Phụng Hoàng Sách Tấn

Thỉnh Nguyện Ni (III)



Ngày 28-01 Kỷ Mão (15-03-1999) 

Hôm nay Thầy dạy về tâm sân.

Có lần Thầy đi giảng, có một người hỏi: “Thưa Thầy, trong khi làm Phật sự, gặp những việc trở ngại hoặc bị người ta làm khó dễ, Thầy nghĩ thế nào về những người đã làm khó dễ Thầy?” Thầy cười, trả lời: “Trước mắt Thầy không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm mà thôi.” Câu trả lời đó được nhiều người nghe và nhắc lại.

Qua câu đó tụi con thấy điều gì? Tụi con ở trong đây có giận ai, ghét ai nhiều không? Có khi nào nói “tôi thù người đó lắm” không? Tụi con nhớ, người tu vừa thấy có kẻ thù là đã mất đạo đức người tu. Vì thấy có kẻ thù là còn có tâm sân hận, khi có cơ hội liền trả oán trả hờn, bằng cách làm cho người ta đau khổ. Thù mà không trả thì lòng không yên.

Như vậy, nếu người tu mà còn nghĩ rằng người này tôi thù, người kia tôi ghét thì có thể tự xưng là người tu được chăng? Tụi con xét coi mình có mắc bệnh đó không? Tu là chừa bỏ những xấu dở của thế gian và nội tâm, vậy mà ôm hận thù, oán hờn là tự chuốc lấy oan khiên, đau khổ cho chính mình. Đồng thời người có đạo đức sẽ coi mình không ra gì. Vậy nên phải cẩn trọng, phải rất dè dặt.

Trên đời này, không bao giờ chúng ta làm việc gì mà tất cả mọi người đều đồng ý, sẽ có người bằng lòng, có người không bằng lòng. Thấy người hoan hỷ, chúng ta chịu, thương mến họ. Người không hoan hỷ, chúng ta ghét, oán hờn. Nếu vậy, chúng ta là người thế gian chứ không phải người tu.

Cho nên, nếu việc làm của mình, người ta thấy tốt, hoan hỷ thì mình cảm ơn vì người đó đã thông cảm được việc làm của mình. Nếu gặp người chưa hoan hỷ hoặc không hoan hỷ, nên nghĩ rằng họ chưa thông cảm, chứ không phải họ là người xấu, hay họ đối đầu, thù địch với mình. Nghĩ như vậy tụi con sẽ sống tu an ổn. Ngược lại, tụi con vừa dấy niệm thù người này, ghét người kia thì sự tu không bao giờ an ổn, vì lúc nào cũng nghĩ cách để trả thù trả oán.

Thấy có kẻ thù mà mình chưa báo oán được, lòng sẽ nặng trĩu, đau khổ, khó chịu. Như vậy vừa bất lợi, trái đạo lý, vừa gây thêm nghiệp, tự làm khổ cho mình, tu hành không đến đâu. Tâm tư, thái độ đó là của kẻ phàm tục, không phải người tu.

Vậy nên tụi con ráng tu học, làm sao trong chúng năm mươi người, mình thấy ai cũng là huynh đệ. Người gần và hiểu mình, mình cảm ơn họ đã thông cảm. Người chưa gần, chưa hiểu mình, hay trái nghịch với mình thì cũng nghĩ đó là người bạn tốt, nhưng chưa thông cảm với mình. Nên đừng oán hờn, thù hận ai hết. Nếu ở trong chúng, ai hay nói giận người này, oán người kia, Thầy sẽ đánh giá ngay: Đó chưa phải là người tu. Chỉ có hình thức chứ không có tâm hồn người tu, không có trí tuệ và lòng từ bi, nên không đi đến nơi đến chốn trên con đường tu hành.

Khi ra làm Phật sự, nếu lòng tụi con chưa được cởi mở rộng rãi, chưa thông suốt gốc ngọn, bị người ta hỏi mình sẽ lúng túng, trả lời dễ bị kẹt. Vậy nên phải khéo. Khi Thầy trả lời là nói với lòng chân thành của Thầy. Từ trước tới giờ, tụi con cũng nghe người ta chỉ trích Thầy nhiều, hoặc nói ra lời, hoặc viết trên giấy… mà Thầy có la lối gì không? Có bao giờ Thầy nói đây là người thù, phải làm sao cho họ khổ mới bằng lòng? Hay là ai khen Thầy cảm ơn, ai chê cũng vui? Qua đó có thể đo lường được tâm đạo đức của mình.

Đã nhiều lần, những người gần gũi chê Thầy hoặc nói những lời không có lợi cho Thầy, Thầy cũng cười, không buồn gì. Lại có những người ở xa, có ý muốn tìm cách này cách nọ nói xấu hoặc làm nhục, nhưng Thầy thấy đó không phải là điều đáng buồn nên vẫn yên ổn làm Phật sự, không lui sụt.

Nếu bị người ta chê, rồi mình la lên, chống lại thì người bàng quan đánh giá mình ra sao? Còn khi bị người ta chê, mình lặng thinh, không cãi lời nào thì mọi người đánh giá mình thế nào? Tụi con phải biết tu là ở chỗ đó. Không phải ai nói trái ý hoặc chê bai một chút, mình liền phân minh cãi lại. Biết tu là chấp nhận tất cả những gì người ta chỉ đúng để sửa, và cũng chấp nhận những gì họ nói sai về mình, để từ từ họ sẽ thấy chỗ sai của họ, không cần phải la lối, cãi vã làm gì.

Vì vậy, tụi con ngẫm lại câu Thầy nói, lấy đó làm châm ngôn để sống, để tu: Trước mắt tôi không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm mà thôi.

Thầy thấy những người cố tình chỉ trích Thầy, nghe Thầy nói vậy bèn thôi, hết cơ hội chỉ trích. Vì Thầy có ghét ai đâu mà chỉ trích Thầy. Tụi con mới thấy, giá trị của người tu không phải chỉ là ở trong đạo lâu năm, giới đức cao, mà còn ở cả tâm hồn và trí tuệ của mình. Phải có trí tuệ sáng, phải có tâm hồn cao thượng, từ bi thì đời tu mình mới xứng đáng. Nếu người tu chỉ lo tính mình năm nay được bốn mươi, năm mươi tuổi hạ; mà có ai động tới thì nổi sân đùng đùng, nói người này là kẻ thù, kẻ kia là đáng ghét… thì chưa phải là đạo đức thật.

Tụi con sống ở thiền viện, Thầy muốn tụi con mai này là những người đủ tư cách, vừa có trí tuệ hướng dẫn mọi người tu, vừa có lòng từ bi, để dìu dắt mọi người sống đúng tinh thần đạo đức, lại vừa có tâm an nhẫn trước những cảnh khó khăn, kẻ chê người khinh. Lúc nào cũng an nhẫn, tự tại thì đời tu của tụi con mới thật là đáng quý. Ngược lại, nếu có người tọa thiền một lần được mười tiếng đồng hồ, mà có ai vừa chỉ trích, liền nổi sân đùng đùng, thì Thầy chưa cho rằng người đó tu hay. Cái hay của người tu là trước những lời khen chê, khinh trọng mình vẫn an nhiên.

Vậy tụi con ráng tập sống đúng với tinh thần đạo đức, đừng lấy hình thức làm trọng. Hình thức chỉ có giá trị tạm thời thôi, còn giá trị lâu dài là phải có tâm an nhẫn, có lòng thương người chân thật. Giá trị thật của sự tu là ở chỗ đó.

Từ ngày Thầy thành lập thiền viện Chơn Không, tức là từ năm 1970 đến nay, tụi con thấy Thầy có được suôn sẻ không? Gặp đủ thứ rắc rối mà Thầy vẫn vui, ai khen chê gì cũng được. Việc mình mình làm, đường mình mình đi, thấy rõ ràng là đúng thì cứ cố gắng, vui vẻ đi. Sự khen chê, hủy nhục, mình xem là trò chơi, không ngăn trở chướng ngại mình được. Chính cái tâm không bền vững, chỗ thấy đạo mơ màng của mình mới là điều ngăn trở, còn ai khen cũng tốt, chê cũng chẳng sao, không ảnh hưởng gì.

Từ lúc lập các thiền viện đến giờ, lập trường Thầy trước sau như một, đường Thầy đi là Thầy cứ đi. Nhờ quyết tâm cố gắng và an nhẫn trong mọi hoàn cảnh, từ con số không mà ngày nay được kết quả như thế này. Thầy được Phật tử trong nước và ngoài nước thương mến, vui mừng, tiếp nhận những điều Thầy nhắc, Thầy dạy, cũng nhờ tâm chân thật của Thầy.

Hồi sáng, có một người đạo Thiên Chúa, chú đó khoảng ngoài ba mươi tuổi. Chú nói có người bạn cho một quyển sách của Thầy. Chú chưa đọc được nhiều, mới đọc mấy trang thôi, tự nhiên có cái cảm, nghĩ là phải gặp Thầy. Chú nói:

– Đã ba năm nay con cố tìm để được gặp Thầy. Tuy ba mẹ con theo Công giáo, nhưng con muốn tu theo Thầy.

Chú đó ngồi nói chuyện với Thầy, Thầy đặt câu hỏi:

– Người sống trong cõi đời này, khi buồn, giận và làm tất cả các việc, đều nói là mình làm, mình giận, mình buồn. Nhưng thật có ai biết mình là gì chưa?

Nghe Thầy nói, chú rớt nước mắt, ngồi khóc một hồi. Lát sau chú nói chuyện vui vẻ trở lại, rồi hỏi Thầy:

– Thầy nhắm con tu được không?

Thầy trả lời:

– Người tu được phải có hai điều kiện: Một là phải thấy rõ đường lối mình tu có đúng với lý tưởng mình không? Mình thật thích nó chưa? Và mình có thể trọn đời đi theo không? Nếu thấy đúng rồi thì đó là điều kiện tốt. Thứ hai, phải có tâm sắt đá, quyết tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn, không có thái độ vui thì tiến, biếng thì lùi. Ai quyết tử trên con đường mình chọn thì người đó sẽ tu được.

Thầy trả lời như vậy, chú ấy lại hỏi:

– Tại sao hồi xưa chư Tổ thấy người nào đó, các ngài biết là tu được thì liền nhận về, rồi sau truyền y bát?

Thầy nói:

– Đó là Tổ, còn Thầy là phàm phu!

Dù người ở gần, ở xa gì mà mình có tâm chân thật giáo hóa thì họ cũng cảm được, chứ không phải là ở gần mới cảm. Nhiều khi người ở gần lại xem thường, người ở xa mới quý. Nên “gần chùa kêu Phật bằng anh” là vậy đó. Ở xa, Phật tử tới lạy liên miên, còn ở gần quen Phật quá nên kêu bằng anh.

Chúng ta chân thật, quyết chí tu, dù muốn dù không cũng có người thông cảm được với mình. Nếu tụi con tu mà không quyết tâm, hoặc có tâm hẹp hòi, nhỏ mọn, ích kỷ thì đời tu không tới đâu, chỉ là gieo duyên một chút vậy thôi. Người tu phải can đảm, hy sinh, dù gặp các hoàn cảnh xấu, đối tượng không tốt đến phá mình, cũng không có gì đáng sợ, đáng buồn, mà thấy đó là cơ hội tốt để rèn luyện tâm. Như vậy thì trên đường tu mới đi tới nơi tới chốn được.

Đó là lời Thầy nhắc nhở cho tất cả tụi con nhớ.

Ngày 28-02 Kỷ Mão (14-04-1999) 

Khi tụi con vào thất, Thầy dạy ba điều:

– Thứ nhất, tiết kiệm thời gian, đừng để lãng phí.

– Thứ hai, biết vọng – buông, chứ đừng đè.

– Thứ ba, thấy gì lạ tốt đừng mừng, xấu cũng đừng sợ. Biết đó là từ tâm mình, do dằn ép mà ra chứ không có gì thật.

Khi vào thất, tụi con phải tiết kiệm thời gian. Tiết kiệm đây không bảo tụi con bỏ ăn bỏ ngủ, cũng không bảo tụi con tu thêm, Thầy nói tiết kiệm là đừng để tâm phóng chạy ra ngoài, đừng để lãng phí công phu.

Có những đứa không hiểu, vô thất thức khuya rồi sanh bệnh, hoặc nhịn đói rồi mất sức. Tưởng như vậy là vâng lời Thầy, nhưng Thầy đâu có bảo tụi con bớt ăn hay ít ngủ! Tụi con thấy mình sai chưa? Đáng bị rầy chưa? Đó là điều phải ráng cẩn thận.

Từ xưa đến giờ, Thầy tu bình thường, không làm khác ai điều gì. Người ta thức thì Thầy thức, người ta ngủ Thầy ngủ, người ta công phu Thầy công phu, không thêm cũng không bớt, đều đều như vậy, trước sau không thay đổi. Ngày nay cũng vậy, đều đều cứ đúng ba giờ Thầy thức, rồi ngồi thiền tới hơn năm giờ, Thầy xả. Thầy tu như vậy đó mà có tiến.

Còn tụi con vô thất, ham quá, muốn lập công, tu quá sức rồi sanh bệnh. Bệnh rồi đổ thừa vì Thầy dạy tiết kiệm thời giờ nên không dám ngủ. Đâu phải tiết kiệm là không ngủ, không ăn. Tiết kiệm là đừng lãng phí trong thời gian quy định của mình. Như hàng ngày ba giờ mười lăm phút thức, ai giỏi thì ba giờ thức; tối mười giờ ngủ, giỏi thì mười giờ rưỡi ngủ. Tối đa là như vậy. Tụi con ăn uống, ngủ nghỉ cho đàng hoàng, thức đúng giờ, làm việc đúng giờ, ngoài ra không thêm gì nữa, bình thường như lúc ở ngoài. Chỉ có điều khác là khi nhập thất, ít hoạt động hơn ở ngoài, ít thấy đói, nên có thể ăn ít hơn một chút, chứ đừng nhịn đói rồi sanh bệnh. Bỏ ăn, ít ngủ, cơ thể suy nhược, bị bệnh lại đổ cho nhập thất bệnh, rồi nói có ma, quậy phá tứ tung. Vậy nên tụi con phải nhớ, đừng hiểu lầm lời Thầy.

Kế là tụi con phải biết, tất cả những gì tụi con thấy đều từ tâm bệnh mà ra, không có gì lạ. Những cái đó không thật. Thân này có thật không? Mình đã không thật thì bóng dáng ảo ảnh làm sao thật được! Thân này nặng mấy chục ký, trong khi cái kia không có ký lô nào mà sợ nó là sao? Nó chỉ là cái bóng, có gì mà sợ. Cửa thất đóng kín, có ai vô được. Chung quanh đều có người, đèn sáng choang, chẳng qua do bệnh trong người hoặc tâm bị dằn ép, nhiều khi phát ra tướng lạ. Những tướng lạ đó là do tự tâm hiện chứ không có thật. Biết rõ không thật thì không có gì phải sợ.

Tụi con biết tất cả đều là hư vọng, vậy mà thấy ma sợ. Có ma thật không? Chỉ do tâm bệnh của mình mà ra, đâu phải thật. Nếu thật thì ai vào thất cũng bị nhát. Tụi con có biết nhà ma ở trên đèo này không? Người ta đồn ai tới đó nghỉ lại, tối nằm ngủ trên giường nó khiêng bỏ xuống dưới đất. Nhà làm đẹp lắm mà không ai ở được, bây giờ người ta đặt tên là “nhà ma”. Chỉ có một người ở được, đó là ông làm con rồng kiểng cho thiền viện mình. Còn bao nhiêu người đều không ở được. Người xưa nói “Ma bắt coi mặt người ta”. Người tu có đức nên ma sợ, vậy mà giờ có người lại sợ ma nhát!

Giả sử có ma đi nữa, mình cũng nên nhớ thân sờ sờ đây còn không thật, huống là ma chỉ là cái bóng, có gì là thật? Nhìn thấy rõ nó như mộng, huyễn, như bọt, bóng, có gì đâu quan trọng! Chẳng lẽ hư không mà giết hư không được, phải không? Quán mình không thật thì ma cũng không thật, cái không thật làm sao giết cái không thật được. Đã không thật thì không có gì quan trọng, không có gì phải sợ. Tụi con không nắm vững được điều đó, nên có gì lạ là hoảng hốt. Từ hoảng hốt rồi mất tinh thần, đi đến yếu đuối, mất ngủ…, sanh ra bệnh hoạn.

Tụi con đọc trong kinh Tương Ưng sẽ thấy, ngày xưa có nhiều vị ni, một mình đi vào rừng ngồi thiền. Có vị Tỳ-kheo-ni bị ma hiện hình người tới chọc ghẹo, cản trở sự thiền định. Tỳ-kheo-ni nói với ma: “Thân này bất tịnh, hư hoại mong manh, không thật có, nên dục ái được đoạn tận, thiền chứng an tịnh.” Ma thấy Tỳ-kheo-ni biết ma rồi nên buồn khổ, thất vọng, biến mất. Ma hiện hình chọc phá mà mấy bà không sợ, dù chỉ có một mình trong rừng. Còn tụi con chung quanh có nhiều người, nhà cửa đóng hai ba lớp mà lại sợ. Vậy mới thấy tụi con yếu đuối làm sao!

Hồi nhỏ, Thầy sợ ma nhát vì mấy ông bà già ngồi lại hay kể chuyện ma. Còn bé, nghe nói ma cũng sợ lắm. Sau đi tu, lần lần lớn lên, Thầy biết rồi, không thèm sợ. Thầy nghe quý thầy đồn trên núi Bạch Vân ở Bà Rịa, có cái am của ông Khương, đạo Cao Đài. Ông về Bến Tre, am bỏ không, ai muốn tu, lên đó mở cửa vô tu. Thầy nghĩ: “Mình nên thử một chuyến.” Có lần, Thầy lên núi, tới chùa quý thầy, cách đó khoảng hai giờ, ăn cơm xong nghỉ tới ba giờ chiều, Thầy chuẩn bị qua am ông Khương.

Mấy thầy đó hỏi: “Bây giờ mưa gió quá Thầy đi đâu?” Thầy nói: “Đi qua bên đó ở thử một đêm.” Quý thầy sợ Thầy không biết đường nên đưa Thầy đi, Thầy cầm theo một cây gậy. Từ thất Thầy ở qua tới đó hai tiếng đồng hồ, toàn là rừng rú, không gặp ai hết. Thầy đi ngay tới cửa sau, thấy cửa đóng, không khóa chỉ cột dây chì. Thầy nghĩ, “chắc có ai ở”. Rồi Thầy đi lên cửa trước, mở cửa bước vô, đi ra sau, lại thấy cửa mở toang hoác. Lúc ấy, quý thầy đưa Thầy đi nói: “Tôi phải về cho kịp kẻo tối, bây giờ Thầy ở hay về?” Nghe vậy, Thầy cũng ớn da gà, nhưng nhất định ở lại xem sao, nên trả lời: “Thôi, Thầy về tôi ở lại.” Trong am không có gì chỉ có bàn thờ Phật và cái giường.

Gần thất có cái mả. Nghe nói hồi xưa có vị tăng tu ở đây. Lúc ngồi thiền có con cọp tới rình, ông ráng ngồi tu, không dám nhúc nhích. Nó rình hoài, tới sáng ra thấy có một vũng nước miếng ở chỗ nó ngồi. Đêm nào cũng vậy, ông thầy ngồi tu, sáng ra thấy có vũng nước miếng. Ông lấy nước miếng của cọp bỏ vào nồi đất, để cho khô rồi cho vào túi. Tới lúc hết gạo, ông đi xuống xóm, nơi nào có mấy đứa bé bị bệnh nóng lạnh, lấy cho uống, hết bệnh ngay, rồi người ta cho gạo mang về ăn. Ông thầy này nghĩ “con cọp này cho mình nước miếng để làm thuốc, mới có gạo ăn”, bèn lấy cái tô múc nước sạch để đó, cọp đến thì có nước uống. Thầy ấy tu ở đó khá lâu mà cọp không ăn thịt.

Như vậy, từ ý định tới ăn thịt ông thầy, lần lần nó với ông kết thân. Về sau, ông thầy chết chôn ở đó, con cọp vẫn tới nằm bên mả hoài. Mả đó cách thất có mười mét. Thầy nghĩ: “Không biết đêm nay nó có đến không? Chắc là không sao!” Thầy ngồi yên trên giường, không dám bước xuống. Đêm đó không biết cọp có đến không. Cả đêm trời chuyển động, gió thổi ào ào, mưa rơi lắc rắc. Nghe cảnh vần vũ đó tụi con thấy ngán không?

– Dạ, ngán.

Thầy nghỉ thử một đêm xem sao. Đầu hôm, Thầy ráng ngồi, lúc đó chưa biết ngồi thiền, chỉ ngồi niệm Phật thôi. Thầy ngồi niệm Phật rồi ngủ một giấc tới sáng, không có chuyện gì. Vậy là qua một đêm yên ổn, sáng ra Thầy trở về chùa.

Tụi con thấy, có can đảm sẽ vượt qua, còn sợ hoài không làm gì được. Bây giờ tụi con tu được đảm bảo trăm phần trăm. Hồi xưa, các tăng sĩ không có chùa, không có chỗ ở, đi khất thực về ở dưới gốc cây, đêm ngủ ở đền miếu, đâu có sợ ma cỏ gì! Tụi con bây giờ nhát như thỏ đế, cái gì cũng sợ! Mới thấy người nay dở hơn người xưa nhiều. Tụi con biết rõ rồi, đừng sợ! Cứ nơm nớp lo sợ là khờ dại.

Phải tỉnh táo sáng suốt tu, đừng để sức khỏe suy yếu. Phải giữ tinh thần mạnh mẽ, tu hành đều đặn, đàng hoàng. Ai nhập thất bày đặt nhịn đói, thức đêm, rồi sanh bệnh, ra Thầy rầy cho xem. Vào thất phải ăn uống đàng hoàng, mới đủ sức khỏe để chịu đựng. Tụi con có quyền thức thêm nửa giờ, đừng thức nhiều hơn. Thầy nói tiết kiệm thời gian là trong lúc mình thức tới lúc ngủ đừng suy nghĩ lung tung, luôn luôn phải tỉnh giác, đừng mê mờ. Tới giờ ngủ thì ngủ, không ngủ sẽ thành bệnh. Bệnh thì tu không được, là thua trận.

Chư tổ ngày xưa khác, có khi các ngài tu quên ăn quên ngủ, có khi liều chết ngồi trên ngọn cây. Do chỉ có một mình, nên việc ăn ngủ không theo thời khóa. Bây giờ, tụi con sống tập thể, có thời khóa mà quên ăn quên ngủ sao được. Quên ăn quên ngủ rồi thành bệnh, lại thêm trở ngại là không hiểu sự tu. Tụi con ngày nay đừng nghĩ phải làm giống như các ngài; mà phải giờ nào ra giờ nấy, ngủ thì ngon giấc, thức thì tỉnh hẳn. Đừng nên trong giờ tu gục lên gục xuống, giờ ngủ thì ngồi đó như ông táo. Cái gì phải cho ra cái ấy, dứt khoát, để không phí thời gian của mình.

Đừng nên tinh tấn thái quá, rốt cuộc suy sụp thể chất lẫn tinh thần, tu không nổi, uổng thời gian nhập thất, không được gì. Thầy nhắc tụi con ráng nhớ, đến phiên mình nhập thất đừng lôi thôi nữa.

Ngày 28-03 Kỷ Mão (13-05-1999) 

Đối với sự tu, tụi con muốn tiến, muốn trở thành người hay tốt thì nhớ sám hối lỗi lầm, rồi chừa bỏ, đừng phạm nữa. Được như vậy thì sự tu sẽ tiến. Sám hối mà chứng nào vẫn còn nguyên tật nấy thì không tốt, tu không thể tiến được. Mong tất cả trong chúng, những người đã có lỗi, từ nay về sau tránh đừng phạm nữa. Đó là lời nhắc nhở của Thầy.

Bây giờ Thầy giảng bài pháp, dựa theo bài kệ tụng tán thán Phật “Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp. Bài pháp này khó nghe, phải cố gắng lắm mới thấy giá trị của nó. Đây là hướng đi lâu nay, Thầy đã dạy tụi con, nhiều khi dạy rồi mà tụi con chưa nắm vững.

Có người phê bình thế này: “Thầy dạy biết vọng không theo, biết là cái biết của mình, vọng là cái vọng của mình, vọng thuộc về sở, biết thuộc về năng. Tu còn có năng sở, thì khó mà đến cứu cánh được.” Tụi con nghĩ sao? Lối tu biết vọng không theo, Thầy thấy tuy đó chưa phải là chỗ cứu cánh, nhưng tất cả người tu, lúc đầu không thể nói không năng không sở được.

Ví dụ Mười mục chăn trâu, có người chăn, có trâu thì có năng sở không? Còn mình niệm Phật, và danh từ mình niệm, có năng sở không? Về tu thoại đầu, mình đặt câu thoại đầu “Trước khi cha mẹ chưa sanh, ta là gì?” thì “Trước khi cha mẹ chưa sanh, ta là gì?” đó có phải là sở không? Người khán câu đó có phải là năng không? Như vậy, tất cả pháp tu, buổi ban đầu đều phải có năng sở.

Nếu niệm Phật, phải niệm tới nhất niệm rồi mới nhất tâm, nhất tâm là vô niệm. Niệm tới lúc vô niệm, lúc đó mới hết năng sở. Tu thoại đầu, tới lúc tan vỡ khối nghi, chừng đó mới hết năng sở. Còn đường lối tu của mình tới đâu mới hết năng sở? Đó là chỗ hôm nay Thầy nói cho tụi con biết, tại sao buổi ban sơ Thầy dạy tụi con tu biết vọng không theo. Dùng cái biết, thấy được vọng, không chạy theo vọng. Lối tu đó có giá trị gì đối với đạo lý?

Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói: Chàng Diễn- nhã-đạt-đa buổi sáng cầm gương soi mặt, khi soi, thấy đầu mặt ở trong gương rõ ràng, úp gương lại, đầu mặt mất. Anh ôm đầu chạy la: “Tôi mất đầu rồi!” Vậy chàng Diễn-nhã-đạt-đa có điên không? Ôm đầu mà chạy la mất đầu thì không điên là gì? Nếu Diễn-nhã-đạt-đa thấy đầu mặt ở trong gương, biết đó là bóng thì anh ta có ôm đầu chạy la mất đầu không?

Ý nghĩa đó hết sức thâm trầm. Phật muốn dạy cho ngài A-nan và đại chúng trong hội biết rằng, lâu nay mình cứ chấp những nghĩ tưởng trong tâm là tâm mình. Những nghĩ tưởng có thì cho rằng có tâm, nghĩ tưởng mất đi thì cho là không tâm. Nên luôn luôn chạy theo nghĩ tưởng, không bao giờ dừng. Chạy theo nghĩ tưởng, cho là tâm mình thật, đến lúc nào đó nó lặng dừng, liền la lên mình mất tâm, mình không có tâm. Vậy có giống như chàng Diễn-nhã-đạt-đa, ôm đầu mà chạy la mất đầu không?

Hiểu như vậy, tụi con mới thấy, lâu nay hầu hết mọi người đều nói, đều nghĩ những ý nghĩ, tư tưởng ở nội tâm, nó là mình. Nhận nó là mình thì chẳng khác nào nhận bóng cho là đầu thật, nên quên cái đầu của mình hiện có. Đó là mê, Phật gọi là điên đảo. Vì cái bóng mà tưởng là thật, cái thật lại không nhớ.

Khi tu, bước đầu phải thấy ra: Lâu nay mình cho nghĩ tưởng là tâm mình, là mình, là thật, đó là mê lầm. Ngày nay thấy rõ nó là hư dối, là vọng tưởng, không thật; biết rõ không thật, nên không chạy theo, vậy có công dụng gì? Đầu tiên, sáng được một phần, không còn lầm như Diễn-nhã-đạt-đa cho bóng là thật. Bây giờ, bóng mình biết là bóng, là tiến bộ. Không lầm bóng là thật, đó là trí; lầm bóng là thật, là điên rồ, dại khờ. Bây giờ, bóng biết là bóng, là đã tiến một bước, bớt điên rồ.

Vậy bước đầu rất thiết yếu. Biết vọng, là tất cả nghĩ tưởng khởi lên mình biết nó là hư dối, là vọng tưởng, không theo nó. Như chàng Diễn-nhã-đạt-đa khi biết bóng trong gương là bóng không phải đầu thật, thì anh chàng hết điên. Bây giờ, tụi con có vọng tưởng, biết là vọng tưởng, xác định như vậy, tụi con đã bớt điên rồi. Vì không còn lầm nữa! Như vậy, thấy nó, biết nó là vọng tưởng thì tự tụi con có một phần trí tuệ. Mà biết nó là vọng tưởng, không theo nó thì nó tự lặng. Nhưng không lặng hoài, mà lặng bóng này nổi bóng khác. Vậy nên, tu hành là phải luôn biết vọng tưởng, để vọng lặng. Tụi con phải nhớ hình ảnh Diễn-nhã-đạt-đa, sở dĩ điên là vì chấp bóng cho là thật. Biết bóng không thật là bớt điên.

Từ lâu, chúng ta mê lầm, chấp vọng tưởng là tâm mình thật, cái mê lầm này cả nhân loại đang mắc phải. Ngày nay chúng ta bước vào đạo, khởi sự tu, biết rõ những tâm đó là hư ảo không thật, nên không theo. Biết vọng không thật là chặng đầu, chặng thứ hai là không theo. Biết rõ nó không thật là trí tuệ, không theo nó là đi tới định, vì không theo tức là dừng, lặng mà dừng, lặng tức là định. Định và tuệ đồng thời ngay lúc đó.

Thầy thường nhắc, Lục Tổ dạy rằng: “Đừng sợ vọng khởi mà chỉ sợ giác chậm.” Người mê khi niệm dấy lên, họ tưởng nó là mình, nên khi không vọng tưởng, họ sợ mất mình. Còn người biết tu khi nó dấy lên, biết là dối là vọng, đó là giác. Vậy thì, nếu theo vọng là mê; biết vọng là vọng, tức là giác. Một vọng niệm dấy lên là một chúng sanh. Biết vọng là hư dối, không theo là một cái nhìn giác, là Phật. Cho nên, một chúng sanh khởi lên thì có một ông Phật đi theo. Vậy có thiệt thòi gì! Tuy còn vọng mà chúng ta vẫn ở trong tỉnh giác. Ngược lại, nếu vọng dấy lên rồi đuổi theo nó để tạo nghiệp, đó là mê lầm.

Trên đường tu, mỗi phút mỗi giây, lúc ngồi thiền cũng như khi sinh hoạt ở ngoài, niệm dấy lên tụi con nhớ là dối là hư vọng, không theo nó, là tụi con đang tỉnh hay đang mê? Đó là đang tỉnh. Vừa rồi H.L sám hối niệm thị phi, đó là thấy niệm mà vẫn theo nó. Bởi theo cho nên thành có chuyện thị phi. Nếu thấy nó, biết rõ là vọng, không theo, thì đâu còn thị phi nữa.

Không phải chúng ta tu trong giờ ngồi thiền thôi, mà tu luôn trong tất cả mọi hành động, mọi hoạt động. Mình vẫn cuốc đất, vẫn làm công tác, mà niệm khởi thì liền bỏ. Dù nghĩ chuyện này hay, nghĩ chuyện kia dở, đều không quan tâm hay dở, buông đi, đó là đang tỉnh. Nếu thấy điều hay thì khen, thì thích, điều dở thì bực bội, đó là đang bị mê lầm dẫn đi.

Nên tu là phải tỉnh phải sáng, không nên ở mãi trong mê. Tụi con tỉnh sáng là đã bước chân vào con đường giác rồi. Đi trên con đường giác, một bước chưa thể tới đích, phải đi nhiều bước, mỗi bước là đã gần đích một tí. Tuy đường xa, mà bước một bước là đã gần một bước.

Phối hợp với tranh Mười mục chăn trâu, “thấy trâu” là đã có một bước tiến. Nếu nói theo Mười mục chăn trâu của Đại thừa, từ chỗ nương theo dấu chân, là căn cứ trên giáo lý, học để phăn tìm được chân lý, lẽ thật. Khi mình theo dấu chân, tìm thấy được con trâu, là mình đã thấy được cái thật. Thấy được rồi đã xong chưa? Thấy được mà chưa xong. Ở mục thứ nhất thứ hai thứ ba, người chăn trâu khỏe vui hay mệt nhoài? Mệt đến thở không kịp. Vì trâu còn hoang.

Khi thấy nó rồi, muốn bắt nó lại, phải tìm đủ cách để xỏ mũi, dùng roi đánh, dẫn nó về. Con trâu hoang với sức người, ai mạnh hơn? Tụi con cũng thường phàn nàn, sao biết vọng mà vọng cứ lên hoài, không chịu dừng. Như vậy đủ thấy là nó rất mạnh. Tụi con đang điều phục con trâu hoang, nó hoang nên khó trị, nó mạnh hơn mình nên mình vất vả chăn dắt. Khó khăn lắm mới có thể kìm chế nó nổi, chứ không phải thấy nó là mọi việc xong xuôi.

Giai đoạn đó là giai đoạn khó nhọc nhất của người tu, tuy khó nhọc mà có niềm vui là tuy chưa điều phục được nó, nhưng đã thấy nó rồi, không còn phải bận tâm đi tìm kiếm. Đó đã là thành công chưa? Thành công một phần rồi, vì mình đã thấy được nó. Lâu nay tìm mà không biết nó ở đâu, nay thấy nó tường tận, thì đó là bước tiến đáng mừng rồi. Nhưng đừng bao giờ nghĩ thấy nó là xong việc, mà còn phải công phu vất vả nhiều. Chừng nào mình xỏ mũi, lôi đầu nó được, thì mới an ổn một chút. Một chút thôi, vì không phải xỏ mũi nó được rồi sẽ dẫn đi dễ dàng. Vì nó lúc nào cũng mạnh, có khi nó lôi mình, mình cũng khó giữ được, còn chạy theo nó làm càn.

Vì con trâu này còn hoang quá, nên khi nó lôi, tụi con không đủ sức kìm giữ, nên phải chạy theo, chạy theo nhưng còn nắm dây mũi, nên lúc tỉnh mình kéo mũi nó lại được. Tay còn cầm cây roi, thi thoảng trâu cứng đầu, không chịu thuần phục, mình quất cho mấy roi. Bị mình đánh, lâu ngày nó phải phục, phải sợ mình. Nhưng trong khi đang giằng co giữa mình với nó, nếu tụi con thả trôi, buông vàm, bỏ roi thì sao? Nó chạy vô rừng lại. Nên giai đoạn giằng co đó, tụi con phải nỗ lực, lúc nào cũng giành quyền làm chủ, đừng để nó làm chủ mình. Phải nắm vàm cho chắc, cầm roi cho vững, đánh nó khi nó ngỗ nghịch. Như vậy, trừng trị lâu ngày, lần lần nó thua mình, phải đầu hàng. Khi nó thua mình thì mình mới thảnh thơi.

Trên đường tu, buổi đầu rất gian lao vất vả, nhưng tương lai sẽ được thảnh thơi. Nếu từ đầu đến cuối đều vất vả thì chắc không ai tu được. Những khó khăn ban đầu tụi con hay gặp như ngồi thiền đau chân, loạn tưởng dẫy đầy, nhưng khi tụi con quyết tâm chinh phục bằng được thì dần dần hết đau chân, vọng tưởng sẽ đầu hàng, tâm được nhẹ nhàng an vui.

Như vậy, chàng mục đồng với con trâu là một hay hai? Rõ ràng có năng sở. Vậy mà có nhiều người lý luận theo “kiểu Thánh”, nói tu mà còn năng sở, là chưa tới nơi. Buổi đầu làm sao không năng sở được. Lúc điều phục thì có năng sở, khi trâu thuần phục rồi thì người chăn nhẹ nhàng thảnh thơi, tuy thảnh thơi nhưng niệm vẫn còn nên thỉnh thoảng phải xem chừng. Ngồi trên lưng trâu thổi sáo, an nhàn nhưng còn ngồi trên lưng trâu là vẫn còn hai bên. Đến lúc nào đó, khi trâu đã thật sự thuần phục, không cần theo canh nó, người chăn có thể ngồi nghỉ dưới gốc cây, mà trâu vẫn ngoan ngoãn nằm yên. Đó là lúc rất thảnh thơi. Nhưng cuối cùng thì sao? Trâu mất, chỉ còn chú chăn, rồi chú chăn cũng mất luôn. Chú chăn mất rồi thì lúc đó mới thấy bầu trời trong, vầng trăng sáng.

Chúng ta đi từng bước. Nếu mới tu mà không trâu, cũng không người chăn thì điều phục cái gì? Điều phục là đi từng bước như vậy, nhưng những bước đi đó, chứng tỏ chúng ta tiến chứ không phải dừng. Mình đang chinh phục nó, nó không hình không tướng, chợt có chợt không, tụi con cứ kiên trì điều phục, lần lần thấm rồi, nó sẽ ngoan dần. Con trâu hung hăng nhưng chúng ta đã có dây vàm kéo mũi, có roi đánh, thuần phục từ từ, nó sẽ theo mình. Việc đó không xa vời, mà rất thực tế. Nếu kiên trì nhất định sẽ được.

Khi trâu đã dần dần thuần phục rồi, từ từ mình sẽ thảnh thơi. Thảnh thơi nhưng vẫn còn chăn, vì còn trâu. Về sau trâu mất mà chăn vẫn còn. Đến giai đoạn trâu mất nhưng còn chăn là khi ngồi tu, tâm không còn lăng xăng chạy ngược chạy xuôi nữa, nhưng thỉnh thoảng vẫn xem chừng. Chừng nào hết trâu, chăn cũng không còn, chừng đó mọi việc mới xong.

Ở giai đoạn hết trâu chỉ còn chăn, mình cần cẩn thận. Lúc trước tâm mình bị dấy động bởi sáu trần bên ngoài, nên phải chăn trâu; bây giờ nó đã yên, mà cứ chăm chăm nhìn cái yên đó là không đúng. Cũng có người khi yên, không giữ cái yên đó nữa mà giữ cái biết. Vì sợ quên cái biết thì sẽ bị ngủ gục, hôn trầm, nên giữ cái biết hoài. Như vậy cũng không đúng.

Trâu đã mất chỉ còn chăn, đây là giai đoạn gần cuối trên đường tu. Chỗ này rất vi tế mà cũng thật vi diệu. Tức là vọng tưởng không còn, mà cứ chăm chăm chỗ không dấy của nó, thì đó là còn hơi hám của năng sở chứ chưa hết, vì còn nhìn chỗ lặng của nó. Thí dụ, lúc nãy Thầy thấy một đàn kiến rất đông, Thầy nhìn từng con kiến. Bây giờ nó đi hết, Thầy vẫn nhìn chăm chăm chỗ đàn kiến lúc nãy coi còn không. Nhìn hoài như vậy thì chỗ mình nhìn và cái hay nhìn có phải hai không? Không có kiến là đối tượng nhìn, nhưng còn nhìn chỗ kiến bu khi nãy, đó cũng là năng. Cho nên đến giai đoạn này không được nhìn chỗ lặng, mà chỉ còn cái biết thôi. Chỉ còn cái biết mà lại sợ mất, rồi giữ mãi cái biết, đó cũng không đúng.

Trong Thiền Tông Vĩnh Gia Tập, phần tụng về Xa-ma-tha, ngài Huyền Giác nói thí dụ chỗ này rất hay. Ví như tay cầm cây viết, thì cái tay và cây viết là hai. Có năng có sở, cây viết là cái bị cầm, tay là cái hay cầm. Cây viết dụ cho chỗ tâm lặng (vọng lặng), tay dụ cho biết, tâm nhìn chỗ lặng giống như tay cầm cây viết, tức là còn hai.

Bây giờ bỏ cây viết mà giữ cái nắm tay, sợ mất nên cứ nắm chặt lại, như vậy đúng không? Nay bỏ đối tượng là chỗ lặng, mình không nhìn mà cứ giữ cái biết, sợ quên rồi bị hôn trầm hay rơi vào chỗ vô ký. Sợ rơi vào vô ký nên giữ cái biết, giống như tay mình nắm lại. Nắm vậy hoài thì tay chưa được tự tại. Phải buông cả giữ cái biết, tức buông tay ra mới tự do tự tại.

Như vậy, không giữ cái biết giống như tay buông ra, tay buông ra là còn hay không còn? Tuy không nắm lại, mà tay vẫn còn đó tự tại. Chỗ đó mới là chỗ chân thật. Nên còn giữ cái biết là còn kìm. Chừng nào buông xả cái giữ đó để cho cái biết thênh thang, đó mới là trở về chỗ chân thật, còn nếu cố giữ cái biết, đó là bệnh. Ai có bệnh đó thì nhớ khéo chừa.

Như vậy, mới thấy đường tu vi diệu vô cùng, đi từ thô lần lần tới tế. Tế là không còn nhìn, không còn giữ chỗ lặng thì cái biết thênh thang. Cái biết thênh thang tự tại đó là cái biết của thánh. Đó là liễu liễu thường trị: rõ ràng thường biết.

Cho nên người tu khi đã tiến tới đó, thì ngài chỉ rõ pháp thân có ba đức là Bát-nhã, Giải thoát, Pháp thân.

– Bát-nhã là trí tuệ, là sáng, cái biết luôn luôn sáng.

– Giải thoát là không dính, không nhiễm.

– Pháp thân là tịch diệt, là yên lặng thanh tịnh.

Sáng suốt rõ ràng là Bát-nhã, không dính nhiễm là Giải thoát, thanh tịnh là Pháp thân. Người nào tu tới chỗ đó rồi, đều đủ ba đức Bát-nhã, Giải thoát và Pháp thân. Ba đức đó tên tuy khác nhưng chỉ có một thể. Tới chỗ đó mới giải thoát sanh tử, là được nhân pháp thân. Nhân ba đức pháp thân, chứ chưa phải quả của ba đức pháp thân.

Tóm lại, khi tu tới không một niệm mà cứ chăm chăm nhìn nó thì vẫn còn hơi hám của đối đãi. Buông luôn chỗ đó, không nhìn nó nữa mà còn giữ cái biết, cho vậy là sáng là thường cũng chưa phải giải thoát. Chừng nào chỉ còn cái biết thênh thang tự tại, rõ ràng thường biết, là Bát-nhã. Rõ ràng thường biết, không dính, không giữ gì hết, là giải thoát. Bởi vậy nên nói Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp là ý đó. Tu như vậy mới được giải thoát, mới vi diệu. Lâu nay, bao nhiêu người tu đạt đến chỗ vi diệu đó!

Được vậy rồi, mới thấy đường tu rất quý, rất cao siêu phi thường, chứ không phải chuyện tầm thường. Có người cứ nghĩ tạo phước, làm lành là chỗ cứu cánh, không biết chỉ là phước trong sanh tử, chứ không phải giải thoát. Muốn giải thoát phải ráng tu, dứt sạch tất cả niệm khởi, phiền não thì tâm được yên tịnh. Nhưng yên tịnh mà mờ mờ cũng không đúng; phải sáng, phải rõ ràng thường biết, đó mới là Bát-nhã. Nếu nói rõ ràng thường biết mà còn dính mắc là chưa giải thoát. Tu hành phải đủ ba điều: Bát-nhã, Giải thoát, Pháp thân mới được cứu cánh giải thoát.

Thầy nói rõ cho tụi con nắm vững đường tu. Chứ nhiều khi Thầy bảo tụi con bỏ vọng, nhiều đứa thắc mắc không biết vọng hết rồi mình tới đâu. Tụi con phải biết từ bắt đầu, cho tới cứu cánh, không còn cái biết để nhìn vọng tưởng, cũng không còn giữ cái nhìn chỗ lặng. Vậy mới đến không còn trâu, không còn chăn. Hết cả hai rồi mới thấy bầu trời trong, mặt trăng sáng, mới biết được ý chư Tổ.

An cư 15-04 Kỷ Mão (29-05-1999) 

Trước tiên Thầy nói về mùa an cư. Ni chúng đã đúng theo lời Phật dạy, mỗi năm có ba tháng hạ an cư, để tỏ lòng cung kính đối với lời dạy của đức Phật. Khi ngài đã sắp đặt, chỉ dạy điều gì thì tất cả chúng ta đều không dám sai sót, dù thời gian cách Phật rất dài, rất xa mà cũng y theo đó làm.

Phật dạy, qua ba tháng an cư là được thêm một tuổi hạ. Vậy tuổi của người tu là từ kết quả tu hành trong ba tháng an cư. An cư là yên ở một chỗ, trong một phạm vi nhất định, không đi đâu, để luôn luôn tinh tấn tu hành. Nên mùa an cư là mùa được nhiều công đức, công đức tăng trưởng nhờ sự tu hành của mình.

Đức Phật nói sau ba tháng an cư, đến ngày rằm tháng Bảy, ngày tự tứ, tăng ni tăng thêm một tuổi hạ tức là lớn thêm một phần, đó là do công đức tu của mình. Ni chúng trong ba tháng an cư này, cố gắng tinh tấn tu cho xứng với ý nghĩa an cư. Do vì Phật tử tin tưởng ni chúng tu hành thanh tịnh vào mùa an cư, nên phát tâm cung kính cúng dường. Nên chúng ta phải làm cho đúng lời Phật dạy, tăng trưởng công đức, xứng với lòng trông đợi của Phật tử.

Tiếp đây, Thầy nhắc tất cả chúng biết Tứ hoằng thệ nguyện của người tu. Chúng ta tu theo Phật giáo Đại thừa hay phát triển, luôn lấy Tứ hoàng thệ nguyện làm kim chỉ nam để tiến lên. Người nào chưa hiểu nghĩa thì cũng như chưa thuộc Tứ hoàng thệ nguyện. Đây Thầy nhắc lại cho tất cả nhớ, nguyên âm chữ Hán là:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Chúng ta không phải phát nguyện suông mà cần nhớ rõ ý nghĩa và thực hành cho đúng.

Chúng sanh biên thệ nguyện độ. Chúng sanh trên cõi thế gian này không thể nào tính hết nên nói vô biên, mà chúng ta nguyện độ hết, đó là ý nghĩa độ sanh. Theo nhà thiền, chúng sanh có hai loại: chúng sanh ở ngoài và chúng sanh ở trong. Kinh Kim Cang, Phật bảo Tu-bồ-đề: “Các vị Bồ-tát lớn nên như vầy mà hàng phục tâm mình. Có tất cả những loài chúng sanh nào, hoặc sanh từ trứng, hoặc sanh từ bào thai, hoặc sanh từ ẩm ướt… đều đưa vào vô dư Niết-bàn mà diệt độ chúng. Như thế, diệt độ vô lượng vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh được diệt độ. Tại sao? Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tức chẳng phải Bồ-tát.”

Độ hết tất cả chúng sanh đưa vào Vô dư Niết-bàn là hàng phục tâm. Vậy chúng ta phải độ chúng sanh nào trước? Chúng sanh ở trong tâm mình. Vừa dấy nghĩ một niệm, niệm nhớ về người, vật, nhớ đủ thứ, đó là chúng sanh. Nên vừa có niệm khởi liền biết, dừng lại, đưa nó vào chỗ yên lặng, là vô dư Niết-bàn. Như vậy, chúng ta hằng độ sanh, ngày nào đêm nào cũng độ, đó là độ chúng sanh ở bên trong.

Chúng sanh ở bên trong độ được thì mới có thể độ chúng sanh bên ngoài. Vì chúng sanh bên ngoài đông vô số, muốn độ thì ít ra nơi nội tâm mình phải bình an, trong sáng thì mới độ được người khác. Nếu tâm mình bất an, tăm tối thì không độ ai được. Chúng sanh ở trong cũng vô biên vô số nên hằng ngày hằng giờ phải nhớ tu để dừng tâm vọng tưởng, phiền não. Những niệm khởi đều độ nó vào vô dư Niết-bàn, thì tự mình được thanh tịnh. Tự mình đã được thanh tịnh là trở về chỗ vô sanh, nên gọi là vô dư Niết-bàn. Chúng ta tu thì phải luôn hướng về nội tâm mình để giải quyết chúng sanh bên trong, sau đó đi đến hóa độ chúng sanh bên ngoài mới không ngán, không chán. Đó là nguyện thứ nhất chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.

Thứ hai, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn tức là phiền não không cùng không tận, nguyện đoạn hết. Phiền não có hai loại: phiền não của mình và phiền não của người. Nội tâm người nào vừa dấy một niệm phiền não thì nó liền phát ra ngôn ngữ, hành động khiến người khác cũng phiền não lây. Phiền não của mình, mình phải đoạn trước, đoạn sạch. Khi hết sạch phiền não trong tâm thì mới đoạn phiền não cho người được.

Chính trong khi đoạn phiền não của mình là đã đoạn giùm phiền não của người rồi. Trong chúng bao nhiêu người, một người dấy niệm phiền não, liền dứt, nhờ dứt phiền não của mình, nên nó không lây tới người khác. Mình dấy niệm phiền não ai đó, rồi nổi giận, người khác nghe cũng nổi giận, như vậy thì phiền não của mình đã lây lan rồi. Cho nên chúng ta độ được phiền não của mình là độ được phiền não của người khác. Nếu trong chúng, ai cũng tự độ được phiền não của mình thì sẽ được an nhiên tự tại, không có những chuyện buồn vui, không còn những đau khổ, phiền phức nữa.

Trừ phiền não của mình là gốc, nên trong chúng phải nhớ, phiền não vừa dấy lên là phải đoạn đứt, đừng cho khởi, đừng cho truyền sang người này người khác làm họ khó chịu, phiền não. Người khác khổ, vì cũng bị tham sân si của mình lôi kéo. Nếu chúng ta dẹp sạch được những khổ não thì mới dạy, mới chỉ được cho người khác để họ tiêu trừ. Chứ họ phiền não, chúng ta cũng phiền não thì dạy họ sao được. Khi phiền não của mình lặng sạch rồi, chừng đó mới nói đến chuyện độ phiền não của người khác. Đó là thiết yếu.

Mình dứt phiền não được rồi mới có đủ tư cách, đủ phúc đức để độ phiền não của người. Gần đây, nhiều người tu dạy người này người kia bỏ tham sân si mà động tới mình thì cũng tham, sân, si như thường. Thế thì lời dạy đó chỉ là lời nói rỗng, không có giá trị. Nên người tu chúng ta phải thực tế, điều gì bản thân làm được mới dạy người khác.

Nói đến phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, nếu vị nào ở địa vị lãnh đạo tăng ni, sẽ thấy điều này rõ lắm. Hàng Nhị thừa, vì thấy chúng sanh phiền não nhiều quá, không kham độ tận phiền não cho chúng sanh, nên chán. Do đó các ngài tu ráo riết đạt đến chỗ vô sanh, rồi nhập Niết-bàn luôn, không trở lại. Nhưng quan niệm của Bồ-tát thì khác. Bồ-tát nghĩ còn một chúng sanh khổ là mình còn khổ, còn một chúng sanh xấu xa là mình vẫn còn ô nhiễm xấu xa. Nên Bồ-tát nguyện độ hết tất cả phiền não cho chúng sanh, rồi mới nhập Niết-bàn.

Như ngài Địa Tạng nói nếu còn một chúng sanh ở địa ngục, ngài cũng trở xuống để độ. Như vậy, chúng ta tu không nên ích kỷ, phải phá dẹp không còn một chút ngã nào, chúng ta mới hòa với mọi người. Mọi người còn xấu thì chúng ta vẫn còn xấu để ở bên cạnh giúp họ. Sống trong tập thể tu hành, đừng nghĩ rằng “ta tốt, những người kia xấu” không ra gì. Mà nên biết rằng, huynh đệ mình còn một người xấu dở thì mình vẫn còn xấu còn dở. Ví dụ có một người A, B gì đó ở Trúc Lâm đi ra ngoài, đến chùa khác hoặc đến đâu đó, rồi nói bậy, làm bậy thì người ta nghĩ gì về tập thể người tu ở Trúc Lâm này? Họ cũng coi thường, phải không? Như vậy, chỉ một người xấu, chúng ta cũng bị xấu lây.

Cho nên tụi con hiểu, còn huynh đệ nào chưa được an ổn, chưa được vui vẻ thì mình cũng phải thương, nhắc nhở, tạo điều kiện tốt cho họ được an ổn vui vẻ. Đừng thấy họ không ổn không vui mình cứ xầm xì bàn tán. Bị chỉ trích thì họ buồn khổ, mình cũng khổ theo.

Tu là độ tất cả, phải đoạn tất cả phiền não cho chúng sanh chứ không phải chỉ lo cho mình thôi. Không phải chỉ độ những người thân, mà người nào mình cũng phải cố gắng độ. Vì đã đến ở tại một trú xứ, tức là có duyên với nhau nhiều hoặc ít, nên phải cố gắng hòa hợp để độ tất cả. Đó là tâm từ bi của Bồ-tát. Tu theo Đại thừa thì phải tập tâm rộng lớn như vậy, đừng nhỏ mọn ích kỷ, vậy mới xứng đáng.

Tụi con ở đây tu lâu, tự nhìn phiền não của mình, thấy ngán không? Người nào cũng có cả lố phiền não, muốn độ cho hết thì thật cay đắng. Vậy, tất cả ni chúng mùa an cư này, ráng đoạn phiền não của mình, không phải đoạn chút ít mà đoạn tận gốc rễ, rồi mới dạy người đoạn. Đó là điều thứ hai.

Thứ ba, pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Nghĩa là pháp của Phật nhiều vô số, chúng ta nguyện học, nguyện hiểu hết. Tại sao vậy? Tại vì lời đức Phật dạy là những lời vàng lời quý. Phật thấy được lẽ thật, nên điều gì ngài nói cũng đều đúng với chân lý, hợp với sự thật, càng nghe chúng ta càng được mở mang trí tuệ. Nên chúng ta phải học để trí tuệ càng ngày càng tăng trưởng. Chứ tu mà lười biếng, không chịu nghe không chịu học sẽ bị tăm tối, bản thân không biết đường tu, cũng không làm lợi ích cho ai. Trong chúng, những người nào lười học chán học là những người không muốn tiến, không muốn mở sáng con mắt trí tuệ, ở mãi trong u tối nên bị trầm luân. Vậy nên phải cố gắng học Phật pháp.

Điều thứ tư Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Phật đạo vô thượng tức là không có gì quý hơn, không có gì cao hơn đạo Phật. Đây là điểm rất hay của đạo Phật. Những tôn giáo khác cho rằng giáo chủ của họ là trên hết, là cao tuyệt đối, còn tất cả những người dưới chỉ là kẻ phụ thuộc hoặc là người hầu hạ, không ai đạt đến quả vị như giáo chủ của họ. Đạo Phật thì khác. Đạo Phật nói vô thượng là không có gì trên, nhưng có bằng. Bởi vì, Phật dạy tu muốn được thành Phật thì phải giác ngộ viên mãn. Viên mãn tức là tròn đầy. Đức Phật ngài đã giác ngộ tròn đầy, ai tu giác ngộ như vậy đều là Phật không khác.

Chúng ta đang tu là đang giác ngộ, giác ngộ từng phần nho nhỏ. Khi tụi con học kinh thấy Phật nói hay quá, vui nhận được, đó là có chút giác. Hoặc đôi lúc tụi con ngồi tu, bất chợt nhớ lại lời Phật, thấy rõ ràng chỗ cao siêu đó, vui mừng, đó cũng là giác. Như vậy, mình giác ngộ từng phần nhỏ, lâu ngày lâu đời gom lại thành giác ngộ viên mãn. Khi đã giác ngộ viên mãn thì mình cũng đồng với Phật. Tới chỗ đó rồi tất cả như nhau, nên không có trên mà có bằng. Như vậy ai giác ngộ viên mãn thì bằng Phật, mà bằng Phật tức là thành Phật.

Có người nào tu không muốn thành Phật không? Chúng ta tu là phải đi đến chỗ giác ngộ viên mãn, thành Phật. Trên đường tu, tụi con đừng bao giờ cho tới mức nào đó là vừa rồi, hài lòng rồi. Chúng ta cứ tu hoài, chừng nào giác ngộ viên mãn như đức Phật thì mới dừng. Viên mãn rồi còn gì nữa mà tu. Như vậy, tu thì phải đi tới cứu cánh viên mãn. Viên mãn cái gì? Viên mãn trí tuệ. Người tu chú ý quan trọng ở trí tuệ, chứ không nên chú ý nhiều ở phước báu.

Mình có giác ngộ mới hướng dẫn người khác giác ngộ, mình giác ngộ tròn đầy mới hướng dẫn người khác giác ngộ tròn đầy. Cho nên, đức Phật giác ngộ viên mãn rồi, mới hướng dẫn Bồ-tát đi lần lần tới giác ngộ. Bồ-tát tức là phần giác, là giác ngộ từng phần. Bây giờ tuy tụi con không phải Bồ-tát, không dám xưng Bồ-tát, mà đang tập giác ngộ từng phần là đang thực hành hạnh Bồ-tát. Vì vậy, người tu theo Phật giáo Đại thừa, khi tu cũng thọ luôn giới Bồ-tát. Thọ giới Bồ-tát tức là làm hạnh Bồ-tát. Đó là ý nghĩa chúng ta phải nhớ, hiểu để ứng dụng tu.

Qua bốn câu thệ nguyện lớn này, tụi con thấy bổn phận người tu không phải đơn giản, cũng không có giới hạn, mà phải rộng lớn. Độ chúng sanh phải trọn vẹn, đoạn phiền não phải sạch hoàn toàn, giáo lý phải thâm nhập cho hết, quả vị Phật cũng phải tới nơi. Chỗ cuối cùng là thành Phật chứ không ở giữa chừng rồi tạm cho là đủ. Vì vậy, sự tu của mình không chỉ ở một hai đời mà đời này mình giác ngộ được đôi phần, đời sau tiếp tục giác ngộ nữa, cứ thế mãi mãi đến khi giác ngộ viên mãn.

Có đức Phật nào nói tu một đời thành Phật không? Phật nào cũng đã từng tu hạnh Bồ-tát, tức là giác ngộ từng phần cho tới kiếp cuối cùng giác ngộ viên mãn rồi thành Phật. Như vậy, trên đường tu, mục tiêu hướng đến là giác ngộ hoàn toàn viên mãn, là Phật quả. Nên cứ tu, đừng nghĩ việc mau chậm, cứ tinh tấn dẹp phiền não, rồi độ chúng sanh. Cứ như vậy tiến hoài, tiến tới chừng nào viên mãn mới thôi. Đó là mục đích của người tu.

Tụi con trong mùa an cư này phải tăng thêm một buổi nghe pháp, tức là ngoài phần Quản chúng và Phó quản chúng dạy một buổi, còn phải có một buổi để nghe Thiền Căn Bản, Thiền Đốn Ngộ và những bài pháp khác. Tụi con nghe vào một buổi nhất định, tức là tăng thêm giờ, mỗi tuần đều có hai buổi, phải học cho đủ. Vì không học, lâu ngày tâm lơ là, mà lơ là thì tâm niệm chúng sanh sẽ sống trở lại, không tốt. Ngoài hai buổi Thầy dạy trong tháng, tụi con còn học mỗi tuần. Được như vậy thì nguyện pháp môn vô lượng thệ nguyện học mới tròn.

Đây là lời Thầy nhắc nhở tất cả chúng trong mùa an cư này, nhớ tứ hoằng thệ nguyện để tu cho xứng đáng.

Ngày 28-04 Kỷ Mão (11-06-1999) 

Phần thỉnh nguyện hôm nay, Thầy thấy toàn chúng người có lỗi lầm, có sai sót đều biết ra sám hối, cho tất cả những lỗi lầm đó được trong sạch. Còn những vị có lỗi mà chưa biết, quý thầy nhắc cho biết để sửa, như vậy mới đúng tinh thần thỉnh nguyện.

Thỉnh nguyện là phải thấy tường tận những lỗi lầm của mình, để trình lên sám hối, từ đó về sau sửa đổi cho được tốt được hay, chứ không phải chỉ kể lỗi ra rồi thôi. Sám hối rồi, từ đó chừa hẳn không tái phạm nữa, tinh thần thỉnh nguyện như vậy mới được đầy đủ. Đó là phần căn bản cho chúng thỉnh nguyện, cho chúng tu tập, tự tỉnh tự giác để mỗi người mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm đều tiêu mòn dần những phiền não, lỗi lầm. Mỗi ngày mỗi tiến cho đến chỗ hoàn toàn thanh tịnh. Thỉnh nguyện hôm nay đã xong, sau đây Thầy có ít lời nhắc nhở chúng.

Phần nhắc nhở hôm nay hơi khó một chút, nhưng Thầy thấy cần cho chúng nghe. Vì Phật pháp rất sâu xa, nên người học đạo phải nghiên cứu tường tận. Nếu chúng ta tu mà không nắm vững, không hiểu rõ đường lối tu, thì có khi mơ màng hoặc nghi ngờ, làm chướng ngại sự tu.

Thầy nhắc cho tất cả nhớ. Trong Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói về phần Tám thức chuyển thành Bốn trí, tụi con nhớ không? Bên Duy thức học cũng nói rõ điều đó. Chúng ta tu thiền, phải nắm vững tám thức chuyển thành bốn trí, thức nào chuyển thành trí nào. Bây giờ, trước hết nói tám thức. Duy thức học chia ra tám thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức, cộng với mạt-na thức (chỗ khác gọi là ý căn), và tàng thức (a-lại-da thức). Nói thức là nói tới nghĩa phân biệt. Thức là phân biệt, chúng ta tu, tám thức đó chuyển thành bốn trí: Thành sở tác trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tánh trí và Đại viên cảnh trí.

Muốn chuyển tám thức thành bốn trí, phải chuyển thức nào trước? Năm thức nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân thức chuyển thành Thành sở tác trí; còn thức thứ sáu thành Diệu quan sát trí; thức thứ bảy thành Bình đẳng tánh trí; thức thứ tám thành Đại viên cảnh trí. Học thuộc thì dễ, nhưng chuyển bằng cách nào, cái gì chuyển? Đó mới khó! Nếu không nắm vững điều này, trong khi tu tụi con sẽ lúng túng, không biết tu cái nào trước cái nào sau.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cái nào chuyển trước?

– Dạ, chuyển ý.

– Chuyển ý làm sao? Đó là một vấn đề. Nếu không hiểu sẽ lúng túng trong lúc tu. Trong Duy thức học nói về ý là “công vi thủ, tội vi khôi”. Công thì nó đứng đầu mà tội nó cũng đi trước, tội to mà công cũng lớn. Làm gì nó cũng đi đầu, tội nó cũng đi đầu mà chuyển thành trí nó cũng đứng đầu. Vậy nên tu cũng phải bắt đầu từ ý.

Nhà thiền thường dạy mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là năm căn tiếp xúc với năm trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nếu năm căn tiếp xúc với năm trần mà không có ý thức cộng vô thì không thành lỗi. Mắt thấy sắc, sắc nó ra sao thì cứ hiện vậy, hoặc có phân biệt trắng đen, đẹp xấu… vậy thôi. Tới ý thức cộng tác khởi phân biệt đẹp thì sanh yêu thích, xấu sanh ghét. Có niệm thích và ghét hay yêu và ghét thì thành tội chưa? Nếu nó đẹp là đẹp, xấu là xấu thì chưa phải tội, mà tội bắt đầu từ yêu thích, từ chán ghét. Vậy thành tội là khi có ý thức hợp tác vô.

Rồi tới tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị. Lưỡi ăn cơm, ăn vật thực, ăn vô, ngon biết ngon, dở biết dở, đó là công dụng của thiệt thức. Biết ngon biết dở là có phân biệt, nhưng không có lỗi. Nếu còn thêm “món này ngon quá, thích; món này dở quá, bực, chán, muốn rầy” thì thành tội. Thành tội là do cảm thấy ngon, rồi sanh tâm yêu thích, dở sanh ra bực bội rầy rà, do có ý thức hợp tác. Nếu không có ý thức thì chỉ biết ngon biết dở thôi, chứ không có thêm gì nữa. Như vậy, phân biệt ngon dở nhất định phải có, nhưng khen chê, ưa ngon ghét dở không phải là chuyện của lưỡi, của thiệt thức mà là của ý thức.

Cho nên, ý thức phát nghiệp thì tội đứng đầu, khi mình tu thì công cũng đi đầu. Ý thức luôn luôn phân biệt, bên đây thì ưa, bên kia thì ghét, tạo thành tất cả những thứ đối đãi. Như hiện giờ tụi con nghĩ cái gì làm cản trở khiến mình hay gặp khó khăn trong sự tu? Con mắt không làm khó, tai cũng không làm khó. Thí dụ, tụi con đang ngồi thiền, dưới xóm người ta đánh nhạc, nếu nghe tiếng nhạc thôi, nó chưa có tội. Nhưng nghe có tiếng nhạc rồi lắng tai nghe, khen chê nhạc đó hay hoặc dở, đó là cộng tác của ý thức đã ra sức phân biệt, để rồi sanh ra thích và không thích. Nên tu gốc từ ý, ý là chủ, phải chuyển ý thức trước. Như lời thiền sư Quảng Trí nói chăn trâu, cái gì là trâu, cái gì là chăn, tụi con nhớ không? Trâu là năm thức trước, là năm căn, chăn là ý thức. Ý thức có hai phần: bên mê và bên tỉnh giác. Mê thì ý thức chạy theo năm trần để tạo nghiệp, còn tỉnh giác thì ý thức chặn đón, không cho dính nhiễm với năm trần. Chặn đón đó gọi là chăn, còn chạy theo là mê. Như thế, tu luôn luôn phải khéo dùng ý thức chăn, ý thức chăn đó là phần tỉnh, phần giác. Nó là công dụng của Diệu quan sát trí. Vì vậy, luôn luôn phải vận dụng phần trí, đừng cho năm căn dính với năm trần. Nếu không khéo dùng nó để ngừa đón, chặn đứng thì căn trần dính nhau trở thành nhơ nhiễm, rồi lôi kéo đi trầm luân sanh tử.

Trong kinh Lăng-già ghi: “Đại Huệ! Cái sanh diệt kia là thức, cái chẳng sanh diệt là trí. Lại nữa, rơi vào tướng, vô tướng và các thứ nhân tướng có và không là thức, siêu việt tướng có không là trí. Lại nữa, tướng trưởng dưỡng là thức, chẳng phải tướng trưởng dưỡng là trí.”

Phân biệt là động, không phân biệt không động nên thuộc về trí không sanh diệt. Còn khi dấy niệm lên, lúc đó có động không? Bất cứ dấy niệm nghĩ chuyện gì cũng đều là động, động là tướng sanh diệt mà sanh diệt thì tạo nghiệp luân hồi. Nếu dừng được ý thì không còn dấy niệm, không còn dấy niệm mà hằng sáng.

Như vậy, tu trọng tâm dùng phần trí không sanh diệt của ý thức, chuyển ý thức từ nhơ nhiễm trở thành thanh tịnh, từ ý thức chuyển thành Diệu quan sát trí. Nếu thành Diệu quan sát trí rồi thì năm thức trước trở thành Thành sở tác trí. Vì chúng không làm gì được hết, khi ý thức chuyển thành trí thì năm thức trước cũng thành trí theo. Thành sở tác trí này chỉ thành tựu được khi Diệu quan sát trí thành tựu, thành là nhờ công phu tu hành, ý thức chuyển thành Diệu quan sát trí. Thành theo vì do Diệu quan sát trí làm ra sở tác, nhờ ý thức làm ra chứ không phải tự tiền ngũ thức làm ra. Như vậy, ý thức quan trọng không? Quan trọng!

Nên tụi con ngồi thiền để ngăn đón ý thức, không cho nó chạy theo bóng dáng của pháp trần, tức chuyển nó đừng dính với trần. Khi không dính với trần, từ đó trở lại chỗ biết, hay là chuyển thức thành trí. Khi ngồi thiền, mê là vào hang quỷ, tỉnh giác yên lặng là sáng, đúng như lời của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói:

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,

Vô ký lặng lặng sai; 

Lặng lặng tỉnh tỉnh phải, 

Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

Hôm trước, Thầy đã nhắc ba thứ Pháp thân, Giải thoát, Bát-nhã. Tịch diệt là tịch tịnh là Pháp thân; tỉnh tỉnh là Bát-nhã; thanh tịnh không nhiễm là Giải thoát. Như vậy, tu hành cuối cùng có đủ ba thứ Pháp thân, Bát-nhã, Giải thoát. Đó là công năng của Niết-bàn. Vậy nên khi ngồi thiền mà tâm trong sáng, không dấy niệm, không mơ màng thì đó là Bát-nhã, là trí chứ không phải thường.

Do đó khi tu, niệm chạy theo phân biệt là thức. Dừng niệm phân biệt, chỉ còn tâm sáng suốt là trở về trí. Vậy là chuyển thức thành trí. Mà chuyển ý thức là trước tiên, nên mình ngồi tu chỉ dồn hết tâm lực vào đó thôi. Mình tu phải nhắm ngay đầu mối, nếu ý thức không còn chạy theo, dính mắc sáu trần, khi đó chuyển ý thức thành Diệu quan sát trí. Nó đã thành Diệu quan sát trí thì năm thức trước biến thành Thành sở tác trí. Như vậy, chuyển được sáu thức thành hai trí rồi.

Ý thức luôn nằm ở hai bên là thương hay ghét, vui hay buồn, hoặc ưa không ưa. Tất cả những thứ hai bên đó là công việc của ý thức. Bây giờ mình tu thì phải bỏ, không được nuôi dưỡng nó. Trọng tâm tu là ở chỗ này. Thầy chỉ rõ để tụi con nhìn lại, biết đang ở chỗ nào, đang ở trong ý thức phân biệt hay đang chuyển thành trí.

Ý thức luôn luôn chạy theo đối đãi phân biệt, mà phân biệt đối đãi thì có thương ghét, buồn giận v.v… Còn những thứ đó là còn luân hồi, vì nó là nhân luân hồi sanh tử. Bây giờ, muốn thoát ra khỏi luân hồi sanh tử thì phải dừng phân biệt đối đãi, dừng thì tâm lặng. Tụi con đã hiểu tại sao ngồi thiền để tâm yên chưa? Nếu tâm yên mà ngồi gục lên gục xuống là lúc đó ở đâu? Ở trong hang quỷ, nên đập cho nó chạy. Người thấy mình sắp vào hang quỷ, đánh cho thoát ra, đó là thương hay ghét, cứu hay hại mình? Vậy mà có người đang gục lên gục xuống, giám thiền đánh một cái cho tỉnh, mà lại buồn giận. Có phải muốn chui vào hang quỷ không? Nên khi mình ngồi ngủ gục, giám thiền đánh, đó là từ bi cứu mình ra khỏi hang quỷ. Vì nếu tụi con ngồi yên, không có suy nghĩ, mà mờ mờ mịt mịt, là ở trong tăm tối, mà tối tăm là ở trong hang quỷ. Nên luôn luôn phải tỉnh, không suy nghĩ, không chạy theo cảnh mà tâm hằng tỉnh hằng sáng thì đúng. Đó mới là trở về dần dần với Diệu quan sát trí. Nếu mê thì không thể trở về mà đi trong mờ tối.

Hiểu cho thật rõ tụi con mới thấy giá trị của sự tu, nếu không thì không biết tại sao phải làm như vậy. Khi ngủ gục, không làm chủ được, thấy có người đi tới để xem xét, hướng dẫn cho tỉnh, nghi thức dạy phải làm sao? Mình sắp vô hang quỷ rồi, phải cầu cứu, nên thấy người vác cây thiền bảng tới, mình mừng quá, chắp tay xá rồi vịn đầu bả vai kéo xuống, nghiêng đầu qua, chờ được đánh để cứu ra khỏi cơn mê, xong rồi chắp tay xá. Tụi con phải hiểu, mình mê mờ, ở trong hang quỷ không ra khỏi, nên đánh cho giật mình tỉnh để sáng lên, nhờ đó thoát khỏi mê lầm tối tăm, nên bị đánh mà lại chắp tay xá để cảm ơn.

Như vậy, tụi con biết rõ tu là phải vận dụng công phu nơi ý thức. Ý thức đứng về mặt trí. Đừng theo mê, mê thì dính mắc chạy theo cảnh, trí thì biết rõ, dừng những tâm chạy theo cảnh. Như vậy, cái dụng khi được đầy đủ rồi thì biến thành Diệu quan sát trí. Biến thành Diệu quan sát trí rồi thì năm thức trước cũng theo đó mà chuyển. Chuyển hai trí xong rồi mới tới trí thứ ba.

Ý căn hay mạt-na thức nó thầm lặng khó thấy, công dụng của nó là chấp thức thứ tám làm ngã. Nó có hai công dụng. Một công dụng nổi là truyền tống thức mang chủng tử từ ngoài vô kho. Ý thức lấy cảnh vui buồn ở ngoài thành chủng tử, lượm những thứ từ ý thức dồn vô kho là truyền tống thức. Còn một công dụng nữa, nó chấp tàng thức, cái kho làm ngã. Công dụng thầm lặng đó, chi phối rất tinh vi, mình khó thấy khó biết.

Sau khi chuyển thức thứ sáu rồi, chừng đó nhìn lại mới thấy sự thầm lặng chấp ngã của nó. Nên tụi con khi ngồi tu lâu rồi, có những lúc thấy như vọng tưởng mất, rồi sẽ thấy cái lăn tăn nhỏ nhiệm thầm lặng ở bên trong, đó là hiện tượng của mạt-na. Nên phải nhận biết sâu, làm cho hiện tượng đó sạch luôn, thì mới chuyển thức thứ bảy thành Bình đẳng tánh trí, tới đó mặt hồ tâm mới bằng phẳng.

Thức thứ bảy chuyển thành Bình đẳng tánh trí rồi thì thức thứ tám có chuyển không? Tự nó chuyển hay sao? Vì kho chứa mà không đem đồ vô nữa, thì còn chứa cái gì? Không còn đồ chứa thì biến thành kho trống sạch, mà kho trống sạch rồi thì thành Đại viên cảnh trí. Như vậy, thức thứ tám tự nó không chuyển, mà khi không còn chủng tử ô nhiễm mang vô thì đương nhiên nó sạch. Sạch thì trở thành trí, đó là trí cứu cánh.

Bởi vậy, trên đường tu hiểu cho sâu, mới thấy mỗi thứ công dụng đặc biệt của tâm. Mình phải biết rõ từng phần, chứ không nên tu là bảo sao làm vậy. Nếu tụi con đến đây tu, bảo ngồi thiền thì ngồi thiền, bảo bỏ vọng tưởng thì bỏ, không biết bỏ để làm gì, bỏ ra sao, đó là không nắm vững sự tu. Không nắm vững sự tu thì mai mốt làm sao dạy người khác được. Nên phải hiểu cho rõ tại sao phải làm như vậy.

Chuyển thức thứ sáu trước để nó trở nên thanh tịnh sáng suốt thì năm thức trước cũng chuyển. Tới thức thứ bảy, nó chấp ngã thầm lặng, nên tu là xóa lần những niệm lăng xăng. Còn niệm là còn chấp ngã, hết niệm thì lấy gì chấp, chủng tử không còn lôi nữa thì thành Bình đẳng tánh trí. Thức thứ bảy chuyển rồi thì cái kho tức thức thứ tám tự thanh tịnh, tự nó trong sạch. Đó là cả hệ thống tu hành rất sâu. Bởi vậy người nào tu, muốn đạt tới chỗ cứu cánh phải thấy sâu xa, tu từ thô lần lần tới tế, cho tới hoàn toàn thanh tịnh.

Như vậy, công phu tu là cả quá trình dài khó nhọc và tế nhị, nhiêu khê chứ không đơn giản. Nên người quyết tâm tu mà chỉ tu sơ sài, tưởng là đủ, là được rồi thì chưa tới đâu hết. Phải tiến cho sâu, nhìn cho tường tận gốc của nó, như vậy sự tu mới đến nơi đến chốn.

Hôm nay, Thầy chỉ nói đơn giản vậy thôi, từ từ có dịp sẽ nhắc thêm. Điều kiện cần là phải chịu khó học kỹ quyển Thiền Căn Bản nói về các thứ ma, biết để điều trị. Kế là quyển Thiền Đốn Ngộ để thấy được chỗ thâm sâu của sự tu hành, chứ đừng coi thường.

Thầy không có thời gian giảng đi giảng lại, chỉ giảng một nơi thôi, tụi con cố gắng học theo. Ở đây Thầy giảng Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX, chỗ kia Thầy giảng chủ đề khác, nhưng tụi con phải học cho hết, phải gom lại để học. Như vậy sau này nắm vững được đường lối tu, bản thân tụi con tu được, hướng dẫn người khác cũng không sai lầm.

Đời tu vô cùng quý giá. Nếu không học kỹ, không khéo thì mình tu không ra gì, có hướng dẫn người cũng không tới đâu. Đó là có hại, không tốt. Vì người thế gian đang mê, mình được tỉnh, tỉnh mà không phát huy cho xứng đáng với giá trị tỉnh, đôi lúc chiều theo mê thì uổng một cuộc đời. Tụi con cố gắng, phải tỉnh, phải làm sao đời tu của mình đi mãi trên con đường sáng suốt giác ngộ, chứ đừng bị mê trở lại. Đó là điều quý báu nên phải cố gắng. Đây là lời nhắc nhở của Thầy, mong tụi con thực hành cho được.

Bây giờ, còn một điều Thầy phải giải quyết người vắng mặt. Vừa rồi khi Thầy về, được nghe báo cáo lại, ở trong chúng đây có M.A, một sáng nọ đi xuống cổng Nội viện ni, không biết có ai giữ chìa khóa đưa nó đi không. Xuống dưới cổng thì có một chú thanh niên đi xe máy đậu sẵn đó, chở nó lại chỗ điện thoại công cộng. Nó gọi điện thoại, xong rồi ra, chú thanh niên đó đưa nó trở về thiền viện, rồi nó về đây. Nửa tiếng đồng hồ sau có điện thoại gọi đến bên quý thầy, nói mẹ nó đau nặng, yêu cầu phải cho nó về gấp. Như vậy, nó gọi điện thoại cho ai đó, rồi ở nhà nó gọi điện thoại vô xin cho nó về, có phải vậy không?

Như vậy tụi con nghĩ sao? Ở trong chúng mà lén đi giao thiệp với một chú thanh niên, không biết người đó là ai, chở lại đằng kia gọi điện thoại, rồi chở đưa về. Nếu không liên hệ, làm sao có chú thanh niên tới chở đi rồi chở về đàng hoàng. Đó là điều Thầy thấy hơi quá lắm. Qua sự báo cáo, có người thấy rõ ràng, kể lại rành mạch cho Thầy nghe, chứ không phải chỉ biết một cách mơ màng.

Hồi nãy, Thầy sắp lại đây thì nghe điện thoại reo, Thầy bắt máy. Biết là Thầy, nên M.A thưa: “Xin phép Sư ông cho con ở lại mười hôm nữa, vì mẹ con còn bệnh.” Thầy trả lời: “Duyên con ở thiền viện hết rồi, thôi con đừng trở về.”

M.A ở trong chúng tu mà lén đi liên hệ bên ngoài. Chuyện nói mẹ đau, sao tin được. Như vậy, nó có mấy lỗi?

Lỗi thứ nhất là lén đi giao thiệp với bên ngoài không xin phép ai. Giao thiệp với người nam là ai cũng không biết.

Lỗi thứ hai là gọi điện thoại. Ở đây có điện thoại, nếu có chuyện gì cần thiết lắm thì lại thưa Quản chúng mình có việc cần thiết, xin gọi điện thoại về nhà. Cứ ở đây mà gọi, chứ đi ra ngoài kia gọi là không chân thật, có ý giấu giếm điều gì đó.

Thứ ba, ở đây không được giữ tiền, tiền ở đâu có mà nó lại đằng đó gọi điện thoại.

Đó là ba điểm cho thấy, nó ở đây không phải quyết chí tu, dường như để làm cái gì đó, nên Thầy dứt khoát cho đi luôn, không được trở lại. M.H coi trong đơn của nó có đồ đạc gì thì đóng gói lại, để có dịp nào đó gửi trả cho nó. Thầy nhất định không cho nó ở đây nữa. Điều này rất đáng ngại. Vì trong chúng đây, tụi con ở chung đông đảo, có trưởng liêu, có huynh đệ, mà nó đi đâu không ai biết thì thật ngại. Bằng cách nào giao thiệp, hẹn với người ngoài? Mà người đó lại là người nam. Rồi người đó lại đây chở đi, mà họ đâu phải ở gần bên đây, thời gian chở đi rồi chở về nên chắc chắn đi phải lâu, vậy mà không ai biết? Điều này không hiểu làm sao mà nói. Gọi điện thoại nói chuyện bí mật gì, với ai mà không dám gọi điện thoại ở chùa. Như vậy, người gian dối, không thật thà thì đâu thể ở đây tu được. Bởi vì ở đây cần những người thật tu, còn ai không có tư cách đó thì không được chấp nhận.

Đây là điều Thầy dạy tụi con, mình ở đây chỉ tu thôi chứ không làm chính trị. Thầy không phải khó khăn với tụi con mà vì muốn tụi con có đủ thời gian yên ổn tu hành, không bận tâm chuyện này nọ, để dồn hết sức lo công phu. Trừ những trường hợp thầy hoặc cha mẹ bệnh nặng hoặc tịch thì báo tin, chừng đó mới xin phép đi về. Còn chưa nghe gia đình báo, mà tự mình ra ngoài kia gọi, khi thấy có thầy tăng đi tới gần, liền nép thấp trốn ở dưới để khỏi bị thấy. Như vậy, ở trong thiền viện cũng có những người không quyết tâm tu, chứ nếu quyết tâm tu thì không thể có thái độ như vậy.

Nên tụi con sống chung, ai thấy những huynh đệ ở gần làm gì sai sót, không hợp pháp, có hại cho tập thể thì phải thưa cho ở trên biết, để dè dặt, cẩn thận, khéo nhắc nhở dạy dỗ từ buổi đầu, chừng nào không được thì thôi. Chứ tụi con cứ im lìm, làm thinh, ai đi đâu thì đi, ai làm gì thì làm, không cần biết tới. Tới chừng chuyện không tốt vỡ lở xảy ra, thì không còn cách nào cứu được.

Ngày 28-05 Kỷ Mão (11-07-1999) 

Thầy có ít lời nhắc nhở. Phần đầu trong Nội quy, tụi con nhớ có dạy thiền sinh ở đây sống đạm bạc. Đạm bạc là tinh thần của thiền sinh sống ở thiền viện. Tụi con hiểu nghĩa đạm bạc là sao không?

Đạm bạc là kham khổ, chỉ ăn muối hột với rau luộc thôi, phải không? Hay đạm bạc cách nào? Câu đó nhiều khi tụi con không hiểu sẽ ứng dụng lầm. Thầy nhớ trong sử đức Phật, ngày xưa khi chư tăng đi khất thực, có những chỗ cúng hết sức sơ sài, các ngài cũng hoan hỷ thọ nhận. Lúc ăn uống, các ngài không phàn nàn sao hôm nay nấu ăn dở quá. Những lúc khác khất thực chỗ nhà quan quyền, cúng dường rất hậu hỹ, các ngài cũng nhận về ăn mà không khen hôm nay đồ ăn ngon.

Như vậy, tinh thần đạm bạc là được cho thứ gì nhận thứ ấy, không đòi hỏi, không khen chê. Ở thiền viện, nếu Phật tử cúng nhiều, mình nói “Tôi sống đạm bạc nên không ăn đâu”, vậy có được không? Người ta cúng nhiều, có kẹo bánh thì cũng vui vẻ nhận, ăn cho thí chủ gieo duyên. Nếu người ta cúng mà nghĩ sống đạm bạc nên không ăn, rồi đem cho người này người kia hết, làm vậy phải không? Đó là không khéo.

Tụi con phải hiểu, đạm bạc có nghĩa là được sự cúng dường ít thì dùng theo ít, nhiều thì dùng theo nhiều, không vì ít mà đòi cho nhiều, không vì nhiều mà trốn tránh, không nhận. Đó là lòng tốt của thí chủ, chúng ta không nên phụ lòng. Nên tụi con phải hiểu ý nghĩa đạm bạc mà Thầy nói ở đây là không mong cầu, không đòi hỏi. Phật tử tới cúng dường, có gì ăn nấy, không khen chê ngon dở, không vì dở thì chê, đem bỏ đi, ngon thì thích, đòi thêm. Cũng đừng cố chấp, nói đạm bạc rồi món ngon không dám ăn, sợ tổn phước, đưa cho người khác ăn giùm. Đó là không tốt.

Nếu trường hợp thí chủ cúng ba viên kẹo, thấy mấy đứa bé nghèo, mình thương cho nó một viên, còn hai viên mình dùng để cho người thí chủ có phước. Nhiều khi tụi con không hiểu, tưởng mình đem trút cho hết là lòng tốt, lòng từ bi; mà không biết làm vậy thì người cúng cho mình lại không có duyên với mình. Mình đã trao qua cho người khác rồi, đâu có nhận gì mà có duyên.

Mình không dùng của thí chủ thì không mắc nợ họ, mà không mắc nợ là mình không gieo duyên với họ. Không phải mình xấu tính, ham ăn, nên ai cúng gì cũng nhận; mình nhận là để có duyên với thí chủ, sau này gặp lại, mình giáo hóa họ. Nếu mình đem cho người khác, tức là mình không có trách nhiệm, vô tình khiến người cúng không có phước, không có duyên với mình, đó là lỗi tại ai?

Nhiều người không hiểu rõ tinh thần người xuất gia nhận tứ sự cúng dường, nên cứ làm cách này cách nọ đưa đẩy. Thí chủ nghe được cảm thấy buồn vì cúng cho các cô mà các cô không nhận, chuyển cho người này người kia. Điều đó không tốt. Ít ra cũng phải dùng phân nửa, còn dư mới đem chia thì có thể tha thứ được. Chứ có bao nhiêu gom chia cho người khác hết thì không được, bởi làm vậy là không muốn kết duyên lành với Phật tử, phụ lòng tốt của người thí chủ cúng dường. Họ muốn gieo duyên với mình, mà mình lại trốn tránh. Học đạo phải nắm cho vững mấy việc nhỏ đó, không phải thấy nhỏ mà coi thường. Tụi con phải hiểu cho kỹ, không được lầm lẫn.

Ngược lại, có những người được thứ này đòi thứ khác, đòi thứ vừa ý, vừa với khẩu vị của mình, thứ nào không vừa bèn chê thì không được! Không đúng với tinh thần đạm bạc. Vậy nên tụi con phải hiểu rõ cuộc sống

thiền viện, được người giúp thứ gì thì nhận cái ấy cho người phát tâm được vui vẻ, được có duyên với mình, đừng từ chối cũng đừng đòi hỏi. Hiểu như vậy thì giữ được nếp sống tu hành bình thường. Thầy mong tụi con đừng đứa nào có hai tật đó.

Nhớ hai tật Thầy vừa nói không? Thầy tóm lại, thứ nhất là tật cố chấp, nói trong Thanh quy dạy sống đạm bạc, nên cúng nhiều quá tôi không nhận, hoặc đồ ngon quá tôi không dám ăn. Vậy là hiểu sai lầm tinh thần đạm bạc rồi. Còn có người nói, ăn cái này không bổ, thiếu chất, đòi hỏi phải có chất này chất kia, bổ này bổ nọ, vậy cũng không tốt.

Tụi con nhớ, trong sử ghi, ngài Ca-diếp đi khất thực, ngài có tâm nghĩ tới người nghèo, nên có lần ngài đi đến, đưa bát khất thực thức ăn của người bệnh hủi. Người đó lấy bát cơm đang ăn, sớt cho ngài, ngài hoan hỷ bốc ăn hết. Người xưa làm thế, còn mình bây giờ thấy như vậy lại gớm sợ. Sở dĩ các ngài làm được là vì thương người thiếu phúc bị tật nguyền khổ sở nên muốn tạo cơ hội cho họ. Nếu mình cứ sợ, tránh né thì họ làm sao gieo duyên, làm phước! Cho nên phải nhận của họ, giúp họ được phước, để đời sau họ chuyển kiếp, không còn nghèo khổ nữa. Hiểu như vậy thì tụi con mới thấy trên đường tu, mình là người phải thọ nhận để chúng sanh gieo duyên.

Trong kinh viết, y Tỳ-kheo gồm nhiều mảnh dài ngắn, cắt rọc, ráp nối lại, giống như những bờ ruộng hay thửa ruộng. Nhận hạt giống Phật tử gieo lên thửa ruộng của mình, gọi là gieo duyên. Cho nên y Tỳ-kheo luôn luôn có năm điều, bảy điều hoặc hai mươi lăm điều… để tượng trưng cho bờ ruộng, thửa ruộng. Phật dạy rằng: Chư Tỳ-kheo đi khất thực, nhận của tín thí, như là cho thí chủ gieo hạt, gieo giống trên thửa ruộng tốt của mình, nhờ mình mà họ được phước lành. Ở thiền viện không đi khất thực, những người có tâm tốt muốn gieo duyên với mình, phát tâm cúng dường thì mình phải vui vẻ nhận. Đó là tạo duyên tốt cho họ. Chúng ta không từ chối cũng không đòi hỏi, vì từ chối và đòi hỏi là tật xấu, không đúng tinh thần của người xuất gia tu theo Phật.

Hiểu như vậy, để tụi con đừng có lối sống quá khắc khổ mà từ chối sự cúng dường, cũng đừng đòi hỏi thích hợp khẩu vị hay những thứ tốt vừa ý. Những tâm đó đều không tốt, ai phạm một trong hai điều đó đều bị rầy. Chúng ta phải chấp nhận, ai cúng gì cũng hoan hỷ, chứ không nói “bây giờ tôi không đủ phước”, từ chối, đưa đẩy đồ cúng dường. Đó là tấm lòng của Phật tử dâng cúng nên tốt xấu đều vui vẻ nhận. Tốt xấu đều xem như nhau, đừng có niệm khác, được vậy là quý. Nếu ai đó thấy người cúng đồ tốt thì rất hoan hỷ, còn người đem cho vật thô xấu liền không vui thì chưa đúng với tinh thần người xuất gia nhận sự cúng dường của đàn-na thí chủ.

Đó là lời nhắc nhở của Thầy, mong tất cả phải nhớ sống đạm bạc là như vậy. Không phải đạm bạc là khắc khổ.

Ngày 28-06 Kỷ Mão (09-08-1999) 

Đến phần nhắc nhở chúng tu hành. Đây là bài kinh trọng yếu mỗi đêm tụi con phải tụng. Hiện giờ, mỗi đêm tụi con tụng kinh gì?

– Dạ, tụng Bát-nhã.

Mỗi đêm tụng Bát-nhã mà có “hành thâm” chưa? Tụng để tụng thôi chứ chưa hành thâm. Có nhiều người học Bát-nhã mà không hiểu Bát-nhã, tụng Bát-nhã mà không thấm được lý Bát-nhã. Nên hôm nay, Thầy nói cho tụi con thấy tường tận chỗ hay, chỗ quý của kinh.

Trong kinh Bát-nhã, tụi con thấy nói: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Bấy nhiêu đó thôi. Hết sức đơn giản!

Bây giờ, người tu than thở tu khó, gặp chướng nhiều là tại sao? Tại chiếu kiến ngũ uẩn giai hữu, cho nên than thở khó tu. Trong kinh nói chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì độ nhất thiết khổ ách, tức là qua hết tất cả khổ nạn. Phật không nói gạt mình mà tại mình không chịu tu nên khổ.

Chiếu kiến ngũ uẩn giai không nghĩa là sao? Chữ Không là chữ tụi con phải nhận định cho thật chín chắn, phải thâm nhập cho được. Hồi xưa tới giờ, nghe trong chùa hay nói câu: “Thà chấp có bằng núi Tu-di, chứ không nên chấp không bằng hạt cải.” Rồi nghe kinh Bát-nhã nói chiếu kiến ngũ uẩn giai không, liền kết luận đó là chấp không. Thấy người tụng kinh Kim Cang, kinh Bát-nhã liền cho là chấp không.

Hiểu chữ không như vậy là chưa hiểu kinh Bát-nhã. Chữ không là mấu chốt hết sức quan trọng. Nếu tụng Bát-nhã mà không hiểu chữ không thì tụng theo văn tự, chứ không thâm nhập được, không có lợi ích cụ thể. Vì không là Bát-nhã, nói gọn; nói đủ là tánh không chứ không phải không ngơ. Chữ không đó vượt ra ngoài đối đãi không và có, không phải nói cái không và cái có. Mà không này là tánh không của các pháp, tánh không của ngũ uẩn. Tánh không của ngũ uẩn là sao? Phải biết tánh không đó là không thực thể, là không cố định. Nếu soi thấu tánh không của ngũ uẩn liền qua hết tất cả khổ ách.

Người đời quen nhìn theo lối si mê, nên nói có thì thật có, nói không thì thật không, thật có thật không tức cho các pháp là thật tánh. Ở đây, trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả pháp không có thật thể, không cố định.

Tụi con thử xét xem, như cái nhà này, cái gì là thật thể của nó? Không có thật thể ngôi nhà, chỉ là một mớ duyên hợp. Các duyên hội tụ đầy đủ thì ngôi nhà này thành, duyên ly tán thì ngôi nhà này hoại, chứ không có thật thể của ngôi nhà. Nếu không có thật thể ngôi nhà, tức là nhà không có thật tánh. Cái nhà không có thật thể nên đợi duyên hợp mới thành. Như vậy, lý tánh không của Bát-nhã là y cứ lý nhân duyên, các pháp đều do nhân duyên sanh.

Trong kinh A-hàm, nói về lý nhân duyên, có bài kinh Phật dạy: người nào thấy được lý nhân duyên thì người đó thấy pháp, thấy pháp tức là thấy đạo. Thấy đạo là thấy chân lý, thấy được lẽ thật. Ai hiểu được, thâm nhập được lý nhân duyên thì người đó thấy được lý chân thật của muôn sự muôn vật trên thế gian này. Đức Phật dạy các pháp tu, trong đó có pháp Tứ đế, Nhân duyên… nhưng lý nhân duyên là tối hệ trọng, tự Phật giác ngộ thấy mà nói ra, không liên hệ tới các tôn giáo cổ xưa. Thí dụ như lý nghiệp báo luân hồi thì những tôn giáo cổ xưa có nói, còn lý nhân duyên chỉ có đức Phật nói, cho nên lý nhân duyên là tối hệ trọng. Người nào thấy được lý nhân duyên, Phật cho là thấy đạo.

Tánh không là y cứ theo lý nhân duyên, lấy lý nhân duyên làm nền tảng để nói các pháp không, tánh không. Bởi vì nó không có tánh cố định. Nếu mỗi pháp có tánh cố định thì không đợi duyên mới thành. Vì nó có tánh, có định sẵn rồi, đâu đợi duyên hợp làm gì! Mà các pháp đợi duyên hợp mới có, thì nó là không tánh, không cố định, không có thật thể.

Bản chất của sự vật trên thế gian này không sẵn có tính chất cố định, mà phải đợi duyên hợp mới có. Vậy có thứ nào không phải duyên hợp hay không? Tất cả pháp đều là duyên hợp. Do duyên hợp thì không cái nào là cố định, do duyên hợp thì theo thời gian sẽ biến hoại, nên không có thật thể, không giữ được nguyên vẹn mà đều bị chuyển biến. Tụi con tìm thử trên thế gian này, có cái gì nguyên vẹn chân thật là nó không? Không có. Thấy tất cả sự vật trên thế gian đều đợi duyên hợp mới có nên vật đó không thật có. Như vậy, cái gì do duyên hợp thì có tạm thời rồi bị bại hoại, cho nên gọi là giả, không thật.

Năm uẩn này do duyên hợp thì nó thật hay giả? Đã giả thì còn gì thị phi. Bản chất nó tạm bợ, không ra gì thì dù khen hay chê nó có ý nghĩa gì đâu. Thấy rõ năm uẩn không thật, không cố định, nên có là duyên hợp tạm có, rồi nó sẽ tan nát. Như vậy, nó là tướng hư ảo, tạm bợ. Đã là tướng hư ảo tạm bợ thì có còn chấp nó, nói đẹp nói xấu gì không? Đồ bỏ, đồ tạm bợ thì nói gì cũng không dính dáng, không quan trọng! Vậy, nếu soi thấy năm uẩn này rõ ràng là tướng duyên hợp, tạm bợ hư dối thì tất cả khổ nạn đều qua hết. Vì thân đã hư dối thì khổ nạn cũng là hư dối, còn gì mà lo mà sợ.

Bây giờ chúng ta đang sợ, là sợ cái gì? Sợ đau, sợ chết. Cái hư dối có chết, có rã ra là chuyện thường. Biết rõ như vậy thì có gì quan trọng mà sợ chết. Đó là lẽ thật, là bản chất của thân. Đi sâu trong đó rồi tụi con mới thấy, cái gì do nhân duyên hợp thì không có thật thể, mà không có thật thể nên không cố định. Biết rõ như vậy thì có gì mà chấp.

Sở dĩ chúng ta chấp đủ thứ là do nghĩ thân này lâu dài, bền chắc, là thật. Đó là si mê không thấy được như thật. Thấy tột cùng chỗ đó thì sự tu có khó gì đâu. Như vậy, một trăm người ở chung, ai cũng là thân giả, sống tạm bợ với nhau, nên không có gì đụng chạm. Do đó chỉ còn một việc tu, chuyện phải quấy hơn thua là chuyện trò chơi, không dính dáng gì. Chính thân mình đã không ra gì thì những chuyện bên ngoài cũng không có giá trị.

Như vậy, cốt yếu là phải thấm sâu, thấy rõ năm uẩn đều là không, bản tánh nó là không. Nghĩa không đó, nắm vững rồi thì học qua những bộ kinh lớn, kinh Bát-nhã hoặc Thiền Đốn Ngộ tụi con sẽ hiểu. Nếu không nắm vững thì học hết sức khó khăn. Tại sao vậy? Vì tụi con cứ ngỡ không là không ngơ. Mà không ngơ thì đối với có, không với có là hai pháp đối đãi nhau. Khi hiểu sai, tụi con thấy tất cả pháp hoặc là không hoặc là có. Nếu nói theo thế gian thì khi duyên hợp là có hay không, có thật hay là không thật? Khi duyên hợp thì không phải là không ngơ, mà có nhưng không thật có.

Lý nhân duyên tánh không là không có thật thể cố định, chứ không phải không là không có gì. Cái nhà này tánh không mà đủ duyên thì có nhà. Con người tánh không mà đủ duyên là có người, như vậy thì nhà, người là tạm bợ, duyên hợp mới có. Vậy thì duyên hợp duyên tan là chuyện thường, không phải chuyện gì quan trọng. Quan trọng là phải thấy được như vậy. Thấy vậy là tụi con có được trí tuệ cứu cánh rồi. Nếu được bước vào hàng đó thì ít ra cũng cỡ “Bồ-tát con”, phải không? Mình với Bồ-tát đâu có cách xa, chỉ cách mê với giác thôi. Thấy đúng như vậy là có trí tuệ vượt hơn tất cả phàm phu.

Với trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả các pháp tánh nó là không, do duyên hợp mới có nên chúng không thật thể, không cố định. Bởi vì lý duyên hợp nên tánh nó không, có là giả có nên cũng không phải không ngơ. Biết rõ như vậy thì còn thấy thật có, thật không nữa không? Ở thế gian cho có là thật có, cho không là thật không, nên nghe kinh Bát-nhã nói “các pháp không tướng” rồi chấp không. Lâu nay tụi con có chấp vậy không? Do không có trí tuệ nên nhìn sự vật đứng ở hai mặt, hoặc là có hoặc là không.

Nếu thấy có – không đối đãi là thật, thì chúng ta không thấy được nó giả có. Thấy chỗ này là không, chỗ kia thật có, thấy như vậy là mê lầm, là chỗ thấy của phàm ngu, không phải thấy bằng trí tuệ. Cái có – không là không cố định, là tạm bợ, hư giả. Nhưng bây giờ nói chuyện gì mọi người cũng bắt xác định có hoặc không. Xác định có hoặc không là cố chấp nó là thật, nếu chấp có – không thật thì cũng chấp tốt xấu thật v.v… tất cả đều thật. Từ gốc mê lầm chấp có – không, rồi thêm một loạt các mê lầm khác sanh khởi. Bây giờ, thấy có – không không thật thì tất cả phải quấy, đẹp xấu, hơn thua… cũng không thật. Tất cả không thật thì còn cái gì mà tụi con khổ.

Do vậy, nên trong nhà Phật nói tánh không để biết các pháp do nhân duyên mà thành. Thí dụ như ngôi nhà này, ban đêm không mở đèn thì tối. Cái tối đó có thật không? Nếu thật, thì bật đèn lên nó không sáng được, mà thực tế bật đèn lên thì nó sáng. Như vậy, tối đối với sáng, do đối đãi với nhau mà lập, nó tạm bợ không phải thật. Vì nó không có tánh cố định, không có thật thể, nên đang tối mà bật đèn lên là sáng, cũng như đang sáng mà tắt đèn thì tối. Từ tối sáng đó, thấy ra tất cả đối đãi khác cũng không thật, chỉ tạm lập giả có. Vậy thì tất cả sự vật trên thế gian này đều là duyên hợp, tạm đặt với nhau chứ không có gì thật. Chúng sanh mê lầm cho là thật, rồi đau khổ đủ thứ.

Tụi con đọc trong kinh Bát-nhã thấy nói “soi thấy năm uẩn là không”, rồi thấy sáu căn sáu trần sáu thức, tức là Thập bát giới cũng không. Đó là nói pháp thế gian không, nhưng pháp xuất thế gian là pháp Tứ đế: Khổ Tập Diệt Đạo cũng không. Các pháp thế gian là không thì còn dễ hiểu, dễ chấp nhận, còn pháp Tứ đế Phật nói là chân lý mà tại sao nói không? Bệnh chúng sanh không thật thì pháp trị bệnh chúng sanh sao có thật được! Thí dụ như, người bị bệnh cảm thì rước thầy thuốc lại xem bệnh cho thuốc, thuốc đó có là từ nơi bệnh, nhân bệnh mới có thuốc, uống thuốc rồi bệnh hết, bệnh hết thì thuốc cũng bỏ luôn. Nên bệnh không có thật thì thuốc cũng không thật.

Nếu bệnh đó cố định thì không ai có thể trị được bệnh. Vậy thuốc có giá trị khi người bị bệnh. Thuốc không có thực chất cố định, chỉ dùng để trị bệnh, không bệnh không cần thuốc, nên thuốc không có thật. Cũng vậy, pháp để trị bệnh khổ là pháp Tứ đế. Biết tại sao khổ là biết được nguyên nhân của khổ, là Tập đế. Phương pháp trị hết nhân khổ này là Đạo đế. Hết bệnh, hết khổ là Diệt đế. Đây là pháp tạm dùng đối với người đang khổ, người hết khổ thì không cần dùng pháp, nên pháp không có thật.

Tứ đế không rồi, cũng “vô vô minh diệc vô vô minh tận”, nghĩa là không có vô minh cũng không có hết vô minh. Vậy là Mười hai nhân duyên cũng không luôn. Nhiều khi tụi con thắc mắc, các pháp Thập bát giới là pháp thế gian, hư ảo thì phải, còn pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên là chân lý sao cũng hư ảo? Đức Phật có nói “Ta nói tất cả pháp để trị tất cả bệnh cho chúng sanh”; vì chúng sanh bệnh, Phật mới chế thuốc nên gọi tùy bệnh cho thuốc. Như vậy, tất cả pháp Phật nói: Tứ đế, Thập nhị nhân duyên… là thuốc để trị bệnh cho chúng sanh. Khi chúng sanh hết bệnh khổ thì tất cả pháp đều không. Hiểu như vậy thì không có gì thắc mắc.

Vậy mà chúng ta bây giờ tu, cứ đem kinh ra tụng hoài, từ năm này qua tháng nọ. Nghiền ngẫm, mở sáng trí tuệ, thấy rõ lẽ thật mới là chiếu kiến, mà mình không chiếu, cứ đọc suông thôi. Ai lười thì đọc một biến, ai siêng thì đọc ba biến, rồi khoe “bữa nay tôi tinh tấn lắm”. Như vậy chỉ tu có hình thức chứ không có thực chất. Thực chất là phải thấy đúng như lời Phật dạy. Muốn thấy đúng là phải luôn luôn nghiền ngẫm, quan sát, chiếu soi. Từ thấy đúng như thật, nên buông xả tất cả một cách nhẹ nhàng, thân này không cần phải khổ nhọc công phu.

Đối với thân này, biết rõ nó tạm bợ giả dối, còn ngày nào dùng ngày ấy, hết duyên thì thôi, không sợ gì. Thân chết sống không sợ thì mọi việc khen chê, bỉ thử không đáng quan tâm. Thân không thật, kể cả pháp của Phật cũng không thật, huống là chuyện khen chê, phải quấy. Người tu đạo giác ngộ cầu giải thoát sanh tử, mà chấp chặt mấy thứ giả dối không thật kia, rồi khổ đau. Vậy có thật đi trên con đường cầu giác ngộ giải thoát chưa?

Nên phải thấy cho thật kỹ! Chỉ cần nắm vững tinh thần Bát-nhã, tụi con tu sẽ dễ tiến. Tất cả tâm lăng xăng lộn xộn của tụi con là tại chấp cái này cái kia, hơn thua, phải quấy, được mất, có không. Bây giờ biết rõ tất cả là duyên hợp hư dối không thật thì còn gì mà chấp, còn gì làm tụi con bận tâm. Như vậy, nhờ trí tuệ soi sáng, tâm trong sáng thênh thang. Tu là vậy đó.

Sở dĩ ngày nay tu hành rối như bòng bong là vì chấp quá nhiều. Nghe lời nói hơi trái một chút là không an rồi. Ngày nào tụi con cũng tụng Bát-nhã, tụng đây không phải học thuộc lòng rồi đọc cho hay, mà tụng để thâm nhập. Muốn thâm nhập thì phải chiếu kiến, không quán chiếu thì không vào sâu được. Nhờ biết các pháp không thật nên được định mà định thì trí sáng. Đạt được lý không Bát-nhã thì sự tu hành của tụi con rất nhẹ nhàng, điều đó không có gì nghi ngờ. Chính đây là cửa vào nhà thiền.

Nên người nào học đạo, muốn tu thiền mà không nắm vững lý Bát-nhã thì tu khó tiến. Chữ không của Bát-nhã này là tánh không. Các pháp không có thật thể, không cố định, gọi đó là không. Câu người xưa nói “Thà chấp có bằng núi Tu-di, không nên chấp không bằng hạt cải” đối với chữ không này không dính dáng gì. Người không biết nên lầm không Bát-nhã và không đối với có này, đem câu đó ra so sánh, sợ mình học Bát-nhã rồi chấp không. Nếu thấu suốt được lý Bát-nhã thì đó là cửa vào đạo, là bước đầu để dừng hết vọng tưởng điên đảo.

Như vậy, từ tối sáng không thật, rồi phải quấy, khen chê… tất cả đều không thật. Một chuỗi dài đối đãi đều không thật. Mình vừa nhớ đến những pháp đối đãi này, liền biết rõ nó đều không thật thì có gì quan trọng mà bận tâm. Vậy tu có gì khó khăn khổ sở đâu.

Lập pháp đối đãi đó là vì muốn nhân cái này biết được cái kia, nhân cái kia biết được cái này, qua lại. Như nói tối sáng, nói phải quấy… tất cả đối đãi đó là ngôn ngữ, chứ không có giá trị thật. Giá trị thật là bản chất tất cả pháp đối đãi là không thật. Thấy thân này không thật, mọi vật đều là duyên hợp, biết rõ như vậy là trí tuệ.

Trong kinh Kim Cang có câu: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.” Thấy Phật dễ quá, phải không? Nếu thấy các tướng là hư dối không thật, không có thứ nào thật, tức là thấy Như Lai. Vậy là mở sáng con mắt trí tuệ, là thấy Phật rồi. Thấy Phật xa hay gần? Rất gần. Mê nên cách xa, ngộ thì thấy Phật rất gần. Phật đã dạy rất rõ trong kinh Bát-nhã và kinh Kim Cang. Thấy các tướng thế gian là hư giả, biết nó không thật là trí tuệ Bát-nhã rồi, thì có gì mà chấp. Nhưng bây giờ, người tu cứ chấp hai bên, thấy gì cũng kẹt phải quấy, tốt xấu… Tối ngày bàn tán xầm xì hoài, mất bao nhiêu giờ quý báu, cho nên cứ điên đảo, tu không tới đâu.

Bây giờ, tụi con đi tới lui, hoạt động như mọi người, mà biết tất cả tướng đều duyên hợp, hư giả không thật, ngôn ngữ hoặc hành động không có gì thật, vậy là mở sáng con mắt trí tuệ. Từ mở sáng mắt tuệ thì mọi phiền não theo đó lặng, lặng phiền não thì tâm định. Con đường giác ngộ ngay đó không xa. Tụi con không nên trông chờ mình tu phải sớm thấy đạo, được đạo, mà cứ quán chiếu thường xuyên như vậy, thì có ngày thấy đạo. Thấy pháp nhân duyên là thấy đạo rồi. Hàng ngày đi đứng nằm ngồi cứ quán chiếu vậy là đã tu, là thấy đạo. Còn điều gì tăng thêm lúc ngồi thiền nữa thì cũng tốt.

Thấy đạo là do chiếu kiến, chứ không phải do ngồi chờ thấy đạo. Nên hằng ngày phải sống bằng con mắt trí tuệ thì mọi mê lầm của thế gian dần hết. Mê lầm tan thì không mong chờ giác ngộ cũng giác ngộ. Vậy có nên đi kiếm giác ngộ ở đâu không? Nhiều khi mấy đứa con vẫn ảo tưởng mình ngồi thiền phải bừng sáng như Phật, vậy mới đúng. Có người còn ảo tưởng mong biết quá khứ vị lai nữa. Hồi xưa, chưa ai chỉ con đường tu cho đức Phật, nên ngài ngồi thiền, bừng sáng, mới chứng Tam minh Lục thông. Bây giờ, Phật đã chỉ cho chúng ta rồi, nên chỉ đi đúng con đường đó thì sẽ tiêu trừ hết phiền não, trí tuệ tự sáng, chứ đâu phải đợi ngồi mới sáng.

Cũng như những nhà bác học, khi muốn khám phá ra điều gì, phải dùng hết tâm lực để thử nghiệm, tới chừng sáng ra, mới phát minh được điều đó. Bây giờ mình chỉ làm đúng với những điều phát minh trước đó là được, chứ giờ mình muốn phát minh ra cái mới làm chi cho tốn thời giờ. Điều mà Phật đã thấy rõ bằng trí tuệ giác ngộ, đem chỉ dạy cho, bây giờ mình sống đúng với những lời dạy đó là đã có trí tuệ.

Phật nói thấy rõ các pháp đều phi tướng là thấy Phật. Thấy như vậy là gần với Phật rồi, còn tụi con muốn tự kiếm ánh sáng như Phật xưa ngồi dưới cội Bồ-đề giác ngộ, thành ra tu lâu lơ lâu lắc, tu hoài không thấy gì hết, nghĩ mình ngu muội quá, rồi chán. Mình không chịu mở sáng con mắt trí tuệ mà không ngu muội sao được. Thế nên, mỗi đêm tụng kinh Bát-nhã để nhắc tụi con cần thấy biết rõ như vậy là đã có cái thấy giống Phật.

Thầy nói đại khái để tụi con nắm vững chữ không của kinh Bát-nhã. Nhiều khi không hiểu cũng lúng túng, sau nghe ai nói, lại sợ chấp không. Hiểu lý Bát-nhã rồi, từ đây về sau tất cả mọi thứ đối đãi đều bỏ, đều quăng vô sọt rác hết nghe!

Tự tứ 15-07 Kỷ Mão (25-08-1999) 

Hôm nay là ngày tự tứ của chúng tăng, nói riêng là của ni chúng thiền viện Trúc Lâm, Thầy có ít lời nhắc nhở, đồng thời cũng chỉ rõ ý nghĩa tự tứ cho tất cả chúng biết.

Người chủ lễ nhận lời cầu thỉnh của ni chúng để chỉ những lỗi lầm khi thấy, nghe hoặc nghi, nhưng toàn buổi lễ, ai thưa Thầy cũng nói “Tốt lắm!”, ai cũng tốt. Vậy buổi lễ chỉ có hình thức máy móc, phải không?

Đây, Thầy giải thích vì sao gọi là tự tứ. Nhiều khi cứ nói tự tứ, quen rồi như thuộc lòng mà tự tứ là gì thì ít người hiểu. Tự là mình, tứ là mặc tình hay tha hồ. Tức mình cầu xin người chủ tự tứ, mặc tình thấy, nghe hay nghi có lỗi gì đó thì đem ra chỉ dạy, để vị đó biết mà sám hối. Lễ Tự tứ có tính cách cao thượng: Cầu xin, cầu thỉnh người lớn chỉ những lỗi lầm, không phải chỉ những lỗi thấy thôi, mà cả lỗi nghe và nghi nữa.

Người muốn thân tâm được sạch hết những lỗi lầm, thì phải cầu xin vị chủ tự tứ chỉ cho mình tất cả tội lỗi, để sám hối. Tâm đó hết sức thanh tịnh thì lý đáng người chủ tự tứ phải chỉ lỗi từng người. Người nào có lỗi thì phải chỉ ra cho họ sám hối. Nhưng suốt buổi không thấy chỉ lỗi người nào thì lễ Tự tứ có máy móc không? Như vậy, việc làm đó gần như làm lấy lệ. Thầy sẽ giải thích cho tụi con biết.

Ngày xưa, Thầy rất lấy làm lạ về việc làm này. Tới ngày tự tứ, mặc người cầu thỉnh, cũng không nghe một câu chỉ dạy nào. Chỉ bảo “Tốt!”, ngày xưa thì dùng chữ “Thiện!”, chứ không có lời nhắc nhở gì. Vậy nên lời cầu xin được chỉ lỗi trở thành vô nghĩa. Nhưng từ đó, Thầy nghĩ phải làm sao cho việc làm đó có ý nghĩa cụ thể hơn, nên Thầy bắt tăng ni phải thỉnh nguyện hàng tháng.

Thỉnh nguyện là gì? Là tự mình sám hối lỗi lầm trước chúng. Còn nếu không tự thấy thì cầu xin, không những người lớn mà tất cả huynh đệ, ai thấy lỗi thì chỉ giùm để mình biết lỗi sám hối. Như vậy có giống tinh thần tự tứ không? Đó là tinh thần tự tứ. Vậy mỗi tháng trong mùa an cư, tụi con đều có tự tứ, đã cầu xin chỉ dạy những lỗi lầm rồi, tới ngày nay Thầy chỉ nói “Tốt!” là đủ. Chứ những tháng kia tụi con không thỉnh nguyện, Thầy cũng không chỉ dạy gì, thì bây giờ nói “Tốt!” là máy móc.

Tại sao ngày tự tứ gọi là ngày Phật hoan hỷ? Phật dạy tăng ni sau ba tháng an cư tu hành, can đảm tha thiết cầu xin người lớn thương xót chỉ lỗi, chẳng những lỗi khi thấy mà cả lỗi nghe, nghi cũng chỉ ra để sám hối. Nếu từ lỗi lớn đến lỗi nhỏ, đều cầu xin chỉ cho để sám hối thì người đó còn tội không? Chúng tăng ni tu hành đã có đạo lực, đồng thời nguyện chừa bỏ tất cả những lỗi lầm thì tâm thanh tịnh, vậy nên Phật hoan hỷ. Những ngày thường do còn ôm ấp lỗi lầm trong lòng, không chịu phát lồ nên không thanh tịnh. Còn ngày này, cởi mở sạch hết nên được thanh tịnh, ngày đó Phật rất vui mừng nên gọi ngày Phật hoan hỷ.

Tụi con nhớ ngày tự tứ cũng là lễ gì nữa? Lễ Vu- lan. Theo Trung Hoa thì ngày này có ba nghĩa: một là Phật hoan hỷ, hai là xá tội vong nhân, ba là giải đảo huyền: mở trói cho tội bị treo ngược. Vu-lan là tiếng Phạn, nghĩa là cầu nguyện cho tất cả vong nhân ở trong kiếp địa ngục, ngạ quỷ được thoát khổ nên gọi là xá tội vong nhân. Ý nghĩa này bắt nguồn từ tự tứ, ngày Phật hoan hỷ. Do bà Thanh Đề mẹ đức Mục-kiền-liên bị đọa nơi địa ngục Vô gián. Tôn giả muốn cứu mẹ nhưng không được, nên cầu thỉnh đức Phật chỉ dạy cách cứu bà. Phật dạy ngài Mục-kiền-liên, nhân ngày chúng tăng tự tứ, cúng dường cầu nguyện cho mẹ siêu thoát kiếp ngạ quỷ. Nhờ tâm thanh tịnh của tất cả chúng tăng cầu nguyện, nên bà Thanh Đề được sanh thiên.

Vậy trọng tâm của lễ Vu-lan là lễ Tự tứ. Từ lễ Tự tứ, tăng ni thanh tịnh nên cầu nguyện được kết quả, cảm được các vong nhân chuyển tâm mê muội thành tâm thiện lành, liền thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, địa ngục, nên gọi là xá tội vong nhân. Những tội nặng như tội bị treo ngược cũng được thoát khỏi. Nên ngày này rất hệ trọng mà trọng ở chỗ tự tứ.

Ngày tự tứ, nếu trong chúng cả trăm người, mà thầy chỉ lỗi người này, lỗi người kia chừng nào mới xong! Vì không có thời gian chỉ lỗi từng người, nên trước lễ Tự tứ chư tăng ni đã thỉnh nguyện để biết lỗi sám hối. Tự tứ là tinh thần giải hết những tội chướng của mình, khi được người khác thấy lỗi chỉ cho, mình thành tâm sám hối cho tiêu sạch hết nghiệp chướng.

Ý nghĩa thỉnh nguyện hay tự tứ rất hệ trọng trên đường tu. Vị thầy hoặc huynh đệ thấy lỗi của mình, chỉ cho, mình nên buồn hay nên mừng? Đúng lý được chỉ lỗi thì nên mừng, vì nhờ chỉ lỗi, mình thấy biết rồi sám hối thì tâm trong sạch. Từ tâm trong sạch, tọa thiền mới thanh tịnh. Nếu người chỉ lỗi cho, mình buồn, giận hờn thì đó là tâm ích kỷ, tâm phiền não. Mà tích lũy phiền não thì chừng nào giải thoát sanh tử?

Người biết tu là biết quý trọng người đã thương xót chỉ những lỗi lầm cho mình. Nên được chỉ càng nhiều thì càng mừng, càng mang ơn. Vậy mà có người thường được nhắc nhở thì lại phàn nàn người kia khó, rồi đâm ra bực bội. Đó là muốn tích lũy phiền não trong lòng, chứ không muốn dẹp sạch nó. Phật chú trọng ngày chư tăng giải bày lỗi lầm, để những bậc trưởng thượng chỉ bảo cho. Đó là điều nên vui mừng. Vậy thì cuối tháng tụi con được nhắc, được chỉ lỗi là đáng vui hay đáng buồn? Phải can đảm nhận rằng đó là dịp tốt để sửa đổi lỗi lầm. Có người nào trên thế gian này không có lỗi lầm. Nhưng, có lỗi tự thấy được, có lỗi không tự thấy thì nhờ người chung quanh chỉ giùm để sửa. Đó là một cơ hội tốt trên đường tu.

Ý nghĩa thỉnh nguyện trong mỗi tháng là Thầy thể theo tinh thần tự tứ, tinh thần ngày Phật hoan hỷ. Vậy mỗi tháng chúng ta đều thỉnh nguyện, Phật có hoan hỷ không? Chắc Phật hoan hỷ có phân nửa. Vì có người bị chỉ lỗi, giả bộ ra sám hối, chứ trong lòng buồn buồn. Mọi người được chỉ lỗi, ai cũng vui vẻ thì Phật mới hoan hỷ trọn vẹn. Từ đây về sau, nhớ phải làm sao trong buổi thỉnh nguyện được thầy, bạn chỉ lỗi cho, tụi con hoan hỷ sám hối để tiêu hết những nghiệp chướng. Thay vì một năm Phật hoan hỷ có một lần, mình thỉnh nguyện vậy, Phật hoan hỷ tới mười hai lần.

Phật dạy ngài Mục-kiền-liên thỉnh chúng tăng cầu nguyện cho mẹ, chỉ vào ngày tự tứ này, chứ không vào những ngày khác. Vì ngày này là ngày chúng tăng thanh tịnh nhất. Chúng tăng thanh tịnh thì cầu nguyện có kết quả, chúng tăng tâm phiền não thì cầu không được gì. Tụi con hiểu tinh thần tu là làm sao cho tiêu hết nghiệp chướng, tất cả lỗi lầm đều sạch thì đó là biết tiến tu. Còn người chứa chấp phiền não, buồn giận, nghe chỉ lỗi liền quạu quọ thì tu chẳng những không tiến mà còn thụt lùi. Cho nên phải hiểu cho tận gốc rễ. Nếu hiểu không đúng thì sự tu không có kết quả.

Như vậy, ngày Vu-lan này, từ ý nghĩa tự tứ của chúng tăng, được Phật hoan hỷ, nên mới có hai kết quả: giải tội cho vong nhân và cứu được tội bị treo ngược. Lễ Vu-lan là quả có được từ nhân tự tử thanh tịnh. Bây giờ chúng ta lo làm lễ Vu-lan cho hoành tráng mà ý nghĩa tự tứ không xem trọng, đó là không biết được nhân. Nhân là tâm chư tăng ni được thanh tịnh thì làm lễ Vu-lan mới có kết quả, chư tăng ni không thanh tịnh thì lễ Vu- lan chỉ có hình thức thôi, không được lợi ích gì. Đó là điều hết sức quan trọng.

Hôm nay, nhân ngày tự tứ, nhắc cho tụi con biết ý nghĩa tinh thần tự tứ. Hiện giờ, có phải tụi con ứng dụng thỉnh nguyện theo tinh thần tự tứ không? Nếu đúng theo tinh thần này, thì ráng mỗi tháng khi thầy, bạn chỉ lỗi phải vui vẻ nhận, thật tâm thấy lỗi nên ra sám hối một cách thanh tịnh. Vậy sự tu sẽ tiến và sẽ được kết quả tốt.

Ngày 28-07 Kỷ Mão (07-09-1999) 

Hôm nay Thầy có ít lời nhắc cho toàn chúng. Trên đường tu, chúng ta phải làm sao để trở thành người có tư chất hoàn hảo, không được một trăm phần ít ra cũng được tám chín mươi phần. Đừng làm người tu không ra người tu, người đời không ra người đời.

Tất cả tụi con thấy, nhiều khi có những lỗi mới nghe thì thấy nhẹ, nhỏ nhưng xét kỹ thấy lớn. Trong nhà Phật, người xuất gia phải lấy giới luật làm căn bản, có giữ luật giữ giới thì đường tu mới đi tới chỗ giải thoát. Giới thuộc về Biệt giải thoát, tức là giữ giới phần nào thì được giải thoát phần đó.

Giới luật Phật chế ra rất nhiều, rất đầy đủ, nhưng hoàn cảnh chúng ta ngày nay có những khác biệt với thời trước. Là khác biệt gì? Cách đây hơn hai ngàn năm Phật chế giới luật cho chư tăng ni, ngày nay thời gian cách Phật quá xa, vạn sự trên thế gian biến chuyển, hoàn cảnh không còn giống như xưa nữa. Mà giới luật thời đó, Phật nhắm vào tập tục xã hội người Ân. Sang người Việt Nam thì có nhiều duyên không thích hợp được, nên khó giữ tròn hai trăm năm mươi giới hay ba trăm bốn mươi tám giới.

Bởi vậy, sau này Thầy chỉ lấy mười giới làm căn bản thôi. Mười giới căn bản mà không giữ được là thiếu sót rất lớn, đời tu khó có kết quả. Mười giới và Lục hòa tụi con phải chú trọng, phải kính vâng giữ, đừng coi thường. Vì coi thường giới luật là không trọng đạo, không kính Phật. Đó là lỗi rất nặng. Thầy chỉ nói Mười giới, mong tụi con giữ tròn, đó là đủ rồi. Còn những phần chi tiết khác, tụi con đọc để biết, nếu giới nào giữ được thì phải giữ tròn. Mười giới và Lục hòa, mỗi tháng đọc đi đọc lại, tự tụi con thấm sâu, hiểu rõ mà còn phạm thì khó tha thứ.

Thầy đặt nặng tụi con phải có tinh thần tự giác cao, nếu tự thấy dở thì phải thức tỉnh, sám hối những lỗi dở của mình. Những điều gì trong giới luật đã răn cấm mà không chịu gìn giữ, không làm được, thì thọ giới làm gì! Nhất là những giới trọng, chẳng hạn như giới nói dối, người tu nếu nói không đúng lẽ thật, thì lời nói đó vô giá trị. Bây giờ nói dối, mai mốt lớn lên tại con cũng nói như vậy, thì đâu còn tư cách người tu nữa. Không nói dối là trọng giới Phật đã cấm, giới này không giữ được thì những giới khác chắc gì giữ được.

Nên giới nói dối mới nghe dường như nhẹ, nhưng nhìn sâu mới thấy phạm giới đó lỗi rất nặng. Vì mình nói dối, người khác biết được thì họ hết tin. Người ta không tin, thì làm sao giảng cho họ biết đạo để tu. Như vậy, đời mình tàn lụi. Nên đức Phật dạy phải trực tâm, phải nói lời ngay thẳng đúng với đạo lý. Bởi đạo Phật chỉ sự thật cho tất cả chúng sanh thấy, hiểu để tu. Bây giờ mình tập thành thói quen nói dối, mà dối thì làm gì có sự thật, không nói sự thật thì lời nói sao có đạo lý. Nên tụi con thấy thói nói dối là nguy hiểm, làm cho đời tu mất hết ý nghĩa.

Tụi con phải ráng tập, những gì cần nói, phải lựa lời nói cho đúng. Người ta tin được thì mới nghe theo, mới tu theo. Lời nói không tin được thì không ai nghe, mà không nghe thì làm sao tu. Là một người giảng dạy đạo lý mà nói dối thì không còn giảng dạy gì được, nên tất cả tụi con đừng xem thường, cho rằng nói dối không giết hại ai. Sự thật, nó chẳng những làm mất uy tín mà còn làm cho cả đời mình cũng không làm được Phật sự, tới ai mình nói người ta cũng không muốn nghe. Đó là điều hết sức quan trọng.

Là người tu, tụi con phải tha thiết, phải chân thành học đạo, phải nói cho đúng đạo lý. Điều sai, dù cho sai nhỏ mình cũng không dám nói, vậy thì lớn lên mình mới có thể nói đạo lý để người ta tin, ứng dụng tu. Tất cả tụi con, từ đây mãi về sau phải nhớ, đừng quá phương tiện, sau lệch lạc hồi nào không hay.

Nhiều khi Thầy thấy ở chùa cũng dùng lời nói không thật để làm cho Phật tử xót xa, để cho người ta cúng dường. Mình chưa đói mà than “hết gạo”, chưa hết tiền mà than “lúc này túng thiếu…”, làm cho Phật tử tưởng thật, họ thương nên xuất tiền xuất của ra cúng cho mình. Đó là điều không tốt.

Ở đây, Thầy chưa bao giờ than một điều gì, không bao giờ xin một thứ gì. Nhưng thấy Thầy làm Phật sự, tự nhiên người ta phát tâm ủng hộ, là vì lòng chân thành của mình, không nghĩ tới quyền lợi. Tụi con thấy, bãi giữ xe thiền viện không thu tiền, trái lại còn thuê người giữ. Vậy Thầy có đặt quyền lợi gì đâu, chỉ làm sao cho người đến chùa lòng thanh thản, đi chùa lễ Phật vui vẻ là được rồi. Đó là tạo duyên cho mọi người tu. Không nghĩ tới quyền lợi thì tâm đó mới thật vì đạo. Tụi con cũng vậy, ngày nay là chúng, rồi mai kia cũng là trụ trì, là người lớn, nên phải tập vì tất cả chúng sanh để làm lợi ích cho họ, đừng vì riêng tư, vì lợi nhỏ mà làm hại người và hại luôn cả đời mình.

Đời người tu phải sống đời ngay thẳng trong sạch, đáng làm gương mẫu cho thiên hạ. Vì vậy, tụi con ráng tập, những điều dở đừng để cho tiếp tục, đừng để nảy sanh những thói không hay, khiến người đời, huynh đệ chung quanh bàn tán, bất mãn, dị nghị. Tu là chân thành, tu là vì tìm chân lý, mà sự thật chỉ có nơi người chân thành thiết tha, không có ở người dối trá. Bởi vậy nên tụi con phải quyết tâm giữ sự chân thành thiết tha để cầu đạo thì sẽ được đạo. Nếu mình xảo quyệt dối trá thì đạo rất xa, không bao giờ thấy được. Nếu có thấy thì chỉ thấy những mảnh vụn không giá trị.

Vì vậy Thầy mong tất cả tụi con, từ lớn tới nhỏ phải nghĩ đến tương lai. Mình là người có trách nhiệm chỉ dẫn cho thế hệ mai sau, hướng dẫn Phật tử nên lời nói phải chân thật, mới có lợi ích cho chúng sanh. Đừng mang những lời nói dối trá vào cuộc sống, làm hỏng đi một đời tu hành, mà còn mang tiếng xấu cho đạo. Vậy mong tất cả từ đây về sau cố gắng.

Ngày 28-08 Kỷ Mão (07-10-1999) 

Tụi con có can đảm hứa, từ nay về sau sẽ hết sân không? Thầy hỏi đôi ba phen mà không ai dám đưa tay lên hết vậy? Tu ở thiền viện bao nhiêu năm rồi, chỉ có ba chú độc này mà chưa chừa được chú nào thì làm sao giải thoát!

Bây giờ tụi con phải can đảm hứa với Thầy chừa bỏ một chú. Chỉ chừa bỏ chú sân thôi. Ai can đảm hứa từ đây về sau sẽ không nổi sân nữa? Ban đầu một người không sân, rồi hai người, cuối cùng mười người… không sân. Vậy thì tốt biết bao nhiêu.

Người tu cốt là giải thoát sanh tử, mà còn chứa ba thứ độc là còn trầm luân, đi trong sanh tử, làm sao giải thoát? Bỏ ba rắn độc một lần không nổi, bây giờ bỏ trước con rắn sân. Tụi con can đảm, hứa từ giờ này cho đến trọn đời không bao giờ sân, ai dám hứa? Từng người đưa tay lên coi. Bữa nay Thầy không đem sổ, bữa khác đem sổ theo, ghi đàng hoàng. Nếu bảo người ta đừng chọc mình, đó là còn sân nên không dám thử thách. Vì có bị người chọc mới biết mình còn sân hay đã hết. Nếu không cho người ta chọc tức, là chấp nhận mình còn sân. Vì vậy, muốn biết hết sân chưa thì phải cho người ta chọc ghẹo, để biết đó là vàng thật hay vàng giả. Đừng đổ thừa tại người ta chọc tức mà hãy thừa nhận mình cởi bỏ chưa hết.

Nếu năm nay tụi con hết sân, năm tới hết tham, rồi năm tới nữa hết si, thì được giải thoát sanh tử. Ba thứ độc đó hết, chưa đạt tới bậc Thánh thì ít nhất cũng tới bậc Hiền. Chẳng lẽ tu đứng mãi một chỗ, phải tiến lên chứ! Thầy cho đi từ từ từng bước như vậy, mới thấy bước tiến của tụi con.

Ngồi thiền thì định tăng tiến, còn tu trong sinh hoạt thường ngày, gỡ sạch phiền não là tiến bộ của nội tâm. Dù mình tu hay mà nổi sân thì cũng hết hay. Ngồi thiền bốn năm tiếng đồng hồ mà ra ngoài có người động tới liền nổi sân thì chưa phải là thiền thật. Vì vậy, Thầy muốn tụi con sạch hết sân.

Từ dẹp tham sân si này, dần dần sẽ tiến lên, diệt sạch tất cả phiền não. Vậy, tụi con mỗi năm sẽ có một bước tiến vượt bậc. Còn ba năm nữa Thầy nghỉ thì tụi con sẽ hết sạch tham, sân, si. Nói vậy để tụi con thấy, tu phải có bước tiến chứ không được lùi. Phải mạnh mẽ lên chứ thả lỏng, tụi con lơ là.

Không có duyên nghịch gì thì không sân là chuyện thường, mà gặp việc trái ý không sân mới là thật. Nên tụi con phải hứa, nổi sân lên thì phải sám hối với toàn chúng, lạy ba lạy. Vì trước đã hứa mà không làm tròn là nói dối, nên phải lễ toàn chúng tạ lỗi, không phải chỉ lễ Thầy thôi. Nếu thốt ra lời hoặc có hành động thì phải lạy từng người. Bắt buộc vậy đó, tụi con tu mới tiến.

Thôi, bao nhiêu đó để tụi con chuẩn bị lo tu, để bữa nào đụng đầu mà không sân mới hay. Được vậy, ngày sau ra giảng đạo, làm Phật sự, đó mới là thứ thiệt. Chứ trốn trong thất thì yên, ra gặp duyên liền nổi sân thì chưa được.

Ngày 28-09 Kỷ Mão (05-11-1999) 

Thầy nhắc nhở, chúng ở đây trong thời gian năm sáu năm qua, đã có những người tu tiến, đáng khen đáng mừng, cũng có những người tu không tiến, sanh ra chểnh mảng, thối chí, đó là điều đáng buồn.

Thầy từng nói với tất cả tụi con, Thầy dạy ba năm nữa thôi, sau đó Thầy nghỉ hoàn toàn, không thỉnh nguyện, không rầy dạy nhắc nhở gì. Như vậy, chỉ trong vòng ba năm này, nếu ai quyết tâm tu, quyết tâm học hỏi, hiểu đạo lý rõ ràng, để trên đường tu không bị trở ngại thì phải cố gắng học, cố gắng tu. Còn ai cảm thấy ngang đây mỏi mệt rồi thì cứ xin Thầy rời đi, không điều kiện gì, như trong Thanh quy nói.

Ai không muốn ở đây thì khỏi cần bày chuyện, cứ ra thưa Thầy “con không kham ở đây nữa, Thầy cho con về”, Thầy cho liền, chứ không ngăn cản hay rầy la gì. Vậy, không có lý do gì khiến tụi con phải bày chuyện này chuyện kia để xin xỏ cho mất công. Hiện giờ có nhiều người ham tu, nghe thời gian Thầy dạy không lâu nữa, họ muốn xin vào đây mà chưa có chỗ ở, Thầy chưa giải quyết được. Trong khi đó có những người ở đây mà không thích, thì cứ nhường chỗ cho người khác là tốt, chứ đừng ngại.

Tụi con đến đây tu, từ buổi đầu Thầy đã nói rõ, Thầy bảo đảm tụi con được sống trong điều kiện tốt. Thứ nhất, tứ sự không thiếu thốn. Thứ hai là Thầy luôn tạo điều kiện để tụi con hiểu đạo, tu đúng chánh pháp. Thứ ba là tạo duyên cho tụi con khỏi bận tâm, khỏi bị những chuyện bên ngoài lôi kéo. Thí dụ như ở chùa riêng, tụi con phải đi cúng, đi làm này kia, ở đây thì tuyệt đối chỉ chuyên tu, không đi đâu cũng không bận rộn khách khứa. Thầy đã tạo đủ duyên để tụi con tu, mà không chịu tu thì Thầy cũng không biết nói sao. Vậy, ai cảm thấy không thích ứng kịp, không muốn ở đây, thì thưa Thầy cho đi, để những người ham tu đến tu trong ba năm cũng là quý. Đừng nghĩ đã ở rồi thì phải ở cho trót. Ở mà không chịu tu thì không được.

Với bao nhiêu tâm huyết, Thầy cố gắng thực hiện cho được những điều Thầy mong mỏi từ lâu. Giờ, Thầy thực hiện được môi trường chuyên tu đúng như hoài bão của mình, thì những người đến ở tu là những người Thầy trông đợi mai này thay thế Thầy. Ai không chịu cố gắng tu, không chịu thực hành thì thật phí uổng công lao của Thầy nhiều lắm. Cho nên, tụi con đừng ngại ngùng, nếu cảm thấy không kham nổi, không phù hợp thì cứ xin rút lui, Thầy sẵn sàng cho. Còn ai ở lại, phải chí thành, phải cương quyết tu hành, một ngày đáng một ngày, không lôi thôi.

Vì tu là con đường dài, có thầy, bạn nhắc nhở và hướng dẫn tu là điều khó kiếm, không phải dễ. Ngày nay đã đủ những điều kiện đó mà tụi con không chịu tiến thì còn chờ gì. Nếu không tu thì thôi, còn đã tu thì phải xứng đáng là người tu. Lúc nào cũng phải có tâm cố gắng, làm sao tu được an vui, làm sao tu cho có kết quả, làm sao hiểu Phật pháp cho đúng. Những điều đó tụi con phải thực hiện cho được. Thầy đã lo, đã sắp đặt, không để tụi con chịu thiếu thốn, đã có được duyên tốt đó mà tụi con không cố gắng tu là lỗi lớn. Thời gian không còn dài, chỉ còn khoảng ba năm thôi, Thầy không muốn để phí vô ích.

Thầy nhắc lại, tất cả tụi con, ai cảm thấy mệt mỏi, muốn rút lui thì cứ tùy ý. Còn ai muốn ở đây quyết tâm tu thì cố gắng, đừng lơ là, đừng để mất thời gian vô ích. Việc Thầy làm là vì tụi con mà làm, lo cất chùa để có chỗ cho tụi con tu. Thầy đâu có ở đây hoài, nhưng vì Phật pháp, vì độ chúng sanh nên Thầy phải cố gắng làm. Tụi con hiểu như vậy thì cố gắng tu để tự cứu mình và có đủ khả năng hướng dẫn những người sau. Nếu không thì công việc của Thầy chẳng những không tròn mà lại vô ích nữa.

Hôm nay, Thầy nhắc nhở chung cho tất cả tụi con, nếu quyết tu thì phải cố gắng, còn nếu thấy mỏi mệt cứ can đảm xin rút lui, nhường chỗ cho người khác. Đừng lừng khừng mất thời gian vô ích, mà không có chỗ cho những người ham tu đến tập tu. Đó là lời nhắc nhở của Thầy, mong tất cả nhớ và cố gắng.

Ngày 28-10 Kỷ Mão (05-12-1999) 

Thầy có những lời nhắc nhở toàn chúng. Trong Thanh quy đã nói, thể theo tinh thần Trúc Lâm Đại Đầu-đà thì chúng ta phải tập ba đức tính: dứt khoát, kiên quyết và đạm bạc. Đây nói riêng đức tính dứt khoát.

Tại sao phải dứt khoát? Chúng ta can đảm bỏ tất cả để vào chùa tu, đó là việc lớn, không phải việc nhỏ. Còn người thế gian, họ không dám rời xa cha mẹ anh em, những người thân thuộc, không dám bỏ nhà ra đi như vậy. Ngày nay vì sự tu hành mà chúng ta dứt khoát bỏ tất cả những thứ mà thế gian không dám bỏ để vào chùa tu. Đó là thái độ hết sức mạnh mẽ, hết sức cương quyết, vì đạo, vì việc lớn mà quên hết tình chấp nhỏ. Vậy khi vào đạo rồi, phải nuôi chí lớn đó, phải biết mình là người vì đạo mà đi tu, chứ không vì lý do nhỏ nhặt nào. Cho nên, khi vào chùa rồi, phải tập giữ tư cách của người xuất gia, nguyện cầu giải thoát sanh tử để cứu độ chúng sanh. Đã nguyện như vậy thì phải thấy trách nhiệm hằng ngày nên làm những gì, phải tu như thế nào.

Trên đường tu, qua nhiều kinh nghiệm, Thầy thấy rõ, nếu là người quyết tâm tu mà bận bịu những việc tình cảm, phải quấy qua lại, thì không bao giờ tu đến nơi đến chốn được. Như người làm trụ trì, có một số bổn đạo. Bổn đạo bệnh thì tới thăm, cầu an, bổn đạo chết thì đi đưa đám, cầu siêu. Nếu trụ trì có vài ngàn bổn đạo, tối ngày chỉ lo làm vui lòng đệ tử, không còn thời gian tu, vô tình bị tình cảm cột trói mà quên lý tưởng của mình. Ở đây, thiền viện hạn chế đi đám, không tổ chức lễ lượt, không đi ra ngoài, để tụi con dồn hết thời gian trong việc tu, cố gắng dẹp sạch phiền não, mở mắt trí tuệ, rồi đi tới giải thoát sanh tử. Tụi con phải tập dứt khoát, không nuôi dưỡng tình cảm như người thế gian. Thứ nhất là tình cảm trong chùa, không có tâm thương mến huynh đệ, trói buộc, rồi buồn giận, làm trở ngại đường tu. Thứ hai là tình cảm với bổn đạo, những người ở đây ở kia, dù mình có quý mến, cũng không bận tâm giao du, thăm viếng.

Ngày xưa, lúc ở trường, nhiều khi Thầy thấy rất buồn. Vì có những người Phật tử khá giả, nhiều phương tiện, có thể giúp đỡ chùa thì chư tăng ni xúm lại đón mừng tử tế, muốn được lòng người Phật tử đó. Thầy nghĩ mình đã nguyện đi tu để giải thoát sanh tử, cứu độ chúng sanh. Mà vì nhu cầu thiếu thốn nên muốn có thí chủ ủng hộ, rồi phải chiều uốn theo họ, làm mất mình, mất tất cả lý tưởng cao siêu. Nên Thầy thấy không tốt.

Ngày nay ở thiền viện, bắt buộc tụi con phải sống đúng với nếp sống tu hành. Những gì thấy là nhu cầu không thể thiếu được thì thiền viện lo cho tụi con có đủ, để cảm thấy không cần về nhu cầu vật chất nữa. Như vậy, giả sử có trăm Phật tử, ngàn Phật tử tới, mình vẫn bình thường, không cần làm thân, cũng không muốn được lòng họ để được họ giúp đỡ. Như vậy mới giữ được nét thanh cao của người tu.

Như Thầy bây giờ, Phật tử quy y với Thầy hơn hai mươi ngàn người, nếu Thầy chiều theo những Phật tử đó, ai có bệnh thì tới thăm, ai chết thì tới cầu siêu, Thầy đi và dẫn tụi con hết người này đến người kia đi đám, thì chắc đời Thầy chỉ làm một việc đó thôi, không tiến tới đâu. Rồi tụi con cũng vậy, cũng chạy theo đó, thì sẽ không còn thời gian làm được việc gì cao siêu hơn.

Thầy thường nhắc mấy Phật tử thí chủ thường giúp đỡ cho thiền viện là Thầy chỉ có bổn phận dạy, chỉ đường cho họ tu, chứ khi họ chết Thầy không đưa đám. Thầy can đảm, cương quyết như vậy, dù cho thí chủ gần xa có nhắm mắt Thầy đều không đi. Nhờ đó mà Thầy có thời gian ở tại thiền viện tu, nghiên cứu Tam tạng, phiên dịch kinh sách để dạy tụi con.

Tụi con phải có thái độ dứt khoát, không vì chiều theo Phật tử, làm mất thời gian quý báu của mình. Nếu không, lúc đầu tụi con vào chùa thì còn tốt, sau chiều uốn theo Phật tử, họ đòi gì làm theo nấy, cuối cùng mất chí hướng, rốt cuộc đường tu của mình không còn cao thượng. Nên mình phải học thái độ dứt khoát của vua Trần Nhân Tông. Khi ở tại ngôi vị, ngài là một người lãnh đạo đất nước, tất cả những chuyện hiểm nguy chống giặc ngoại xâm, ngài đều làm tròn trách nhiệm. Khi đi tu, ngài dứt khoát bỏ hết, không bận tâm với ngai vàng, điện ngọc. Theo trong sử sách kể, sau khi xuất gia, ngài không chịu đi thuyền rồng như ngày trước. Từ Thăng Long là Hà Nội bây giờ tới núi Yên Tử, ngài chỉ đi bằng đường bộ. Vậy nên, khi ngài đi tu rồi thì ngài làm được những điều hay, điều tốt cho đạo, còn lưu truyền tới ngày nay, chúng ta phải học theo gương đó.

Hồi xưa ở nhà, dù tụi con có người sanh trong nhà giàu có, nhưng khi vào đạo rồi, đều phải sống giống như tất cả huynh đệ. Không được nghĩ mình là người khá giả, giờ phải sống với điều kiện ở chùa như vầy là thiếu, là nghèo. Mình phải sống dứt khoát như vậy, phải thấy tất cả những gì của thế gian, không còn là của mình. Mà chỉ nghĩ ngày nào còn sống, ráng siêng tu cho có kết quả, mới xứng đáng một đời tu.

Kế nữa, Thầy thấy hiện giờ tụi con nếu theo thời khóa tu đều đặn bình thường thì sự tu hành tuy có tiến, nhưng tiến nhẹ, ít có đột phá. Nên Thầy lo cất thất để tụi con thay phiên nhau nhập thất. Những ngày tháng nhập thất, tụi con mới tận dụng hết khả năng của mình để tu cho có kết quả. Nhờ vậy, thỉnh thoảng ở đây có người khi nhập thất ra, có những đột phá mới và thấy được những gì từ xưa đến giờ chưa từng biết, chưa bao giờ thấy.

Mỗi lần tụi con nhập thất ra, tuy cũng có một hai trường hợp hơi lôi thôi nhưng đa số đều có chỗ tiến đáng mừng. Mỗi lần tăng ni ra thất trình, Thầy thấy rõ có những bước tiến không ngờ, khiến họ tăng trưởng lòng tin đối với đạo. Như vậy, tụi con thấy trên đường tu, nơi nào tạo đủ điều kiện để tu tiến được thì đó là chỗ lý tưởng. Chứ đừng nghĩ rằng, chỗ nào chiều mình, nuôi dưỡng mình trọng hậu là chỗ lý tưởng.

Trong kinh Tăng Nhất A-hàm, phẩm Mã Vương, đức Phật dạy các Tỳ-kheo:

“Nếu ở nơi làng xóm, mà pháp lành dần dần tiêu diệt, pháp ác tăng trưởng, ý niệm không chuyên nhất, không đến chỗ vô vi an ổn. Tỳ-kheo ấy cũng không vì được y phục, mền nệm, thức ăn uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men mà làm Sa-môn. Điều mong muốn của vị ấy nay không đạt kết quả. Vị ấy nên rời trú xứ kia, đi nơi khác.

Nếu Tỳ-kheo ở chỗ vắng trong nhân gian, nơi làng xóm, pháp lành tăng trưởng, pháp ác tiêu diệt, tứ sự cúng dường do siêng năng khổ nhọc mới , cũng không vì y phục mà xuất gia học đạo, tu phạm hạnh. Điều mong muốn của vị Tỳkheo ấy khi học đạo thảy đều thành tựu. Tỳkheo ấy nên suốt đời ở tại trú xứ kia, không nên đi xa.

Đó là lời đức Phật nhắc nhở chúng ta, đi tu rồi phải trọng đạo hơn tất cả những vật chất thế gian. Nếu quá trọng vật chất thế gian thì hãy ở nhà tốt hơn, chứ đi tu làm gì? Khi đã từ bỏ, đã xa lìa thế tục, vào đạo rồi mà còn thích vật chất, còn trọng vọng thì làm sao tu được. Tụi con không tu thì thôi, đã tu thì dứt khoát tu đến nơi đến chốn cho tròn bản nguyện, để lợi ích cho bản thân mình và làm lợi ích cho chúng sanh. Chứ tu lừng chừng, tu lấy có, chẳng những không lợi ích cho mình mà cũng không lợi ích cho người. Như vậy, một đời sáu bảy mươi năm sống không ra sống, chết không ra chết. Thật uổng, thật đáng tiếc!

Thầy mong tất cả tụi con, mỗi người ở đây đều phải ý thức được điều đó, để dành tất cả thời gian trong sự tu học. Vì ở đây Thầy chủ trương Thiền Giáo đồng hành, học để hiểu giáo lý, thiền để ứng dụng tu nơi nội tâm, hai việc đó tương quan nhau. Nếu có Thiền mà không có Giáo thì không có phương tiện giáo hóa cho người, vì vậy phải có Thiền có Giáo đồng hành.

Xưa, Mã Tổ có một đệ tử là Trí Tạng Tây Đường, là đệ tử nhập thất. Một hôm, Mã Tổ hỏi :

– Sao con không xem kinh?

Ngài Tây Đường thưa:

– Bạch Thầy, kinh đâu có gì khác mà xem!

Mã Tổ bảo:

– Tuy nhiên như thế, song con về sau vì người cần phải xem.

– Con bệnh cần phải trị dưỡng, đâu dám nói vì người.

– Con lúc lớn tuổi sẽ làm Phật pháp hưng thịnh ở đời.

Biết rằng tất cả kinh điển nói, đều không ngoài chỗ cứu cánh đó, nhưng khi tụi con dùng những lời hay chỉ dạy người ta tu, người ta nghe nhưng còn nghi. Vì phương tiện giáo hóa người, nên tụi con phải trích dẫn những câu kinh Phật làm chứng, người ta mới tin sâu, tin chắc. Vì mình truyền chánh pháp của Phật, nếu không dẫn lời Phật dạy thì làm sao người ta tin chắc được.

Tuy đây là thiền viện chuyên tu, nhưng vẫn bắt tụi con học thêm cho hiểu, hiểu để tu, tức là giải và hạnh cả hai tương ưng nhau, chứ không nghiêng một bên nào. Nếu có giải mà không có hạnh thì chỉ là nói suông nói rỗng. Ngược lại, có hạnh mà không có giải thì tuy hạnh đó có lợi lạc cho bản thân, nhưng muốn lợi ích cho nhiều người thì khó thành.

Vì vậy, tụi con phải hiểu bản ý của Thầy. Vì muốn có lợi cho bản thân tụi con, những người xuất gia phát nguyện hoàn thành việc lớn, đồng thời mai kia làm lợi ích cho người, truyền bá chánh pháp cho nhiều người được thâm nhập nên phải có tu có học. Chứ không phải ở thiền viện đây, chỉ lo cho phần mình tu được rồi thôi, mà không nghĩ tới người khác.

Thầy nhắc tất cả tụi con cố gắng, hiểu rõ đường lối để khi ứng dụng không còn lạ lùng, bỡ ngỡ nữa. Đó là lời nhắc nhở của Thầy.

Ngày 28-11 Kỷ Mão (04-01-2000) 

Do nghe những người đi cứu trợ về thuật lại, giờ đây Thầy có ít lời nhắc nhở toàn chúng.

Thầy nhớ trong kinh Tăng Nhất A-hàm, phẩm Tàm Quý, Phật dạy có hai hạng người: người được tài vật mà hằng cất giấu và người được tài vật mà hay phân phát cho người. Kinh nói: “Có người học các kỹ thuật, học làm ruộng, hoặc tập thư sớ, kế toán, thiên văn, địa lý, bói tướng…, chẳng tránh lạnh nóng đói rét, cần khổ để tự mưu sống. Người ấy bỏ ra nhiều công sức mà được tài vật, nhưng người ấy không dám ăn xài, cũng không cho vợ con, nô tỳ, những người thân thuộc. Tài vật của người ấy hoặc bị vua cướp đoạt, hoặc bị giặc giã, hoặc lửa cháy, nước cuốn, phân tán chỗ khác, chẳng được lợi ích, hoặc ngay trong nhà có người phân tán tài vật này, chẳng giữ mãi được. Đó là người được tài vật mà che giấu.”

Còn thế nào là tài vật mà phân phát? “Có người học tập các ngành nghề như trên, cần khổ mà mưu sống. Người ấy ra công sức thu hoạch tài vật, họ ban phát cho chúng sanh, cấp cho cha mẹ, nô tỳ, vợ con, cũng cấp rộng đến Sa-môn, Bà-la-môn, tạo các công đức, trồng phước cõi trời. Đó là người được tài vật mà bố thí.”

Quý vị có thấy tài sản thuộc năm nhà không? Một là nhà lửa, nạn lửa cháy tiêu tan; hai là nạn nước, nước lũ lụt cuốn trôi đi; ba là vua quan tịch thu; bốn là giặc giã cướp mất; năm là con bất hiếu phá tan. Sự nghiệp, của cải, không có gì bảo đảm, không có gì thường còn. Bao nhiêu của cải, tài sản dồn đó để dành, rồi qua trận lụt, bị nước cuốn đi hết, không còn nhà ở nữa, huống là những nạn khác! Vậy mới thấy sự nghiệp ở thế gian không có gì chắc chắn, không có gì bền lâu. Người đời lo gìn giữ mong để được lâu dài, điều đó sẽ khiến họ đau khổ vô cùng. Họ rất đáng thương!

Ngoài sự nghiệp của thế gian đó, còn có sự nghiệp gì mà năm nhà không phá được? Như trong kinh đã nói, nếu người có tài vật đem phân phát cứu giúp người, đồng thời biết cúng dường phụng sự người tu hành, những việc tốt điều hay, làm lợi cho người, xây dựng cho đạo pháp, tích lũy nghiệp lành đó, đức Phật gọi là công đức, phước đức. Chính công đức, phước đức kia là thứ không thể mất, không có gì có thể tàn phá được. Thứ mà lửa không thể thiêu đốt, nước không cuốn trôi, vua quan, trộm cướp không lấy được, kể cả đứa con bất hiếu cũng không phá được, đó mới là thứ bền lâu.

Người thế gian không biết, chỉ lo tạo vật chất bên ngoài nên bị mất một cách dễ dàng. Còn thứ không thể mất họ lại không nghĩ tới, đó là điều sai lầm. Vì vậy người biết tu, từ cư sĩ tới người xuất gia, luôn luôn phải tạo nghiệp lành, tạo công đức. Công đức đó không thấy được bằng mắt, không ai lấy mất được, không ai tranh giành được. Đó là thứ nhất.

Thứ hai là tất cả sự nghiệp thế gian đều là tạm bợ giả dối, kể cả nghiệp lành nghiệp dữ cũng không thật, còn có cái chân thật không bao giờ mất. Đó là gì? Đó là cái mà người tu hiện giờ đang nỗ lực phăn tìm, nỗ lực vạch màn vô minh để nó hiện ra. Đó là cái chân thật, là Phật tánh, là chân tâm mà ai ai cũng có, nhưng lâu ngày bị khuất lấp nên không thấy, không biết. Bây giờ, chúng ta tu, vén màn vô minh để nó hiện ra. Nó là cái thật muôn đời ai cũng có mà bị lãng quên.

Người thế gian sống với thứ tạm bợ, đổi thay sanh diệt, khi còn khi mất nên khổ đau. Nếu biết trở về cái chân thật của mình thì tất cả những thứ bên ngoài, còn mất không quan trọng, chỉ có cái chân thật đó mới là hơn hết. Nhờ thế mà cuộc đời họ không đau khổ. Vì vậy, tất cả người tu phải cố gắng dẹp hết những mê lầm, phiền não để tâm được thanh tịnh trong sáng. Nhận ra được cái chân thật của mình thì không uống một đời tu. Bằng không, cứ chạy theo những thứ tạm bợ, rốt cuộc mình cũng sống mê lầm giống như người đời, đắm chìm trong những thứ phù du, không có ngày tỉnh ngộ.

Có những người ở ngoài đời, khi tài sản bị mất hết, họ đau khổ khóc lóc, vì họ không biết sẽ sống như thế nào một khi không còn gì trong tay, không còn gì để hướng tới nên họ tuyệt vọng. Đó là do họ không biết mình có cái chân thật, chỉ biết chấp vào những thứ bên ngoài. Khi những thứ bên ngoài mất rồi thì chới với, không còn làm chủ được, không còn hy vọng gì. Nếu nhận được cái chân thật, thì dù ở cảnh nào, dù ở chỗ khổ nào mình cũng an lòng, vì không gì có thể làm tiêu hao, mất mát cái thật được. Nó cao siêu, cụ thể vô cùng!

Chúng ta biết được mình có của báu thì phải cố gắng tu hành để đạt được. Đồng thời, khi thấy được cái thật của mình rồi, đem ra chỉ dạy cho mọi người, để họ biết cái chân thật của họ. Đó là trách nhiệm lớn lao của người tu. Nếu chỉ tu lơ là theo hết thời khóa, cho vậy là đủ thì chưa làm tròn bổn phận của mình. Điều chủ yếu phải nhận ra bản tánh chân thật, sống với tánh đó, thì mới tròn bổn phận.

Ngày 28-12 Kỷ Mão (03-02-2000) 

Tất cả tụi con tu hành trong thiền viện, tuy chưa được chín chắn nhiều, nhưng so với những nơi khác, thấy có phần kỹ càng hơn. Vì vậy, sống trong thiền viện là cơ hội tốt để tụi con phát triển đức hạnh, tu hành mau được thanh tịnh sáng suốt. Đó là duyên thuận, cũng là phước lành của tụi con.

Giờ đây, theo Thầy biết, trong chúng có những người có hai căn bệnh quan trọng: thứ nhất là ngã mạn, thứ hai là ích kỷ. Tụi con nhìn trong chúng có hai bệnh đó không? Chắc có. Hai bệnh đó gây trở ngại trên đường tu, khiến mình tuy cố gắng tu nhưng không đạt được đạo. Trước hết là nói về bệnh ngã mạn. Trong kinh Phật dạy tu là phải phá ngã chấp, đến chỗ vô ngã thì mới đạt tới Niết-bàn. Nếu còn ngã chấp thì không đạt được Niết bàn. Ngã chấp còn không được Niết-bàn, huống là ngã mạn. Ngã không thật, là mớ duyên hợp hư dối mà còn nương vào ngã đó, khởi tâm ngạo mạn thì đó là mê lầm rất lớn.

Tâm ngạo mạn gây ra những trở ngại. Trở ngại thứ nhất là sống với ai, người ta cũng không ưa. Thứ hai là khinh thường người khác, nên dễ tạo tội, dễ mất phước đức. Thứ ba là tâm ngạo mạn chấp cứng cái ngã, không thể nào phá được, cho nên tu không có kết quả. Vì vậy đứa nào mắc phải bệnh ngạo mạn, từ đây về sau phải khiêm nhường, hạ thấp mình xuống.

Trong kinh Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy Tỳ-kheo nếu đi đường bị giặc bắt giữ nên nhiếp tâm ý, đừng khởi niệm ác. Nên khởi tâm hộ niệm trùm khắp mọi nơi. Nên giữ gìn tâm như đất, nhận vật sạch cũng nhận vật dơ, phẩn tiểu dơ uế xấu xa thảy đều nhận hết; song đất chẳng khởi tâm tăng giảm, không nói “đây là xấu, đây là tốt”. Giả sử bị giặc bắt giữ giam cầm, Tỳ-kheo chớ sanh ác niệm, khởi tâm tăng giảm. Nên giữ tâm như đất nước lửa gió, xấu cũng nhận, tốt cũng nhận, đều không có tâm tăng giảm.

Phật dạy giữ tâm mình như đất, dù ai đem đổ vật dơ hay sạch, đất đều chấp nhận mà không khởi tâm vui mừng hay phiền trách. Giữ tâm mình như nước, tất cả đồ dơ, sạch đổ bỏ xuống sông hồ mà nước cũng không phản kháng, cho tới tâm mình như lửa, gió cũng vậy. Bốn đại đó đều chấp nhận những thứ dơ sạch, người tu hành phải giữ tâm bình thản trước mọi duyên thuận nghịch.

Vậy nên, người tu hành tâm phải thuần thục, dù gặp duyên gì cũng an nhiên không dao động. Nếu vậy thì đâu có gì để khởi tâm ngạo mạn. Tụi con, ai có bệnh đó ráng tập chừa bỏ. Đừng bao giờ thấy mình cao hơn người. Cứ luôn luôn thấy mình là người thấp kém, cần phải học hỏi nhiều, biết kính trọng người lớn hơn, đức hạnh hơn, tuổi cao hơn, chứ đừng khởi tâm ngạo mạn.

Lỗi thứ hai là ích kỷ. Ích kỷ trái với tâm từ bi. Tâm từ bi là tâm thương yêu, bao dung, rộng lượng, tha thứ, giúp đỡ mọi người. Tâm ích kỷ gần với tâm keo kiệt, cái gì cũng muốn đem về cho mình, muốn mình được, không muốn người khác được. Hoặc của mình thì quý, của người thì coi thường.

Người tu phải tập có tâm từ bi rộng lớn thênh thang, thương tất cả người, vật, nên không có lý do gì mà nghĩ lợi cho mình, gom tất cả những thứ quý trọng về mình, còn người chung quanh thế nào đều mặc kệ.

Người tu là mở rộng lòng mình, bao dung, thương yêu tất cả, không hạn cuộc trong một phạm vi nào. Những người đến đây tu cốt yếu phải ham tu, không phân biệt người xứ nào, người trong nước ở Bắc, Trung, Nam và cả người nước ngoài tới tập tu, mình cũng thương như vậy. Nếu tâm hẹp hòi ích kỷ nhỏ nhoi, nghĩ đây là huynh đệ của mình rồi bảo vệ, nhắc nhở, lo lắng cho người đó, còn kia không phải huynh đệ rồi có vẻ không ưa, khó khăn, mặc kệ họ mệt nhọc không muốn giúp. Người có tâm như vậy, ở trong đạo thật đáng chê trách!

Tụi con phải tập mở rộng lòng mình, nhìn tất cả mọi người đều đáng thương, đáng quý. Mình tu là vì tất cả chúng sanh, muốn làm lợi ích cho họ, không phải tu vì một nhóm người này hay một số người kia. Tâm thế gian hạn hẹp, chỉ biết thương cha mẹ, anh em, con cái. Từ biệt gia đình vào chùa tu, tâm mình thênh thang, thấy tất cả đều là người đáng thương, đáng giúp đỡ, nên không phân biệt, không còn thấy người thân hay sơ.

Như vậy, hình ảnh người tu là người có từ bi, lợi tha, có tâm rộng lớn không bờ bến. Đó mới đúng với hạnh nguyện người xuất gia. Nếu có giới hạn, có phần nào bị khu biệt thì đó là chưa xứng đáng. Người xuất gia đã từ bỏ tất cả tình cảm riêng tư để vào đạo, phải mở rộng lòng thương khắp tất cả, nên không có quyền ích kỷ, không nghĩ riêng tư, không tạo bè phái, phe nhóm cho mình.

Mong tất cả tụi con ở đây đều có tâm từ bi rộng lớn, thương mến đùm bọc, bao dung, luôn tha thứ cho nhau, để đường tu mỗi ngày mỗi tiến, càng ngày càng sáng suốt hơn. Mai kia làm lợi ích cho Phật pháp, cho chúng sanh. Được như vậy, mới xứng đáng là người tu hành.

Ngày 28-01 Canh Thìn (03-03-2000) 

Thầy có ít điều nhắc nhở cho tất cả. Thầy hiểu tất cả tụi con, khi có trách nhiệm điều chúng, sắp đặt người thì trong chúng có những người rất tốt, rất hay, nói đâu vâng đó, hoặc có những người hơi dở, hơi cứng đầu, nói không chịu nghe, thì tự nhiên tâm không được vui hoặc buồn chán. Từ buồn chán đó, có khi phát ra lời nói không đúng với tâm nguyện của người biết đạo lý, chân thành phụng sự Tam bảo.

Kế nữa, có những trường hợp dạy mà chúng cãi lại, đôi khi chỉ lỗi mà họ không nghe, hoặc một lỗi mà phải dạy đôi ba lần, nên phiền muộn, rồi đến thưa Thầy với vẻ bực bội, làm Thầy cũng không được vui. Tuy điều đó xảy ra vậy, Thầy cũng không trách cứ gì tụi con. Thầy là người hướng dẫn đường tu cho tất cả tụi con, nên Thầy hiểu tâm niệm, hoàn cảnh và vì sao có những việc xảy ra như vậy.

Thầy mong tất cả tụi con, từ trên đến dưới, lúc nào cũng nhớ rõ ràng rằng: Vì tụi con muốn tu giải thoát sanh tử, nên mới cùng tụ họp một nơi, để giúp đỡ nhau phương diện này hoặc phương diện khác. Để huynh đệ cùng chung lo sự tu được tốt đẹp trọn vẹn. Để những huynh đệ chung quanh càng ngày càng vượt qua những trở ngại, lỗi lầm, tiến lên trên bước đường trí tuệ sáng suốt.

Tất cả tụi con đã làm một việc thấy dường như dễ mà khó. Vì chính mình điều phục mình đã cực rồi mà còn phải điều hòa, giúp đỡ nhiều người nữa thì không sao tránh khỏi những phiền muộn, nên đôi lúc thổ lộ ra những lời không được vui, Thầy cũng bị lây tâm trạng không vui đó. Tuy nhiên, Thầy bỏ qua được, cũng không buồn phiền gì.

Thầy cũng biết rõ trong chúng, tụi con vâng lời Thầy chăm lo cho đại chúng. Những trách nhiệm khi Thầy đã giao thì tụi con cố gắng làm cho được. Thầy chỉ khuyên một điều: Những người có trách nhiệm lãnh đạo và tất cả chúng nên thấy rằng mỗi tụi con đều có duyên phúc lớn, nên ngày nay cùng ở trong pháp hội tu hành, được Thầy đi trước lo lắng hướng dẫn. Vậy nên tụi con cũng phải một lòng thương nhau, nhắc nhở khuyên nhủ nhau, đừng để trên đường tu bị chậm trễ, bê bối. Đừng để bên ngoài hiện ra những hành động xấu dở, khiến người khác thấy sẽ chê cười.

Đồng thời, tụi con phải tự kiềm chế, giữ gìn mình, đừng để những phiền não dấy khởi, làm mất thời gian tu, làm cho lúc tụi con cần thanh tịnh mà nó quấy rầy không được thanh tịnh. Tu vậy là tụi con khôn ngoan, khéo léo. Tu vậy là tụi con thương Thầy, giúp Thầy lo cho đạo được ngày càng tốt hơn.

Vậy năm mới này tụi con ráng tiến lên. Mọi trở ngại của năm cũ, tụi con biết rồi, phải vượt qua, năm mới đừng để xảy ra nữa. Những gì năm cũ đã lỡ lầm thì qua năm mới phải tiến bộ, đừng để mắc phải lần thứ hai. Vậy thì tất cả tụi con đều là người tốt, đều là người chân tu. Lỗi lầm năm vừa qua đã được nhắc mà năm này vẫn còn giữ, năm tới lại tiếp tục, đó không phải là người chân tu mà là người bướng lỳ, tu không tiến, đứng một chỗ. Tu vậy càng ngày phiền não càng nhiều.

Trên đường tu, không ai mới bước chân vào đạo mà thành thánh, ai cũng là phàm; bởi phàm nên những lỗi lầm sơ suất không ít. Tụi con là người lớn, là người đi trước, khi thấy những lỗi lầm của người đi sau thì khuyên dạy họ. Nên đem tình thương khuyên dạy, đừng nên giận buồn, vì đó là điều người đang tu khó tránh khỏi. Thương xót dạy bảo rồi thì bỏ qua, đừng giận hờn, trách móc hoài. Có vậy thì trên dưới thuận hòa, mọi việc đều tốt đẹp.

Đó là lời nhắc nhở của Thầy cuối năm. Mong năm tới, tất cả tụi con đều tiến hơn, tốt hơn và tu hành ngày càng sáng suốt hơn.

Ngày 28-02 Canh Thìn (02-04-2000)

Thầy có ít lời nhắc nhở toàn chúng.

Hôm Thầy về dưới kia chứng kiến hai người tu đã mất, một người hơn ba mươi tuổi, một người hơn tám mươi tuổi, như vậy có một già một trẻ đã ra đi. Khi vô thường đến thì ai cũng phải đi. Vậy, khi nhìn thấy cảnh mất mát của những người tu đi trước, chúng ta phải có thái độ như thế nào, để cho sự tu hành càng ngày càng tiến thêm nhiều.

Khi chúng ta tu mà không có sự cảnh tỉnh, không có sự nhắc nhở, thì tu lâu ngày trì trệ không tiến. Vì vậy, hôm nay nhắc cho toàn chúng thấy, cái chết không đợi già mới đến; khi còn nhỏ, hết duyên cũng đi. Như vậy, già cũng chết, trẻ cũng chết, không ai có thể bảo đảm chừng nào mình chết. Mỗi lần chứng kiến người chết, chúng ta xót xa, vì khi chết, cơ thể bị hành hạ rất đau đớn, khổ sở vô cùng.

Chúng ta tu với mục đích giải thoát sanh tử, nghĩa là tu làm sao để ra khỏi vòng sanh tử. Nếu chúng ta không thoát khỏi vòng lẩn quẩn này thì lần này chết, rồi sanh ra, ít chục năm sau lại chết, sanh ra rồi lại chết… Sanh tử liên tục thì sự khổ đó thật vô cùng vô tận.

Trong kinh Tạp A-hàm, “Phật bảo các Tỳ-kheo:

Chúng sanh từ vô thủy sanh tử đến nay cứ mãi xoay vần, không biết cội nguồn của khổ. Các Tỳ-kheo nghĩ thế nào? Nước sông Hằng.., nước trong bốn biển lớn là nhiều hay nước mắt của các Thầy tuôn ra trong vòng sanh tử luân hồi là nhiều?

– Như chúng con hiểu ý nghĩa lời Phật nói. Nước mắt của chúng con tuôn rơi trong vòng sanh tử xoay vần rất nhiều, nhiều hơn cả nước sông Hằng và nước bốn biển lớn.

– Nước mắt của các Thầy tuôn rơi trong vòng sanh tử xoay vần rất nhiều, chứ không phải nước sông Hằng và nước bốn biển. Vì sao? Vì các Thầy đã từng bị mất cha mẹ, anh em, chị em, thân thuộc, người quen, bị mất mát tiền của, nước mắt tuôn rơi cho những sự mất mát đó nhiều vô lượng. Các Thầy cứ mãi bị ném ra nghĩa địa, máu tanh chảy ra, rồi sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

– Này các Tỳ-kheo! Các Thầy từ vô thủy sanh tử cứ xoay vần, máu và nước mắt trong thân rất nhiều, nhiều vô lượng.”

Phật dạy nước mắt chúng sanh nhiều hơn biển cả là như vậy. Chúng ta không phải một đời khổ mà muôn đời, muôn kiếp cứ tiếp tục khổ, nếu còn sanh tử là còn khổ. Đã khổ như vậy, nên ngày nay, chúng ta thức tỉnh, muốn ra khỏi nỗi khổ đó thì phải giải thoát sanh tử.

Như vậy, tất cả chuyện xảy ra trong đời sống, không có chuyện gì là quan trọng, việc quan trọng tối thượng là làm sao thoát ly sanh tử. Hơn thua, phải quấy, khen chê, tốt xấu v.v… chỉ là trò chơi, chuyện trẻ con, không có gì đáng quan tâm. Điều quan trọng trong đời mình là phải cố gắng tu để thoát ly sanh tử.

Chúng ta bỏ gia đình để đi tu chỉ vì mục đích đó. Đây là đích chủ yếu mà chúng ta đã nhắm. Vậy, tất cả tăng ni đã phát tâm tu rồi đều phải cố gắng. Mình đi trước, vạch ra một con đường để giúp cho người sau đi theo, trong đó có những người thân, quyến thuộc nhiều đời của mình, để họ cũng được thoát ly sanh tử. Nên mình phải cố gắng hết sức, không phải chỉ tu lừng khừng, hết một đời, không đi tới đâu.

Đọc lại bài kệ của Thiền sư Minh Chánh, Thầy rất thích bốn câu chót. Ngài nói rằng:

Công danh cái thế màn sương sớm 

Phú quý kinh nhân giấc mộng dài

Chẳng rõ bản lai vô nhất vật 

Công phu luống uống một đời ai.

Đọc bốn câu đó, Thầy thấy thấm làm sao! Công danh tức là chức tước, địa vị; cái thế là vượt hơn mọi người trên đời. Tất cả công danh trên đời dù vượt bậc, không ai bì nổi, nhưng khi nhắm mắt, đó chỉ là một màn sương buổi sáng sớm. Phú quý là sự giàu sang, dù cho người nghe phải giật mình kinh hãi, nhưng nó chỉ là một giấc mộng dài thôi. Mộng ngắn hay mộng dài cũng chỉ là mộng, không có gì là thật.

Vậy chúng ta thấy, công danh phú quý đều là một trò mộng ảo, là màn sương, không có thật. Dù có được thì cũng chỉ ít mươi năm rồi sẽ mất. Đời sống con người không bảo đảm sống trăm tuổi, mà trăm tuổi cũng chỉ là giấc mộng dài, cũng tạm bợ, vô thường. Nên cái được của thế gian chỉ là được trong bóng, trong giấc mộng, không có thật.

Chúng ta đi tu, phải tu đến giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát thì phải sao? Câu Chẳng rõ bản lai vô nhất vật, tức là không thấu đáo được thể tánh chân thật, xưa nay không một vật. Có một vật tức là còn vô thường sanh diệt, không có một vật thì vượt ngoài sự chi phối của sanh diệt. Lục Tổ đã nói câu đó, được Ngũ Tổ cho vào thất. Lục Tổ đã thấy cái chưa bao giờ bị vô thường sanh diệt, đó là bản lai vô nhất vật. Thấy được vậy mới xứng đáng là người tu.

Còn nếu cả một đời tu, công phu nhiều, cực nhọc mà không nhận, không thấy được thì uổng phí một đời. Tại sao? Vì mình tu để giải thoát sanh tử nhưng cái gì giải thoát? Chính là cái chân thật không hình tướng, nên bất sanh bất diệt. Những thứ hơn thua, phải quấy v.v… đối đãi đó là tướng sanh diệt của nội tâm. Thân mạnh yếu, đẹp xấu v.v… là sanh diệt của thân, thuộc về sắc chất. Thân và tâm hai thứ sanh diệt đó cứ đeo đẳng hoài, nên tạo nghiệp luân hồi vô số kiếp. Nếu nhận được nơi mình có bản lai vô nhất vật, chừng đó mới thoát ly sanh tử. Nếu không nhận được thì uổng một đời công phu, không có kết quả. Thật đau xót!

Vì vậy, Thầy khuyên tất cả chúng, nếu quyết tâm thoát ly sanh tử, phải nỗ lực tu. Không tu thì sẽ thả trôi theo dòng đời, mặc tình đi trong luân hồi. Muốn thoát ly sanh tử, phải cố gắng nhận rõ cái chưa từng sanh chưa từng diệt, sẵn có đầy đủ nơi mình chứ không đâu xa. Vậy nên phải biết rõ, tất cả những tâm niệm sanh diệt, đối đãi là trò chơi, là cái bóng, không thật, đừng cố chấp. Nhiều khi chỉ vì hơn thua, phải quấy mà cứ lẩn quẩn tạo nghiệp, thọ khổ không cùng. Vậy nên, gạt hết những thứ đó ra, đừng bận tâm với chúng, chỉ một mạch trở về với tâm bất sanh bất diệt. Tâm đó là tâm chủ để thoát ly sanh tử mà ai cũng có, không chỉ riêng người nào. Nếu không chịu trở về, dù có chức phận, địa vị tới đâu, rốt cuộc cũng là trò chơi, không có giá trị gì.

Mong rằng trong chúng, đã tu thì phải ráng tu cho đến nơi. Đừng lưng chừng uống một đời, đáng tiếc. Phải luôn nhớ câu công phu luống uổng một đời ai, nhớ thì phải cố gắng tu.

Ngày 28-03 Canh Thìn (02-05-2000) 

Sau đây, Thầy có những lời nhắc nhở toàn chúng.

Người xuất gia, ai cũng tâm rộng lớn phát nguyện mạnh mẽ, nguyện tu để được giác ngộ, giải thoát và độ tất cả chúng sanh. Nhưng có người vào chùa tu một thời gian, để tâm lớn đó co lại thành nhỏ. Thí dụ, khi được cử làm Tri sự, do công việc đó bận rộn, đa đoan, nhọc nhằn nên nhiều người không được vui, không muốn làm. Vì công việc cực nhọc nên mình không muốn làm, để người khác làm, vậy mình có ích kỷ không? Như vậy, ngầm đã có ích kỷ trong đó. Việc gì khó bèn giao cho người khác làm, để mình được nhàn thì đó là ích kỷ chứ gì!

Ngày xưa, Sư ông, thầy của Thầy từng kể lại, khi Sư ông và Hòa thượng Giám đốc ra Huế học ở chùa Báo Quốc, trong trường cử Hòa thượng Giám đốc làm Tri sự. Làm Tri sự ngoài đó cực lắm, nhiều khi không được ngủ trưa. Hòa thượng lại viết chữ rất đẹp, ai muốn viết chữ trên sách vở hay gì đó, đến nhờ Hòa thượng viết, ngài đều nhận hết. Chữ ngoài bìa cuốn tự điển Sư ông cho Thầy là do Hòa thượng ghi giùm. Ai nhờ việc gì Hòa thượng làm việc nấy, việc của chúng và việc của huynh đệ, Hòa thượng đều làm, làm luôn cả trưa, không ngủ.

Như vậy, trải qua mấy năm ở chùa Báo Quốc, làm Tri sự vất vả, đồng thời thường phụ giúp huynh đệ khi cần, nên công tác của Hòa thượng Giám đốc rất khó nhọc. Nhưng ngài không bao giờ từ chối giúp đỡ người khác, cũng không bao giờ than. Đó là tinh thần tích cực vì người. Với tinh thần đó, nên sau này ngài trở về Nam, khi quý Hòa thượng mở Phật học đường Ấn Quang, mọi người quý kính, tôn cử Hòa thượng lên làm Giám đốc.

Ngày xưa, Thầy học ở trong Phật học đường Ấn Quang, vì nước máy không vô tới chùa, ở Ngã Ba Vườn Lài ngoài kia. Ban ngày, dân đi lấy rất nhiều nên trong chùa ra không có nước, phải đợi đến mười giờ đêm, trong chùa mới ra gánh nước về xài.

Có một thầy là thầy T.N, thầy lười lắm, mỗi khi kêu thầy làm gì thì thầy bảo mình bị bệnh. Mà thầy đó bệnh hoài, thành ra ai nấy đều phàn nàn, nhưng biết nói sao giờ. Vậy mà, rảnh thì thầy đó ngồi đánh máy bài. Hồi xưa không có kinh để học, nên những quyển kinh mới được dịch ra thì đem đánh máy để học. Người có máy đánh chữ mới đánh được, đánh xong bán lại cho những người khác mua để học. Thầy đó ngồi đánh máy thì khỏe mạnh, bảo đi gánh nước thì nói bệnh, nên nhiều người rất phiền lòng. Thầy học một lớp với thầy đó, sau này ra trường rồi, thầy đó cũng ra đời luôn.

Vậy mới thấy người nào tâm hẹp hòi ích kỷ, ở trong đạo không bền vững. Người đó vì lo cho cá nhân họ nhiều quá mà không lo cho tập thể nên dễ rơi rớt ra ngoài. Còn người nào hy sinh cho chúng, thấy như mình thiệt thòi nhưng chính đó là công đức để giữ mình cả đời ở trong đạo, làm được nhiều Phật sự.

Tụi con nên học theo gương ngài Hư Vân. Khi ngài đi đến Cao Mân, vị Tri sự thấy hình sắc ngài tiều tụy hỏi có bệnh gì không, ngài đáp là không. Rồi lên yết kiến Hòa thượng Nguyệt Lãng. Sau khi hỏi việc xong, bèn cử ngài làm chức sự, ngài không nhận, lại không thuật chuyện trước mình bị té sông, tiểu tiện đều ra máu, mà chỉ cầu xin được ở thiền đường đã thất.

Gia phong Cao Mân rất nghiêm nhặt, nếu ai được mời làm chức sự mà không tuân thì bị kết tội khinh mạn đại chúng, phải ra biểu đường, chịu đánh hương bản. Ngài vâng lệnh chịu phạt mà không nói gì, nhưng bệnh tình gia tăng trầm trọng, máu chảy không ngừng, tiểu tiện ra tinh, chỉ nằm chờ chết.

Sư Đức Ngạn mang y vật đến cúng dường, thuật lại chuyện ngài Hư Vân bị té sông cho đại chúng biết, ai nghe cũng khen phục, không còn bắt ngài làm các chức sự trong thiền đường nữa. Ngài được cơ hội thuận tiện để tu hành.

Tụi con thấy sự nghiêm chỉnh của người xưa. Những trách nhiệm trong chùa, khi được tăng cử, trong chúng không ai có quyền từ chối, vì từ chối là trốn tránh trách nhiệm, sẽ bị phạt. Cũng như Thầy, lúc trước ở dưới Thường Chiếu, thấy Tri sự cực quá, phải đi làm ruộng làm rẫy đủ thứ, nên Thầy phân chia mấy vị lớn, mỗi vị phải làm một năm. Mấy vị kia làm xong, tới thầy T.T, thầy ấy ra thưa: “Con không thể làm nổi.” Thầy nói: “Chịu làm thì ở, không chịu làm thì rút lui.” Sau này thầy ấy rút lui về dưới Vĩnh Long.

Trong chúng tụi con phải hiểu, mình làm được việc gì góp công lo cho chúng thì đó là niềm vui cho mình. Đừng nghe việc đó khó khăn hay nhọc nhằn, rồi trốn tránh. Đó là tâm ích kỷ, còn lo nghĩ cho riêng mình, còn dung dưỡng tật lười biếng, theo lối sống vị kỷ thấp hèn, tránh nặng tìm nhẹ, không chịu phụng sự chúng. Đó là tổn phước. Nên chức vụ nào dù cực khổ, khi được giao, tụi con phải vui vẻ nhận. Khi sắp đặt việc cho mình, người lớn đã nhìn, đã biết mình làm được nên mới giao phó. Chứ ai mà giao công việc cho người làm không được. Được giao mà không chịu làm là trốn tránh trách nhiệm. Đó là tâm ích kỷ, sẽ không làm được việc lớn mai sau.

Vậy nên tụi con, đứa nào cũng phải sáng suốt biết rõ tâm mình, vừa có ý niệm trốn tránh trách nhiệm, ích kỷ thì dẹp bỏ một bên. Lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh cho chúng, lo cho chúng thì đó là phước lớn của tụi con. Dầu cho hiện giờ tụi con tu chưa được tiến nhưng nhờ phước duyên đó, có cơ hội sẽ giúp cho tụi con tiến.

Nếu tụi con ích kỷ, trốn tránh trách nhiệm, thì dường như có thời giờ tu nhiều, nhưng với tâm hẹp hòi tính toán đó cũng khó mà đạt được đạo quả. Nên trên đường tu, tụi con đừng nghĩ rằng mình yên, mình vô sự tu mới được, còn phải làm việc chúng tu không được. Tụi con nhìn Thầy vô sự hay đa sự? Tuổi già mà việc trong viện, việc các nơi cũng nhiều, mà còn đi giảng, đi dạy chỗ này, chỗ kia.

Thầy làm có phải là hiếu danh, muốn người ta khen mà làm không? Thật tình, đó không phải mục tiêu Thầy nhắm. Thầy chỉ nghĩ rằng, Phật tử ở gần cũng như ở xa, từ trước tới giờ họ chưa biết thiền là gì. Giờ đây họ có nghiên cứu, có nghe, hiểu được chút chút, muốn biết rõ đường lối để tu mà mình lại từ chối, lại trốn tránh thì chừng nào họ mới biết tu. Nếu để họ không biết tu thì mình đâu tròn trách nhiệm truyền bá chánh pháp. Nên dù cực khổ, dù xa xôi, họ cần thì Thầy cũng phải đi giáo hóa, để làm bổn phận của mình.

Vì người tu ngoài việc tu hành, còn phải làm tròn trách nhiệm đối với mọi người. Ai muốn hiểu đạo, ai muốn cầu tu, chúng ta ráng giúp cho họ hiểu, giúp cho họ tu, đó là trọng trách. Chừng nào làm không nổi nữa thì chừng đó mới ngưng, chứ không nỡ bỏ chúng sanh khổ. Khi người ta tin tưởng nơi mình mà mình không ngó ngàng đến họ, thì đó là tổn phước.

Tụi con ráng tập mở rộng lòng mình, tu trong mọi hoàn cảnh, tu trong tâm mở rộng vì người, đó là tu rồi. Còn nếu vì sự tu mà tụi con trốn tránh trách nhiệm, thì tự nhiên thầm có tâm nhỏ mọn, ích kỷ trong đó. Có tâm ích kỷ nhỏ mọn cũng do vị ngã mà ra, mà người còn vị ngã thì tu khó đạt đạo, và ngày sau cũng không thể nào làm Phật sự lớn lao được.

Bởi vậy nên hôm nay nhắc cho tất cả tụi con ý thức, mình đến ở chỗ có nhiều người tu hành như thiền viện hay tu viện, mình phải có tâm phục vụ đại chúng. Vì đó là phước lớn. Người xưa thường nói “đức chúng như hải”. Tụi con phải nhớ như vậy để vui vẻ làm việc cho chúng, công việc dầu cực nhọc cũng hăng hái làm, đó là tạo phước. Từ chỗ có phước rồi, sau này tụi con dụng công ít mà kết quả nhiều.

Như khi Thầy học ở trường, có hai thầy Thiền Tâm và Bửu Huệ ra trường trước Thầy một lớp. Khi ra trường rồi, hai thầy xin phép Hòa thượng Giám đốc được về ở thất tu mười năm, rồi mới ra làm Phật sự. Còn Thầy với quý thầy sau, như thầy Huyền Vi chẳng hạn, trong khi còn đang học cũng phải đi giảng dạy, ra trường rồi vẫn tiếp tục làm việc, mãi cho tới sau này, Thầy mới xin nghỉ để chuyên tu.

Khi Thầy nghỉ để tu, Thầy rất lo trong lòng. Quý vị lớn đã tu trước mình, nhập thất mười năm mà chưa nghe có gì đặc biệt. Bây giờ mình nhập thất, không biết có tin tức tốt lành gì không? Hay chỉ nhập thất tu thôi, rồi cũng không đi tới đâu. Bởi vậy, khi nhập thất, Thầy tuyên bố nếu thấy gì mới lạ, mới mở cửa thất để làm Phật sự. Nếu không thấy gì mới lạ, Thầy chấp nhận ở trong thất chết luôn. Đó là Thầy thấy người tu trước nhiều năm mà chưa được gì, Thầy bây giờ chắc cũng không hơn.

Nhưng không ngờ, Thầy nhập thất chỉ ba tháng thì thấy có những chuyển biến lạ, vậy nên Thầy chỉ ở trong thất có sáu tháng thôi, rồi mở cửa thất ra lập thiền viện, nhận người vào tu. Như vậy, Thầy phải làm Phật sự đa đoan, thời gian chuyên tu rất ít, thấy dường như là thiệt thòi, nhưng tới chừng hạ thủ công phu tu thì thời gian ngắn mà kết quả nhiều. Rõ ràng là công đức hay phước mình đã tạo trong lúc làm Phật sự, dường như là phần thưởng cho mình được rút ngắn thời gian, khi mình ngồi tu mau được kết quả. Vậy tụi con thấy, đâu có thiệt thòi gì.

Lo cho chúng, dạy người ta tu, không có gì thiệt thòi cho mình. Chỉ lo là tâm mình không được rộng lớn, tâm mình tiêu cực, ích kỷ, làm chướng ngại sự tu. Vì chúng vì mọi người là đức tính tốt. Mình càng giúp cho người hiểu được đạo thì phước càng tăng, khi mình ngồi tu hoặc làm Phật sự đều không trở ngại. Còn tụi con ích kỷ, chỉ lo cho mình, không có phước nên khi gặp duyên không tốt, sẽ thấy mình bị thiệt thòi, con đường tu sẽ không đi tới đâu. Nên tất cả tụi con phải hiểu rõ, để khi còn ở trong chúng, khi được cắt cử công tác gì, mình hoan hỷ gánh vác. Mai kia lớn lên ra ngoài, mới có thể gánh vác Phật sự để làm lợi ích cho chúng sanh. Tâm như vậy mới xứng đáng là người xuất gia, mới đúng với sự phát tâm ban đầu.

An cư 15-04 Canh Thìn (18-05-2000) 

Hôm nay là ngày Kiết hạ an cư cho toàn thể tăng ni. Đây là nề nếp, quy chế trong nhà đạo, có từ thời đức Phật.

Ở Ấn Độ, mùa này là mùa mưa, nước nổi, nên kiến, trùng, dế… bò lên trên đường, tăng ni đi khất thực sẽ giẫm đạp lên các loài đó, làm thương tổn chúng. Nên đức Phật dạy, mùa an cư (từ đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa) chư tăng chư ni ở yên một chỗ tu hành, tránh đi ra đường giẫm đạp trùng, kiến. Đó là một lý do.

Còn những lý do khác nữa. Thời đức Phật, khi chư tăng ni tu hành tiến bộ, đức Phật phân chia đi nơi này, nơi nọ để khất thực và giáo hóa, chứ không được ở một chỗ. Chư tăng ni phân tán khắp nơi nên không có dịp được học hỏi từ đức Phật đến những bậc trưởng lão và thời giờ tu cũng không được chu đáo. Nên vào mùa an cư, tăng ni ở các nơi về cùng một trụ xứ, nương nơi đó tu học.

Mỗi một trụ xứ có một vị trưởng lão đứng đầu, chỉ dạy từ giáo lý cho tới giới luật Phật dạy. Bởi vậy, có câu hỏi “Nương theo luật sư nào?” để biết rằng mỗi nơi có vị trưởng lão hiểu rành giáo lý và giới luật, tăng ni tụ họp, nương đó tu hành trong ba tháng. Trong thời gian này, ai có điều gì sai phạm luật, thì vị trưởng lão đó sẽ rầy dạy, nếu tu hành chậm trễ thì vị trưởng lão đó sẽ sách tấn. Vì vậy, ba tháng đó được tu học đầy đủ và được nghiêm chỉnh gìn giữ giới luật thanh tịnh. Do đó, đức Phật dạy, ba tháng an cư làm tăng trưởng công đức của người tu, sau lễ Mãn hạ thì tăng ni đều tăng thêm một tuổi hạ, tuổi đó là tuổi công đức.

Lúc Phật còn tại thế, có nhiều vị Tỳ-kheo trong ba tháng an cư, các vị tu thiền định, có những vị qua ba tháng, thấy rằng mình tu sắp chứng các tầng thiền hoặc sắp sạch hết các lậu hoặc, chứng A-la-hán, mà mãn an cư, giải hạ, phân tán đi nơi khác thì e bị cản trở quả chứng. Nên các vị xin ở lại an cư thêm, chừng nào tu chứng xong mới rời trú xứ.

Như vậy, mùa an cư là mùa tăng, ni tu hành tinh tấn, có kết quả, đầy đủ công đức. Không phải an cư chỉ là việc ở một chỗ, mà không tiến tu. An cư vậy không đúng tinh thần Phật dạy. Mùa an cư là để tất cả tăng ni đều cố gắng tu hành, thúc liễm thân tâm, trau giồi giới định tuệ. Nên là mùa chư Phật chư Bồ-tát đều tán thán khen ngợi.

Bình thường ni chúng ở tại thiền viện, luôn ở tại nơi này, ít đi đâu là đã an cư rồi. Nhưng, nếu mùa an cư, thể theo tinh thần sách tấn của chư Tổ thì chúng ta càng nỗ lực tu hành nhiều hơn. Ngày xưa tu năm bảy, bây giờ tu mười để tiến lên, mới xứng đáng một mùa an cư, được thêm một tuổi hạ, một tuổi đức hạnh.

Vì vậy, trong mùa an cư mà lại biếng trễ, không chịu tu, dạo nơi này nơi nọ là thiếu sót lớn, không có lợi trên đường tu. Mong tất cả ni chúng, trong mùa an cư năm này, đều nỗ lực tu hành để tu một năm là xứng đáng một năm, tu ba tháng hạ xứng đáng ba tháng hạ, không nên tu cho có chừng, tu cho hết ngày hết tháng, rồi nói “được thêm tuổi hạ, thành người lớn”, thì không đúng tinh thần đạo đức.

Mong tất cả chúng trong mùa an cư năm nay, tinh tấn tu hành được tiến hơn, và đạt được kết quả nhiều hơn những năm trước. Đó là lời nhắc nhở và mong mỏi của tôi.

Ngày 28-04 Canh Thìn (31-05-2000) 

Người xưa hay nói người tu là xả phủ cầu bần, xả thân cầu đạo. Tu sao mà gọi là xả phú cầu bần? Như một người khá giả giàu có, muốn đi tu là phải bỏ sự giàu có của mình, vào trong đạo, nhập Tăng đoàn. Khi vào Tăng đoàn thì lúc đó thành người gì? Là người ăn mày. Khất sĩ là ăn mày, chứ có gì đâu.

Người tu phải luôn nghĩ, mình là ăn mày, mà ăn mày là kẻ nghèo khó, không phải là người ngất ngưởng ở trên chỗ nhiều danh nhiều lợi, lắm tài sản như người thế tục. Tại sao từ một người giàu sang, cạo tóc xuất gia liền trở thành ăn mày? Vì người tu bỏ thế tục vào chùa tu hành vừa để giải thoát cho mình, vừa gieo duyên tốt với mọi người, để sau độ họ. Nên xưa Phật dạy, Tỳ-kheo phải đi khất thực, là vị khất sĩ, tức là kẻ ăn xin. Khi người thí chủ phát tâm, cho mình một bát cơm hay cái gì đó, là họ gieo duyên với mình, còn mình thì mắc nợ họ, thí chủ có duyên, còn mình mắc nợ nên phải trả bằng cách giáo hóa họ, độ họ.

Vậy người tu đi ăn mày, để tạo duyên cho người, để thấy mình có nợ, ai cũng là người chủ nợ mình phải trả, chứ không có quyền khất nợ. Đó là ý nghĩa rất thâm sâu. Vậy, là kẻ nợ thì chuyện gì làm được lợi ích cho người thì mình sẵn sàng làm, nếu chưa đủ sức làm thì phải tạo duyên, cố gắng nỗ lực để đủ sức trả.

Bây giờ, tụi con chưa đi thuyết pháp, giảng đạo được, đó là tụi con chưa trả nợ được, thì tụi con phải cố gắng tu học, một thời gian sau ra làm Phật sự, tức là trả nợ đàn-na thí chủ. Trong thời gian này, là thời gian tụi con phải cố gắng tích tụ đức hạnh, nuôi dưỡng trí tuệ còn non yếu đó cho được sung mãn, để mai kia ra làm Phật sự, tụi con đủ sức để đền đáp ơn của đàn-na tín thí thì mới xứng đáng là người tu. Xả phú cầu bần là như vậy.

Xả thân cầu đạo là sao? Nghĩa là người tu quên thân vì đạo, đặt đạo lên trên, chứ không phải đặt thân mình lên trên. Xưa khi Phật còn làm Bồ-tát, ngài từng vì đạo thí thân cho cọp đói, lấy thân bắc cầu để cứu bầy khỉ, dùng thân làm đèn để cầu pháp… Chư vị tổ sư cũng không khác Phật Bồ-tát, đều phải đi trên con đường này, huống là hàng phàm phu chúng ta.

Như tụi con, đã bỏ tất cả để đến với đạo, thì mọi quyền lợi không đáng bận tâm, nhưng cũng có chút bận tâm là phải làm sao chỗ mình ở tu, càng ngày càng được phồn thịnh, tốt đẹp hơn, để mọi người có chỗ hướng về tu tập. Đó là quên thân để lo cho đạo. Khi tụi con tu học được vững, được cứng chắc rồi thì từ đó về sau mới quên mình để đi hướng dẫn, chỉ dạy mọi người. Đó là vì đạo mà xả thân. Chứ đi ra giảng dạy, hướng dẫn Phật tử tu một lúc, thấy sao mệt quá, chán quá, không muốn làm nữa. Như thế, có quên thân hay còn quý thân? Nhiều khi tụi con cứ nghĩ tu là phải sống dai để làm Phật sự, nhưng cứ cưng dưỡng thân hoài thì sống dai cũng không có lợi ích gì.

Vì vậy, khi vào tu tụi con có hai chặng đường. Thứ nhất, ở trong chúng thì vì huynh đệ, vì chỗ mình ăn ở mà tận lực quên thân để lo chung. Thứ hai, khi hết thời gian ở chung tu học rồi, ra làm Phật sự thì cũng phải quên mình để lo cho đạo, mở mang, giáo hóa.

Như vậy, xả thân cầu đạo là lúc ở trong chúng vì sự tu học mà không màng đến thân. Rồi khi ra làm Phật sự, tức là chặng thứ hai, thì đặt mục đích lợi ích cho chúng sanh, giúp họ hiểu đạo để biết đường tu là trên hết. Vậy thân là công cụ phục vụ cho tất cả, không đáng quý. Được như vậy, ý nghĩa tu hành mới đến nơi đến chốn.

Còn ai tu mà hơi ích kỷ, ở trong chúng cứ làm việc của mình, lo cho mình, những gì được cho mình thì lấy làm trọng, chuyện lo chung lại xem nhẹ. Người này mai kia ra làm Phật sự cũng vậy. Làm việc gì được quyền lợi nhiều thì làm, còn không có quyền lợi, nhọc nhằn thì không làm. Đó là niệm ích kỷ, vì bản ngã, vì thân chứ không có tâm xả thân vì đạo, cầu đạo, nên không tốt.

Như vậy, tất cả tụi con tự kiểm lại, nếu thấy điểm nào nơi mình còn yếu, phần nào còn thiếu thì phải bổ túc. Phải làm cho tròn để xứng đáng là người tu. Người đã nguyện trước Phật, đi tu là để cầu đạt được đạo và đem đạo đó truyền bá cho mọi người, chứ không có niệm ích kỷ, riêng tư. Mong tất cả tụi con nhớ câu: Tu là xả phủ cầu bần, xả thân cầu đạo.

Vậy bây giờ, có người nói Thầy giàu thì sao? Phải giàu không? Nói Thầy giàu, đó là lời nói của người không hiểu đạo, chứ thật ra, Thầy giàu là giàu nợ. Nợ nần nhiều quá, chứ không phải của cải nhiều. Vì Thầy nhận tiền nơi này, nơi nọ để làm Phật sự. Nhận nhiều tức nợ nhiều, chứ không phải nhận nhiều là giàu có. Như vậy, nói đúng nghĩa thì Thầy là người mang nợ nhiều nhất.

Thầy thường nói với tụi con, Thầy là người mang nợ ngập đầu. Vậy nên, bây giờ ở đâu ai đòi, Thầy làm được gì thì ráng làm để trả bớt nợ, dù biết có thể là mất sức khỏe, nhưng không dám từ chối. Vì đó là trách nhiệm trả nợ áo cơm, chứ không phải làm như vậy để có danh, để được lợi. Mà chính vì nợ áo cơm phải trả, hay nói cách khác, nợ đàn-na thí chủ phải đáp đền. Nên nói Thầy giàu nợ chứ không giàu tiền.

Nói cho tụi con biết rõ, để từ đây về sau, phải ý thức được trọng trách của mình tu là vì cầu được đạo. Cho nên phải quên sự nhọc nhằn, quên bệnh hoạn mà cố gắng tu cho đạt kết quả tốt. Khi đạt được kết quả tốt rồi, từ đó về sau, ráng làm sao đem đạo lý mình thấy hay, thấy quý truyền đạt cho người khác hiểu mà tu. Đó mới tròn bổn phận của người xuất gia.

Mong tất cả tụi con đứa nào cũng phải cố gắng, phải thực hiện điều Thầy nhắc nhở.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.