Xuân Phụng Hoàng

Lễ Chúc Tết Canh Thìn - Mùng một tết Canh Thìn (05-02-2000) -



Hôm nay là ngày tết Nguyên đán. Dân tộc Việt Nam rất quý trọng ngày tết Nguyên đán, nên đầu năm con cháu trong nhà đến chúc mừng ông bà cha mẹ. Trong chùa cũng thể theo thông lệ đó có buổi lễ chúc tết đầu năm, tăng ni và Phật tử tới đây chúc mừng năm mới. Vì vậy buổi lễ này bắt đầu bằng lời chúc tết của tăng ni và Phật tử, rồi sau đó chúng tôi nhắc nhở, chuẩn bị cho một năm mới được tốt đẹp hơn.

Thầy Quản chúng Nội viện tăng 

Kính bạch Thầy! Hôm nay ngày đầu xuân năm Canh Thìn, toàn thể tăng chúng chúng con giữa hội chúng trang nghiêm này xin cung kính mừng tuổi Thầy. Song với ý nghĩa mừng tuổi ở đây, chúng con không chỉ mừng số tuổi Thầy được tăng thêm lên để rồi sẽ rút ngắn thời gian Thầy còn có mặt với chúng con trong hiện tại, mà chúng con mừng tuổi Thầy được sống thêm tròn một năm nữa để truyền bá chánh pháp sâu rộng hơn trên thế gian này, khiến cho thêm nhiều người nữa thấm nhuần pháp lạc, mở sáng tâm mình, từ trong đêm tối bước ra ánh sáng, bớt đi số người còn sống trong đêm dày vô minh. Và chúng con cũng được sống thêm một năm nữa trong ánh sáng của Thầy hướng dẫn, để từ đó chúng con được lớn mạnh thêm lên, lớn mạnh về niềm tin đối với con đường của mình đã đi và lớn mạnh về trí tuệ để soi sáng con đường trở về.

Do đó trong mỗi chúng con đều thấy rõ rằng, mỗi người, dù đã ở lâu với Thầy cũng như mới đến trong thời gian ngắn, đều cảm nhận được những hạt giống giác ngộ được tưới tẩm từ nơi Thầy, hoặc đã nảy mầm nở hoa, hoặc sẽ nảy mầm nở hoa, như những người đi trước đã chứng minh cho thấy.

Ân đức sâu dày đó chúng con làm sao có thể nói hết bằng lời. Giờ đây trong giây phút trang trọng này, toàn thể chúng con một lòng cung kính cầu nguyện Tam bảo gia bị cho Thầy tứ đại luôn được an hòa, sự đến đi của Thầy được đúng thời đúng lúc, nguyện lực của Thầy được như ý và cuối cùng Thầy được thành tựu “viên mãn bầu trời trong”.

Sau hết chúng con ngưỡng mong Thầy từ bi ban cho chúng con những lời nhắc nhở đầu năm, để khích lệ chúng con thêm lên trong những ngày sắp tới. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh và hứa khả cho chúng con được thấm nhuần công đức.

Ni sư Quản chúng Nội viện ni: 

Ngưỡng bạch Thầy! Hôm nay toàn thể ni chúng chúng con hội đủ duyên lành, được quỳ dưới chân Thầy cung kính dâng lên lời chúc mừng đầu xuân. Chúng con thành tâm kính chúc Thầy pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, hầu dẫn dắt chúng con trên bước đường thực hiện lý tưởng giải thoát.

Kính bạch Thầy, mùa xuân về đem lại niềm vui tươi ấm áp cho mọi người. Nhưng mùa xuân qua rồi thì không trở lại, niềm vui xuân qua rồi cũng mất, chỉ có mùa xuân miên viễn là nguồn vui bất tận. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng con cảm nhận được từ nơi pháp của Thầy.

Kính bạch Thầy, chúng con khác nào những con chim phượng hoàng bé bỏng đang nấp mình dưới cánh của mẹ để được nuôi nấng chở che. Ôi, hạnh phúc biết bao! Nơi đây, chúng con được trực tiếp nghe những lời Thầy giảng dạy với tâm lão bà tha thiết, Thầy đã nung đúc chúng con thành những con người rắn chắc. Nơi đây, Thầy đã nuôi lớn giới thân huệ mạng chúng con, mở sáng mắt trí tuệ cho chúng con. Mắt trí tuệ một phen mở sẽ thấy đường thoát khỏi trầm luân.

Kính bạch Thầy, vì thế công ơn giáo dưỡng của Thầy đối với chúng con thật thênh thang như trời cao bể rộng. Cảm niệm thâm ân này nên lòng chúng con không dám lơ là, nguyện nỗ lực tiến tu hầu mong tiếp nối ngọn đuốc trí tuệ của Thầy để mãi mãi soi sáng cho mình và mọi người. Có vậy mới mong bù lại những lỗi lầm sơ sót trong một năm qua.

Kính bạch Thầy, đây là những lời chân thành của chúng con kính dâng lên Thầy nhân ngày đầu xuân. Chúng con thành tâm nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho Thầy sức khỏe dồi dào, phước trí trang nghiêm, sống lâu nơi đời, để pháp âm của Thầy mãi mãi vang dội trên núi Phụng Hoàng, đồng vọng đi khắp đó đây. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho chúng con đê đầu kính lễ cúng dường.

Hòa thượng

Vừa rồi là lời chúc mừng của tăng ni, giờ đây tôi chúc lại, nhưng vì tôi nói dài dòng, tất cả quý vị ngồi xuống hết, tôi sẽ nói.

Ngày tết Nguyên đán hôm nay, qua sự chúc mừng của tăng ni, giờ tôi có lời chúc mừng lại, đồng thời cũng là lời khuyến khích tu hành, gồm hai phần. Phần thứ nhất là tôi chúc mừng quý vị đầu năm. Phần thứ hai, tôi nói nguyện vọng của tôi cho tất cả quý vị nghe, biết, để rồi sau nối tiếp những gì tôi muốn làm, đang làm.

Trước hết, tôi chúc tết cho tăng ni và toàn thể Phật tử. Tất cả chúng ta là người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam, tự nhiên chúng ta cũng theo phong tục tập quán của người Việt Nam. Tổ tiên chúng ta ngày xưa rất xem trọng ngày mùng một tết. Những ai tên xấu thì sáng đầu năm không được đến nhà người, sợ mang điều không tốt lại cho người ta. Cho nên ai muốn đến nhà thân quyến thăm thì phải có cái tên tốt mới được vô, mới được đón. Vậy mới thấy ngày đầu năm đối với người Việt Nam rất là quan trọng.

Ở chùa chúng ta đáng lý đã vượt qua những phong tục tập quán, nhưng cái gì hay của tổ tiên mình, chúng ta dù tu cũng không thể bỏ qua, trừ những cái vô nghĩa thì chúng ta không làm. Vì vậy ở chùa cũng nhân ngày đầu năm chúc mừng nhau, chúng ta dùng những lời đạo đức để khuyến khích, sách tấn nhau tu hành, đó cũng là lợi lạc lớn. Chúng ta nhớ lời chúc mừng sách tấn đầu năm mà cố gắng thực hành, cố gắng ứng dụng cho đời tu được hữu ích. Cho nên hôm nay tăng ni đã chúc mừng năm mới cho tôi, thì kế đây tôi chúc lại cho tất cả tăng ni và Phật tử.

Sang năm Canh Thìn này, tôi cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho tăng ni và Phật tử một năm an vui, tinh tấn tu hành và luôn luôn tỉnh giác, không để những mê lầm che lấp tâm mình. Tôi cầu nguyện cho tất cả quý vị lúc nào cũng thấy rõ đạo đức là ngọn đuốc sáng. Mình phải ráng mồi, ráng thắp cho cháy ngọn đuốc của mình, để rồi mình sẽ mồi cho những ngọn đuốc của kẻ sau. Mình thấy đường đi, cũng muốn cho tất cả mọi người cùng thấy như mình, mãi về sau luôn được sáng suốt. Cho nên ngọn đuốc chánh pháp chúng ta đã mồi được thì không bao giờ quên, không bao giờ để cho nó tắt, mà phải tiếp nối mãi mãi. Đó là lời chúc chân thành, cũng là ước nguyện của tôi. Mong tất cả tăng ni và Phật tử thành tâm ghi nhớ.

Bây giờ tới phần nguyện vọng của tôi. Tôi có tật dài dòng, không nói thẳng được mà phải dài dòng một chút, quý vị chịu khó nghe kỹ.

Nguyện vọng của tôi thế nào? Muốn biết nguyện vọng của tôi cho thật rõ thì câu hỏi được đặt ra ở đây là: Tại sao tôi đặt tên thiền viện này là Trúc Lâm?

Quý vị thấy dường như lạc đề phải không? Thật ra khi tôi đặt tên một ngôi thiền viện nào thì đó là tất cả nỗi lòng hoài bão của tôi, nó thể hiện qua những từ ngữ đó, chứ không phải là chuyện ngẫu nhiên hay bắt chước ai. Vì vậy, muốn biết tại sao tôi đặt tên thiền viện Trúc Lâm, quý vị chịu khó nghe cho kỹ suốt dòng thời gian từ trước cho đến ngày nay thì mới thấy rõ ý nghĩa đó.

Giờ tôi nói xa xôi một chút. Đọc lịch sử Việt Nam, tất cả chúng ta đều biết rõ nước Việt Nam đã bị Bắc thuộc hơn một ngàn năm, rồi Tây thuộc hơn cả trăm năm. Trong thời Tây thuộc tôi đã có mặt vào những giai đoạn cuối. Có mặt trong lúc đất nước bị lệ thuộc ngoại bang, chúng ta mới thấy cái đau xót, buồn khổ của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy tôi mong mỏi trông chờ đất nước Việt Nam được thoát khỏi ngoại bang độc lập vững bền, lâu dài, để cho những khổ đau của dân tộc Việt Nam chấm dứt, để những vết thương đau đớn, tủi nhục của dân tộc Việt Nam được lành. Vì vậy mà lúc nào tôi cũng tâm niệm nguyện cầu cho đất nước chúng ta được độc lập vững bền dài lâu, cho dân tộc chúng ta được an vui, hạnh phúc. Đó là nguyện vọng của tôi đối với đất nước.

Một đất nước độc lập đòi hỏi phải độc lập về chính trị, độc lập về quân sự, văn hóa, và kinh tế. Do đó tôi thấy rằng muốn cho con đường truyền bá chánh pháp được dài lâu thì lối giảng dạy truyền bá của đạo Phật cũng phải gắn liền với tinh thần dân tộc. Tôi tự nghĩ mình có duyên sâu dày với đất nước Việt Nam nên được sanh ra ở đây. Đã sanh ra trên đất nước này thì bổn phận của mình là phải đóng góp cho quê hương, dân tộc mình càng ngày càng được an vui, đất nước mình càng ngày càng tốt đẹp. Đó là một bổn phận mà chúng tôi thấy phải cố gắng thực hiện cho được.

Tuy nhiên chúng tôi lại có duyên sâu đối với Phật pháp, cho nên ở trên đất nước Việt Nam mà tôi chỉ có mặt trong lãnh vực Phật giáo, chứ không có mặt trong những lãnh vực khác. Ở trong lãnh vực Phật giáo thì tôi phải làm thế nào cho Phật giáo Việt Nam đóng góp một phần lớn cho dân tộc, đất nước, làm sao đem được ánh đuốc sáng của Phật giáo soi cho người dân Việt thấy được con đường sáng, thấy được những hầm hố để không vấp ngã, không bị những khó khăn làm trở ngại trên bước đường tiến tới. Vì vậy bao giờ tôi cũng nghĩ phải làm sao cho Phật giáo Việt Nam được sáng rỡ, tốt đẹp, để ngọn đuốc sáng này luôn soi rọi, cho dân tộc chúng ta thấy được, đi được trên con đường tốt đẹp đó. Cho nên tôi đặt vấn đề phải làm sao tạo duyên cho tăng ni tu và tạo duyên truyền bá Phật pháp cho hàng Phật tử hiểu. Khi đến Đà Lạt này, tôi thấy cơ duyên thuận lợi nên mới thành lập một thiền viện ở đây.

Khi thành lập thiền viện, tôi nhìn lại xét kỹ trong dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam, tìm xem những mốc nào, điểm nào thích hợp với hoàn cảnh đất nước hiện tại, để chọn đó làm cái mốc son cho chúng ta tu, đồng thời đem ra phổ biến, truyền bá cho mọi người thấy, biết mà ứng dụng. Được như vậy thì mới phù hợp với tinh thần đất nước dân tộc của chúng ta trong giai đoạn hiện tại này.

Khi chọn lựa tôi chấm ngay điểm Phật giáo đời Trần. Tôi cho đó là một điểm son, đặc biệt xứng đáng để chúng ta nương theo đó mà tu, nương theo đó truyền bá và cũng nương theo đó thể hiện được tinh thần lợi dân ích nước. Chúng ta đem tất cả khả năng, đức độ gieo rắc những mầm non tươi đẹp và cường tráng cho dân tộc, cho đất nước mình. Do đây chúng tôi lấy Phật giáo đời Trần làm mốc chính.

Khi xây dựng xong thiền viện, tôi đặt tên là thiền viện Trúc Lâm, đúng với ý nghĩa là Trúc Lâm Yên Tử.

Ngày xưa, khi đức Phật còn tại thế, ngài đã được vua Bình Sa (Bimbisāra) dâng cúng một ngôi tinh xá để tên là Tinh xá Trúc Lâm. Nhưng Trúc Lâm hiện nay của chúng ta là Trúc Lâm Yên Tử chứ không phải Trúc Lâm tinh xá thuở kia. Đặt tên Trúc Lâm Yên Tử để nói lên một hệ thống truyền bá Phật pháp vào đời Trần. Hệ thống truyền bá đó có những ưu điểm gì, đặc điểm nào mà tôi lại chọn? Đó là điều tôi sẽ nói sau đây.

Khi tôi chọn tên để đặt là thiền viện Trúc Lâm thì tự nhiên quý vị hiểu được tôi đang hướng về một nền tảng Phật pháp đã được dân tộc Việt Nam chọn lọc, ứng dụng, rồi truyền bá cho mọi người. Nói tới Trúc Lâm Yên Tử chắc rằng không ai chẳng biết, nhưng ý nghĩa tinh thần trong đó thì ít người thấu hiểu.

Như tôi đã nói ở trên, một nước độc lập thì phải độc lập về chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế. Thời nhà Trần, khi quân Nguyên Mông sang xâm chiếm đất nước ta, các vua cầm binh chống lại và giành được thắng lợi. Như vậy về phần chính trị, quân sự các ngài đã làm vẻ vang cho đất nước.

Về văn hóa, nếu quý vị đọc lại những bản văn đời Trần sẽ thấy các ông vua đời Trần đã có ý niệm cụ thể rằng chúng ta không thể nào mượn văn hóa của Trung Quốc làm văn hóa Việt Nam mãi. Chữ viết là một sự thể hiện nền văn hóa của mình, nên đời Trần tuy các ngài học chữ Hán nhưng đã muốn chuyển thành chữ Việt, do đó mới có chữ Nôm. Mặc dù chữ Nôm đã có từ trước rồi nhưng tới thời đó mới bắt đầu phát triển.

Vua Trần Nhân Tông khi còn làm Thái Thượng Hoàng đã viết một bản văn rất có giá trị đạo đức, tới nay vẫn còn nguyên vẹn. Đó là bài phú Cư Trần Lạc Đạo, hoàn toàn bằng chữ Nôm. Như vậy, không chỉ độc lập về quân sự và chính trị thôi, các ngài muốn độc lập luôn cả về văn hóa, không lệ thuộc Trung Quốc. Đó là điều tôi thấy rất đáng nể, đáng kính.

Bổn phận người tu chúng ta là phải làm sao cho đạo được tốt, mà muốn đạo được tốt chúng ta phải tạo cái duyên cho đời được đẹp. Không thể nào đạo tốt mà đời lại xấu xa, vậy sẽ không có giá trị gì. Cho nên đạo với đời phải tương xứng nhau. Thời đó các vua Trần là các thiền sư hiểu Phật pháp rất uyên thâm. Các ngài lại yêu nước, giành quyền lợi cho dân tộc, làm những việc xứng đáng như vậy. Khi làm tất cả việc đó, các ngài cũng không xao lãng sự tu tập, nghiên cứu Phật pháp. Như vậy chúng ta mới thấy đạo Phật thời đó là một đạo rất tích cực, nằm trong hệ thống chính quyền, đem đạo đức làm lợi ích cho nhân dân, điều này hết sức quý.

Cái hay của những ông vua thiền sư đó là, khi cầm quân đánh giặc chống ngoại xâm, không lúc nào các ngài tuyên bố: “Tôi nhân danh đạo Phật để đi đánh giặc.” Đạo Phật chỉ có ở trong tâm các ngài, còn hành động chống ngoại xâm là trách nhiệm của một công dân, của người lãnh đạo đất nước. Các ngài không đem đạo Phật vào trong đó để làm cho hoen ố đạo. Đó là điều rất hay!

Từ vua Trần Thái Tông cho đến Trần Nhân Tông, rồi sau này Anh Tông v.v… đều là những vị vua thấm nhuần đạo Phật nhưng chưa bao giờ nhân danh đạo Phật đi làm việc sát hại quần sanh. Chỉ khi rỗi, khi được nhàn hạ, các ngài cố gắng đem đạo Phật ứng dụng tu hành và truyền bá cho quần chúng. Khi loạn lạc, các ngài nhân danh là một người có trách nhiệm với đất nước, đứng ra lãnh đạo chống ngoại xâm, chứ không có bóng dáng đạo Phật trong đó. Đây là điều tôi thấy đáng quý.

Như vậy, chúng ta chọn mốc son Thiền tông đời Trần là một hình ảnh tôi cho là rất tốt đẹp. Cho nên khi đặt tên cho thiền viện, tôi đã có chủ trương là khôi phục Thiền tông đời Trần.

Khi nói khôi phục Thiền tông đời Trần thì có nhiều vấn đề liên hệ, tôi sẽ thứ tự trình bày cho quý vị thấy. Trước tiên là liên hệ tới Phật pháp, tới Tam Tạng giáo điển. Tam Tạng giáo điển là Kinh, Luật, Luận, nhưng trong đó tôi lại có khuynh hướng nặng về Kinh tạng, còn Luật tạng và Luận tạng tôi hơi lơ là. Quý vị thấy có ổn hay không?

Tại sao tôi lại có cái nhìn, cái hướng thiên lệch như vậy? Sự thật tôi thấy kinh là trọng tâm. Bởi vì đức Phật từng dạy rằng tất cả giáo lý của ngài là những phương thuốc trị tâm bệnh cho chúng sanh. Cho nên tất cả chúng sanh vô số bệnh thì Phật cũng dùng vô số thuốc để trị bệnh. Vậy kinh là để dạy chúng ta biết phương pháp tu, dẹp sạch phiền não, đó là trọng tâm. Còn luật, chúng ta cũng thường hay nghe các vị tôn túc nhắc rằng luật là quan trọng, nhưng thưa tất cả quý vị, nếu nghiệm xét kỹ chúng ta sẽ thấy luật có tính cách nghiêng về phong tục tập quán của dân tộc thời ấy nhiều. Như trong giới Tỳ-kheo tăng, hai trăm năm mươi giới, mà thật sự chúng ta chỉ thấy hai phần “tứ Ba-la-di” và “thập tam tăng tàn” là trọng yếu, còn những phần sau, quý vị thấy bây giờ mình giữ được bao nhiêu? Nhất là một trăm Pháp Chúng Học, bây giờ mình có giữ được gì không? Đó đều là tùy theo tập quán, phong tục của địa phương mà Phật chế ra để đừng bị người ta hiềm trách. Đây là điều tôi thấy rất rõ.

Tôi từng nói với tăng ni rằng đức Phật ra đời là để cứu độ chúng sanh. Cứu độ chúng sanh bằng cách nào? Phật đem chánh pháp chỉ dạy cho người ta tu để dẹp sạch phiền não, giải thoát sanh tử. Như vậy là cứu độ tất cả chúng sanh chứ không phải chỉ cứu độ dân tộc Ấn Độ, phải không? Vậy thì mình dù ở đâu, thuộc nước nào, cũng là một chúng sanh, và đều được Phật cứu độ. Phật không hề tuyên bố rằng ngài ra đời là vì dân tộc Ấn Độ, để giáo hóa dân Ấn Độ.

Như vậy, đức Phật không đặt ngài ở trong phạm vi của riêng một dân tộc, một đất nước, một màu da v.v…, mà ngài đặt ngài là người của tất cả chúng sanh. Vậy chúng ta theo đạo Phật phải thế nào? Phải biết lấy những gì Phật dạy để trị tâm bệnh đem ứng dụng tu hành, dẹp trừ phiền não, đó mới là cái gốc.

Tới câu hỏi thứ hai. Hiện tại chúng ta nhìn Phật giáo truyền bá trên thế giới thấy rõ ràng có hai hệ phái Nam tông và Bắc tông. Hiện giờ quý vị thấy tôi đang theo hệ phái nào? Chắc rằng không ai nghi ngờ, tôi theo Bắc tông. Tại sao tôi lại theo Bắc tông mà không chọn Nam tông? Vì như tôi đã nói, Phật là người của chúng sanh, đã là người của chúng sanh thì chúng ta ở nước nào, nơi nào cũng có quyền tu theo Phật hết.

Bây giờ tôi ví dụ: Như có một hãng bào chế thuốc tây, chế thuốc trị lành các bệnh rất hay. Nếu người nhức đầu, có thuốc nhức đầu uống liền lành, người đau bụng có thuốc đau bụng uống liền lành v.v… Thuốc nào cũng hay hết. Nếu hãng bào chế thuốc đó ở bên Pháp, họ có nói rằng: “Thuốc tôi chỉ trị bệnh cho người Pháp” không? Hay họ nói: “Thuốc này chế ra, ai biết đúng bệnh và đúng thuốc, uống đúng liều lượng thì sẽ lành bệnh?” Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai, thuốc chế ra từ phương Tây, ở Pháp chẳng hạn, rồi mình là người Việt Nam muốn uống thuốc Tây thì phải làm sao? Chuẩn bị cách nào để uống cho có hiệu quả? Lúc đó mình có phải mặc đồ Tây, rồi cũng phải kéo lỗ mũi dài ra, lấy phấn thoa mặt cho trắng thì uống mới có hiệu quả? Hay là bất luận ăn mặc thế nào, bất luận màu da gì, bất luận mũi xẹp hay mũi cao, miễn uống đúng thuốc, đúng bệnh và đúng liều lượng thì được lành?

Cũng vậy, đạo Phật xuất phát từ Ấn Độ, phong tục tập quán của Ấn Độ khác mình, ăn mặc khác, xử sự khác. Bây giờ chúng ta muốn dùng thuốc của Phật từ Ấn Độ trị tâm bệnh cho mình, có cần phải ăn mặc giống người Ấn Độ, hoặc phải xử sự như người Ấn Độ không? Nên hay không? Đó là chỗ mà tôi bạo lắm mới dám nói ra ở đây.

Chúng ta không thể nào tu theo đạo Phật, tức là áp dụng những phương pháp Phật dạy để trị tâm bệnh của mình, mà bắt buộc mình phải giống người Ấn Độ, phải ăn mặc như người Ấn Độ, phải xử sự như người Ấn Độ. Đâu cần thiết phải như vậy! Chỗ cần thiết là mình phải biết bệnh mình, biết đúng thuốc và biết liều lượng uống, như vậy thì bệnh lành, đó là một lẽ thật. Bây giờ quý vị giở bộ Luật Tứ Phần ra, thấy trong đó hết bao nhiêu phần nói về y bát, mà bây giờ mình có mang y bát đi khất thực như Phật hồi xưa không? Hiện nay mình không như vậy, mà bảo mình phải giữ bao nhiêu giới đó thì làm sao giữ đây.

Hồi tôi sang Ân Độ gặp lúc lúa chín, ngồi trên tàu hỏa chạy dọc đường, thấy mấy cô gái Ấn Độ đi cắt lúa, tội nghiệp quá. Họ quấn cái y xùng xình mà cắt lúa thật khó khăn làm sao! Rồi tôi nhớ lại người Việt Nam mình mặc đồ gọn ghẽ, cắt rất lẹ làng. Tại tập quán của người ta như vậy, ở quê người nam, người nữ, già trẻ gì cũng quấn y. Cho nên Phật ở Ấn Độ, khi tu ngài cũng quấn y, chuyện đó đương nhiên. Còn người Việt Nam mình có áo quần mặc gọn ghẽ, dễ dàng, khi theo đạo Phật lại phải quấn y như người Ấn Độ! Như vậy tự nhiên mình lệ thuộc hình thức, mà lệ thuộc hình thức dù ít dù nhiều cũng là lệ thuộc. Tại sao mình không có quyền thay đổi, ăn mặc theo mình và chỉ dùng pháp của Phật để tu trong tâm?

Cho nên tôi thấy Bắc tông (bây giờ gọi là hệ Phát Triển) có những điều canh cải về hình thức. Như Phật giáo truyền sang Trung Hoa, mấy vị sư Trung Hoa có ăn mặc giống Ấn Độ không? Kính Phật là người đã tu đắc đạo, Phật quấn y thì mình khi nào lễ Phật cũng đắp y để tôn trọng cung kính ngài; còn cách ăn mặc, xử sự trong mọi hoàn cảnh thì mình có thể khác, phải không? Cho nên tu sĩ Trung Hoa ăn mặc như người Trung Hoa, chỉ khác màu áo của người thế tục thôi. Cái y chỉ dành khi nào lễ Phật, còn những lúc khác cũng ăn mặc bình thường, đi, làm gọn ghẽ.

Rồi sang Nhật Bản, quý vị thấy tu sĩ Nhật Bản có làm giống tu sĩ Ấn Độ không? Họ cũng có y, nhưng chiếc y chỉ dành khi hành lễ. Bình thường tu sĩ cũng ăn mặc theo trang phục người Nhật, chỉ khác ở màu sắc, không lòe loẹt như người thế gian đó thôi.

Như vậy Bắc tông dám cải đổi. Những gì không phải là cái gốc, cái nguồn mình sửa được. Gốc nguồn là pháp Phật, còn ăn mặc là hình thức bên ngoài. Cho nên Bắc tông không có hình thức như Nam tông. Chúng ta là người Việt Nam, nếu muốn học Phật mà vẫn giữ nguyên bản sắc Việt Nam thì phải làm sao? Tự nhiên mình phải ăn mặc và thực hành theo Bắc tông thì mới hợp.

Đó là một lý do, lý do thứ hai sâu sắc hơn. Chúng ta đọc kinh điển Phật dạy, như các bộ A-hàm, thấy trong đó luôn luôn dạy, người tu khi đã phá được ngã chấp, liền chứng quả A-la-hán, vào Niết-bàn. Niết-bàn là vô sanh. Nói cách khác, chúng ta tu đến quả vị A-la-hán rồi thì sẽ giải thoát sanh tử.

Tuy nhiên, nói giải thoát sanh tử thì tôi đặt ra một câu hỏi rằng: Nếu có người bị trói, bị cột vào cây hay một nơi nào đó, họ khổ sở, giãy giụa không ra được. Có người thấy, lại mở dây trói cho họ, thì người ta nói sao? “Ông đã giải thoát cho ông A ông B rồi đó”, phải không? Ông A ông B bị cột trói, mở dây cột trói là giải thoát cho ông ấy. Như vậy giải thoát có nghĩa gì? Giải thoát là một động từ, phải không? Vậy thì ai được giải thoát, cái gì giải thoát? Còn một chủ từ nữa!

Trong kinh Phật nói hết phiền não thì được giải thoát sanh tử, nhưng không biết ai giải thoát, cái gì giải thoát, Phật không nói thêm. Bây giờ quý vị đọc hết các kinh A-hàm thử xem, không bao giờ Phật nói thêm gì nữa, chỉ nói giải thoát sanh tử rồi thôi. Như trong kinh nói có một đạo sĩ du phương tên Vaccha đến yết kiến Phật và hỏi: “Một vị Tỳ-kheo đã được giải thoát sẽ tái sanh đi đâu?”

Phật trả lời: “Nếu có người hỏi ngọn lửa tắt rồi đi ngõ nào? Hướng đông hay hướng tây, nam hay bắc? Ông sẽ giải đáp thế nào?”

Vaccha thưa: “Câu hỏi đặt như thế không đúng, hỡi Sa-môn Cù-đàm, bởi vì lửa cháy do nhiên liệu, cỏ và cây khô. Khi nhiên liệu hết, không còn nhiên liệu nữa, không còn gì nuôi ngọn lửa nữa, ta nói rằng ngọn lửa tắt.”

Phật bảo: “Cũng đúng như vậy, tất cả hình thể, cảm giác, tri giác, sinh hoạt tinh thần và thức đã bị vứt bỏ, diệt tận gốc rễ, giống như ta bứng gốc một cây kè và không còn có thể đâm chồi lên nữa, tắt hẳn.

“Vị thánh nhân, này Vaccha, đã dứt bỏ được cái gọi là thân ngũ uẩn này, thật cao siêu, không thể đo lường được, mênh mông như đại hải. Nói rằng vị ấy tái sanh là không đúng. Nói rằng vị ấy không tái sanh cũng không đúng, mà nói rằng vị ấy không tái sanh mà cũng không không tái sanh cũng không đúng.”

Một đống củi đang cháy, nếu củi còn thì lửa tiếp tục cháy, củi hết thì lửa tắt. Nhiên liệu hết lửa tắt, như vậy là sao? Mình không biết sao nữa hết! Do đó, nói tới giải thoát, chúng ta thấy có một cái gì chưa rõ.

Bước qua lãnh vực kinh điển Đại thừa thì các ngài nói trắng ra. Giải thoát sanh tử nghĩa là mình dứt sạch phiền não rồi thì Phật tánh, chân tâm hiển lộ. Phật tánh, chân tâm không hề sanh tử, cho nên dứt sạch những thứ che đậy, cột trói làm cho mình phải sanh tử đó thì hết sanh tử. Cái gì hết sanh tử? Là Phật tánh, là chân tâm của mình, đó là cái giải thoát sanh tử. Nghe vậy ổn chưa? Nó rõ ràng quá! Mình không còn điều gì nghi ngờ hết. Còn nói như trước thì mình thấy như có cái gì không rõ.

Nhưng phải suy cho kỹ, tại sao đức Phật chỉ nói tới đó thôi? Là bởi vì ngài ra đời ở Ấn Độ, mà giáo lý của các phái ngoại đạo luôn luôn nói rằng người, trời mỗi mỗi tự là một thực thể độc tồn, đó là thần ngã thường trụ, chủ tể vạn hữu. Thần ngã lấy suy nghĩ hiểu biết làm thể và có khả năng chi phối thân thể. Sau khi chết hoặc sanh nơi này nơi kia, hoặc được về với Tự Tại thiên, thần ngã này vẫn tồn tại độc lập. Vì vậy Phật dè dặt. Nếu nói còn cái gì đó thì người ta có thể lầm với thần ngã. Nên Phật không nói. Phật chỉ nói củi hết lửa tắt là giải thoát, vậy thôi, không nói thêm gì nữa.

Hoàn cảnh của đức Phật buổi đầu khó khăn như vậy, nên Phật không muốn nói hết. Sau này kinh điển Đại thừa là của Phật nói, hoặc không phải Phật nói mà là đệ tử Phật, những người chứng quả A-la-hán, Bồ-tát tiếp nối giải thích cho người sau hiểu rõ. Điều này không có lỗi lầm gì, cũng là thêm một bước để cho người sau không nghi ngờ.

Như vậy chúng ta mới thấy kinh điển Đại thừa lúc nào cũng chỉ chúng ta một hướng đi vừa thực tế, vừa chân thật. Chúng ta biết nơi chúng ta cái gì là giả, rồi phăng tìm cái thật. Khi cái giả không còn lầm thì cái thật sẽ hiển hiện ngay nơi mình. Tu rồi mình thấy rõ, không nghi ngờ gì hết. Như vậy sự chỉ dạy tu hành thực tế, dễ dàng hơn.

Đó là tôi nói cho quý vị rõ tại sao tôi theo Bắc tông. Nhiều khi quý vị không hiểu, nói: “Sao đều là tu Phật ở Việt Nam mà có người theo Nam tông, người theo Bắc Tông, bởi lý do gì?” Thì đây, tôi có lý do rõ ràng. Bởi vì tổ tiên, dân tộc chúng ta ngày xưa tu theo Bắc tông, giờ chúng ta thấy Bắc tông có lối nhìn cụ thể, thực tế, không bị gò bó về hình thức, nên thích tu theo Bắc tông. Giáo lý Bắc tông chỉ cho chúng ta đến chỗ cứu cánh, không phải chỉ nói giải thoát không, mà nói rõ giải thoát là chân tâm, Phật tánh của chúng ta không còn bị phiền não cột trói nữa, cho nên được tự tại, thênh thang, giải thoát, không bị sanh tử. Điều gì cũng cụ thể, cũng rõ ràng nên chúng ta theo. Như vậy, nãy giờ tôi đã nói rõ bản hoài, nguyện vọng của tôi cho quý vị biết.

Đạo Phật đã truyền bá trên đất nước chúng ta gần hai mươi thế kỷ rồi, tức cả hai thiên niên kỷ, nên đạo Phật có ảnh hưởng rộng lớn sâu đậm vô cùng đối với dân tộc Việt Nam. Như khi nãy ở trên tôi đã nói, đời Trần muốn cách mạng văn hóa, không lệ thuộc Trung Hoa. Bây giờ chúng ta là tu sĩ Phật giáo Việt Nam, chúng ta có bị lệ thuộc gì về văn hóa Trung Hoa không?

Ngày nay quý vị tới chùa, thấy tối thì công phu Tịnh độ, khuya trì chú Lăng-nghiêm. Nay thử đặt câu hỏi: Hai thời khóa tụng mà hiện giờ chúng ta tu đó, là Phật dạy, hay do ai đặt ra? Câu trả lời chúng ta phải biết, chứ mình tu Phật mà cứ thấy người trước làm rồi làm theo, không hề biết mình đang học theo ai, bắt chước người nào, đó là chỗ thiếu sót lớn.

Chính khi nghiên cứu hai thời khóa tụng rồi tôi rất buồn, vì hai thời khóa tụng ra đời trong thời nhà Thanh ở Trung Hoa, mà thời nhà Thanh là thời Phật giáo suy vi. Thời đó, vua Khang Hy mời các vị tăng có tiếng tăm tới, sắp đặt hai thời khóa tụng. Đó là đặt ra để cho dân Trung Hoa tụng, mà sao nó lọt qua Việt Nam. Rồi Việt Nam mình cũng lấy tụng theo, tụng theo cả trăm năm nay thì quý vị nghĩ sao?

Nếu qua Nhật Bản quý vị có thấy công phu hai thời khóa tụng như mình hay không? Nếu qua Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan có thấy tụng hai thời khóa tụng không? Không có! Chỉ có ở Trung Hoa đời Thanh. Phật giáo Trung Hoa thịnh nhất là đời Đường đời Tống, còn đời Nguyên, đời Thanh Phật giáo suy rồi. Từ chỗ suy tàn đó người ta mới tạo ra hai thời khóa tụng. Vậy mà mình lại lấy đó làm nền tảng tu hành cho xứ sở mình, cho Phật giáo Việt Nam thì quý vị có vui được không? Bây giờ, nếu quý vị tụng hai thời khóa tụng toàn bằng chữ Hán đó, Phật tử ở ngoài nghe có hiểu câu nào không?

Ở Ấn Độ sau khi Phật Niết-bàn, các vị đệ tử sau này kiết tập kinh điển bằng Phạn tự phương Nam và Phạn tự phương Bắc. Phạn tự phương Nam gọi là Pāli, Phạn tự phương Bắc là Sānskrit. Khi người Trung Hoa nghiên cứu đạo Phật, học đạo Phật, người ta chuyển sang chữ Hán, thành ra ba tạng Kinh bằng chữ Hán.

Ngày xưa vì chưa có chữ quốc ngữ nên chúng ta cũng phải học kinh chữ Hán. Ngày nay mình đã có chữ quốc ngữ, tất cả các thứ tiếng Anh, Pháp… đều có thể chuyển thành tiếng Việt được. Tại sao kinh điển chữ Hán mình không chuyển thành chữ Việt, mà mình cứ đem chữ Hán ra đọc, người nghe không hiểu? Bây giờ nhiều vị tu ở chùa biết chút ít chữ Hán nên tụng kinh chữ Hán còn hiểu đôi phần. Còn Phật tử không biết chữ Hán cũng tụng, cũng lạy theo mà không hiểu gì hết.

Như vậy, khi tu Phật, chúng ta có bị lệ thuộc những người đi trước hay những nước đàn anh không? Người ta chế ra, người ta sắp đặt rồi mình lệ thuộc theo đó. Vậy là chúng ta muốn độc lập về văn hóa, mà ở trong tôn giáo rõ ràng chúng ta đang lệ thuộc một cách đau đớn, đáng buồn. Nên rồi tôi phải lớn tiếng nói: “Phải thay đổi lại, không được lệ thuộc như vậy nữa!” Chúng ta nếu muốn không lệ thuộc thì phải can đảm, phải chuyển hóa. Những gì lâu nay chúng ta bị lệ thuộc, bây giờ dứt khoát phải thay đổi. Vậy mới gọi là gan, mới gọi là người dám nhận đúng, nhận sai. Nếu mình không vậy thì không thể làm gì được cho Phật giáo Việt Nam.

Thiền viện Trúc Lâm ra đời, quý vị thấy chúng ta có cải đổi không? Tất cả nghi thức đều chuyển thành tiếng Việt, đến nỗi người ta gọi tôi là cầu kỳ. Lâu nay người ta quen trong tất cả các buổi lễ, đến danh hiệu đức Phật thì niệm “Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật”. Gần như là một thông lệ, không thay đổi được. Nhưng tôi là kẻ kỳ khôi, dám thay đổi. Tôi không chịu và đổi lại “Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni”. Tại sao tôi kỳ khôi như vậy, làm việc lạ đời như vậy?

Quý vị nhớ, nếu đứng về mặt văn từ, theo lối Trung Hoa thì trong câu văn, luôn luôn danh từ chung được đặt sau, danh từ riêng đặt trước. Như Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật, Bổn sư Thích-ca-mâu-ni là danh từ riêng đặt trước, Phật là danh từ chung, đặt sau.

Trong tiếng Việt Nam mình thì sao? Danh từ chung đặt trước, danh từ riêng đặt sau. Như giờ muốn nói đến một vị thượng tọa nào đó, chúng ta phải nói thế nào? Ví dụ thượng tọa đó tên là Chân Tâm, thì mình nói “Chân Tâm thượng tọa” hay là “thượng tọa Chân Tâm”? Nếu mình nói “Chân Tâm thượng tọa” chắc người ta cười rần lên, phải không? Chữ thượng tọa là danh từ chung, Chân Tâm là danh từ riêng. Nếu nói theo Trung Hoa thì phải để danh từ riêng Chân Tâm ở trước, nên nói “đây là Chân Tâm thượng tọa”, giới thiệu vậy người ta chịu không? Hay mình phải nói “đây là thượng tọa Chân Tâm” Người Việt Nam phải dùng ngữ pháp Việt Nam. Tại sao chúng ta lại lệ thuộc từ chữ nghĩa cho đến văn phạm, lệ thuộc hoàn toàn, như vậy chúng ta có can đảm không?

Tôi đã nói nhiều lần rằng chúng ta là người Việt Nam, khi tu theo đạo Phật phải đem chánh pháp của Phật ứng dụng tu hành, chứ không nên lệ thuộc người Ấn Độ về hình thức cũng như về văn hóa, chữ nghĩa. Đã không lệ thuộc Ấn Độ, chẳng lẽ chúng ta lệ thuộc Trung Hoa, phải không? Trung Hoa không lệ thuộc Ấn Độ, Trung Hoa có ngôn ngữ văn tự Trung Hoa. Nhật Bản không lệ thuộc Ấn Độ, Nhật Bản có ngôn ngữ văn tự Nhật Bản. Người Việt Nam chúng ta cũng có ngôn ngữ văn tự Việt Nam, mà chúng ta cứ ròng rặc học theo Trung Hoa hết, vậy có lệ thuộc hay không?

Chúng ta tu theo Đại thừa, không cho lệ thuộc bất cứ hình thức hoặc văn hóa ngoại lai nào, vậy mà rõ ràng Phật giáo Việt Nam chúng ta đang lệ thuộc một cách đáng thương. Nên tôi chủ trương cái gì lệ thuộc chúng ta phải gỡ. Phải cởi ách nô lệ, nô lệ về chính trị, nô lệ về kinh tế, về văn hóa. Không lẽ chúng ta bị nô lệ mãi. Đó là cái nhìn của tôi, quý vị nghe chắc thấy hơi lạ.

Lại nữa, Phật giáo đã đóng góp đáng kể vào nền văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nhiều khi chúng ta không nghiên cứu kỹ, nếu nghiên cứu quý vị sẽ thấy.

Hồi nhỏ, khoảng mười tuổi, tôi thuộc lòng câu chuyện Mù Rờ Voi. Mỗi khi làm cái gì coi bộ không được, không thành hình thì mấy ông già bà già nói: “Mày làm như mù rờ voi vậy.” Tôi không biết mù rờ voi gì nhưng biết là nói mình làm không đúng, vậy thôi. Có chỗ nói kỹ hơn, kể một đám mù rờ con voi, có kẻ nói như cái trống, người nói như cây cột, người nói như cái chổi. Nghĩa là mấy người mù nói không đúng hình tượng thật của con voi mà chỉ đúng một bộ phận thôi, cho nên làm cái gì không đúng hoàn toàn thì người ta nói “mày là mù rờ voi”. Mình tưởng câu chuyện đó do tổ tiên mình đặt ra, thuộc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nhưng sau này khi nghiên cứu kỹ bộ kinh A-hàm, tôi thấy câu chuyện nằm ngay trong kinh Trường A-hàm.

Đức Phật kể: “Có một ông vua tên Cảnh Diện muốn trắc nghiệm những người mù, nên bảo người hầu dẫn một con voi vào trước sân triều, rồi tập họp những người mù lại và bảo họ tự lấy tay sờ thử. Trong những người mù đó, có người sờ trúng lỗ mũi, có người sờ trúng ngà, có người sờ trúng lỗ tai, người sờ trúng đầu, người sờ trúng lưng, người sờ trúng bụng, người sờ trúng chân, người sờ trúng bàn chân, người sờ trúng đuôi. Khi mỗi người sờ trúng mỗi bộ phận thì nhà vua nói: “Đó là con voi đấy.”

Lúc ấy, vua Cảnh Diện ra lệnh dắt voi đi và hỏi những người mù: “Hình dáng con voi thế nào?”

Những người mù đáp:

– Con voi như cái tù và, nếu họ sờ trúng mũi.

– Con voi như cái chày, nếu họ sờ trúng cái ngà.

– Con voi như cái nia, nếu họ sờ trúng cái tai.

– Con voi như cái đỉnh, nếu họ sờ trúng đầu.

– Con voi như gò đất, nếu họ sờ trúng cái lưng.

– Con voi như bức tường, nếu họ sờ trúng bụng.

– Con voi như gốc cây, nếu họ sờ trúng bắp đùi.

– Con voi như cây cột, nếu họ sờ trúng cái chân.

– Con voi như cái cối, nếu họ sờ trúng bàn chân.

– Con voi như cây chổi, nếu họ sờ trúng đuôi.

Họ tranh cãi với nhau về vấn đề đúng sai, tranh tụng liên miên không thôi, thậm chí còn ẩu đả, đấu tranh lẫn nhau. Vua Cảnh Diện trông thấy thế cả cười.”

Nhà vua và bá quan là những người sáng mắt nhìn thấy tức cười. Nhưng mấy ông mù đó, người nói con voi giống cây cột, người nói con voi giống cái chổi…, ông nào cũng nói mình đúng vì chính mình đã nắm được rõ ràng. Thế nên ông này nói “anh nói bậy”, ông kia nói “anh nói sai”, cãi một hồi đánh lộn nhau tứ tung. Tại sao họ lại cãi nhau? Vì các ông ấy mù nên chỉ rờ được một bộ phận con voi, chỉ diễn tả đúng cái chỗ mình rờ được chứ chưa thấy toàn bộ. Chỉ khi nào các ông ấy sáng mắt thì mới thấy toàn thể con voi.

Nếu sáng mắt rồi, nhìn rõ con voi có còn cãi lộn nhau không? Con voi như vậy thì thấy như vậy, có gì mà cãi, phải không? Sở dĩ cãi lộn là tại mù, chỉ nắm được một bộ phận, cho nên mình nói thế này, người nói khác mới có cãi lộn.

Như lời Phật nói trong kinh này thì các nhà triết học hiện thời cũng như vậy, như những người mù, nắm được một phần chân lý, liền cho đó là cứu cánh rồi la lên, người khác nắm một phần khác cũng cho là cứu cánh, la lên. Do chỗ nhận hiểu của hai người không giống nhau nên sanh ra tranh cãi, hơn thua phải quấy. Chỉ có người giác ngộ trọn vẹn mới thấy chân lý trọn vẹn. Khi thấy chân lý trọn vẹn thì không còn gì cãi hết. Giác ngộ trọn vẹn là như đức Phật.

Câu chuyện đó phát nguồn từ kinh điển Phật, rồi ăn sâu trong văn hóa Việt Nam. Chẳng những một chuyện đó mà còn nhiều câu chuyện nữa, nếu quý vị chịu khó đọc những kinh như Bách Dụ v.v.. thấy có những ví dụ đã được tổ tiên chúng ta dùng để dạy dỗ, răn nhắc con cháu. Như vậy mới thấy văn hóa Phật giáo ảnh hưởng đến dân tộc chúng ta rất nhiều.

Ngày nay chúng ta biết tôn trọng độc lập của dân tộc, thì trên cương vị là người ở trong Phật giáo, chúng ta phải thế nào? Cũng phải biết tôn trọng cái độc lập của văn hóa Phật giáo. Chúng ta đừng lệ thuộc thứ chữ này hoặc thứ chữ khác, cũng đừng lệ thuộc bất cứ một đường lối nào của Phật giáo nước khác, đừng bắt chước người mà không chịu vận dụng cho đúng với tinh thần Phật Giáo Việt Nam.

Chúng ta phải có một nền Phật giáo Việt Nam thật sự. Như vậy mới xứng đáng, mới đúng tinh thần Phật giáo Việt Nam, bằng không chúng ta sẽ mãi lệ thuộc một cách đáng thương. Nếu bây giờ quý vị về các chùa xưa sẽ thấy tụng kinh hệt như Trung Hoa chứ không Việt Nam chút nào hết.

Như vậy để thấy rằng, tu theo đạo Phật chúng ta phải có một cái nhìn, một trí tuệ sáng suốt, biết chọn lựa điều gì hữu ích, có giá trị thật để ứng dụng. Những điều không thích hợp, lệ thuộc văn hóa của nước này hoặc nước kia thì chúng ta phải cởi bỏ, để chuyển tất cả thành Phật giáo Việt Nam, là của người Việt Nam. Làm sao để các kinh điển Phật giáo ai đọc cũng hiểu và đều có thể áp dụng tu được. Như vậy mới thấy cái hay của tinh thần Bắc tông, bằng không thì chúng ta theo Bắc tông mà lệ thuộc Bắc tông, chứ không phải theo Bắc tông mà độc lập như người Nhật, người Trung Hoa.

Chính vì vậy mà tôi thấy chỉ có thiền Trúc Lâm Yên Tử là một đường lối tu thích ứng với hoàn cảnh hiện tại của xã hội. Đó là một lối rất Việt Nam. Tại sao? Quý vị thấy, thiền được truyền sang Việt Nam từ ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi, từ ngài Vô Ngôn Thông, ngài Thảo Đường. Tới đời Trần, các vua Trần góp nhặt những tinh hoa của ba vị đó, kết hợp lại thành thiền Trúc Lâm Yên Tử. Vì ông tổ Trúc Lâm là người Việt Nam nên thiền Trúc Lâm Yên Tử là thiền Việt Nam. Không phải từ Trung Hoa tới, không phải từ Ấn Độ sang, mà chính là người Việt Nam đứng ra tinh lọc những cái hay, cái quý của người xưa để giáo dục, chỉ dạy lại cho người sau.

Nếu chúng ta không lấy thiền Trúc Lâm Yên Tử làm cái mốc để nhắm đến thì còn cái nào tốt hơn? Cho nên tôi phải lấy Trúc Lâm Yên Tử làm mục tiêu nhắm đến. Thể theo tinh thần đó chúng ta ứng dụng tu và truyền bá. Như vậy người Việt Nam có thể tự tin rằng trên đất nước Việt Nam vẫn có những người từng tu theo đạo Phật, từng tu theo Thiền tông đã chứng ngộ, đã thấy được chân lý, đã tự tại ra đi, tiếp tục truyền nối mãi cho đến ngày nay không mất. Như vậy người ta mới đủ lòng tin rằng Phật giáo Việt Nam thật có giá trị.

Nếu chúng ta cứ chạy theo bên này, bên nọ để học, thì rốt cuộc chúng ta không có gì hết. Ví dụ chúng ta qua Thái Lan, Miến Điện, Nhật Bản… học, điều đó nói lên rằng ở Việt Nam không có gì đáng để chúng ta học, phải không? Nếu Phật giáo Việt Nam không có gì thì làm sao truyền bá được gần hai mươi thế kỷ? Nếu không có gì thì nó đã bị mất, bị diệt rồi. Trái lại truyền bá thời gian dài như vậy thì biết rằng Phật giáo Việt Nam có chỗ đứng rất vững, có một đường đi rất rõ ràng chứ không phải là không có gì.

Tuy nhiên đáng tiếc là con cháu Việt Nam chúng ta không biết khai thác, không biết khơi dậy cái hay đẹp, cái tốt của tổ tiên mình. Chúng ta quên cái hay của tổ tiên mình, tưởng chừng như không có gì, rồi chạy đi học của những người khác. Như vậy chúng ta có lệ thuộc không? Tuy theo đạo Phật mà chúng ta vẫn lệ thuộc. Cho nên tôi chủ trương mình theo đạo Phật phải có một lập trường. Chúng ta lấy cái hay của Phật giáo Việt Nam làm chỗ đứng cho vững để làm lợi ích cho người Phật tử Việt Nam. Có thể tham vọng hơn nữa là cho tất cả những nước khác, những người mến đạo Phật, nhìn thấy Phật giáo Việt Nam là ngọn đuốc sáng, là chỗ đáng tin cậy để tới học hỏi. Như vậy mới hay, chứ chẳng lẽ mình cứ chạy đi học chỗ này chỗ kia, rồi rốt cuộc cái hay của mình lại bỏ. Vậy là có biết khơi dậy ngọn đuốc sáng của tổ tiên mình đã có hay không? Đó là chỗ tôi muốn nói cho tất cả hiểu.

Như vậy, nguyện vọng của tôi là gì? Nguyện vọng của tôi là muốn đất nước Việt Nam được độc lập, vững bền, lâu dài; đồng thời muốn làm sao cho Phật giáo Việt Nam cũng có những nét độc lập. Chúng ta đem đạo Phật ứng dụng tu nơi tâm của mình chứ không lệ thuộc hình thức người Ấn Độ, cũng không lệ thuộc hình thức người Trung Hoa, Nhật Bản v.v… Phật giáo Việt Nam thuần túy là Việt Nam. Như vậy chúng ta mới có được một cái gì cho đất nước mình, cho xứ sở mình, bằng không thì chúng ta trống rỗng, chỉ học của người ta thôi.

Đó là chỗ nhắm của tôi. Nếu tôi không nói ra thì có lẽ trong đây tăng ni ở năm, mười năm cũng chưa hẳn đã rõ. Nếu có ai hỏi tại sao tôi đặt tên Thiền viện này là thiền viện Trúc Lâm, cũng lúng túng không trả lời được. Hoặc có người hỏi: “Sao lâu nay người ta niệm Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật, còn thầy ông lại niệm kỳ vậy, ngược đời vậy?” thì cũng không biết tại sao. Như vậy có thể việc làm của tôi, chỗ mong mỏi trông đợi của tôi, điều tôi muốn thực hiện, mà người sau tôi không biết, đó cũng là cái hại. Cho nên hôm nay nhân ngày đầu năm, tôi nói rõ nguyện vọng của tôi cho tăng ni và Phật tử hiểu. Sở dĩ tôi đặt tên Thiền viện như vậy là cả một nguyện vọng gửi gắm vào đây, chứ không phải chuyện làm suông, bắt chước hay tùy hứng. Tôi đem tất cả nguyện vọng của tôi gửi vào tên Thiền viện. Tôi trông đợi mãi những người sau tôi thấy rõ được nguyện vọng của tôi mà tiếp nối, làm cho nó sáng tỏ, làm cho nó được lâu dài. Đó là chỗ tôi mong mỏi, trông đợi ở tất cả tăng ni và Phật tử hiện giờ.

Buổi nói chuyện hôm nay nhân ngày đầu xuân tới đây tạm xong. Mong rằng tất cả chư tăng ni nhớ kỹ, hiểu rõ thâm ý của tôi, lòng trông đợi, mong mỏi của tôi, rồi quý vị ráng thực hiện. Như vậy chúng ta mới có được một hướng đi, một con đường tiếp nối dài xa cho con cháu mai sau.

Thầy Quản chúng Nội viện tăng:

Kính bạch Thầy! Vừa rồi toàn thể tăng ni, Phật tử chúng con đã được Thầy ban cho những lời pháp đầu năm bằng chính tâm huyết của Thầy. Chúng con cảm nhận thật sâu xa, nguyện ghi nhớ để ứng dụng tu hành một cách chân thật, tiếp nối ngọn đèn chánh pháp này để truyền mãi về sau không cho đoạn dứt. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho chúng con.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.