Xuân Phụng Hoàng

Lễ Phổ Trà Kỷ Mão - Đêm 29 tháng Chạp năm Kỷ Mão (04-02-2000) -



Hôm nay là ngày tất niên của năm Kỷ Mão, tăng ni và một số Phật tử đến dự lễ tất niên. Kể từ những năm thành lập các thiền viện, năm nào cũng như năm nào, đến ngày hai mươi chín hoặc ba mươi tháng chạp, tùy tháng đủ hay thiếu, chúng ta có buổi lễ tất niên. Thường người ta nói ăn tất niên, còn ở đây chư tăng chư ni chiều không ăn, nên đây là uống tất niên. Sau khi chư tăng chư ni báo cáo sự tu học trong một năm xong, chúng ta được uống nước tất niên. Sau đó tôi mới nói chuyện, nhắc nhở tăng ni và Phật tử, đồng thời báo cáo những việc làm của tôi trong một năm hoặc nhiều năm qua cho tăng ni và Phật tử biết, để mình chuẩn bị cho những năm tới. Đó là ý nghĩa buổi tất niên hôm nay.

Tất cả quý Phật tử có mặt nghe báo cáo đây là nghe chung, hay nói cách khác là nghe ké với tăng ni chứ không phải dành riêng cho quý vị. Quý vị nghe các sinh hoạt của tăng ni trong một năm, để hiểu rõ không nghi ngờ, và để nhân đó ai muốn phát tâm, muốn bắt chước quý cô quý thầy thì phát tâm.

Đã tới giờ khai mạc, tôi nói ít lời rồi, kế đây sẽ theo thứ tự, đại diện bên tăng là Quản chúng tăng, đại diện bên ni là Quản chúng ni, báo cáo sinh hoạt của tăng ni qua một năm tiến bộ thế nào. Hai bên có những gì hay, những gì dở kể lại cho tôi biết, cũng như cho tất cả quý vị cùng nghe để cùng vui hoặc cùng chung lo xếp đặt những việc sắp tới được tốt đẹp.

Bây giờ bắt đầu phần chư tăng trước. Quản chúng bên tăng nên báo cáo cho tất cả biết sinh hoạt một năm qua của chư tăng ở nội viện và ngoại viện, đã làm được những gì hay và còn điều gì dở, cho tôi nắm vững.

Thầy Quản chúng Nội viện tăng: 

Kính bạch Thầy! Hôm nay nhân ngày cuối năm, vâng lệnh Thầy, con kiểm điểm trong chúng một năm qua để báo cáo.

Qua một năm rồi, trong đại chúng, con xét thấy huynh đệ có những bước tiến tốt trong công phu tu tập. Đặc biệt nhất là đối với những vị còn nhỏ tuổi, vào đạo chưa bao lâu, nhưng với tâm chí quyết tu hành cũng có được những kinh nghiệm trong công phu tu tập, nhất là trong thời gian nhập thất. Nhiều vị đã trình lên Thầy những điều khả quan, đó cũng là một điểm khích lệ.

Bên cạnh đó, do tập khí cũ nhiều đời của mỗi người nên cũng có những lúc bất giác, những lúc sơ sót xảy ra. Chẳng hạn như có những vị trong vài trường hợp thiếu sự thành thật với nhau. Đó là khuyết điểm trong đời sống tu hành.

Thứ hai, Thầy thường nhắc nhở chúng con, công phu không phải chỉ trong những lúc nhập thất hay trong thời khóa tu tập, mà phải ứng dụng luôn trong công việc, trong những lúc động để nó được liên tục. Nhưng về mặt này trong huynh đệ cũng còn yếu. Nghĩa là lúc làm việc dễ bị mất mình trong những câu chuyện không đâu, hoặc đôi khi vì bất giác đùa chơi để bất ngờ không kiểm soát nổi phát ra những câu nói tạp nhạp hay vô nghĩa đáng lẽ không nên có. Đó là những tập khí cũ mà mình không kiểm soát nổi, nên trong những lúc bất thần nó phát ra. Đây cũng là điều thiếu miên mật.

Trong thiền đường đôi khi có vài vị chưa giữ gìn nghiêm chỉnh, hoặc đi trễ, hoặc xuống sớm, hay một vài trường hợp nói chuyện ồn làm động chúng trong đó. Có một hai vị đến tập tu cũng đã góp ý điều này. Đây cũng là điều sơ sót. Cũng như có vị thiếu sự tôn trọng quy củ, đôi khi lén Ban lãnh chúng đi ra ngoài, như vậy sẽ rất dễ xảy ra những lỗi lầm không tính trước được.

Nhất là gần cuối năm Thiền viện có công tác xây dựng, chúng làm việc nhọc nhằn và bận rộn, có vị nhân đó có những điều lỗi lầm. Trong quá trình xây dựng, các huynh đệ cũng mệt mỏi thân tâm, ảnh hưởng đến công phu tu hành. Ngoài ra, có trường hợp sơ sót, ảnh hưởng đến tình cảm một ít người thợ. Đây cũng là điều sơ sót đáng tiếc.

Con kiểm điểm thấy cái dở nhiều hơn cái hay. Đó là một điểm để cho trong huynh đệ không nên tự hài lòng hoặc ngủ say trên những thành công của mình. Bởi vì mỗi người đều có những bệnh riêng, còn trong thời gian đang tu, dĩ nhiên đôi lúc những bệnh cũ cũng tái phát. Bởi vậy có một hai vị nhiệt tình thấy cũng hơi chán, sao trong thiền viện mà còn có những cái dở như vậy. Chính con đôi lúc cũng nghĩ như vậy.

Tuy nhiên để ý quán sát kỹ lại, con mới thấy rõ trong quý huynh đệ, tuy những tập khí cũ chưa dừng hết, nhưng nếu là người đã có sống lâu năm, gần gũi với huynh đệ, nhìn lại mới thấy so thời gian trước của quý huynh đệ với ngày nay, thì cũng có những chuyển biến, có giảm bớt, chứ không phải y như cũ. Ngay cả những huynh đệ có tập khí kiêu mạn nhiều đi nữa, xét lại cũng đã có chuyển bớt.

Như vậy cho thấy rõ có tu thì có tiến. Ai cũng có tâm tu hành mới đến đây, nhưng do tập nghiệp cũ đôi khi còn sơ sót. Điều cần nhất là huynh đệ chúng con luôn cố gắng nhắc nhở nhau, nhờ sự nhắc nhở đó mà cùng tiến lên. Bởi vậy, xét kỹ thì con cũng không dám khinh chê ai hoặc khinh thường huynh đệ, mà thấy rõ những sơ sót của nhau để cùng nhắc nhau tiến lên.

Đây là những điều con nhận xét được, kính trình lên Thầy chứng minh và thỉnh Thầy chỉ dạy thêm cho chúng con.

Ni sư Quản chúng Nội viện ni: 

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.

Ngưỡng bạch Thầy! Hôm nay con xin kính trình lên Thầy sự tu học của chúng con trong một năm qua.

Trước hết, con kính trình Thầy về phần ưu. Năm này Thầy đã cất thêm cho chúng con hai cái thất, đó là một duyên tốt để huynh đệ chúng con được mau đến phiên nhập thất. Con nhận thấy có những huynh đệ thiết tha tu hành nên rất mong mình đến phiên nhập thất. Trong thời gian được nhập thất làm người vô sự đó, các huynh đệ hết sức cố gắng, nỗ lực hạ thủ công phu, cho nên sau khi ra thất đã có trình lên Thầy những phút giây bật khóc bật cười. Đó là niềm vui con thấy được khi huynh đệ con có tiến.

Về phần học, hàng tháng chúng con được trực tiếp học với Thầy hai buổi, ngoài ra chúng con còn học thêm băng video của Thầy giảng các nơi. Đồng thời chúng con có tạo được một phòng sách nho nhỏ để cho huynh đệ chúng con có điều kiện nghiên cứu rộng rãi thêm. Về phần làm việc, con thấy khi nào các huynh đệ được cử làm trách nhiệm gì đều cố gắng làm hết mình trong công tác đó. Đó là phần ưu về tu học và làm việc.

Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm đó cũng có những khuyết điểm không phải ít, vì tập khí sâu dày nên có những lỗi lầm sơ sót. Ví dụ như về phần tu, các huynh đệ con khi chuẩn bị nhập thất cũng thiết tha lắm, nhưng vào thất lại bị các chướng duyên nên không thể tu tiến được. Tuy các huynh đệ rất cố gắng trong thời gian đó nhưng rồi cũng phải chịu thất bại, thua trận, không được công phu gì hết. Đó là điểm khuyết của chúng con.

Về phần công tác trong chúng, có huynh đệ sốt sắng siêng năng nhiệt tình với công việc, rồi cũng có những huynh đệ vì lý do gì đó mà không được sốt sắng lắm. Thật lòng, đôi khi con cũng buồn, có hơi than phiền, có một lần bạch với Thầy là con nản. Sau đó rồi con cũng biết khi lãnh trách nhiệm gì thì phải cố gắng, nghĩ tới công ơn của Thầy nên con không dám khởi niệm nữa, tuy một vài phút nhưng con cũng thấy hối hận. Đây là khuyết điểm của con cũng như của huynh đệ con.

Ngoài ra còn có những tập khí sâu dày nên năm này có một huynh đệ không thể sống hòa hợp được với chúng, phải lìa chúng. Còn có một khuyết điểm nữa là nếu so với những năm về trước, năm này con thấy các huynh đệ bệnh nhiều hơn. Khi bệnh các huynh đệ đi Thành phố chữa trị, có người đi nửa tháng, hoặc hai ba tháng. Khi đi như vậy công phu tu hành làm sao miên mật được, vì vậy con thấy đó là một thiếu sót đáng tiếc, không thể miên mật trong sự tu hành. Nhưng vì có thân thì phải có bệnh nên con cũng thông cảm, không dám phiền trách hay có ý nghĩ gì. Dù vậy đây cũng là một điều thiếu sót của tụi con.

Trong khi làm việc chung nhau đông đảo, huynh đệ con cũng hay quên, chạy theo bên ngoài, không xoay lại mình, nên có khi nói chuyện ồn ào lớn tiếng. Những lúc đó con phải nhắc nhở, vì trách nhiệm của mình nên phải nhắc các em, nếu thấy mà con không nói thì cũng thiếu bổn phận. Khi con nhắc nhở, các huynh đệ cũng vâng lời, biết lỗi và không dám tái phạm.

Kính bạch Thầy! Đó là những điểm ưu và khuyết của chúng con xin kính trình lên Thầy. Cũng còn nhiều điều con chưa thấy được, ngưỡng mong Thầy nếu có thấy những ưu và khuyết điểm nào, xin Thầy chỉ dạy cho chúng con.

Hòa thượng: 

Hai Quản chúng tăng và ni báo cáo rồi, giờ tôi hỏi lại sĩ số của tăng và ni. Những năm mình mới lên, bên tăng là bao nhiêu, bên ni là bao nhiêu? Và hiện giờ bên tăng bao nhiêu, bên ni bao nhiêu? Quý vị báo cáo rõ cho tôi biết.

– Dạ bạch Thầy, năm đầu mới lên, bên tăng khoảng ba mươi mấy, và hiện nay là sáu mươi hai.

– Bên tăng lâu lâu có người nào giận đỏ mặt với nhau không?

– Dạ, cái đó thì có. Đôi khi cũng nói nặng lời với nhau nữa.

– Còn bên ni báo cáo cho biết coi!

– Kính bạch Thầy, năm đầu tiên mới xây dựng chưa khánh thành, các huynh đệ phát tâm lên trước có tám vị, kế đó là hai mươi lăm. Đến ngày khánh thành thu chúng là ba mươi bảy, rồi hiện giờ là sáu mươi bảy, con kính trình Thầy.

– Lâu lâu có ai giận đỏ mặt không?

– Dạ thưa Thầy, đỏ mặt thì con không thấy, mặt tái thì có. Đôi khi cũng nói hơi lớn tiếng, nếu con gặp được thì quý vị thôi, còn không gặp thì càm ràm riêng đâu đó chứ không dám quấy rầy trong chúng. Con thấy quý vị cũng hơi ngán, chắc không đến đỗi đỏ mặt, thưa Thầy.

– Thôi, như vậy là phần báo cáo xong. Bây giờ tới phần uống tất niên. Bên tăng thì có ban lo nước nôi cho quý thầy và quý Phật tử nam. Bên ni cũng có một ban lo nước nôi cho quý cô và các cư sĩ nữ. Ở đây bình đẳng, cư sĩ cũng được phần nữa chứ không phải chỉ người xuất gia thôi. Vậy quý vị bắt tay vào việc đi. Mời mỗi người uống một ly sữa, khỏe rồi tôi sẽ nói chuyện sau, tới phiên tôi thì dài dòng lắm.

Uống nước tất niên chắc là mau, không mất thời giờ nhiều. Vậy quý vị lãnh phần, uống xong hết rồi tôi sẽ nói chuyện. Quý vị cứ uống tự nhiên. Nếu sau này quý vị làm trụ trì, nhớ tới ngày hai mươi chín hoặc ba mươi tết mình được ăn tất niên. Nhưng ở Thiền viện này chỉ được uống chứ không ăn, thua thiệt hơn người ta. Cũng nói thêm, phần nước tất niên này không phải chùa sắm, mà do nhóm của Diệu Phương mới đem lên cúng hồi chiều, thành ra uống tất niên không tốn tiền bạc gì hết. Mỗi người có phần, đừng ai nhường ai hết nghe, cứ thứ tự cho xong rồi mình nói chuyện.

Buổi nói chuyện này, riêng về tôi có mấy mục. Thứ nhất là nhắc nhở chư tăng chư ni. Thứ hai, tôi báo cáo sinh hoạt của tôi từ những năm về trước cho tới ngày nay. Thứ ba là tôi nói rõ tương lai sẽ làm gì, tới đâu được ngừng nghỉ. Đó là ba mục chính tôi sẽ nói chuyện với quý vị bữa nay.

Mục thứ nhất, tôi nhắc nhở tăng ni. Như những kỳ giảng rồi, tôi nói rõ rằng: Người tu là người làm việc phi thường, quý vị có nhớ không? Nói phi thường ở đây, quý vị đừng quan niệm là biết bay hoặc biết lặn dưới nước, hay nhịn đói không ăn v.v… Chữ phi thường ở đây là làm cái việc mà người thường không làm được. Việc đó như thế nào? Tôi ví dụ đây là nói nghiêng về bên tăng như bị người ta nói nặng, hay nói cách khác là bị chửi vô mặt mà mình không giận, thì đó là phi thường hay tầm thường? Người ta cứ tưởng biết bay trên trời mới là phi thường, hay làm những việc kỳ lạ hơn người mới phi thường. Sự thật trong đạo Phật, phi thường là khi gặp những việc đáng lý xử theo người thường là chúng ta phải buồn giận, tức tối, tham lam v.v…, mà đây chúng ta không buồn giận, không tức tối, không tham lam.

Ví dụ gần nhất là bị người ta chửi, nếu người thường bị chửi thì sao? Nổi nóng chửi lại hoặc có thế lực hơn thì đánh người ta nữa. Còn người tu bị người ta chửi phải làm sao? Nếu bị người chửi mà mình không đổi nét mặt, không giận hờn, thì đó là phi thường.

Quý vị nhớ đức Phật ngày xưa có bị người ta chửi không? Khi người ta chửi Phật, ngài có đỏ mặt như mình bây giờ không? Phật không đỏ mặt, trái lại ngài từ tốn nói từng câu, từng lời để cảnh tỉnh họ. Còn mình bây giờ, với huynh đệ, với người ở chung một nhà, cùng một lý tưởng, một bản nguyện, mà nổi sân với nhau đỏ mặt đỏ mày thì hơi quá đáng rồi. Như vậy mình chưa phải là người phi thường.

Nếu không nổi sân đỏ mặt mà tái mặt thì sao? Cũng là chưa được. Phải điềm đạm bình tĩnh, tránh đừng để đỏ mặt hay tái mặt. Phải bình tĩnh đàng hoàng như đức Phật, bị người ta chửi mà vẫn từ tốn đi, bị người ta chặn đường thì ngài dừng lại, hỏi và nói chuyện hết sức bình thường. Đó là thái độ phi thường của đức Phật.

Chúng ta học đạo, tu hành phải tập cái phi thường đó. Người thế gian không thể nhịn được lời nhục mạ của kẻ khác mà người tu nhịn được, bỏ qua được, như vậy mới phi thường, phải không? Những việc như là bị khinh bỉ, chê bai thì người đời nổi nóng nổi tức, còn mình vẫn điềm đạm bình tĩnh, đừng giận đừng tức, đó là phi thường. Cho đến những điều thế gian cho là hấp dẫn lôi cuốn, tránh không được, mình thấy hay gặp vẫn bình tĩnh không bị nó lôi cuốn, đó là phi thường.

Như vậy phi thường ở đây là chúng ta thắng được những phiền não sân hận của nội tâm, là không bị ngoại cảnh quyến rũ, lôi kéo. Tăng ni khéo tu được như vậy tự xứng đáng là người đã thực hành được hạnh phi thường. Đừng nghĩ phi thường là biết bay, là những việc trên trời trên mây gì đó. Trái lại, chính nơi chỗ sống thực tế hàng ngày, người thường không qua, không thắng được mà chúng ta qua được, thắng được, đó là phi thường.

Như vậy, ai là người tu cũng đều đang bước chân trên con đường tiến đến phi thường. Mong quý vị cố gắng, đừng để đời tu của mình cuối cùng nhìn lại cũng như những kẻ không biết tu, nếu vậy thật là phí một cuộc đời!

Tôi được nghe nói tăng ni vẫn còn bệnh nóng giận hơi nhiều. Có còn không, thật thà nói coi? Còn. Vậy nên phải ráng thắng nó, đừng để nó gây ra những cái không hay. Đó là tôi nhắc về phần nóng nảy.

Đến phần thứ hai, người tu chúng ta nhiều khi thấy có lòng từ bi tràn trề, thương người thương vật, cho tới con kiến cũng thương. Nhưng con kiến, con gà, con chó thì thương mà huynh đệ động đến lại cự, là sao? Từ bi tới cỡ nào?

Đó là một điều tôi thấy hết sức phi lý. Nếu chúng ta thương tới con kiến, thương tất cả những con chó con mèo con gà con chim, thì tại sao người ta mình lại không thương? Người ta cùng là một con người, cùng dòng giống, nhiều khi cũng là thân tộc của mình, đồng thời cùng một lý tưởng, một bản nguyện như mình, mà mình không chịu thương, lại thương những con vật kia, rồi cho đó là từ bi. Như vậy quý vị nghĩ sao, từ bi đó có hợp lý không? Bởi vậy chúng ta phải chín chắn kiểm điểm lại. Nếu thật tình mình là người từ bi, thương tới con kiến, tới những con vật nhỏ thì với mọi người chúng ta phải tha thiết thương, phải biết quý trọng. Như vậy tình thương đó mới là thật, chứ nếu thương các con vật nhỏ mà con người không thương thì không hợp lý. Đó là điều tôi nhắc quý vị, ráng cẩn thận, chín chắn kiểm tra lại mình, đừng để nói thì tốt mà làm không được tốt, đó là điều không hay.

Còn một điểm nữa, thường chúng ta trọn ngày sống trong đạo: tụng kinh, sám hối, tọa thiền, ai cũng thấy chúng ta đang tu và tu rất là chân chính. Nhưng thỉnh thoảng lại nói lời không đúng sự thật thì đó là chân chính chưa? Nếu người tu chân chính thì giới luật phải giữ nghiêm chỉnh, kỹ càng hơn. Trong khi đó, nói dối là lỗi thuộc về giới của cư sĩ, nhưng tôi thấy chẳng những ở đây mà còn ở nhiều nơi, dường như người tu coi thường giới nói dối quá. Do coi thường sự nói dối nên đạo đức của mình theo đó suy giảm, không còn tốt nữa.

Bởi vậy, tôi khuyên tăng ni cũng như các Phật tử, chúng ta phải tạo dựng cho mình một cơ sở vững vàng, giữ được tư cách chân thật của người tu. Nói phải thật thà, đừng nên dùng những lời không chân thật để nói với nhau, không tốt. Người tu với người tu mà không tin nhau được thì còn tin ai nữa! Nếu mình với mình mà không tin thì trong xã hội này mình còn tin ai? Nếu mất hết lòng tin trong xã hội thì chúng ta sống rất là cô đơn, phải không? Không có ai là người thân của mình được. Do đó chúng ta phải tạo dựng lòng tin nhau một cách chân chánh. Có tin nhau mới có thân, mới có thương mến, còn không tin thì không bao giờ thân, không bao giờ thương mến được. Nếu trong đạo mà không thương nhau thì còn thương ai được.

Đó là những điều hết sức thiết yếu, mong rằng tăng ni cũng như Phật tử cố gắng thực hiện cho được để chúng ta tu đạt kết quả tốt hơn. Đây là những lời tha thiết nhắc nhở quý vị. Qua một năm rồi những khuyết điểm còn đó, chúng ta phải cố gắng dẹp bỏ để năm tới không còn tiếp tục.

Bây giờ tới phần tôi kể những chuyện đáng mừng. Qua một năm những người tu tại thiền viện Trúc Lâm đã có những bước tiến. Tôi vui nhất là mỗi khi mãn thất ra, bên tăng cũng như bên ni tới trình với tôi về những bước tiến. Có người tiến vừa phải, có người tiến vượt bậc, đó là điều tôi rất mừng. Những năm về trước, bên tăng tôi chỉ có đủ lòng tin với sáu người thôi, nhưng năm này tôi đủ lòng tin được mười người, đó là điều tôi thấy đáng mừng. Bên ni những năm trước tôi có hơi chê, nhưng năm này tôi cũng bắt đầu khen và mừng rằng đã có những bước tiến đáng cho tôi tin cậy. Như vậy là đúng với sở nguyện của tôi: tạo cơ hội tốt đẹp cho tăng ni tu tiến, đủ sức gây được lòng tin không thối chuyển trên đường đạo.

Thường quý vị thấy trong kinh nói hạng nào được bất thối chuyển? Hạng nào, dám nói không? Chắc hơi dè dặt không dám nói. Chúng ta thường nói “bất thối Bồ-tát vi bạn lữ”, nghĩa là mình làm bạn với hàng Bồ-tát bất thối chuyển. Tu mà không còn lui sụt nữa, đứng về pháp Đại thừa đó là Bồ-tát, đứng về Thanh văn là Tu-đà-hoàn.

Như vậy, nếu ở trong thiền viện chúng ta được năm, mười người, hoặc hai mươi người tu mà không còn lui sụt thì có đáng mừng hay không? Vì vậy, trên đường tu nếu điều kiện tốt, ý chí mạnh, và khéo giữ cho tâm mình được bền vững lâu dài thì tu nhất định tiến, chẳng những tiến thông thường mà có thể tiến vượt bậc nữa.

Khi thành lập thiền viện Trúc Lâm, tôi từng thầm nguyện làm sao khi tôi già, theo Phật rồi, có những tăng ni đủ sức đảm đương những gì tôi đã gầy dựng, làm sao cho những công việc đó được tăng trưởng, mở rộng thêm. Những việc tôi đã làm, khi tôi vắng mặt không nên liền tiêu, tàn, không còn gì nữa.

Ngày nay tuy tôi chưa rời khỏi đây, chưa từ giã quý vị, nhưng tôi đã hài lòng vì có những người đáng cho tôi tin cậy, đáng cho tôi giao phó. Tôi có theo Phật thì chẳng những thiền viện Trúc Lâm vẫn duy trì lâu dài mà còn có thể mở mang rộng thêm các nơi khác nữa. Đó là điều tôi rất vui. Việc làm của tôi không uổng phí, không đến nỗi chỉ một đời tôi là hết, mà có thể tiếp nối mãi mãi, nhiều rất nhiều chứ không phải ngang chừng này.

Tôi rất hoan hỷ trong ngày cuối năm này vì đã lượm lặt được những tin tức tu hành của quý vị khi ra trình với chúng tôi. Biết rằng chỗ khuyết dở của quý vị chưa hết nhưng bước tiến vẫn có. Đồng thời những người quyết tâm tu đã thấy được những điều trước kia chưa thấy, biết được những điều trước kia chưa biết, nên lòng tin vững mạnh không lui sụt. Đó là chỗ tôi rất vui, rất mừng.

Tuy nhiên không phải năm mươi người, người nào cũng được như vậy đâu. Nhưng trong số năm mươi người, có được mười người cũng là đáng mừng. Mới mấy năm đã được mười người, biết đâu tới chừng tôi nghỉ sẽ còn thêm nữa, chừng đó số người để thay thế cho tôi càng được đông đảo. Càng đông chừng nào thì Phật pháp càng thịnh chừng ấy, đó là điều đáng mừng mà lâu nay tôi mơ ước.

Tôi rất buồn, rất ngại rằng trên đường tu tôi tiến được mà huynh đệ đi sau tôi không tiến được. Chính điều đó đã xảy ra những năm về trước, nên khi thành lập được Trúc Lâm, tôi nghĩ rằng phải tạo mọi điều kiện, tạo đủ duyên để cho huynh đệ ngồi tu yên ổn, không bận lòng một việc gì hết, bảo vệ cho quý vị tu an toàn, không có những điều phiền hà ở bên ngoài đến.

Chính vì kinh nghiệm qua bao nhiêu năm ở Phật học đường, bao nhiêu năm đi giảng dạy các nơi, tôi đã thấy tận mắt một số người tu rất đáng thương, tu để mà tu chứ không tiến được gì. Nhiều khi mười năm, hai mươi năm, nhìn lại cũng không hơn gì lúc chưa tu. Điều đó tôi thấy thật đáng thương, đáng buồn. Tôi nghĩ rằng không thể nào để một con người hy sinh một đời mà vô nghĩa như vậy được.

Có nhiều người khi ở ngoài đời có nghề nghiệp làm ăn, có tiền bạc, lại đạo đức nữa, nhưng vào chùa lâu rồi trở thành những người làm ăn thiếu đạo đức. Do đó tôi rất khổ tâm, chẳng lẽ hy sinh một đời rồi đi tuột xuống như vậy! Cho nên tôi có bản nguyện là phải làm sao để những người nương với tôi, chịu sự hướng dẫn của tôi, nếu tu không tiến trọn vẹn thì ít ra cũng tiến được phần nào. Không thể nào tu năm, mười năm hoặc hai mươi năm mà cứ đứng chựng một chỗ hoặc lùi lại, điều đó tôi không thể nào an lòng được.

Thiền viện Trúc Lâm tuy không phải là lớn, là đông, nhưng số người ở đây nếu chịu tu, chịu cố gắng, hiểu biết và thực hành đúng như những gì tôi hướng dẫn thì bảo đảm quý vị sẽ tiến, tiến một cách đáng mừng, chứ không phải là tiến tầm thường, hay tiến chậm chạp. Chỉ tiếc là cái gì lâu rồi cũng lờn. Nghĩa là những năm mới tới thì tất cả phấn khởi lắm, thấy rằng ở các nơi mình không được hoàn cảnh như thế này nên sự tu không tiến, đến đây được hoàn cảnh thuận, tu tiến. Nhưng sau hai, ba năm coi bộ hơi lờn, rồi cũng muốn thả trôi. Đó là cái bệnh tôi thấy người tu dễ mắc phải.

Bởi vậy tôi khuyến khích quý vị, chúng ta tu càng lâu thì bước tiến càng xa, chân bước càng vững chứ không phải lâu rồi sanh chán, lờn, giậm chân một chỗ, điều đó không nên. Phải cố gắng, phải vươn lên, như vậy mới xứng đáng với bản nguyện của mình là xuất gia để tiếp nối dòng họ Thích. Nếu không như vậy thì uổng công bỏ cha mẹ, thân quyến vào chùa rồi cũng lững lững lờ lờ hết một đời thật là vô nghĩa! Tôi không đành lòng nhìn thấy cảnh như vậy, bởi vì tôi đánh giá rất cao giá trị con người. Chúng ta có mặt ở đây là một điều rất quý, rất cao cả, không thể bỏ qua, thả trôi một đời một cách vô nghĩa được. Ai đành chịu hy sinh một kiếp này trong vô nghĩa thì đó là người dại dột.

Trong kinh Phật đã từng ví, được thân này như con rùa mù tìm bộng cây trôi ngoài biển. Con rùa mù sống vô lượng kiếp, một trăm năm mới trồi đầu lên một lần. Trong biển có bộng cây nổi chỉ có một lỗ, trôi giạt trên mặt biển từ đông sang tây. Con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu lên, tìm được bộng cây mà chui vào là cả vấn đề. Chui vào được là quý hết sức. Cũng như vậy, mất thân người rồi được trở lại làm người khó như con rùa mù tìm bộng cây kia vậy. Như vậy tại sao chúng ta lại lơ là, coi thường chuyện có mặt của mình hiện tại, nhất là có mặt mà còn được ở trong đạo nữa?

Quý vị mỗi khi tụng kinh đều phải nhớ câu “bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ”, trăm ngàn muôn kiếp khó mà được gặp Phật pháp. Bây giờ chúng ta được thân người, gặp Phật pháp, mà chúng ta lơ là không chịu tu. Như vậy là chúng ta muốn cái gì? Chẳng lẽ chúng ta muốn xuống địa ngục? Chẳng lẽ chúng ta muốn làm ngạ quỷ? Vậy quý vị phải thấy, phải biết cái phước của mình, cuộc đời của mình, giá trị của mình, mình phải làm cho xứng đáng chứ đừng coi thường. Đừng ở lâu rồi sanh nhàm sanh chán, điều đó không tốt.

Tôi nói cho quý vị hiểu điều mơ ước, lòng trông đợi của tôi. Tôi trông đợi tất cả tăng ni tu có kết quả, trông đợi quý vị mỗi một năm đều bước đi những bước rất dài, rất xa, để rồi chúng ta đủ điều kiện, đủ duyên tốt mà truyền bá chánh pháp, cứu giúp nhiều người. Bởi vì cái khổ của con người mênh mông như trời như biển, không biết sao kể cho hết.

Chúng ta biết tu, biết tìm con đường giải thoát thì chúng ta phải thương những người còn đang mê mờ. Thương mọi người, muốn giúp họ, trước chúng ta phải thương mình, phải lo tu. Mình làm cho được, tu cho được thì mới dạy người, khuyên người, chứ mình làm không ra gì mà khuyên người ta tu thì đó là chuyện rỗng, không có nghĩa lý gì hết.

Vậy mong chư tăng, chư ni cũng như quý Phật tử hiểu được ý đó. Tất cả chúng ta đều cố gắng để một đời này không uổng, không đáng tiếc khi mình nhắm mắt, đó là điều tôi mong mỏi nhất. Đây là những lời tâm huyết nhắc nhở tăng ni.

Giờ qua phần thứ hai là phần tôi báo cáo. Tôi nói hơi dài, kể những việc làm của tôi từ trước đến nay để quý vị biết, sau này quý vị sẽ tiếp tục làm cho được tốt đẹp hơn.

Nói tới đường tu, tôi nhớ hòa thượng Viện trưởng (Thầy của tôi) thường nói với chúng tôi rằng: Đời của Thầy chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là học cho hiểu đạo lý. Giai đoạn thứ hai là đem đạo lý mình đã học được truyền bá cho mọi người. Khi Thầy tôi được năm mươi lăm tuổi thì hai giai đoạn đó Người đã làm đủ. Còn giai đoạn thứ ba là sau khi truyền bá được đạo lý rồi, Thầy sẽ lui về một chỗ, chuyên tu rồi theo Phật. Nhưng chặng thứ ba chưa thực hiện được thì Thầy đã ra đi. Như vậy Thầy tôi đã làm được hai việc, còn một việc cuối chưa làm được.

Về phần tôi, khi bắt đầu vào đạo, tôi chỉ nghĩ học đạo cho hiểu để tu thôi chứ tôi không dám nghĩ gì khác. Nhưng khi học xong chương trình Phật pháp rồi, tôi phải đi giảng, đi dạy. Tôi nghĩ rằng thời gian giảng dạy đó là để đền bù lại công của thầy tổ đã dạy mình. Nhưng khi giảng dạy xong rồi (nói xong chứ sự thật chỉ xong một chặng đường) tôi bị bệnh phổi. Tôi thấy đời mình tàn rồi, không làm gì được nữa. Nhưng không ngờ, sau đó tôi cố gắng trị bệnh, được lành.

Tôi nghĩ tất cả những gì học được ở quý thầy mình phải truyền lại, chỉ lại cho tăng ni để đền ơn người đi trước. Cho nên tôi cố gắng soạn chương trình dạy tăng ni, gọi là Trung Đẳng Chuyên Khoa, tức là lớp Trung học Phật giáo, chỉ chuyên về Phật giáo, chứ không lẫn học đời. Khi bắt đầu làm việc đó, thầy Bửu Huệ, thầy Thiền Tâm và tôi ở tại Phật học viện Huệ Nghiêm cùng hợp tác dạy. Chương trình dạy ba năm. Tôi cho rằng ba năm là mãn nguyện của tôi rồi. Những gì tôi biết đã trao hết cho người sau.

Thấy bên tăng được như vậy, bên ni cũng hưởng ứng, trường Dược Sư đồng ý mở một khóa như bên tăng ở Huệ Nghiêm. Vì vậy mà ba năm đó chúng tôi dạy tăng và ni ở hai trường, thêm một phần nữa là dạy ở trường Đại học Vạn Hạnh, xưa gọi là Cao đẳng. Tôi gọi là làm xong bổn phận, mình học được, biết được bao nhiêu đã chỉ dạy lại cho người sau. Dạy được là tôi thấy yên lòng, tròn bổn phận, không còn hổ thẹn nữa, bởi vì mỗi lớp chúng tôi dạy tới bốn, năm chục tăng hoặc ni.

Sau khi tròn bổn phận thì tôi còn làm cái gì? Tôi nghĩ thời gian còn lại tôi dành hết cho sự tu. Những gì tôi học và hiểu được thì tôi nói lại được, nhưng tu tôi chưa có thời giờ. Do đó tôi nguyện phải có thời giờ để cho tôi tu. Vì thế năm 1966 mãn khóa hai trường Huệ Nghiêm và Dược Sư, tôi xin phép Thầy tôi tìm chỗ tu. Tôi tìm ra núi Lớn – Vũng Tàu, cất Pháp Lạc thất, ở đó tu. Thật ra không ai biết được duyên kiếp của mình trước kia. Khi tu tôi chỉ biết quyết tâm, vì sợ tới nhắm mắt mà chưa làm được giai đoạn chót, bây giờ còn sống còn khỏe, tôi phải có giai đoạn tu của tôi mới được. Nên tôi cố tình nhập thất tu mặc dù chưa biết cái duyên đó kết quả ra sao, nó mù mù mịt mịt, nhưng quyết tâm thì phải làm.

Quyết tâm tu như vậy một thời gian không dài, nhưng như lúc trước tôi đã nói, tôi có chuyển biến. Những điều hồi xưa tôi chưa biết, chưa tin, từ đó tôi biết được, tin được. Biết và tin rồi, lòng tôi nảy ra một ý niệm giúp cho người khác, vì tôi đã cảm thông được tăng ni ở các nơi đời tu sao mà mù mù mịt mịt. Chính bản thân người tu còn chưa đủ lòng tin, huống nữa là dạy, là hướng dẫn người.

Tôi tu tuy thời gian không dài lắm mà tôi đủ lòng tin, không còn nghi ngờ gì nữa hết. Bao nhiêu kinh Phật tôi thấy là vàng là ngọc, không có chỗ nào mình có thể xem thường được. Tôi quý quá! Ngày xưa học kinh tôi quý chừng năm phần, đến khi tu rồi tôi quý đến mười, hai mươi phần. Vì vậy tôi quyết tâm, cái gì mình thấy phải làm cho người khác thấy, cái gì mình được phải chỉ cho người khác được. Đó là tâm nguyện của tôi sau khi ra thất ở Vũng Tàu.

Vì vậy ra thất tôi bắt đầu cất thiền viện. Cất thiền viện để làm gì? Để trao tất cả những gì mình thấy được biết được, mà lúc trước chưa thấy chưa biết, cho những người sau. Do đó khởi sự thành lập thiền viện Chơn Không. Khi thành lập thiền viện Chơn Không tôi cố tình đem hết những gì tôi biết được trao lại cho những người chưa biết.

Tôi thực hiện chỉ được hai khóa. Khóa đầu từ năm 1971 tới 1974, chỉ có mười người, quá ít. Tôi tính hết khóa thì cất thất cho những người đó, tạo duyên cho họ được nhập thất một năm. Đến năm 1974 tôi mở khóa thứ hai, và 1975 đất nước trải qua một giai đoạn mới. Rồi chúng ta phải bận bịu chuyện cơm áo. Trên núi không đủ cơm áo phải xách gói chạy xuống Long Thành, phải đi lao động, làm ra cơm ra áo. Thành ra mấy năm đó lừng chừng tiến không nổi. Những người ham tu mà không có thời giờ tu, cả ngày phải lao động. Sáng làm không đủ ăn, chiều phải đi làm nữa, nhiều khi luôn cả ban đêm. Nhất là lúc ở dưới Thường Chiếu, ban ngày nhổ đậu, tối lặt. Thầy trò đốt đèn dầu ngồi lặt đậu, thời giờ đâu mà ngồi tu. Buông ra thì ngủ, ngồi tu gì nổi!

Trải qua mấy năm trời như vậy. Tôi rất buồn, nghĩ rằng chẳng lẽ Phật pháp đến đây không còn duyên để phát triển nữa sao? Tôi thầm buồn mà không dám nói, vì lúc đó số tăng ni theo tôi khoảng năm bảy chục, nếu tôi hơi tỏ vẻ chán nản chắc quý thầy quý cô nhỏ nhỏ này rút lui hết. Cho nên tôi cũng ráng vui vẻ, cố gắng.

Nếu lúc đó quý vị tới thiền viện Thường Chiếu, Viên Chiếu… quý vị thấy tăng ni tức cười lắm. Nhất là ở Viên Chiếu, mặc áo giống như tắc kè bông. Các tiệm may ở ngoài chợ cho vải vụn, các cô đem về ráp lại, trắng có đỏ có, cái áo giống như da tắc kè. Vậy đó mà kết lại để có áo mặc.

Lúc đó nếu quý vị đến Thường Chiếu hoặc Viên Chiếu, có thấy cũng lắc đầu thôi. Tôi là người lỳ lắm, chịu đựng lắm mà cũng ngán. Ruộng thì có, mà quá nhiều gốc cây to. Người ta đốn cây, còn cái gốc để nguyên, bây giờ muốn cấy lúa thì làm sao cấy? Mấy cô phải tự đào gốc bỏ, dọn lại cho thành một miếng ruộng. Lúc đó có mấy người nói tôi nuôi con mà nuôi không nổi, đem quăng vô rừng. Quăng vô rừng chứ không nuôi nổi. Tôi cũng phải liều vậy vì lúc đó mình không có phương tiện. Vì vậy những năm đầu hết sức cay đắng.

Khó khăn như vậy nên chỉ lo cho có ăn để sống mà tu sơ sơ (tu sơ sơ chứ không phải tu nhiều) là đã quá mệt rồi. Nên tôi e rằng bản nguyện của tôi không tới đâu, chắc rồi không ra gì. Nhưng chỉ nghĩ thầm vậy thôi, còn bên ngoài lúc nào tôi cũng tán thán, khuyến khích tăng ni hăng hái làm để có cơm ăn mà tu. Tuy nhiên tán thán suông thì không được, nên phải cho họ ca hát. Bên Viên Chiếu có đặt ra những bài hát cho vui, cho hăng hái. Ra đồng cuốc đất cũng hát om sòm. Rồi bên Thường Chiếu cũng vậy, như bài Chăn Trâu, “vừa làm vừa chăn” đó. Họ hát lên cho vui, cho quên mệt, để ráng làm có ăn có sống mà tu.

Như vậy, giai đoạn đó cũng dài, mất khá nhiều thời gian tăng ni tu không tới đâu. Tôi rất buồn mà không dám nói. Nhưng từ 1986 về sau, dần dần Phật tử làm ăn được, trong nước cũng khá, rồi ngoài nước về thăm, ủng hộ ít nhiều, vì vậy mà lần lần sửa được chùa, có phương tiện nuôi tăng ni. Ngang đó mới lột cái lốt tắc kè, mới có áo lam mặc đàng hoàng. Khi lột cái lốt đó rồi tôi cấm không cho ca hát nữa. Từ đó về sau có nhiều thời giờ tu. Khi có thời giờ tu rồi, tôi thấy có vẻ an ổn đôi chút nhưng chưa hài lòng.

Thời gian từ 1986 trở đi, thấy có phương tiện tôi bắt đầu cho cất thất. Mỗi nơi cất năm, bảy cái thất cho tăng ni thay phiên nhau nhập thất. Lúc đó tôi mới thấy có những bước tiến đáng mừng. Nhưng ở dưới kia, nhất là vùng Thường Chiếu nóng quá, đầu hôm ngồi thiền mồ hôi ướt hết áo, buổi khuya hơi đỡ đỡ. Thấy ban ngày nóng nực, ban đêm cũng nóng nực, ngồi tu không tiến bao nhiêu, tôi cứ mơ ước làm sao mình có một chỗ nào mát mẻ hơn. Nếu như bây giờ thì khỏi cần chạy lên đây, ở dưới có máy lạnh, quạt máy cũng đỡ. Hồi xưa đâu có chuyện đó, cho nên ngồi thiền đầu hôm ướt dầm cả áo, tôi thấy đó cũng trở ngại việc tu. Tôi lên Đà Lạt mục đích là đi dưỡng bệnh, nhưng một phần cũng muốn tìm chỗ nào mát mẻ một chút để cho tăng ni có đủ điều kiện tu tiến. Vì vậy khi tới đây xin được đất tôi rất mừng rằng có thể bản nguyện của tôi được toại. Đến khi thành lập thiền viện rồi, tôi đặt tên thiền viện Trúc Lâm, điều này ngày mai trong buổi nói chuyện đầu năm tôi sẽ nói kỹ.

Thiền viện Trúc Lâm ra đời, tôi nhắm ba phần:

– Thứ nhất là tôi phải kiến thiết thế nào cho có mô thức của một ngôi chùa Việt Nam thật sự chứ không lai căng.

– Thứ hai, tôi phải làm sao sưu tầm được những kinh sách thiền các đời trước còn lưu lại để phiên dịch và giảng dạy cho tăng ni biết được Thiền học Việt Nam.

– Thứ ba, tôi phải tạo duyên tốt cho tăng ni tu tiến, tiến chắc chắn, tiến được kết quả không nghi ngờ nữa.

Bây giờ nói điểm thứ nhất là xây dựng và kiến thiết. Nói tới kiến thiết, không những kiến thiết tại thiền viện Trúc Lâm mà chúng tôi còn kiến thiết ở Thường Chiếu, Linh Chiếu, Viên Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu, nơi nào cũng phải góp sức để xây dựng có chỗ nơi cho tăng ni ở yên tu học. Như vậy, các thiền viện, từ 1986 đến nay, đều phải kiến thiết liên tục.

Nhờ kiến thiết liên tục nên bây giờ quý vị tới các thiền viện thấy rõ ràng đã thay da đổi thịt hết, phải không? Hồi xưa chỉ là những căn nhà lợp lá dừa, vách đất, thì bây giờ nhà tường, lợp ngói hẳn hoi, rất khang trang. Vậy phần kiến thiết tương đối đã thành công, tôi đã làm tròn. Chẳng những kiến thiết các thiền viện, tôi còn cho kiến thiết lại nơi tôi xuất gia tu hành buổi đầu là chùa Phật Quang ở Bang Chang, quê nhà của tôi. Rồi cũng cho trùng tu chùa Phước Hậu, chỗ của Sư ông tôi, tôi cũng đã từng ở đó mấy năm.

Tất cả các nơi đó xây dựng đều xong xuôi nhưng tôi còn có nỗi buồn. Được Thường Chiếu, được Trúc Lâm mà cái gốc ở Chơn Không lại mất, nên tôi thấy mình còn một cái gì chưa làm tròn. Về sau này được cho phục hồi Chơn Không, tới ngày nay tôi cũng đã kiến thiết xong rồi.

Như vậy những nơi tôi đã ra công xây dựng bây giờ tương đối trọn vẹn, tốt đẹp. Nhất là ở đây mấy tháng rồi chúng ta nỗ lực làm tới giờ cũng xong xuôi. Vậy phần kiến thiết đối với tôi, tôi đã làm tròn.

Phần thứ hai, những sách vở của các thiền sư Việt Nam thời xưa còn lưu truyền lại, chúng ta phải làm sao in ấn được để truyền bá, điều đó tôi cũng cố gắng làm.

Khởi sự in ấn từ năm 1996 tới bây giờ là bốn năm. Năm 1996 in được hai quyển, 1997 hai quyển, 1998 hai quyển, tới năm nay là 1999 hai quyển, còn lại bốn quyển chưa in. Thật tình, việc in đó là công khó của nhóm Diệu Phương. Nhờ vận động có tiền in, ấn tống đủ cho các nơi cần, chỉ để lại số ít để dạy cho chúng học và phát hành thôi.

Như vậy, từ những năm về trước tới giờ, kinh sách về tinh thần Thiền Việt Nam in được, tôi kể quý vị nghe:

1- Khóa Hư Lục giảng giải.

2- Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục giảng giải.

3- Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải.

4- Tham Đồ Hiển Quyết và Thi Tụng Các Thiền Sư Đời Lý giảng giải.

5- Thiền Tông Bản Hạnh giảng giải.

6 Thánh Đăng Lục giảng giải.

7- Bát-nhã Trực Giải.

8- Thiền Sư Việt Nam.

9- Luận Giải Thi Tụng Mười Bức Tranh Chăn Trâu của thiền sư Quảng Trí.

10- Hương Hải Thiền Sư giảng giải.

11- Pháp Hoa Đề Cương.

12- Kiến Tánh Thành Phật giảng giải.

Qua bốn năm, nhất là năm chót còn cả thảy bốn quyển mà nhóm Diệu Phương cũng gánh phần in hết. Tới bây giờ là đủ cả. Như vậy phần in kinh sách tôi cũng làm tròn.

Bây giờ còn gì nữa? Phần chót là tăng ni tu để cho kết quả đúng như bản nguyện của tôi, đã tròn chưa? Phần đó ai chịu trách nhiệm? Chẳng lẽ tôi phải ngồi tu thế cho quý vị? Đó là phần của tất cả tăng ni hiện có mặt ở đây. Quý vị phải tận lực, tận tâm, cố gắng tu, làm sao những năm tôi còn khỏe, còn có mặt ở đây quý vị làm cho được. Dù không thành công trọn vẹn ít ra cũng được năm mươi, sáu mươi phần trăm để cho tôi yên lòng. Không lẽ cứ lơ mơ uổng đi một đời, đó là điều rất đáng buồn.

Như vậy tất cả tăng ni phải thấy bổn phận của mình, biết quý tiếc thời giờ, quý tiếc sức lực của mình, đừng phí vô ích mà phải dành trọn để tu. Nhiều khi tôi thấy những chuyện không đáng mà quý vị hy sinh thời giờ, còn chuyện tu lại lơ là, điều đó không tốt. Chúng ta phải tu, phải thực hiện cho được bản nguyện của mình, vậy mới xứng đáng. Chúng ta rời bỏ gia đình, người thân để làm một việc mà người sau nhìn lại thấy xứng đáng chứ không vô nghĩa. Nếu không khéo chúng ta hy sinh một cách vô nghĩa, chỉ uống đi một đời.

Như vậy, những năm này là những năm tôi chờ đợi kết quả của quý vị, chẳng những ở Trúc Lâm mà còn ở các thiền viện khác nữa. Quý vị tu có kết quả tốt thì bản nguyện của tôi được vuông tròn. Tôi vui nhận những tin tốt đó, chờ đón những tin tốt đó, nó có thể đến bất cứ lúc nào. Đó là chỗ mong mỏi của tôi.

Tuổi của tôi hiện nay là tuổi mặt trời sắp gác núi rồi, phải không? Không ai biết mình còn sống được bao lâu, nghĩa là ngày nào đang có mặt ở đây thì biết mình còn, chưa biết ngày nào hết duyên sẽ đi. Nên tôi thầm hứa với quý vị chỉ còn ba năm nữa để dạy quý vị. Tăng ni, Phật tử muốn tu thì tôi cố gắng giảng dạy. Qua ba năm, nếu tôi còn sống thừa thêm chút nào nữa thì đó là phần của tôi chứ tôi không làm thêm gì nữa hết. Nghĩa là chỉ từ đây tới ba năm, quý vị ráng tinh tấn tu học; mãn ba năm nếu tôi còn sống thì thời gian còn lại là để cho tôi chứ không có làm cho quý vị nữa.

Vì vậy mà tất cả phải nỗ lực, phải cố gắng, không chần chừ. Tôi nghĩ đức Phật tuổi thọ vô lượng, mà tám mươi tuổi ngài còn đi, huống là tôi phước đức bao nhiêu, đến tám mươi tuổi nếu còn sống cũng không làm gì nhiều nổi. Cho nên tới đó nếu còn (nếu chứ không chắc) thì tôi chỉ dành thời giờ đó cho tôi thôi.

Đến gần ba năm, tức gần nghỉ, nếu tôi còn khỏe thì vào những tháng chót đó, tôi sẽ hướng dẫn chư tăng chư ni ở đây, đi giáp một vòng các nơi mà tôi đã từng tu học và làm việc ở đó, từ Chùa Phật Quang, Chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, lên tới Chùa Ấn Quang, rồi Huệ Nghiêm, cho tới các thiền viện. Tôi sẽ cho quý vị đi giáp một vòng tham quan rồi nghỉ, như vậy quý vị chịu không?

– Dạ, chịu!

Ờ, vậy thì ráng tu, ráng học cho tới chừng đó. Nếu được phước ở ngoài Bắc mà có một hai thiền viện thì cho ra ngoài đó nữa, chịu không? Đó là hy vọng thôi chứ chưa biết ra sao. Quý vị ở ngoài Bắc, sau khi về Bắc ráng tạo cái duyên làm sao mở được một hai thiền viện để quý thầy quý cô trong này ra thăm luôn, chứ không phải chỉ đi ở trong Nam thôi.

Bởi vì nguyện vọng của tôi, quý vị nghe chắc nói tôi tham lắm, tôi muốn rằng Phật pháp không chỉ hạn cuộc ở trong phạm vi miền Nam, mà còn có cả Trung, cả Bắc. Chẳng những không hạn cuộc ở Nam, Trung, Bắc, mà không hạn cuộc ở một nước nào. Nước nào người ta cần thì mình truyền bá.

Quý vị kiểm thử coi chúng ở Thiền viện có đủ mặt ba miền không? Có mặt hết. Như vậy, tương lai nếu Phật pháp được hưng thịnh, thì quý vị là những người đóng góp xây dựng nơi này nơi kia cho Phật pháp, hay nói riêng là Thiền tông, được sống dậy từ Bắc chí Nam chứ không hạn cuộc một nơi nào. Đó là một trách nhiệm hết sức lớn chứ không phải nhỏ. Tất cả chúng ta ai cũng có bổn phận.

Bổn phận gần nhất trong ba năm tới đây là bổn phận của quý vị, phải nỗ lực tu. Vì tôi đã làm được hai việc: xây dựng chùa chiền và sưu tầm kinh sách; bây giờ quý vị chỉ còn tu cho được thành công, kết quả. Như vậy bản nguyện của tôi được tròn mà quý vị cũng xứng đáng là một người tăng, ni ở tại thiền viện, thực hiện được lý tưởng giải thoát của mình. Nếu không thì chúng ta thấy một đời tu tầm thường quá, nhẹ quá không xứng đáng bao nhiêu.

Chúng ta phải tạo điều kiện, phải làm sao cho mọi người, khi nhìn người tu đều thấy có một cái gì cao thượng, quý báu. Tôi rất buồn mỗi khi nghe người ta nói “cái nghề thầy tư”, coi như mình không cơm không gạo, rồi chạy vô chùa làm nghề đó để kiếm gạo ăn, thật là xấu hổ! Nên chúng ta phải làm sao tạo điều kiện tốt để tu cho xứng đáng là một người tu, đồng thời những người xung quanh đánh giá người tu chúng ta là cao thượng, là quý báu chứ không phải là kẻ thừa, kẻ làm cho xã hội thêm một gánh nặng. Phải thấy giá trị người tu thật như vậy mới không hổ thẹn. Nhiều khi chúng ta coi thường mình, tự đánh giá mình quá thấp, rồi lừng chừng không cố gắng. Như vậy là không được.

Vậy mong rằng chư tăng ni ráng nỗ lực hơn để cho xứng đáng, chứ đừng coi thường mình. Không phải nói đây để mình ngạo mạn nhưng đừng tự khinh rồi cứ thả trôi, uổng đi một đời. Phải tự biết quý đời của mình có đại duyên đại phúc nên mới được làm người và được làm người tu, nhất là được duyên tốt ở trong hoàn cảnh thuận lợi như thế này. Chúng ta phải làm cho xứng đáng, đừng bao giờ bỏ phí thời giờ, dù thời giờ ngắn, ít cũng không phí, như vậy mới khỏi hổ thẹn.

Đó là sự mong mỏi, trông đợi của tôi, quý vị ráng làm cho xứng đáng!

Buổi tất niên hôm nay tôi nói bấy nhiêu đó, sáng mai còn nói nữa. Sáng mai sẽ nói về năm mới chúng ta làm những gì để tiến thêm. Vậy buổi tất niên tới đây tạm xong, tất cả quý vị nghỉ.  


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.