Xuân Phụng Hoàng

Lễ Chúc Tết Kỷ Mão - Mùng một tết Kỷ Mão (16-02-1999) -



Hôm nay ngày mùng một tháng giêng, là ngày tết Nguyên đán năm Kỷ Mão, tăng ni và Phật tử tụ hội trong giảng đường làm lễ chúc tết đầu năm. Vậy đại diện chư tăng đứng ra chúc tết đầu năm trước.

Thầy Quản chúng Nội viện tăng

Kính bạch Thầy! Hôm nay nhân ngày đầu xuân năm Kỷ Mão, toàn thể chư tăng chúng con trong niềm vui chung với ngày tết của dân tộc, chúng con lại có thêm một niềm vui vẫn còn được gần gũi bên Thầy, được trực tiếp nghe lời nhắc nhở tu hành của Thầy. Chúng con cảm nhận rằng mỗi ngày tuổi đời của Thầy càng cao hơn, tức ngày xa vắng Thầy cũng sẽ gần hơn nữa rồi. Do đó huynh đệ chúng con phải luôn luôn nhắc nhở nhau tinh tấn tu hành, mong sao có được những kết quả trong công phu tiến tu để đem lại niềm vui cho Thầy, khiến Thầy có thể thấy được những kết quả trong khi Thầy còn hiện có mặt nơi đây, cũng như để bù lại những lúc chúng con lỗi lầm sơ sót khiến Thầy bận lòng.

Kính bạch Thầy! Như lời tác bạch đầu năm rồi, chúng con chỉ nguyện chân thành nỗ lực tu hành chứ không dùng những lời trau chuốt. Nay qua một năm rồi, trong chúng con lại có thêm những niềm vui mới mà chúng con đã trình lên Thầy trong đêm qua. Chúng con lấy đó kính dâng Thầy thay cho lời chúc mừng đầu năm này. Chúng con nghĩ rằng tuy với số lượng không nhiều nhưng một vài mảnh vàng trong đống cát vẫn có giá trị quý báu hơn nhiều. Nó sẽ đem lại niềm khích lệ cho những ai đang tu học với Thầy, sẽ có niềm tin càng vững vàng hơn. Từ đây tiến tu để thấy rõ ai ai cũng đều có phần. Đây là điều mỗi người đều có thể làm được trong hiện tại, đều có thể nếm qua, chứ không phải chỉ là những điều dành riêng cho những vị thuộc thời xa xưa kia.

Đó là những lời chân thành của chúng con, kính mong Thầy từ bi chứng minh.

Kế đến, theo dòng thế tục, chúng con nguyện cầu Tam bảo gia bị cho Thầy sang năm mới sức khỏe luôn được an lành, những Phật sự đều được thành tựu như ý. Thầy sẽ thâu lượm được nhiều tin vui mới nữa để càng làm sáng tỏ hơn con đường chánh pháp trên đất Việt trong thời hiện tại này.

Sau hết chúng con ngưỡng mong Thầy từ bi ban cho chúng con những lời nhắc nhở đầu năm để chúng con được khích lệ thêm hơn và tinh tấn tu hành, hầu đạt được nhiều lợi ích lớn trong năm tới.

Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh và hứa khả cho chúng con được ân triêm công đức.

Ni sư Quản chúng Nội viện ni: 

Ngưỡng bạch Thầy! Hôm nay toàn thể ni chúng chúng con hội đủ duyên lành được quỳ dưới chân Thầy cung kính dâng lên lời chúc mừng đầu xuân. Chúng con thành tâm kính chúc Thầy sức khỏe dồi dào, phước trí trang nghiêm, tuệ đăng thường chiếu, hầu dẫn dắt chúng con trên bước đường giác ngộ giải thoát.

Kính bạch Thầy! Ngôn ngữ không nói đến được chỗ chân thật, cho dù chúng con có nhiều lời lẽ ngôn từ, nhưng đó cũng chỉ là lời nói suông mà thôi. Trở về cái chân thật không bị thời gian chi phối là niềm vui mà chúng con đã thưởng thức được trong những ngày hạ thủ công phu. Đó là niềm vui miên viễn, là mùa xuân bất tận chúng con xin kính dâng lên Thầy, bậc ân sư đời đời chúng con nguyện quy hướng về.

Kính bạch Thầy! Một lần nữa chúng con không quên nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho Thầy được nhiều sức khỏe, sống lâu, để lời Thầy từ đỉnh núi Phụng Hoàng vang mãi không dừng, để dòng nước Tào Khê tuôn hoài bất tận, để ngọn đèn trí tuệ của Thầy mãi mãi soi sáng cho chúng con cùng tất cả chúng sanh trên bước đường về lại quê hương. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho chúng con được trượng thừa công đức.

Đại diện Phật tử: 

Ngưỡng bạch Hòa thượng,

Kính bạch chư đại đức tăng ni,

Hằng năm cứ mỗi độ xuân về, khi mai vàng nở rộ, những đóa hoa hồng, đào, lan, cúc đua nhau khoe sắc thắm, chim líu lo hót trên cành đón mừng mùa xuân mới về trên quê hương đất nước. Theo phong tục tập quán cổ truyền Việt Nam, ngày đầu năm là ngày tết thiêng liêng, toàn thể Phật tử chúng con câu hội về già-lam, trước để lễ Phật với lòng thành kính, dâng nén tâm hương cầu Phật từ gia hộ, sau chúng con kính chúc mừng khánh tuế Hòa thượng cùng chư đại đức tăng ni một năm mới đầy an lạc.

Kính bạch Hòa thượng,

Hôm nay thật là một phước duyên thù thắng cho hàng Phật tử chúng con đã được Hòa thượng chẳng ngại tuổi già sức yếu, từ bi quang lâm đến pháp hội để cho chúng con được cơ hội chúc mừng khánh tuế nhân dịp đầu năm minh niên xuân Kỷ Mão.

Kính bạch Hòa thượng,

Chúng con như những con chim non bé nhỏ được che mát bởi tàn cây đại thọ núi Phụng Hoàng, được tắm mình trong ánh nắng ban mai của Thiền viện, tâm hồn chúng con được sưởi ấm qua lời pháp nhũ của vị ân sư tôn kính. Vì đạo pháp, vì dân tộc, vì chúng sanh và vì chúng con mà Hòa thượng phải trải qua biết bao nỗi khó khăn gian lao thử thách của cuộc đời.

Hòa thượng chèo con thuyền từ trong dòng sanh tử để độ chúng sanh đến bờ giác ngộ. Với tâm nguyện Bồ-tát, Hòa thượng đã chẳng quản tuổi già sức yếu, dấn thân vào biển khổ trần gian giữa cảnh đời ngũ trược. Dấu chân Thầy xuôi ngược khắp Nam Bắc để độ chúng sanh. Ân đức này thật sâu dày vô lượng vô biên như biển cả mênh mông, chúng con biết nói gì đây để diễn tả hết nỗi lòng chân thành của chúng con đối với công đức giáo hóa của vị Thầy khả kính. Chúng con xin nguyện tinh tấn tu học và luôn luôn noi theo gương sáng của Hòa thượng để đền đáp thâm ân dạy dỗ của Thầy trong muôn một.

Một lần nữa, nhân dịp đầu xuân Kỷ Mão, chúng con xin thành kính đốt nén tâm hương, nghiêng mình dưới ánh từ quang của đấng Cha Lành trong khắp cõi, nguyện cầu mười phương chư Phật, chư Bồ-tát, chư hiền thánh tăng gia hộ cho Hòa thượng pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, sức khỏe dồi dào, sống lâu trăm tuổi, để dìu dắt hàng Phật tử chúng con trên bước đường tu học đạo giải thoát. Ngưỡng mong Hòa thượng từ bi chứng minh cho chúng con để chúng con được ân triêm công đức.

Nam-mô Tăng Phước Thọ Bồ-tát Ma-ha-tát tác đại chứng minh.

Hòa thượng: 

Phần chúc tết của tăng, ni, Phật tử xong, bây giờ tới phần tôi chúc lại cho tất cả quý vị. Cái tật của tôi hay nói dài dòng, nên quý vị ngồi xuống lắng nghe tôi chúc tết năm này. Tôi không chúc bằng những văn từ suông, ở đây tôi chúc tết với một hình ảnh cao đẹp từ nơi đức Thế Tôn.

Bây giờ tôi sẽ nêu lên hình ảnh cao đẹp đó để quý vị chiêm nghiệm ứng dụng tu, rồi mai kia cùng được cao đẹp. Hình ảnh cao đẹp đó thế nào? Tất cả tăng ni nếu vào các ngôi chùa cổ sẽ thấy chỗ điện thờ Phật có để tấm hoành phi đề bốn chữ “đại hùng bửu điện”, nghĩa là điện báu thờ đấng đại hùng. Đại hùng là ai? Là đức Phật. Đức Phật có cầm binh đánh giặc thắng trận lần nào chưa mà gọi ngài là đại hùng? Ngài có đi đánh ở đâu không, có chiếm nước nào không, mà sao gọi ngài là đại hùng? Đó là một ý nghĩa chúng ta cần phải nghiền ngẫm để ứng dụng trong đời tu của mình.

Trong kinh Pháp Cú có câu: “Thắng ngàn quân địch chưa thể gọi là thắng, tự thắng được mình mới gọi là chiến công oanh liệt nhất”. Như vậy ngài không đánh dẹp ai ở bên ngoài mà ngài chỉ chiến thắng được chính mình. Bởi chiến thắng được chính mình nên đức Phật được tôn xưng là đấng đại hùng đại lực.

Chúng ta mới nghe qua dường như hơi lạ một chút, vì lâu nay chúng ta cứ ngỡ những bậc anh hùng là người đã từng ra trận, đã từng bách chiến bách thắng, thắng kẻ địch, thắng những người bên ngoài. Còn ở đây đức Phật không có những hành động đó, ngài chỉ chiến thắng nơi mình liền được tôn xưng là bậc đại hùng. Như vậy ý nghĩa tôn xưng đó có giá trị như thế nào? Xứng đáng hay không, chúng ta phải chiêm nghiệm lại cho kỹ để thấy rõ giá trị của lời tôn xưng cao quý đó.

Bây giờ tôi đặt câu hỏi: Chiến thắng mình là chiến thắng cái gì? Nghe nói chiến thắng mình thì ai cũng có thể hiểu, nhưng chiến thắng cái gì của mình, đó là vấn đề.

Là con người, sáu căn chúng ta luôn đuổi theo, dính mắc sáu trần, nên rồi suốt cả đời làm nô lệ, tôi đòi cho nó, chịu không biết bao nhiêu khó khăn khổ sở cũng vì đuổi theo sáu trần. Có nhiều vị anh hùng tài ba lỗi lạc mà có chiến thắng được sáu trần không? Ví dụ, nhiều người được gọi là anh hùng của thế gian, nhưng đối với sắc đẹp họ thắng được không? Hay họ cũng bị lụy? Như vậy, thắng những kẻ bên ngoài thì dễ, thắng được giặc của mình mới khó.

Sáu căn của mình là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đó là sáu cơ quan tiếp nhận trần cảnh bên ngoài. Sáu cơ quan này khi tiếp xúc với sáu trần luôn luôn bị cột trói, dính mắc. Bởi bị cột trói dính mắc nên làm lụy đến cả đời mình, không những đời này mà nhiều đời nữa.

Tôi dẫn chứng trong kinh cho quý vị nghe. Kinh Lăng-nghiêm, đức Phật bảo ngài A-nan rằng chúng sanh do vô minh là cội gốc sanh tử, làm cho lưu chuyển luân hồi không biết đến bao giờ cùng. Ngài A-nan thắc mắc không rõ cái gì là cội gốc của luân hồi sanh tử, bèn đặt câu hỏi hỏi lại đức Thế Tôn. Khi ấy mười phương chư Phật khác miệng đồng lời rằng: “Ông muốn biết câu sanh vô minh là cái đầu mối khiến ông luân hồi sanh tử, thì nó chính là sáu căn của ông, chứ không phải vật gì khác. Ông lại muốn biết tính vô thượng Bồ-đề, khiến ông chứng đạo quả an vui giải thoát, vắng lặng diệu thường, thì cũng chính là sáu căn của ông, chứ không phải vật gì khác.”

Như vậy, sáu căn là cội gốc sanh tử, sáu căn cũng là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn. Vậy chúng ta phải hiểu thế nào cho thấu đáo lời chư Phật dạy. Đó là vấn đề hôm nay tôi cố dẫn giải để quý vị nắm vững.

Sáu căn là cội gốc sanh tử, ở nơi khác người ta gọi nó là lục tặc. Thường, từ của nhà Nho hay nói là tam bành lục tặc. Tam bành là ba món tệ, xấu tham, sân, si; lục tặc là sáu đứa giặc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn là lục tặc, nhưng đối với nhà thiền, sáu căn cũng là lục thông. Nghĩa là nếu mê lầm thì sáu căn là lục tặc, nếu tỉnh ngộ tức sáu căn là lục thông. Nay chúng ta truy nguyên coi tại sao sáu căn là gốc của luân hồi sanh tử, là lục tặc làm khổ chúng ta.

Quý vị xét mọi người trên thế gian, có ai không bị sáu căn làm khổ lụy hay không? Mắt thấy sắc thì đắm sắc, tai nghe tiếng đắm thinh, mũi ngửi mùi đắm hương, lưỡi nếm vị thì mến vị, thân xúc chạm thì ưa mê xúc chạm. Như vậy là lục tặc, cũng là cội gốc của luân hồi sanh tử. Bây giờ chúng ta tu, ta chiến thắng mình tức là chiến thắng ở sáu căn, vì sáu căn đã tạo bao nhiêu nghiệp, khiến chúng ta phải luân hồi sanh tử không biết bao nhiêu lần, chịu khổ đau không biết bao nhiêu mà kể. Ngày nay chúng ta muốn được giác ngộ, muốn được giải thoát, thì phải chiến thắng sáu căn.

Chúng ta chiến thắng bằng cách nào? Đây, tôi chỉ cho quý vị: Khi mắt thấy sắc, nếu sắc đẹp thì chúng ta sao? Nếu thấy sắc đẹp thì chúng ta thích. Nếu thấy sắc xấu tệ thì chúng ta thế nào? Không ưa. Còn thấy sắc bình thường thì chúng ta nghĩ nó là thật. Như vậy, thấy sắc đẹp chúng ta yêu thích, đó là tham. Thấy sắc xấu tệ chúng ta ghét, không ưa, đó là sân. Thấy sắc không tốt không xấu chúng ta tưởng là thật, đó là si. Tham sân si có mặt khi chúng ta nhìn thấy sắc. Như vậy cơ quan mắt làm chúng ta phải chìm đắm, trôi lăn trong sanh tử là do nó cộng với tham sân si.

Bây giờ quý vị xét lại mình rồi trả lời thật thà thử coi. Thấy sắc đẹp tuyệt vời quý vị có ưa không? Chắc là ai cũng thích hết, thích đó là tham. Rồi sắc xấu xí, thấy không dám nhìn, quý vị có ghét không? Ghét, tức đó là cái nhân của sân. Lúc thấy sắc bình thường, không khởi ưa ghét nhưng quý vị có nghĩ là thật không? Cũng có luôn. Vậy con mắt của chúng ta tiếp xúc sắc trần, do cộng tác với tham sân si mà tạo thành nghiệp dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Đó là cái nhân khiến chúng ta chịu bao nhiêu khổ đau đời này kiếp nọ không cùng.

Bây giờ biết tu, chúng ta phải làm sao? Thắng nó bằng cách nào? Thấy sắc đẹp chúng ta không ái nhiễm, tức là không tham. Thấy sắc xấu xí không có niệm gớm hoặc ghét, đó là không sân. Thấy sắc bình thường thì biết nó là tướng duyên hợp hư dối không thật, tức là không si. Như vậy, thấy sắc mà không cộng tác với tham sân si là chúng ta thắng hay thua nó? Đó là chúng ta đã thắng nó, như vậy chính là tu, là chiến thắng được con mắt khi tiếp xúc với sắc trần.

Kế đó là tai. Tai chúng ta nghe tiếng, nếu là tiếng ngọt ngào, thanh tao, là âm thanh trầm bổng của nhạc, những lời nói ngon ngọt, quý vị có thích nghe không? Chắc thích, đó là tham. Rồi nghe những tiếng dữ dằn hung ác, những câu mắng chửi chát chúa, quý vị có thích không? Không thích, bực bội đó là sân.

Vậy chúng ta hiện giờ đang mắc kẹt trong những âm thanh, hoặc yêu mến đắm trước, hoặc sanh ra sân hận oán thù. Quý vị có kẹt không? Có bao giờ những tiếng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, âm thanh trầm bổng mà quý vị bịt tai không thèm nghe không? Hay là văng vắng ở đâu cũng muốn tìm tới gần nghe cho đủ, cho rõ. Đó là ái, tâm còn bị trói buộc, luyến ái về âm thanh. Rồi nghe những tiếng mắng chửi, những tiếng chát chúa muốn nổ lỗ tai, quý vị có nóng giận không? Nếu có là còn sân, do âm thanh mà sân. Còn nghe tiếng bình thường chấp cho tiếng nói đó thật, đó là si.

Như vậy qua cái nghe chúng ta mang đủ ba tính chất tham sân si, đó là mắc kẹt trong nhóm lục tặc rồi. Bây giờ tu chúng ta phải làm sao? Nghe tiếng ngọt ngào êm dịu, âm thanh trầm bổng chúng ta không đắm trước không yêu mến, đó là tu. Nghe những tiếng chửi mắng nặng nề chúng ta không bực dọc không tức tối, đó là tu. Nghe những tiếng bình thường, chúng ta không khởi yêu, ghét mà cũng không thấy đó là thật, đó là tu.

Hiện nay quý vị tu cái nghe tiếng của lỗ tai được chưa? Mắt và tai, coi bộ cái nào cũng chưa ổn cả. Vậy là có hai cái gốc trầm luân hiện đang cột trói mình rồi đó. Tu là phải thắng hai cái gốc này.

Giờ tới lỗ mũi. Khi mình ngửi mùi thơm rất vừa ý, mình thấy bình thản hay thích ngửi nhiều nữa? Ngửi một lần rồi dừng lại liền hay còn thích ngửi thêm? Lâu lâu cũng muốn ngửi nữa, ngửi mùi thơm liền ưa thích, đó là luyến ái, tức là tham. Có khi mùi hôi dễ ghét xông tới mũi mình, lúc đó có bịt mũi không? Nếu bịt mũi một hồi buông tay ra mà vẫn còn hôi thì muốn chạy đi chỗ khác. Mặt mày lúc đó tươi hay là quạu? Quạu đó là sân. Rồi nghe mùi thường không thơm không hôi, không ưa chán nhưng nghĩ mùi đó thật, đó là si. Như vậy trong cái ngửi, chúng ta khởi đầy đủ tham sân si, mà đầy đủ tham sân si thì nó là cội gốc sanh tử.

Bây giờ tu phải làm sao? Ngửi mùi thơm mà không bị mùi thơm hấp dẫn, lôi kéo. Người ta nhiều khi có cái tật nghe mùi gì liền hỉnh mũi lên hít hít tìm coi mùi gì, thơm thế nào. Nay phải tập nghe mùi thơm là mùi thơm, không thêm cái gì nữa, không khởi ưa, ghét gì hết. Rồi nghe mùi hôi là mùi hôi, cũng không bực bội, không chán ghét nó. Rồi mùi bình thường ta biết là tướng giả dối không thật, vậy đó là tu. Vậy đối với lỗ mũi, quý vị tu được khá chưa? Ba căn mắt, tai, mũi coi bộ cái nào cũng chưa ổn hết.

Tới cái lưỡi, khi nếm những vị ngon ngọt béo bùi, hợp với khẩu vị của mình, quý vị có thích thú không? Chắc ai cũng ưa những thức ăn khoái khẩu, vừa với cái lưỡi mình, hợp với khẩu vị mình, ăn vào thấy ngon miệng, thích thú. Có khi nào một dĩa thức ăn vừa với khẩu vị mình mà quý vị gắp một lần rồi không thèm gắp nữa không? Hay là tiếp tục đến chừng nào cạn dĩa mới thôi? Cạn dĩa còn muốn đòi: “Còn hết, đem thêm!” Đó là chỗ chúng ta mắc kẹt, gặp thức ăn vừa ý, hợp với cái lưỡi của mình thì ưa thích. Ăn rồi còn trầm trồ khen bữa nay ai nấu món này ngon quá, phải không? Đó là tham.

Bữa nào trên mâm cơm những món mình không ưa đều dọn đủ, lúc lên bàn quý vị ăn thế nào? Bực mình hay vừa ý? Lúc ấy chỉ gượng mà ăn, tu hành không lẽ chê khen coi kỳ, chứ cũng bực mình, phải không? Chính cái bực mình đó là sân. Rồi bữa ăn nào đạm bạc vừa phải, tuy không ưa hay ghét nhưng nghĩ thức ăn này thật, đó là si. Như vậy, cái lưỡi của chúng ta mắc kẹt ở chỗ ngon liền ưa thích tức là tham, dở sanh chán ghét bực bội là sân, và chấp vị thật là cộng thêm si vào trong đó.

Nếu lưỡi bị tham sân si chi phối, bây giờ tu chúng ta phải làm sao? Ăn thức ngon mà không đắm mến, không luyến ái, có cũng được, không cũng được, không hề đòi hỏi hay muốn thêm, không cần nhiều. Đó là chúng ta thắng được tham, không còn ưa thích thức ăn ngon. Rồi gặp thức ăn dở chúng ta vẫn cứ ăn mà không bực bội chán ghét, đó là thắng được cái sân. Những thức ăn bình thường, chúng ta thấy nó là duyên hợp hư ảo không thật, đó là không có si. Tóm lại, ba thứ tham, sân, si trong bữa ăn không chi phối được mình, đó là tu.

Như vậy, về cái lưỡi quý vị thắng được nó chưa? Sao nãy giờ thấy ai cũng im lìm, chưa ai can đảm nói đã thắng được cái này hoặc đã thắng cái nọ gì hết. Im lìm tức là chấp nhận chưa thắng, phải không?

Bây giờ tới cái thân. Khi thân xúc chạm những gì mát mẻ, êm dịu thì chịu, còn xúc chạm cái gì nóng bức, nhớp nhúa… liền khó chịu. Xúc là cái rất quan trọng, làm cho người ta say mê những cảm giác. Ví dụ những người chích xì-ke ma túy cũng là đi tìm cảm giác, rồi đi đến mê muội, tạo khổ tạo tội cho chính mình. Vì vậy xúc hết sức hệ trọng.

Bây giờ nếu chúng ta xúc chạm cái gì được êm dịu vừa ý, chúng ta có thích có say mê không? Chắc cũng thích, đó là tham. Xúc chạm cái gì làm chúng ta khó chịu, không vừa ý, chúng ta có ưa không? Chắc là bực bội không ưa, đó là sân. Xúc chạm cái gì bình thường thì chúng ta có thấy là thật không? Đó là si. Vậy là trong sự xúc chạm có đủ tham sân si.

Bây giờ tu chúng ta phải làm sao khi xúc chạm những thứ rất vừa ý dễ chịu, chúng ta vẫn bình thường, không thêm cái gì hết. Đến lúc xúc chạm những cái không vừa ý, khó chịu mà chúng ta không bực bội, chán ghét. Xúc chạm những cái bình thường, chúng ta biết nó là hư ảo không thật. Như vậy là chúng ta thắng được cái xúc, đó là tu. Trên phương diện xúc chạm, quý vị đã thắng được chưa? Cũng chưa luôn! Như vậy, trong năm căn, chưa hoàn toàn thắng một căn nào.

Bây giờ tới căn thứ sáu là ý căn. Ý căn thích cái gì? Nó thích những thứ của năm căn trước đem vào. Những gì mắt thấy đẹp, tai nghe hay, mũi ngửi thơm, lưỡi nếm thích thú những thứ này đưa vào trong ý, ý sanh ra phân biệt, đắm mến, đó gọi là tham. Rồi những gì năm căn xúc chạm bất như ý, không thích thú, đem vào ý căn thì ý sanh bực bội, chống đối, đó là sân. Tiếp xúc cái gì bình thường, cho là thật, đó là si. Ý căn không tự tiếp xúc với trần cảnh bên ngoài, mà do năm căn kia dồn vào. Cái gì hợp ý thì nó thích, cái gì không hợp ý thì nó không thích. Thích là tham, không thích là sân, còn bình thường, thấy các xúc chạm là thật, là si.

Kiểm lại ý mình coi, khi lỗ tai nghe thiên hạ chửi mình, cái pháp trần của những lời chửi đó, lọt vào trong ý, thì ý thế nào? Nó nằm yên hay nổi nóng lên? Rồi khi mắt thấy sắc đẹp, pháp trần đưa vào trong ý, ý có khởi niệm ưa thích không? Nếu năm căn chúng ta không làm chủ được thì ý căn mình cũng chịu thua luôn.

Hiện nay sáu căn chúng ta đã thoát khỏi sáu trần hay đang bị sáu trần cột? Nói thật thà nghe coi, thoát hay cột? Sáu căn mà bị sáu trần cột thì chúng ta tương lai thế nào? Tương lai chúng ta bị nó xỏ mũi dẫn đi trong lục đạo luân hồi, phải không? Chính đây là chỗ tu thiết thực mà chúng ta ít lưu tâm. Chúng ta cứ nghĩ những chuyện tu trên trời trên mây mà không thấy cái tu căn bản này. Cho nên người tu Phật phải tu cho đúng lẽ thật, là phải thắng được sáu căn của mình, đừng để sáu căn bị cột trong ái nhiễm, trong sân hận và si mê. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không có tham, không có sân, không có si tức là giải thoát.

Vậy giải thoát hết sức đơn giản. Đúng như Phật dạy trong kinh Lăng-nghiêm: sáu căn là cội gốc của luân hồi sanh tử nếu mình bị ba thứ tham sân si cột; sáu căn cũng là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn nếu mình tiếp xúc mà không bị tham sân si trói buộc. Như vậy chúng ta tìm Bồ-đề Niết-bàn ở đâu? Ngay nơi sáu căn của mình, không đâu xa lạ hết. Như vậy, người tu cụ thể và thực tế vô cùng, không phải nói chuyện mơ hồ nào, không phải làm chuyện huyễn hoặc ở đâu, mà phải thắng được sáu căn của mình.

Nhưng giờ kiểm tra lại, ở đây quý vị ngồi thiền hai tiếng một thời mà trong sáu căn đã thắng được mấy căn rồi? Nói thẳng mà nghe, chưa thắng căn nào hết, đó là thật thà. Vậy ngồi hai tiếng đồng hồ một thời, ngày đêm tới sáu tiếng, mà sáu căn mình không gìn giữ được, như vậy thì sao? Rồi chúng ta tới đâu? Phải kiểm lại cho thật chính xác, để sự tu của mình không kẹt trong những tưởng tượng. Mình cứ tưởng tượng làm thế này là giải thoát, làm thế kia là giải thoát, mà thiếu cái nhìn thực tế là chính sáu căn không dính sáu trần mới là giải thoát.

Như vậy, quý vị xét kinh Lăng-nghiêm thấy Phật nói quá rõ rồi. Nhưng tôi dẫn thêm trong mười hai nhân duyên, để quý vị thấy vì sáu căn dính mắc sáu trần mà mình phải luân hồi sanh tử, sáu căn không còn dính sáu trần là giải thoát sanh tử.

Quý vị nhớ, trong mười hai nhân duyên, hai cái đầu là vô minh duyên hành, đó gọi là nhân sanh tử quá khứ. Tiếp theo hành là thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ. Thọ là cảm giác, sau khi sáu căn tiếp xúc sáu trần rồi có cảm giác vui thích, cảm giác khó chịu, khổ sở, và cảm giác không vui, không khổ. Trong nhà Phật dùng từ thọ lạc, thọ khổ, thọ không lạc không khổ. Mắt mình thấy sắc mà vui thích, đó là thọ lạc; mắt nhìn cái gì xấu, dữ, mình thấy khó chịu, đó là thọ khổ. Tai nghe những tiếng êm ái, mình vui vẻ, đó là thọ lạc; nghe tiếng mắng chửi, mình khó chịu, đó là thọ khổ…

Vậy, mắt tai mũi lưỡi thân ý do xúc chạm với trần cảnh mà chúng ta có các cảm thọ: lạc, khổ và không lạc không khổ. Nếu cộng với tham sân si thì đó là cái nhân để tiếp tục luân hồi sanh tử.

Như vậy, thọ sanh ái, ái sanh thủ. Thọ chưa phải là gốc của luân hồi, chính ái, thủ và hữu mới là cái nhân luân hồi hiện tại, thúc đẩy tiếp tục có đời sau. Nếu chúng ta khi xúc chạm có thọ, biết khổ biết vui mà không yêu thích cái vui, cũng không chán ghét cái khổ…, đó là mình thắng được các cảm giác. Vậy là có thọ mà không có ái. Không có ái thì không có thủ, không thủ tức không có hữu.

Thọ lạc mình ái đã đành, thọ khổ mình có ái không? Tôi nói ví dụ, mình nghe người ta khen mình thích và nhớ hoài đành rồi. Còn nghe người ta chửi thì sao? Mình không thích nhưng có nhớ không? Cũng nhớ hoài. Nghe khen mình nhớ không quên, nghe chửi cũng nhớ không quên. Chính cái nhớ không quên là thủ rồi. Ái cũng thủ, mà tắng cũng thủ. Đừng tưởng ái mới có thủ còn tắng không thủ. Chính khi nghe mà yêu thích, muốn nghe nữa, đó là thủ; còn nghe mà sanh oán hờn gọi là tắng, tức là ghét, cũng là thủ.

Bởi vì người ta bình thường ngồi lại nhớ ai nhiều? Nhớ người mình thương quý, và nhớ người chửi mắng mình nữa, hai người đó không quên được nên gọi là thủ. Vậy chúng ta thấy từ cái ái (gồm luôn cả tắng), sanh ra thủ. Thủ rồi hữu là có đời sau.

Như vậy, xúc và thọ, thấy như quan trọng nhưng không quan trọng bằng ái, thủ và hữu. Ái, thủ, hữu gọi là vô minh hiện tại đưa đến sự tái sanh của đời vị lai. Hai cái vô minh ở quá khứ đưa chúng ta sanh tử đời này, ba cái vô minh đời này đưa chúng ta sanh tử ở đời sau, tiếp nối không cùng.

Quý vị xét kỹ lại mình coi có ba cái ái, thủ, hữu này không? Xúc chạm những thứ vừa ý mình có ái không? Xúc chạm những điều nghịch ý, mình có tắng không? Có đủ hết. Sáu căn xúc chạm cái vừa ý thì mình vui mình mến, muốn có nữa; xúc chạm cái không vừa ý thì mình chán ghét, tìm cách tránh né…, đó là mang đủ tính cách ái và thủ. Từ ái, thủ đó đưa tới cái hữu đời sau, vậy là luân hồi sanh tử không dừng được.

Vậy quý vị thấy chúng ta tu bao nhiêu năm, ngồi kiểm tra lại thì những cái nhân đưa đến luân hồi sanh tử chúng ta đã dứt được chưa? Huống nữa là những người ở thế gian chưa từng biết tu, thì dù là những vị tướng anh hùng cũng không dứt nổi. Vì vậy ai dứt được những cái dính mắc của sáu căn và sáu trần, căn trần tiếp xúc mà không dính kẹt, không nhiễm nhơ, đó là giải thoát sanh tử. Đây gọi là người gì? Người thắng mình. Mà thắng mình nên gọi là bậc Đại hùng.

Hiện giờ quý vị xét lại mình coi được chừng mấy cái hùng nhỏ nhỏ? Phật thắng được hết sáu căn nên ngài là đại hùng, còn mình thắng được mấy cái? Chưa ai dám nói thắng được căn nào hết, vậy tiểu hùng cũng không có đừng nói là đại hùng, phải không? Chúng ta tu là phải học, phải hành đúng như Phật, để đi đến chỗ an lạc giải thoát như Phật. Nếu chúng ta còn dính mắc là bảo đảm còn đau khổ, không làm sao thoát khổ được.

Như vậy, quý vị thấy đường tu hết sức đơn giản mà hết sức là khó khăn, phải không? Chỉ cần nơi mắt nơi tai, nơi mũi, nơi lưỡi bao nhiêu đó mà mình thắng được thì cũng cay đắng lắm rồi. Mà tại sao cay đắng? Tại vì thói quen, quen nhìn cái gì đẹp là mình thích, cái gì xấu mình không ưa, rồi ngửi cái gì thơm thì mình chịu, cái gì hôi mình không ưa. Cứ như vậy mà mình bị nó lôi dẫn. Bị lôi dẫn nên mất tự do, không tự do thì làm gì có giải thoát.

Quý vị tự kiểm lại coi mình có bị sáu trần xỏ mũi không? Nếu bị thì chắc nó dẫn đi đâu mình đi theo đó không thể nào cưỡng lại được. Vậy mình là kẻ yếu hay người mạnh? Nếu mạnh thì mình vượt qua khỏi nó, nó lỗi mà không theo, cấm, rồi dứt khoát thì đó là mình thắng nó. Còn mình chạy theo nó hoài thì bị nó dẫn.

Vậy quý vị nghĩ chúng ta là người tu, là con của bậc đại hùng đại lực, mà chẳng lẽ mình là người khiếp nhược? Quý vị chịu làm người khiếp nhược không? Nếu không chịu thì phải tập, Phật đại hùng mình cũng phải tiểu hùng, chứ không thể tầm thường được. Vậy mình phải làm sao cho thành một con người đầy đủ ý chí, đầy đủ can đảm để thành bậc đại hùng. Nếu chưa được đại hùng thì chúng ta cũng phải tiểu hùng chứ không thể là kẻ khiếp nhược.

Bởi vậy, trong nhà Phật thường nói người tu như chiến sĩ ra trận, muốn thắng địch thì phải mạnh, thắng được địch rồi mới gọi là anh hùng. Bây giờ địch của mình không phải là người ngoài, địch của mình là sáu căn cộng với ba thứ độc tham sân si. Ba thứ độc hợp với sáu căn tạo thành nghiệp. Bây giờ mình thắng tham sân si, thắng được cái dính mắc của sáu căn là mình thành người chiến sĩ thắng trận. Nếu thua nó thì mình là kẻ bại trận.

Bây giờ năm mới quý vị muốn tôi chúc thế nào? Chúc quý vị thành người khiếp nhược đầu hàng giặc bị giặc dẫn đi, hay thành người anh hùng thắng giặc rồi ca khúc khải hoàn trở về? Quý vị muốn tôi chúc sao cho gần với sự thật nhất? Đó là ý nghĩa tôi muốn nêu ở đây cho quý vị thấy, để việc làm của quý vị sao cho được kết quả đúng như nguyện ban đầu.

Là một chiến sĩ ra trận thì cái nguyện của chiến sĩ là gì? Là thắng trận trở về chứ không phải ra để hàng giặc, phải không? Hàng giặc thì không phải là chiến sĩ nữa. Như vậy tất cả quý vị phải chuẩn bị một năm mới làm một dũng sĩ ra trận, trăm trận trăm thắng, để trở về ca khúc khải hoàn. Chứ không nên làm kẻ bạc nhược đầu hàng giặc, rồi bị giặc lôi cổ nhốt trong tù. Quý vị muốn điều nào? À, phải làm anh hùng thắng giặc trở về một cách vẻ vang, đó là trọng tâm.

Bây giờ tôi nói gọn lại câu chúc của tôi: Đầu năm mới Kỷ Mão này, tôi chúc cho tất cả tăng ni và Phật tử một năm làm người dũng sĩ, thắng tất cả ma quân, trở về quê hương một cách huy hoàng, được mọi người tung hô chào mừng bậc Đại hùng về cố hương.

Câu chúc của tôi to như thế đó. Quý vị ráng làm sao cho được vậy, đừng trái ngược lại mà uổng đi một đời tu.

Vậy là hôm nay tôi chúc tết cho quý vị rồi, lời chúc tết dài, quý vị ráng nhớ, đây là điều thực tế không có gì xa vời cả. Mong tất cả quý vị thực hiện cho được.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.