. Từ đó là hay nhất, đúng lý nhất. Những điều nho nhỏ nhưng cũng có ảnh hưởng lớn, nếu không khéo thì bị sai lầm.
Bây giờ bắt đầu uống nước đi, uống rồi sẽ từ từ giải tán.
Có một thi sĩ nhà chùa, muốn nhân ngày tết ngâm một bài thơ chúc tết. Quý vị nghe cho vui.
Thầy Phó trụ trì Tuệ Giác:
Kính bạch trên Sư ông, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô, nhân dịp năm hết tết đến, con cảm hứng làm một bài thơ chúc tết đầu năm, tựa là:
XUÂN VỀ CHÚC THỌ TÔN SƯ
Mỗi độ năm qua xuân mới đến
Bình minh về trên đỉnh
Phượng Hoàng Trúc Lâm thiền viện đạo tràng
Tăng ni Phật tử nghiêm trang chỉnh tề.
Thỉnh Tôn sư yên bề pháp tọa
Chúng con đồng chúc thọ dâng hương
Mừng Sư tuổi thọ an khương
Bảy mươi tám lẻ trên đường độ sanh.
Chúc Đạo sư mạnh lành trụ thế
Trăm hai mươi mạng huệ tròn đầy
Chúng con tử chúng đông vầy
Được nương bóng mát tàn cây bồ-đề.
Ôi! Mỗi độ xuân về mừng tuổi
Lòng vấn vương bao nỗi buồn vui
Nỗi buồn mặn thắm tình đời
Niềm vui đạo lý rạng ngời trên môi.
Buồn thấy Người thân già mòn mỏi
Lòng thơ ngây không khỏi lệ nhòa
Vui vì kiểm lại năm qua
Vườn thiền thêm những nụ hoa vĩnh hằng.
Đã bao năm nhọc nhằn trông đợi
Mang bão hoài diệu vợi trở trăn
Giờ đây dưới ngọn pháp đăng
Nở tròn bao đóa thiền tăng rõ ràng.
Trường thi Phật, Tây Giang thuở ấy
Trở về đây sống dậy nguồn thiền
Linh Sơn Pháp hội Tây Thiên
Đầu-đà Ca-diếp sơ nguyên tâm truyền.
Đem đại pháp cơ huyền tiếp nối
Hăm tám đời sáng chói Phật tông
Đạt-ma vượt biển sang đông
Sáu đời y bát nối dòng truyền trao.
Suối Tào Khê dạt dào tuôn chảy
Yên Tử sơn ba phải gom dòng
Giác Hoàng Điều Ngự tiên phong
Trúc Lâm Tam Tổ cơ phong lẫy lừng.
Ngọn Tổ đăng sáng bừng Nam Việt
Giống rồng tiên anh kiệt hưng long
Nguồn linh liên lũy xuôi dòng
Vũng Tàu núi Lớn khai phong mạch tràn.
Pháp Lạc thất cười tan vỡ mộng
Đạt lý thiền mở cửa Chơn Không
Đồng Nai năm Chiếu rừng tòng
Thường, Linh, Viên, Phổ, Huệ đồng chiếu soi.
Bỗng cơ duyên hiếm hoi chợt đến
Vành pháp luân xoay chuyển cơ phong
Cao nguyên mây tụ tuôn dòng
Hồ Tuyền Lâm đất Lâm Đồng chứa chan.
Qua bao kỷ điêu tàn loạn lạc
Ánh thiền quang mờ nhạt từ lâu
Tôn sư sứ mạng dẫn đầu
Nghìn xưa dựng lại khai màu sửa sang.
Chống tích trượng mở đàng chọn đất
Ban gậy thiền xây cất đạo tràng
Hiên ngang trên đỉnh Phượng Hoàng
Trúc Lâm thiền viện vững vàng Thiền tông.
Đánh trống pháp cơ phong chấn chỉnh
Gióng chuông thiền thức tỉnh công phu
Thanh quy nghiêm tịnh tấn tu
Lục hòa áp dụng tham ưu chẳng phiền.
Quơ gậy trúc mạch thiền tuôn chảy
Nón rộng vành phất dậy thiền tông
Ung dung tự tại thong dong
Pháp âm truyền khắp tây đông thấm nhuần.
Ôi cao rộng đức ân trời biển
Chúng con nguyền phát triển giữ gìn
Tông Thiền vững chảy niềm tin
Đèn tâm ngài đã đinh ninh trao truyền.
Pháp đốn ngộ uyên nguyên trực chỉ
Chánh tâm truyền pháp vị thừa đương
Trước thềm năm mới thân thương
Chúng con kính lễ dâng hương chúc mừng.
Chúc Người sức khỏe thạnh hưng
Mong nghe diệu pháp vang lừng đầu năm.
Hòa thượng:
Thôi vậy tạm đủ rồi, bây giờ tất cả chắp tay hồi hướng rồi nghỉ.