Nội dung:
Hôm nay, trong buổi thỉnh nguyện đầu năm này, thấy toàn chúng không có lỗi gì đáng kể. Như vậy, có thể nói đây là một bước tiến trong sự tu hành, về oai nghi, đức độ và tâm thanh tịnh của chúng. Sau đây, tôi kể lại một câu chuyện trong sử cho quý vị nghe rồi tự gẫm.
Một hôm, Mã Tổ Đạo Nhất đang tại tòa, có thiền khách Pháp Hội đến hỏi:
– Bạch Hòa thượng, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Mã Tổ bảo:
– Nói nhỏ thôi! Đến gần đây ta nói cho nghe.
Ông tăng lại gần, ngài tát cho một cái nói:
– Nơi đông người không tiện bàn bạc. Hãy đi đi, ngày mai trở lại!
Quý vị thử xét sao? Ngài không giảng gì mà tát cho một tát tai.
Đây là một câu chuyện hết sức đơn giản mà rất kỳ đặc. Trong sử thường nói Mã Tổ là một bậc thầy kỳ đặc, có nhiều thủ thuật người ta không lường nổi. Nếu kêu lại để chỉ dạy bình thường thì nghe rồi họ coi thường và quên, nhưng tát một tát tai tóe lửa thì muôn đời không quên.
Đó là thuật đặc biệt, cũng như thuật kéo lỗ mũi ngài Hoài Hải. Ngài Hoài Hải theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời bay qua. Mã Tổ hỏi:
– Đó là cái gì?
– Con vịt trời.
– Bay đi đâu?
– Bay qua rồi.
Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh. Đau quá, Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo:
– Lại nói bay qua đi!
Chỗ mạnh không phải nơi câu nói đó mà ở cái nhéo mũi. Nhéo mũi vậy thì không bao giờ quên.
Bởi vì người tu thiền, khi nghe một câu nói của người xưa thì có thể gẫm ra để hiểu, nhưng hiểu vậy rất dễ quên. Cho nên, các ngài trước không dùng câu nói để diễn đạt mà dùng một thủ thuật đặc biệt, rồi sau đó thêm một câu nói rất nhẹ, vậy mà người học nhớ đời. Đó là chỗ đặc biệt.
Như vậy để thấy, trong nhà thiền, những vị có khả năng kỳ đặc thường nói rất ít. Nhưng người nhận được dù chỉ một lần mà cả đời không quên.
Thí dụ như sư Thủy Lạo đến hỏi Mã Tổ:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Tổ nói:
– Hãy lễ bái đi!
Sư Thủy Lạo vừa cúi lạy, Mã Tổ nhắm ngay ngực Sư cho một đạp té nhào.
Toàn là những thủ thuật quá sức tưởng tượng. Mà chính những điều kỳ đặc đó mới không thể quên.
Trường hợp ngài Lâm Tế cũng vậy. Ngài đến thiền sư Hoàng Bá ba lần thưa hỏi đại ý Phật pháp, ba lần đều bị ăn đòn. Những cái đó chừng nào quên? Đây là những thủ thuật trong nhà Thiền hay dùng.
Sở dĩ ngày nay chúng ta không dùng thủ thuật đó được là vì hoàn cảnh bây giờ khác xưa. Thí dụ như trường hợp tôi, người ta đâu có tin mình sống được hay thấy được chỗ đó. Nếu mình đánh, đạp này kia, họ nổi giận cự lại mình. Vậy là không truyền được gì mà còn sanh oán hờn. Ngày xưa, chư Tổ đều được các bậc thầy ấn chứng cho, nên mỗi lời nói, mỗi hành động đều được mọi người quý, tin tưởng. Nhờ quý và tin, nên người học nhận được rồi thì đời đời không quên.
Do đó, chúng ta phải hiểu, người tu trong mỗi thời có một cách giáo hóa khác nhau. Không thể lấy việc người xưa làm đem áp dụng cho người nay, cũng không thể lấy việc ngày nay để xét trở ngược lại thời xưa. Bởi vậy phải hiểu rõ trong khi ứng dụng.
Ngày nay, trong khi tu tập, chúng ta cần nhớ phải làm sao cho sáu căn đừng dính sáu trần. Mỗi đêm đều sám hối sáu căn, nhắc tới nhắc lui để cho đừng dính mắc. Đó là một việc làm, mới thấy thì như nhẹ, nhưng thật ra là một sự nhắc nhở hằng ngày để mình đừng quên.
Mỗi đêm đều sám hối sáu căn, để chúng ta nhớ do mình thả lỏng sáu căn nên gây tội lỗi, giờ phải ăn năn, phải chừa bỏ, đừng cho dính nữa. Đó là chúng ta tu đúng với tinh thần chư Tổ dạy. Nói như vậy để quý vị hiểu, đừng nghĩ ngày xưa chư Tổ không dạy sám hối sáu căn, mà sao Việt Nam mình lại có.
Mỗi đêm, chúng ta sám hối để nhớ sáu căn là gốc gây ra tội lỗi. Như tôi đọc trong kinh Lăng-nghiêm, ngài A-nan hỏi Phật cái gì là cội gốc của phiền não sanh tử, cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn. Nếu khi đó đức Phật Thích-ca trả lời thì gọn quá rồi, mà không, lúc ấy mười phương chư Phật đồng thanh nói: Sáu căn của ông là cội gốc của phiền não sanh tử, sáu căn của ông cũng là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn.
Tại sao đức Phật Thích-ca không nói, mà để mười phương chư Phật đồng thanh nói? Đó là một cái thuật để cho thấy, việc này không phải chỉ riêng một đức Phật nói, mà mười phương chư Phật đều nói như vậy, để cho mình đủ lòng tin.
Trong kinh, chư Phật đồng giảng dạy để mình đủ lòng tin. Còn các thiền sư thì đập một cái tóe lửa, hoặc tát tai đau điếng, hay nói một câu cho mình nhớ đời đời, không bao giờ quên chỗ nhận được. Tới Việt Nam, ngài Trần Thái Tông thấm nhuần được lý đó, nên soạn ra Sám Hối Sáu Căn để mỗi đêm mình đọc hoài, đọc mãi cho nhớ.
Như vậy, mỗi thời mỗi khác, thời đức Phật truyền khác, thời chư Tổ truyền khác, rồi tới thời mình cũng hơi khác một chút. Người không biết thì thấy như sai khác, xưa nay không giống nhau, nhưng thật ra trọng tâm giáo hóa đều là một, chẳng phải hai. Hiểu vậy, mới thấy đường lối tu của chư Phật chư tổ và của chúng ta ngày nay không có gì khác.
Đó là tôi nhắc cho quý vị nhớ, chỗ chân thật mà chư Phật dạy và những thuật hay của người xưa, không khác với những gì hiện giờ chúng ta đang ứng dụng.
Hôm nay, trong chúng đa số được thanh tịnh, chỉ có một ít vị còn một hai điểm sơ sót nên đã sám hối, đó là điều rất tốt. Tôi thấy chúng ở đây có phần khuyết là ít có ai chỉ lỗi. Nếu mỗi lần thỉnh nguyện, người có lỗi thì tự thấy, còn người có lỗi mà không biết hoặc quên, được chúng chỉ giùm cho thì tốt hơn. Như vậy, đại chúng luôn có tâm nhắc nhở huynh đệ có lỗi biết sám hối để ngày càng tốt hơn. Nhắc nhở đó không phải có tâm nói xấu, mà vì muốn tốt cho huynh đệ và cũng để tập thể luôn được thanh tịnh.
Bây giờ, tôi có ít lời nhắc nhở chúng. Qua mấy tháng đầu năm này, tôi đi đây đi kia hơi nhiều, nên thấy một điều là quần chúng Phật tử càng ngày càng phát tâm hướng về các thiền viện và muốn tìm hiểu thiền. Mỗi tháng đều thấy tăng trưởng, đông thêm, đó là điều đáng mừng. Ngày xưa, khi nói tới thiền, các thầy các cô trụ trì đều lắc đầu, bảo tu thiền điên. Bây giờ, các thầy các cô nhiều nơi đều muốn mời về giảng nói về thiền. Đó là một bước tiến, quá sức trông chờ của tôi, nên lớn tuổi công việc lại nhiều.
Tôi không phải là người muốn làm cho có danh, nhưng vì tâm nguyện của tôi là khôi phục Thiền tông Việt Nam. Tại sao lại khôi phục? Vì Thiền tông đã mất dấu hơn cả trăm năm, từ khi Phật giáo Việt Nam chỉ biết tu Tịnh độ, không biết thiền là gì, đến nay gần cả trăm năm, nên nói tới thiền không ai biết. Bây giờ chúng ta có bổn phận khôi phục Thiền tông để tất cả Phật tử biết tu, đó là chuyện rất khó.
Nói mất dấu, không phải vì thiền không có hay có rồi mất. Mất là vì bị lãng quên. Sự thật thì thiền lúc nào cũng hiện tiền, nhưng mọi người quên lãng, nên dường như mất. Đến ngày nay, mình nguyện khôi phục lại, dù cho nhọc nhằn, mệt mỏi mấy cũng phải cố gắng. Như cái nhà đã sập, bây giờ muốn dựng lại, dĩ nhiên mình phải nỗ lực, tận tình xây dựng ngôi nhà đó cho được lành lặn, tốt đẹp. Thiền tông Việt Nam cũng vậy, đã tồn tại trên ngàn năm, và bị mất khoảng trăm năm. Do đó mọi người ít ai biết. Ngày nay khôi phục lại thì có vẻ như mới, chứ không như đã có trước đây.
Từ năm 1970 đến năm này, đã hơn hai mươi năm tôi gầy dựng, được nhiều người biết. Bây giờ nhiều người tu, nhiều người tin tưởng. Đó là việc rất hy hữu. Sức tôi ngày càng mòn yếu mà công việc mỗi ngày mỗi mở rộng, lòng tin mến mộ của tăng ni Phật tử ngày càng đông, nên sức một mình tôi không đủ để đảm đang trách nhiệm. Mong rằng tất cả chư tăng ở đây, tu học, hiểu và ứng dụng được trong cuộc sống thì sự tu hành sẽ có đắc lực, có kết quả. Mai kia khi mệt, tôi nghỉ, quý vị là người thay thế tôi làm những việc đang dở dang đó. Việc dở dang này rộng lớn, cho nên tất cả chư tăng phải góp sức gom lực làm, chứ không phải cá nhân một hai người làm được.
Năm nay, tôi giảng thêm ở chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang. Mỗi tháng tới chùa giảng, Phật tử đến nghe đông đảo, vậy mới thấy lòng hâm mộ của Phật tử khá lớn. Có thể năm tới, hoặc thời gian nào đó sẽ giảng thêm ở Thủ Đức. Bây giờ là chùa Huỳnh Võ, sau này là thiền viện Tuệ Quang. Như vậy, công tác của tôi sẽ tăng lên thêm nữa.
Hôm kia, giảng xong, còn hơi sớm, tôi chạy lên Vạn Hạnh, cốt là thăm Hòa thượng Minh Châu, nhưng Hòa thượng đi về Huế nên tôi không gặp mà gặp quý thầy khác. Quý thầy trong văn phòng nhắc, năm tới là phiên tôi giảng dạy Thiền học Việt Nam, tôi chịu trách nhiệm môn đó, yêu cầu tôi chuẩn bị. Trường bây giờ gọi là “Viện Phật học Việt Nam”. Chương trình Đại học Phật giáo năm thứ ba, thứ tư, có học môn Thiền học Việt Nam. Cuối năm nay, họ đã học hết năm thứ hai. Quý vị thấy việc của tôi cứ tăng hoài, không có giảm.
Thiền học Việt Nam, ngoài tôi ra, không có Thầy nào nghiên cứu, nên phần trách nhiệm đó, tôi tránh cũng không được. Hơn nữa, học viên ở trường Phật học Việt Nam mà không biết về Thiền học Việt Nam là một khuyết điểm rất lớn, không thể chấp nhận được. Trách nhiệm không cho phép tôi từ chối mà phải dạy.
Quý vị nghĩ xem, tôi phải thêm bao nhiêu giờ nữa để làm việc đó. Để thấy rằng công việc càng ngày càng tăng, mà sức thì càng ngày càng giảm, rõ ràng như vậy. Quý vị thấy nên buồn hay nên vui? Nói khôi phục mà nhiều người hưởng ứng thì khôi phục mới thành. Nếu không ai hưởng ứng thì bị quên lãng luôn. Như vậy, được hưởng ứng thì vui mà sức của tôi thì giảm. Bây giờ sao? Không lẽ buông xuôi luôn. Sức tôi càng ngày càng giảm tôi không buồn, chỉ buồn là trong tình trạng như vậy mà chư tăng ở đây không ai có khả năng tiến lên, thay thế tôi. Nếu có năm bảy người có khả năng thế tôi thì càng vui hơn. Đó là tôi nói hiện tại.
Những năm về trước, có một hai thầy ở Cần Thơ nói không chấp nhận thiền, mà năm nay mời tôi về giảng thiền. Trước kia người ta không chấp nhận nên chống đối, bây giờ lại mời mình đến, đó là điều rất tốt. Việc làm của tôi đã thấy có kết quả thật sự, không nghi ngờ nữa.
Đó là tôi nói về phần tốt. Bây giờ, có một phần tôi đang lo. Như lời của ngài Trần Tôn Túc, tức là ngài Đạo Minh nói “Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.” Lời dạy này phân ra hai chặng đường. Khi bước chân vào đạo tu hành mà còn mù mịt, đường lối tu chưa nắm vững là điều đáng buồn, đáng lo. Phải đem hết tâm tư, nghị lực làm sao đạt được, thấy được đạo lý mà mình đang còn mù mờ, chưa sáng tỏ. Như vậy gọi là việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ. Đám ma mẹ, mình không còn nghĩ gì khác hơn là thương nhớ mẹ, làm lễ tống tiễn. Ở đây cũng vậy, mình tu chỉ làm sao đạt đạo, không có bận tâm gì khác. Nên dồn hết nghị lực, hết tâm tư tu hành, chứ đừng lôi thôi, đừng bị ngoại duyên chi phối, như vậy mới có ngày sáng được đạo. Đó là chặng đường thứ nhất.
Chặng thứ hai là khi sáng được đạo rồi, tức là đốn ngộ rồi, thì phải tiệm tu. Bởi vì tập khí, nghiệp lực quá khứ còn quá nhiều, cần phải gột rửa. Có những người tu cũng còn nhiều tập khí xấu, nên khi tu thấy có tiến mà thỉnh thoảng cũng có một ít tập khí nổi dậy, lộ ra. Tuy không nói ra nhưng tôi buồn. Tôi nghĩ rằng còn tập khí như vậy mà ra giảng đạo thì thật là một cái chướng. Nhiều tập khí sẽ nảy sanh nhiều chướng khi đi làm Phật sự. Tại sao? Thí dụ, người đó được mọi người tin tưởng là thấy đạo. Người ta ngỡ thấy đạo là được sạch, được tốt hết, nhưng lâu lâu lại lộ ra vài tật chưa thật tốt, nên họ mất lòng tin.
Vì vậy, khi mình sáng đạo rồi, phải dồn hết tâm lực để tiêu trừ tập khí, đừng để tập khí tiếp tục dấy khởi nữa. Được vậy, người ta thấy hạnh mình, nghe mình giảng, học với mình, lòng tin không thối chuyển. Nếu không được vậy, để cho tập khí nổi dậy, người học thấy nghe được, đâm ra thối tâm Bồ-đề.
Tôi nhìn thấy trong giới tu sĩ, tập khí khá nhiều, người còn tật này, kẻ còn tật kia nên sống trong chúng không được hòa. Mỗi người có cách nhìn trên từng khía cạnh khác nhau, nhiều khi mình thấy người này tốt, nhưng người khác ở trên khía cạnh của họ, họ thấy xấu. Chỉ như vậy, cũng đã xảy ra những điều không hay, chưa được như ý.
Tôi mong rằng trong chúng đã hiểu rõ. Người quyết tâm tu, nếu chưa sáng đạo thì dồn hết tâm lực, nghị lực để tu cho sáng đạo. Còn nếu đã sáng đạo thì dồn hết tâm lực, nghị lực để diệt hết tập khí. Như vậy trên đường tu, trên đường hoằng pháp lợi sanh mới được vững, được kết quả như ý, chứ không thì khó.
Tôi kể thêm cho quý vị nghe một trường hợp hơi lạ lùng. Như vừa rồi ở tại Thường Chiếu, tôi đang nói chuyện với một số Phật tử, có một cô đi với một người nữa, có lẽ cô đó ở ngoại quốc, người kia đứng ở ngoài, giới thiệu tôi với cô đó. Bất thần cô đó đi thẳng vô, dùng hai tay vuốt mặt tôi mà khóc sướt mướt. Bạch Mai đang đứng chụp hình, lấy làm lạ, kéo cô kia ra hỏi: “Làm gì vậy? Làm gì vậy?”
Thấy thật lạ kỳ! Khi mình tu có những cái cảm gì lạ lắm, khiến họ nhìn thấy thương. Cô đó khoảng ngoài bốn mươi tuổi, ăn mặc cũng sang trọng, dáng dấp như người ở nước ngoài. Nhìn thấy tôi, cô khóc quá chừng, mấy người lôi ra mà vẫn cứ khóc. Sau đó, họ ra về hồi nào không hay, cũng không nói tên, nói họ là gì.
Có những chuyện xảy ra rất lạ, mình không thể ngờ trước được, nên nhắc chúng cẩn thận khi ra làm Phật sự. Nhiều khi tâm người ta đối với đạo, với mình, ban đầu là tốt, thân cận lâu dần rồi biến thành xấu, do vậy cần nên dè dặt. Tôi đã bảy mươi sáu tuổi rồi nên những chuyện đó không dính gì với tôi, nhưng tôi rất lo cho mấy người trẻ đây, khi ra làm Phật sự, họ thương kiểu đó thì khó giữ được.
Bởi vậy, tôi nhắc để trong chúng dè dặt, đừng ỷ mình thấy được chút ít đạo lý, rồi để ai làm gì cũng được. Có lúc mất nghị lực, trở thành hỏng việc. Tôi thấy thực tế như vậy, nói lại cho chúng nghe để biết mà tránh.
Hôm nay thỉnh nguyện, toàn chúng đều được không lỗi và cũng không có ai chỉ lỗi. Như vậy, mọi người tương đối được thanh tịnh, là rất tốt. Tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng.
Tất cả chúng ta đi xuất gia đều do mình phát tâm mạnh mẽ, tự nguyện xin cạo tóc, thọ giới tu hành, chứ không phải cha mẹ ép buộc, cũng không phải mọi người chung quanh ép buộc đi tu. Toàn chúng nhớ lại, buổi đầu đi tu, tâm rất hùng dũng, tu một thời gian rồi yếu từ từ. Người xưa nói: “Nhất niên Phật tại tiền, tam niên Phật thăng thiên.” Nghĩa là năm đầu Phật ở trước mắt, qua năm thứ hai, thứ ba Phật lên trời, xa lắc rồi. Vậy để thấy tâm con người dễ quên, dễ thay đổi. Hôm nay tôi nhắc, mình không đi tu thì thôi, đã phát nguyện tu hành thì phải làm sao trọn đời mình đối với chánh pháp, đối với bản thân, phải nếm được phần nào hương vị của đạo hoặc mở sáng được phần nào con mắt trí tuệ, vậy đời tu mới không uổng phí. Nếu không thì đời tu không được lợi ích bao nhiêu.
Người tu phải có đủ hai phần, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha. Nếu không có phần tự giác thì làm sao giác ngộ cho người, không tự lợi thì làm sao làm lợi ích cho người. Nên biết bổn phận người xuất gia hết sức nặng nề. Phải cố gắng, làm sao đời tu càng ngày các phiền não tiêu mòn, trí tuệ càng sáng, lần lần được an lạc, để tự lợi đầy đủ. Như vậy là có phần tự giác, từ tự giác đó mới giác tha được. Không bao giờ người mù có thể dẫn người sáng hay dẫn người mù khác đi được. Người mù là tự mình đã khổ, nếu dẫn người khác, vô tình cả hai đều rơi xuống hố. Cho nên trên đường tu, đòi hỏi chúng ta phải mở sáng con mắt trí tuệ, thì tự mình giải thoát và cũng đủ khả năng dẫn dắt người khác thoát khổ. Muốn được vậy, phải cố gắng tu, cố gắng thực hành để tự tâm thanh tịnh, trí tuệ phát sáng, con đường tự lợi lợi tha được đầy đủ ý nghĩa.
Mở sáng con mắt trí tuệ rồi thì các thứ phiền não, điên đảo tiêu mòn theo. Nếu mắt trí tuệ không mở sáng thì tất cả phiền não khó dẹp bỏ được. Thế nên, tất cả chư tăng phát tâm đến đây tu phải cố gắng. Không gì quý bằng chúng ta tìm được chỗ nương tựa cho cuộc đời mình và hướng dẫn người khác tiến tới chỗ đó. Chỗ nương tựa chính là mình, chứ không ở đâu khác, vì quên mình, nên chạy đông chạy tây. Nhiều khi gặp người chỉ không đúng đường, đi sai lối uổng phí một đời.
Nên phải hiểu rõ để xoay lại tự giác, tức là xoay lại tìm ra con người chân thật của chính mình, nương nơi đó phát triển, nương nơi đó hướng dẫn người khác tu, mới xứng công, mới có lợi ích. Chứ đừng ngồi đây tu mà nghĩ những chuyện thế gian bên ngoài. Dù mình có một chút địa vị ở xã hội, hoặc có một chức vị ở trong đạo, những thứ đó cũng không thể cứu mình, mà chính tìm ra được mình, mới có thể cứu được mình.
Mong rằng tất cả chư tăng đã thành tâm phát nguyện đi tu, cầu thoát ly sanh tử thì quý vị phải luôn nhớ bản nguyện, ý chí buổi ban đầu của mình, đừng lơ là, đừng quên mất. Nhiều khi tu càng lâu mà tâm lại càng lui sụt. Đó là điều đáng tiếc. Vì vậy mong tất cả đều nhớ và cố gắng. Lúc nào chúng ta cũng luôn luôn tinh tấn, không để tâm giải đãi chi phối, rồi uổng đi một cuộc đời. Đó là lời nhắc nhở của tôi hôm nay.
Có những vị có lỗi, biết nhận lỗi để ra sám hối hoặc những vị có lỗi không biết, nhờ đại chúng chỉ cho, để sám hối cho được thanh tịnh. Hôm nay vì công chuyện nhiều, nên tôi không nói giáo lý mà chỉ sắp đặt công việc thôi.
– Sắp đặt chỗ ở cho quý thầy.
– Sắp đặt lễ xuất gia.
– Lễ quy y.
– Lễ an cư.
– Xin may áo tràng cho Phật tử mượn lễ Phật.
Sau đây, tôi có ít lời nhắc nhở. Tôi chỉ nhắc lại một điều trong Lục hòa để toàn chúng nhớ kỹ, nhớ sâu để ứng dụng. Hòa mà tôi thấy khó nhất là hòa thứ ba. Tức là ý hòa đồng duyệt, là ý hòa hợp đồng vui với nhau.
Tại sao tôi nói khó? Vì trong chúng mỗi người ở mỗi nơi, cha mẹ, gia đình, xã hội mỗi khác. Hẳn nhiên người nào cũng có những ý niệm riêng tư được huân tập từ trước, ngày nay lại cùng đến đây sống chung tu hành, nên muốn tập thể được tốt đẹp, vui vẻ, thanh tịnh thì chúng ta phải hòa với nhau. Muốn hòa với nhau thì không gì khác hơn là phải xả bỏ cái riêng tư.
Tôi nhắc lại chuyện thời đức Phật. Khi đức Phật gặp những vị Tỳ-kheo ở Câu Thâm hằng ưa tranh tụng, phạm các hạnh ác, đối mặt cãi cọ, chống đối nhau mà Phật khuyên dạy không được, ngài bỏ đi đến nước Bạt-kỳ. Đến một khu vườn có ba vị Tỳ-kheo là ngài A-na-luật, Nan-đề và ngài Kim-tỳ-la.
Ba huynh đệ ở chung trong một cái thất. Những vị này sống chung, cùng ước định khi đi khất thực, người nào ở lại sau phải quét dọn cho sạch. Đi khất thực về chia thức ăn, tự lấy đủ phần mình, có dư thì để vào một cái bình, người khất thực về sau cùng, đủ thức ăn thì tốt, không đủ thì lấy thức ăn trong bình ra ăn. Nước trong bình hết, ai thấy thì tự đi xách, đặt vào một nơi. Mỗi ngày tự quét dọn phòng nhà. Rồi ở nơi vắng vẻ chánh thân chánh ý tu hành tư duy diệu pháp, mỗi người giữ yên lặng, không nói chuyện với nhau.
Nếu tôn giả A-na-luật tư duy về tưởng bất tịnh, niệm an vui trụ Sơ thiền cho đến Diệt tận định thì tôn giả Nan-đề, tôn giả Kim-tỳ-la biết tâm niệm tôn giả A-na-luật cũng tư duy như vậy.
Đức Phật đến thăm, được biết các tôn giả sống hòa hợp, tu hành an vui và được pháp thượng nhân như vậy, ngài rất hoan hỷ và ngợi khen.
Có một pháp vượt hơn pháp thượng nhân mà tôn giả A-na-luật nói chính là đem tâm từ, bi, hỷ, xả rải đầy khắp mười phương, như vậy mà du ký.
Chúng ta cũng vậy, muốn được hòa vui thì phải có tâm từ bi, có lòng hỷ xả. Xả bỏ những ý niệm riêng tư khác biệt, để tùy duyên sống hòa vui với huynh đệ, hòa hợp với tinh thần đường lối chung của thiền viện, cùng tu cùng học. Mỗi người đều xả cái riêng để hòa hợp với nhau, nhờ đó mà hòa thuận vui vẻ.
Xả niệm riêng tư thì tâm gần với đạo, dễ được thấm nhuần và sự tu hành sẽ có kết quả tốt đẹp. Nếu cứ cố chấp khư khư theo suy nghĩ, suy luận của mình, không chịu bỏ, thì sớm muộn cũng phải rời chúng. Vì tư niệm đó thúc đẩy, không cho sống trong tập thể và khó thực hiện theo một đường lối tu chung được.
Tôi không muốn nói nhiều, chỉ nhắc lại cho toàn chúng nhớ rằng, trong đời tu, nếu muốn có kết quả tốt, phải bỏ ý niệm riêng tư. Bởi ý niệm riêng tư là không thật, tạm bợ, do huân tập riêng mà có. Nó không phải là chân lý, vì vậy đừng cố chấp, người nào cố chấp thì thành bệnh. Mà thành bệnh rồi thì tu không tiến.
Toàn chúng cố gắng thực hành cho được ý hòa đồng duyệt, để huynh đệ sống chung lúc nào cũng vui tươi, hòa thuận, tu hành tinh tiến, không uổng cơm đàn- na tín thí chăm lo cúng dường. Nếu nuôi dưỡng những tâm niệm riêng tư, làm trở ngại sự tu hành, làm rối loạn trong chúng thì tự mình mang tội, tổn đức, không lợi ích trong đạo. Vậy mong mỏi tất cả đều cố gắng thực hiện cho được.
Tôi nhắc thêm, trưởng liêu phải có trách nhiệm theo dõi sự sinh hoạt của huynh đệ. Người làm trái Nội quy, người phạm giới luật, người làm chúng phiền hà thì trưởng liêu phải biết. Tự mình răn nhắc riêng hoặc trình với Quản chúng để khuyên, chứ không nên để cho mỗi người muốn làm gì mặc tình làm.
Tôi bận công việc đa đoan, ít dịp gần với chúng. Ở dưới Quản chúng mắc lo dạy, lo giảng cũng không theo sát với chúng. Chỉ có trưởng liêu là đi sát với chúng hơn hết, nên phải ráng theo dõi, nhắc nhở cho trong chúng sống đúng Nội quy của thiền viện. Đó là phẩm cách đẹp, nên đừng ngại, đừng sợ huynh đệ buồn, phải tận tình làm đúng bổn phận của mình.
Thỉnh nguyện hôm nay, trong chúng tu hành đa số có giới đức thanh tịnh, nên ít có lỗi, điều đó tôi rất mừng. Kế đây tôi sẽ có ít lời nhắc nhở.
Gần đây, tôi thấy trong chúng có một vài vị mặc cảm, thấy mình từ đạo khác hoặc từ môn phái khác đến đây tu…, rồi mặc cảm huynh đệ nhìn mình có vẻ khác lạ. Vì vậy, hôm nay tôi nhắc cho tất cả hiểu. Hồi đức Phật còn tại thế, những vị có công lớn như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cũng từ đạo khác đến tu với Phật. Sau khi các ngài lãnh hội đạo lý, tu hành có kết quả, đều là những vị đứng ra truyền bá chánh pháp một cách mãnh liệt. Nên gọi hai ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là hai vị đại tướng quân trong Phật pháp. Như vậy, ở trong đạo, nhất là ở thiền viện, không có tính kỳ thị tôn giáo này, tôn giáo kia, hoặc hệ phái này, hệ phái nọ.
Tôi chủ trương tất cả mọi người đến đây, tôi nhận cho ở tu thì người đó là người tốt, là người đồng tâm, hiệp lực cố gắng tu hành, cố gắng xây dựng ngôi nhà Phật pháp cho được tốt đẹp, chứ không có người nào đến đây để chơi, nên không có ai được tỏ vẻ khinh thị nhau hay làm khó dễ nhau. Huynh đệ trong chúng đừng mang mặc cảm gì hết. Nếu có mặc cảm chăng là khi thấy huynh đệ tu tiến mà mình không tiến, đó mới là việc đáng buồn, mình cần cố gắng hơn. Chứ đừng phân biệt phái này phái kia, rồi sanh ra có mặc cảm thì không tốt. Vì ở đây, chúng ta sống bình đẳng với nhau, mọi người đều có quyền như nhau, đều lãnh hội Phật pháp và tu hành như nhau, không dành riêng người này ưu, người kia liệt.
Toàn chúng phải hoan hỷ, phải vui vẻ với nhau, đừng có ý niệm mình bị huynh đệ khinh bỉ, bị huynh đệ theo dõi… Ý niệm đó là do mình mặc cảm không tốt, chứ chắc không có chuyện đó xảy ra. Tôi cũng không bằng lòng người nào đó có niệm riêng tư hoặc kỳ thị người khác. Ngày xưa, tôi cũng từ đạo khác đến với đạo Phật. Tôi trước theo đạo Cao Đài, được nhập môn hồi lúc bảy tuổi, mà khi tôi về với đạo Phật, đâu có bị kỳ thị.
Dầu trước theo bất cứ đạo nào đi nữa, nay thấy đạo Phật hay, mình tu theo đạo Phật, chứ đâu có mang tôn giáo mình vào đây mà bị phân biệt đối xử. Quý vị nên hiểu, tất cả chúng ta tu, do lãnh hội được giáo lý Phật cao siêu, mình thích, nên cố gắng ứng dụng, để có được những bước tiến trên đường tu. Đó mới là giá trị thật.
Vị nào có ý niệm kỳ thị là chưa hiểu đạo. Bởi vậy, trong chúng phải vui vẻ hoan hỷ với nhau, đừng ngờ vực, cũng đừng nghi người này xấu, người kia xấu. Tất cả mọi người ở đây đều lo tu, chứ không vị nào tới đây để dòm ngó người khác. Chẳng qua là có những sự việc mình làm trái với Nội quy, luật lệ, người khác nhìn thấy nhắc nhở để xây dựng. Nếu mình không làm trái luật lệ trong đạo thì đâu có ai nhắc nhở làm gì. Mọi người ở đây đều sẵn sàng nâng đỡ để mình tu hành cho có kết quả tốt. Nên quý vị phải hiểu, đừng nghĩ lầm, rồi từ hiểu lầm sanh ra mặc cảm, từ mặc cảm rồi thối chí, tu hành không tiến. Tôi nhắc lại, khi tôn giáo bạn hoặc người từ các tông phái khác đến đây, chúng ta phải coi như một, chứ không có gì dị biệt.
Kế nữa, hình như chúng hơi xem thường những của cải, đồ đạc của Tam bảo. Vì ở đây tất cả của cải sắm ra, không phải từ đồng tiền mình khó khăn vất vả làm ra, mà toàn là của Phật tử đóng góp, giúp mình mua sắm. Như vậy, tuy nói mình mua sắm nhưng đó là tiền của Phật tử chứ không phải của mình. Nói chung là của Tam bảo chứ không phải của riêng ai. Tôi nghe nói, mấy huynh đệ có khi làm bể đồ, rồi cười xòa với nhau. Đó là việc làm tổn phước. Bởi lâu nay ở trong nhà chùa, một tu sĩ làm bể món đồ gì, phần nhiều phải đi xin tiền mua đền của Tam bảo, chứ không phải đùa.
Xưa nay quy luật trong cửa thiền rất khít khao, nghĩa là không cho phí phạm của Tam bảo. Ai làm hư, làm bể đồ của Tam bảo phải về nhà xin tiền hoặc xin thí chủ mua trả lại cho chùa, cho Tam bảo. Ngày nay, chúng ta sống ở đây, tôi rất cởi mở, lỡ làm hư bể rồi thì thôi, không có bắt đền bắt phạt, vì vô tình sảy tay làm bể, chứ không phải ý muốn của mình. Nên đã lỡ sảy tay làm bể một món đồ, nên có lòng hối hận, hổ thẹn, lo sợ, chứ không nên cười rộ lên. Cùng nhau cười rộ là thái độ bất lịch sự, không biết tôn trọng, quý tiếc của Tam bảo.
Khi nghe những điều đó tôi rất bất bình, nếu một vị tăng ở đây làm bể cái tô, cái chén rồi cười ngất với nhau, đó là coi việc làm bể là một trò vui. Đó là có tâm phá hoại của chung, không tốt. Vì vậy, yêu cầu trong chúng, ai có thái độ đó thì sửa, đừng nên làm như vậy. Thí chủ cúng dường cho tăng ni, đa phần là do họ nhịn ăn nhín mặc. Nếu quý vị không bỏ thói xấu đó, hôm nào Phật tử thấy như vậy, chắc chắn họ sẽ nói những lời không hay với mình. Vì mình là người nhận của thí chủ để mua sắm cho Tam bảo, mà mình hủy hoại như vậy thì Phật tử sẽ chán, không muốn đến với chùa nữa.
Những chuyện thấy tuy nhỏ mà thái độ mình không khéo sẽ thành việc lớn. Mong tất cả chúng tăng ý thức được sự sơ suất hay sơ sảy của mình mà tỏ lòng hối tiếc, chứ không được vui vẻ như vậy.
Hôm nay có nhiều việc, tôi nhắc nhở trong toàn chúng. Vì từ trước đến giờ, ở đây cũng như ở các nơi khác, như các Phật học viện, thiền viện… tôi đã thấy rõ tăng ni ở đông thì lúc nào cũng có mầm chia rẽ. Do đông đảo nên có sự chia rẽ, điều này khó tránh khỏi. Nhưng tôi buồn, tôi nghĩ rằng người tu là người mẫu mực cho dân chúng nói chung, cho Phật tử nói riêng. Mà chính người tu lại không hòa thuận, sống với nhau không vui vẻ, cùng chung lo với nhau, thì thật không xứng đáng là Tăng.
Nếu ở thiền viện mình mà còn theo lối cũ đó thì đáng buồn cho Phật pháp. Nên trong Thanh quy, tôi đặt Lục hòa là điều thiết yếu, Lục hòa ngang bằng với giới luật. Bởi vì Tăng nguyên gốc là Samgha, đọc trại là Tăng-già nghĩa là chúng hòa hợp, là một tập thể sống đoàn tụ, hòa hợp nhau để tinh tấn tu hành. Nếu đoàn tụ đông đảo mà không hòa hợp thì chưa phải là Tăng. Bởi vậy, người tu chúng ta, phải khéo xả những niệm riêng tư của mình để hòa đồng với huynh đệ, đừng bao giờ cố thủ ý kiến riêng. Giữ chặt ý kiến riêng, khiến cho người khác không thể nào hòa hợp với mình, như vậy là mình tự tách rời chúng, tự mình làm cho mình khổ.
Nên sống trong tập thể, lúc nào cũng lấy hòa hợp làm trên. Chúng ta tu là cốt để giải thoát sanh tử, không phải tu để trầm luân sanh tử. Muốn giải thoát thì ở trong tập thể phải luôn luôn hòa vui với nhau, không phiền không giận thì sự tu hành mới tiến, không trở ngại. Tu mà người này phiền người kia, giận qua giận lại, cứ vậy hoài thì không bao giờ tu tiến được. Ngồi lại cứ nhớ chuyện hơn thua, buồn giận, không thể điều phục được nội tâm của mình là một cái chướng.
Chúng ta quyết tâm tu, phải tập xả hết những ý niệm tư riêng. Ý niệm đó mình cho là hay, nhưng toàn chúng không chấp nhận, mình cũng phải xả nó để hòa vui với chúng, như vậy tu mới có thể tiến được. Làm sao tất cả chư tăng ở đây, trong nội viện, ngoại viện gặp nhau người nào cũng tươi cười vui vẻ, không một điều hiềm khích. Vậy sự tu hành mới có giá trị.
Nếu mỗi người cố chấp một phạm vi riêng, cố giữ ý niệm riêng, bên này không vui bên kia, bên kia không hòa bên nọ, đó là cái cớ để tan rã, cũng là cớ để chư tăng tu hành càng ngày càng lui sụt. Tôi mong rằng tất cả chư tăng ở đây đặt Lục hòa trên hết, chẳng những hòa ở thân, hòa ở lời nói, mà hòa cả nội tâm nữa. Vậy đừng nên có những tâm ý tư riêng, rồi mỗi người đều nhìn nhau với ánh mắt không tốt, không tin tưởng, thì sẽ khiến cho thiền viện trở thành tan hoại trong lòng của mỗi người rồi.
Trong kinh Trung A-hàm nói nguyên do Phật dạy sáu hòa kính. Sa-di Châu-na kiết hạ tại xứ Ba-hòa. Tại đây có vị Ni-kiền tên Thân Tử qua đời. Ông qua đời không bao lâu, các đệ tử chia rẽ và phá hoại nhau. Họ tranh luận, đấu tranh, kiện tụng, thù nghịch nhau. Họ kiêu mạn và thách đố lẫn nhau, ai cũng mong mình hơn, nên các đệ tử tục gia của họ chán nản, lánh xa. Sau mùa an cư, Sa-di Châu-na đến xứ Bạt-kỳ, thôn Xá-di bái kiến Phật. Đến nơi, ngài Châu-na gặp tôn giả A-nan, trình bày sự việc đó. Ngài cùng tôn giả đến chỗ Phật, đem tất cả sự việc đó, trình bày lại cho đức Thế Tôn, để có thể nhân đó mà được nghe pháp khác nữa từ ngài. Nhân đó, Phật nói rõ sự nguy hại của người bị kiết sử phẫn và hận quấn chặt nên không cung kính Tôn sư, không thấy được pháp, không giữ gìn giới luật, ở trong chúng gây sự đấu tranh, gây khổ, tai hoạ cho bản thân và mọi người không được an ổn.
Phật bảo ngài A-nan, trong trường hợp thấy sự đấu tranh như vậy, ở bên trong hay bên ngoài, không thể chấm dứt hết được; vì để chấm dứt sự đấu tranh đó, phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện học tập tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kiên nhẫn, đừng để thối chuyển. Giống như người bị lửa đốt cháy đầu, cháy áo thì phải cấp tốc tìm cách dập lửa. Phật chỉ dạy bảy phương pháp diệt trừ sự đấu tranh. Cuối cùng, Phật nói Sáu pháp hòa kính mà trong kinh gọi là Sáu pháp ủy lạo. Đức Thế Tôn dặn dò: “Này A-nan, như vậy sau khi ta diệt độ, các thầy sống cộng đồng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng đồng nhất trong một tâm, cùng đồng nhất trong một giáo pháp, hòa hợp như nước với sữa, an lạc du hành như lúc ta còn tại thế.”
Mới thấy Lục hòa quan trọng như thế nào. Tăng chúng phải đồng tâm tu hành, đồng tâm học giáo pháp, thương kính, hòa hợp như sữa hòa tan trong nước thì dù cách Phật rất xa, nhưng cũng giống như đang sống thời Phật. Trong chúng phải ý thức được rằng, chúng ta sống không tranh chấp, luôn hòa hợp, vui vẻ thì đạo đức sẽ tăng trưởng. Đó là nền tảng tu hành. Nếu chúng ta sống thiếu hòa hợp thì cuộc sống thành ra nhiều phiền não, nhiều chống đối. Từ phiền não, chống đối gây ra rối loạn, rồi từng người dễ tự rời khỏi tập thể đi nơi khác.
Mong tất cả chư tăng có mặt ở đây phải cố gắng sống hòa hợp vui vẻ. Nhờ hòa hợp mới vui, nhờ vui mới tu tiến. Tu mà phiền não không bao giờ tiến. Mong chư tăng cố gắng thực hiện điều đó. Đó là lời nhắc nhở của tôi hôm nay.
Hôm nay, tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Gần đây, tôi nghe lời bên ngoài phê bình rằng, những người tu ở thiền viện có tính cách tiêu cực. Quý vị xét thấy có phải không? Chắc phải, vì mình không hoạt động xã hội rộng lớn, mà chỉ ở tại chỗ lo tu thôi.
Với kinh nghiệm bản thân tôi và kinh nghiệm qua bao nhiêu năm sống trong đạo, tôi thường than: Chúng ta ít phước nên sanh vào thời mạt pháp, nên thiếu duyên lành, ít gặp điều kiện tốt để tu hành. Khi phát tâm tu thì tâm rất mạnh mẽ, đầy nhiệt huyết, khi vào đạo rồi lại không được thuận duyên, tu không được tốt. Lâu ngày gần như thối chí hoặc tu mà không đúng với sở nguyện lúc ban đầu.
Nên tôi lúc nào cũng nghĩ đến việc tạo duyên tốt cho tăng ni tu. Như vậy, người nào quyết tâm tu hành thì có thể tu tiến được, có thể vươn lên được, không thối chuyển. Vì hoài bão đó mà bao nhiêu năm tôi thao thức. Đến nay, tôi cố gắng thực hiện việc tạo duyên tốt cho tăng ni tu tại thiền viện. Cái duyên này tránh được hai thái độ cực đoan.
Cực đoan thứ nhất là có một số người quá ham tu, nên lên non núi, vô trong hang sâu ngồi tu mà không học hành. Có nhiệt tình tu nhưng không hiểu đạo lý, không biết hướng đi nên đi lầm, đi sai. Vì tha thiết, quyết tâm tu cho đạt đạo nhanh nên không màng tới sự học hành, không xét tới đường lối tu rành mạch rõ ràng, lại ra công ra sức nhiều, tuy đáng phục nhưng kết quả không đúng với sở nguyện.
Cực đoan thứ hai, có một hai người thích tổ chức việc này việc nọ rình rang, thu hút nhiều người chú ý tới, nên cả ngày phải chạy lo công việc mà không được yên ổn tu hành. Như vậy, đời tu chỉ lo bận rộn tổ chức, làm mất hết thời gian quý báu của mình, loay hoay một thời gian, nhìn lại đã già, sắp theo Phật, mà công phu tu không có bao nhiêu.
Hai thái độ đó tôi gọi là cực đoan, chúng ta cần tránh. Chúng ta không có chủ trương vào hang núi hành khổ hạnh, chuyên tu để cho đạt đạo liền mà chỉ giữ quân bình. Đó là vừa tu vừa học, tu ngay tập thể quần chúng, để vừa tu vừa đào luyện tâm tính của mình trong cuộc sống chung với mọi người. Những điều hay mình tiếp thu, học hỏi, những điều dở mình biết để loại trừ. Nhờ vậy, trên đường tu mình tránh được hai cực đoan: không lo tổ chức này nọ, cũng không có tính cách khổ hạnh, đi tới chỗ hủy hoại thân thể. Chúng ta quân bình giữa hai điều đó. Làm được việc này không phải dễ.
Ngày nay tôi làm được, tạo được duyên cho chư tăng ni ngồi yên tu, vừa có học vừa có tu, tự đối chiếu kinh Phật dạy, đối chiếu lời các vị Tổ sư trước, để bản thân mình thấy rõ chỗ tu hành tiến nhiều ít. Thấy rõ biết rõ, không nghi ngờ. Đường đi tuy chậm nhưng có căn cứ thực tế, không đến đỗi tệ hoặc lầm lẫn.
Hôm nay, chư tăng ngồi đây tu hành trong một phạm vi nhất định, bao nhiêu thời gian chỉ có tu và học. Đồng thời, chúng ta nghiền ngẫm thấm nhuần được đạo lý sâu xa, mai kia ra làm lợi ích cho chúng, chứ không phải nhốt quý vị ở đây suốt đời. Nhưng khi còn đang tu thì phải khép lại, không được đi đây đi kia lăng xăng, tới lui hoài, mà phải yên tâm tu học, đâu ra đó, xứng đáng với công của mình. Đó là lập trường của tôi về đường lối tổ chức thiền viện.
Kế đó, nói thẳng về đường lối tu thiền, người tu thiền thường có hai thái độ cực đoan. Thái độ thứ nhất là tu thấy được chút ít, hiểu được chút ít rồi làm như các Tổ hồi xưa, muốn đi đâu thì đi, nói gì thì nói, nghênh ngang không có luật lệ, quy củ gì hết. Vừa rồi có chú Đ.K về đây muốn xin tu học, chú cũng thuộc dạng đó. Nghĩa là biết được chút ít tưởng mình là thánh rồi, muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, nghênh ngang. Chưa đến tưởng mình đến, chưa được tưởng mình được, lại có thái độ quá đáng, khiến người ngoài phê phán không tốt cho người tu thiền. Đó là một cực đoan đáng trách.
Cực đoan thứ hai là có người tu thiền mà không nỗ lực, không cố gắng, cứ thả trôi ngày này sang ngày nọ. Ngồi lại thì ngủ gục, ra ngoài thì loạn tưởng, nói chuyện om sòm. Đó là cái tệ, không lợi ích gì cho bản thân cũng không lợi ích gì cho đạo. Bởi vậy, chúng ta phải tránh hai cực đoan là thả trôi và tu được một chút rồi nghênh ngang, tưởng mình là thánh.
Quý vị nên biết, chủ trương tu thiền trong thời này là một việc khó vô cùng. Tại sao khó? Vì cả hai thế kỷ qua, ở Việt Nam người tu Phật hầu hết đều hướng về Tịnh độ. Bởi hướng về Tịnh độ, nên nhìn người tu Thiền không thiện cảm, nếu mình tu Thiền mà bỏ luật lệ, bướng bỉnh, ngang tàng… thì dễ bị phê bình, chỉ trích, mang tiếng không tốt cho đạo. Bởi vậy, chúng ta phải cẩn thận.
Tu thiền, dù có hiểu có thấy, chúng ta cũng thầm lặng tu, thầm lặng hiểu, chứ đừng khoa trương, tỏ vẻ tự cao ngạo mạn. Đó là không tốt. Vừa bất lợi cho bản thân, vừa mang tiếng không tốt cho đạo, cho đường lối tu của mình. Mong toàn chúng dè dặt, tránh những lỗi lầm đó. Mình hiểu, mình thấy những gì cao siêu thì ứng dụng trong đời tu của mình, chứ không nên có thái độ bướng bỉnh, gàn dở để thiên hạ phê phán. Bởi vậy, ráng cẩn thận, chúng ta vừa tu thiền, vừa biết nghiêm chỉnh theo giới luật. Đồng thời, chúng ta tu trong thanh tịnh sáng suốt, chứ không phải sanh ra tật bướng tật gàn để người ta cười.
Mong toàn chúng ý thức trách nhiệm của mình để thực hành, đừng để sai lệch, mang tiếng không tốt. Đó là lời tôi nhắc nhở.
Phần thỉnh nguyện xong, trong chúng ai có lỗi đều tự giác ra chúng sám hối và những người có lỗi nhưng không nhớ đều được quý thầy nhắc cho. Tất cả đều chân thành sám hối, đó là cái đức tốt trên con đường tu, không để sai lầm, thiếu sót.
Nếu mỗi tháng đều thấy những sơ sót của mình để chừa cải thì đó là những bước tiến trên đường đạo. Không phải vì cớ mình có lỗi phải ra sám hối mà thấy xấu hổ, nhục nhã. Nên biết đó là điều tốt giúp cho mình tiến. Vì vậy, tất cả trong chúng nên tự tỉnh tự giác, đừng để phạm lỗi kỳ trước đã phạm, kỳ sau phạm nữa.
Tôi nhắc nhở toàn chúng, ai đã xuất gia thì đều có mục đích tối hậu là giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử thì trước phải giác ngộ. Giác ngộ rồi mới giải thoát, đó là điều không thể thiếu được. Cho nên, trên đường tu, chúng ta phải biết tinh thần giác ngộ từ thấp lên cao. Mức thấp của sự giác ngộ là khi vào đạo mình phải nhớ rằng: Đời của mình phải trừ bỏ tất cả những thứ phàm tục. Tất cả danh lợi, tài sắc của thế gian không màng nữa. Đó là bước đầu của sự tỉnh giác hay sự giác ngộ nhỏ.
Từ sự giác ngộ đó mình mới vào đạo để tu. Đã vào đạo rồi thì không còn cớ gì lại bị nhiễm. Phải giữ cho tất cả đều trong sạch, không màng, không nghĩ tới nghĩ lui việc thế tục nữa. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, đức Phật dạy rất rõ: Người xuất gia là vì nhàm chán ngũ dục thế gian mà vào đạo, chẳng khác nào như người khạc đàm nhổ xuống đất rồi thì không liếm trở lại. Nếu làm vậy thì nhục nhã vô cùng.
Cũng vậy, chúng ta đã nhàm chán danh lợi, tài sắc của thế gian nên tìm đạo, mục đích cầu giải thoát sanh tử. Chúng ta không nên bận tâm hay nghĩ tới ngũ dục thế gian, nếu dính mắc thì chẳng khác nào khạc đàm ra rồi muốn liếm lại, thật là xấu hổ. Mong rằng trong chúng, tất cả đã quyết tu thì phải nhớ cho kỹ, đừng quên. Đó là điều căn bản thứ nhất mà tôi nhắc chúng.
Điều thứ hai là đã vì sự giác ngộ, vì sự giải thoát mà tu, thì trên đường giác ngộ giải thoát có những bậc cấp chúng ta phải gắng vượt qua. Thí dụ, tôi nói giác ngộ mọi sự vật trên thế gian là vô thường, nay thế này, mai đã đổi thay, không có gì bảo đảm lâu dài, không có gì là chắc thật. Biết rõ như vậy, dù công danh, tiền của bao nhiêu cũng đều vô thường. Nhất là thân chúng ta là một dòng chuyển biến không dừng, nay nó còn an ổn, ngày mai chưa chắc đã bình an. Nhớ được lý vô thường là trí tuệ. Nhờ nhớ lý vô thường, chúng ta không tham nhiễm thế gian, nỗ lực tiến tu, không bỏ mất thời gian nhỏ nào. Người đó là người biết thức tỉnh, là biết giác ngộ ở cấp dưới.
Đến giác ngộ ở bậc khác nữa là thấy rõ các pháp do nhân duyên. Đã do nhân duyên sanh thì không pháp nào có thật thể. Nếu có thật thể thì không đợi nhân duyên, mà phải đợi nhân duyên mới có thì nó vốn không có thật thể. Từ thân mình đến sự vật bên ngoài đều không khác. Thấy rõ như vậy gọi là nhận được tánh không.
Thấy rõ như vậy thì không chấp thân, không chấp cảnh. Thân, cảnh không chấp là giác ngộ khá cao. Thấy được vậy luôn luôn thì không còn gì rối loạn trong nội tâm nữa. Tâm không rối loạn, tọa thiền dễ được bình an, dễ được định, từ đó tiến lên, giác ngộ được trí vô sư.
Nên tất cả chúng ta tu phải đi từng bậc. Phải luôn tỉnh sáng, đừng để một phút giây nào bị mê lầm che mờ trí tuệ là khéo tu. Con mắt mình đang sáng, đừng để bụi rơi vào, rơi vào thì mắt sáng trở thành tối, thành bệnh. Đó là điều thiết yếu. Cũng vậy, trí tuệ sáng mới chọn con đường đi tốt. Đi trên con đường cao siêu thì đừng vì một lý do nhỏ mà trở ngại đường tu siêu thoát của mình. Nếu khéo tu thì sự giác ngộ cứu cánh sẽ đến. Tức là giác ngộ rõ ràng ông chủ, hay nói khác hơn là vô sư trí được hiện tiền. Được vô sư trí thì khi nhắm mắt, không còn bị nghiệp dẫn đi luân hồi sanh tử, đó là giải thoát sanh tử.
Cho nên, chư tăng tu, mục đích rất siêu thoát, nếu vì những việc nhỏ nhoi tầm thường mà làm trở ngại thì đó là cái dở cái yếu của mình, nên đừng để lầm lẫn. Dù ai đó hứa hẹn cho mình được hưởng quyền lợi gì rất to rất lớn ở thế gian, nhưng phải biết những quyền lợi đó đều là vô thường, tạm bợ, không có thật. Mình không nên để những thứ đó làm bận tâm. Được như vậy mới thật sự là tâm hồn của người giải thoát sanh tử.
Mong rằng toàn chúng, mỗi vị tự kiểm lại mình, nhìn lại mình. Ngày xưa phát tâm dũng mãnh đi tu, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ những người thân thuộc, nhất quyết một đời tu để giải thoát sanh tử. Bây giờ vô tình bị dính, bị nhiễm những cái cỏn con không đáng. Người ta sẽ cười và thấy mình không có lập trường, không có ý chí, làm dở dang đường tu. Điều này nếu nhìn ra sẽ thấy, người tu rớt dọc đường rất nhiều, có thể nói là sa đọa rất nhiều.
Mong toàn chúng lúc nào cũng nhớ mục đích của mình, đừng để sai lầm. Được vậy thì đường tu bảo đảm sẽ tiến đến nơi đến chốn, xứng đáng là người có ý chí giải thoát sanh tử.
Buổi thỉnh nguyện xong, tôi có ít lời nhắc nhở trong toàn chúng. Tất cả chúng ở đây đều là người quyết chí tu hành để tiến tới chỗ giác ngộ, giải thoát viên mãn mới thôi. Không ai nói đi tu cho có chừng hay nói đi tu tới bậc nào, cấp nào rồi thôi. Trong Thanh quy, chúng ta có căn cứ ba điều theo tinh thần ngài Điều Ngự Giác Hoàng dạy: dứt khoát, kiên quyết và đạm bạc. Bây giờ, tôi nói đến điều thứ hai là phải kiên quyết.
Làm việc gì phải kiên quyết đến cùng, không nên làm rồi có những lúc giải đãi, chán nản thì việc làm không bao giờ thành công. Tu là việc làm rất khó khăn, có thể nói là khó nhất trên đời. Chúng ta đã quyết làm thì phải nuôi dưỡng ý chí, khẳng định phải làm được, phải làm đến nơi đến chốn, chứ đừng có thái độ ngày nào vui thích thì làm nhiều, ngày nào không vui không thích thì thả trôi. Sự tu hành như vậy thì không bao giờ được kết quả.
Tôi nhắc lại, đức Phật Thích-ca khi ngài quyết đến cội Bồ-đề, trải cỏ làm chỗ ngồi xong, thề nguyện rằng ngồi dưới cội cây này, nếu không thành đạo thì quyết định dù xương tan thịt nát cũng không rời khỏi chỗ này. Lòng cương quyết như vậy, nên ngài ngồi đó bốn mươi chín ngày đêm liền được thành đạo. Vậy mới thấy rằng, với tâm kiên quyết, dù việc khó làm đến mấy đi nữa, nó vẫn thành công. Còn nếu không cương quyết thì cho dù việc dễ cũng khó mà có kết quả được.
Vậy nên trong chúng phải ý thức việc tu hành của mình. Việc làm tối thượng này khó khăn vô cùng, nên lúc nào cũng phải lập chí kiên quyết, phải đi đến nơi đến chốn, phải làm cho thành tựu, không làm lưng chừng, không bỏ dở. Dầu cho bao nhiêu thứ hấp dẫn ở ngoài lôi kéo cũng không thể được. Đời tu như vậy mới xứng đáng, mới có kết quả tốt đẹp.
Khi tôi cương quyết lên núi tu, lúc bắt đầu nhập thất thì tôi nguyện thầm với Phật rằng: “Nếu phen này nhập thất mà không thấy được gì khác hơn thì thà ở trong thất chết luôn chứ không ra.” Nhờ nguyện đó mà tôi tu có những cái mới, những điều lạ mà trước kia tôi chưa từng biết. Vậy mới thấy, khi có tâm quyết liệt, làm việc gì cũng có kết quả. Ngược lại, làm việc gì cũng lừng chừng, không khẳng định thì tu khó thành công.
Bởi càng tu, càng bị duyên trần lôi kéo, ràng buộc. Mình phải ráng giữ lập trường cho thật vững. Khi tu mấy chú đi sâu rồi sẽ thấy, những người ham tu chừng nào lại có những chướng lớn chừng ấy, đó là nói theo phàm tục. Còn nói theo đạo, mình càng tu thì những thử thách càng mạnh, càng lớn. Những thử thách đó để mình vươn lên, vượt tới đỉnh, chứ đừng nghĩ là trở ngại. Nếu kiên quyết thì tất cả thử thách đều vượt qua, nếu không kiên quyết thì dễ đổ vỡ nửa chừng.
Mong rằng toàn chúng ráng tinh tấn, kiên quyết tu, tu phải tới nơi tới chốn, chứ không bỏ dở nửa chừng. Như vậy sẽ thành công đúng với sở nguyện của mình.
Buổi thỉnh nguyện hôm nay, trong chúng cũng có một ít lỗi nhỏ. Biết lỗi ra sám hối là bước tiến của người tu. Kế đây, tôi có ít lời nhắc toàn chúng.
Tất cả chúng ở đây, quý vị nhớ mỗi lần đọc lại Nội quy, trong đó có phần Lục hòa. Các nơi khác, khi làm lễ Bố-tát thì chỉ đọc giới luật, không có Lục hòa. Nhưng ở đây, tại sao tôi đặt Lục hòa quan trọng như giới luật? Tôi nói cho toàn chúng biết vì Lục hòa là điều kiện thiết yếu của chư tăng sau giới luật. Nếu phạm giới luật là có tội, thì phạm Lục hòa cũng phải có tội, tội trong Lục hòa là tội gì?
Chúng ta là Tăng, chữ Tăng đọc theo tiếng Phạn là Samgha, theo phát âm là Tăng-già, dịch nghĩa là hòa hợp chúng, một tập thể sống hòa hợp vui vẻ với nhau gọi là Tăng. Nếu sống trong một tập thể mà không hòa, không vui với nhau được là mất nghĩa Tăng rồi. Như vậy, phạm Lục hòa thì không xứng đáng là một vị tăng. Nếu không xứng đáng là một vị tăng thì dù ở trong chùa cũng không phải là người tu. Vậy nên, tôi thấy nghĩa Lục hòa là thiết yếu, là xương tủy của người tu, chứ không phải thường. Tôi cho chúng mỗi tháng đọc một lần để nhớ Lục hòa là gốc, là nền tảng của sự tu hành. Thiếu Lục hòa là thiếu tư cách một vị tăng, trong chúng phải nhớ rõ. Sở dĩ chúng ta không đoàn kết được với nhau là vì không có hòa hợp.
Nếu người tu không hòa hợp với nhau thì đã mất đạo lý. Bởi người tu là người có từ, bi, hỷ, xả. Lúc nào cũng thương yêu, cũng tha thứ những lỗi lầm của mọi người. Người tu mà thù nhau, giận nhau, ghét nhau thì còn gọi là từ, bi, hỷ, xả nữa không? Nếu không từ bi hỷ xả thì đâu còn tư cách người tu! Nên trong chúng phải nhận định chín chắn ý nghĩa Lục hòa. Huynh đệ sống chung, người nào cũng có lỗi, có xấu, chứ không ai hay hoàn toàn. Nếu có người mắc lỗi thì mình phải thương nhắc, nhắc không được thì thông qua, tha thứ cho họ. Sống như vậy trong tập thể mới được an vui. Còn nếu có người phạm lỗi mà mình cố chấp, giận hờn là không có tinh thần tha thứ, hỷ xả, thì làm sao hòa với nhau được.
Kế đó nữa, nói đến tinh thần Lục hòa, ngày xưa tôi thấy rất buồn. Nhìn vào trong chùa, nhìn vào tinh thần tập thể trong Giáo hội, có khi huynh đệ không thương nhau, giành hơn giành thua, cãi lẫy, có khi hung dữ với nhau, tôi rất đau lòng. Tôi nghĩ rằng: mình là người tu, mình phải thương yêu, tha thứ cho tất cả. Vậy mà huynh đệ mình không thương, không tha thứ được thì thử hỏi mình tu với ai đây? Chắc là tu với Phật thôi, còn với chúng mình không tu? Mà Phật đâu có cần mình tu với ngài. Phật dạy mình tu với huynh đệ, với mọi người, với tất cả chúng sanh. Vậy mà chúng ta cứ chân thành lễ bái Phật, gọi đó là tu; còn đối với huynh đệ không có một chút lòng thương, không hòa hợp, không tha thứ, không hỷ xả được với nhau. Nên sự tu không nghĩa lý gì hết.
Ở trong chúng, trong huynh đệ mà lục đục, cắng đắng, giận hờn thì ra ngoài xã hội làm sao giáo hóa được người khác. Chính bản thân mình, tập thể mình đã tệ như vậy, thử hỏi dạy ai, hướng dẫn ai. Nên tôi thấy, đó là điều hết sức quan trọng.
Quý vị thấy, chúng ta tu mà tâm cứ cố chấp, không hỷ xả, không tha thứ thì khi ngồi thiền được yên không? Hay ngồi cứ nhớ người này rồi buồn, nhớ chuyện kia lại giận. Nếu nhớ những điều buồn giận thì rất khó đuổi được, khó buông được, nó cứ lảng vảng trong đầu hoài, không yên thì làm sao định. Chính tâm cố chấp đó phá hoại sự tu hành của mình. Cho nên từ trên xuống dưới phải tập sống đúng tinh thần Lục hòa, sống trong hòa thuận.
Trong Lục hòa, có khẩu hòa vô tránh, tất cả chúng ta thực hiện được chưa? Vô tránh hay còn tránh? Chữ tránh là tranh hơn, chứ không phải là tránh xa đi. Lời nói của mình luôn luôn hòa thuận, nhỏ nhẹ, không tranh hơn, không cãi lẫy với nhau, gọi là khẩu hòa vô tránh. Điều đó chúng ta đã thực hành được hay lâu lâu còn cãi?
Thứ ba là ý hòa đồng duyệt. Nghĩa là ý vui vẻ hòa thuận với nhau, không có khúc mắc, không có giận hờn. Điều này không dễ làm, đại chúng làm được không?
Như vậy trong sáu điều hòa, mới nói có ba phần đầu thân khẩu ý, mà đã thấy khó rồi. Những điều hòa này, nếu mình làm không được, vậy còn xứng đáng với ý nghĩa Tăng hay không?
Đó là những câu hỏi tôi đặt ra cho quý vị thấy sự tu của mình, nói thì rất dễ mà thực hành thì không dễ. Cho nên mỗi người phải tha thiết, phải chân thành dẹp bỏ bản ngã riêng tư. Sống với huynh đệ trong chùa làm sao chỉ đủ ba cái hòa là thân khẩu ý thôi, cũng tốt rồi. Tôi chưa đòi hỏi đủ Lục hòa. Quý vị nên nhớ, nếu không hòa thì không hợp, có hòa mới có hợp, nếu không hợp thì làm sao tu, làm việc, sống với nhau được. Sống mà không hợp thì cuộc sống sẽ chống trái, bực bội; nên phải có Lục hòa.
Ở đây tôi chỉ nói có ba hòa, phải thực hiện cho được. Thực hiện được ba điều đó thì sự tu hành sẽ tiến mạnh và có kết quả tốt. Nếu không thực hành được thì tu khó tiến, dù chúng ta ngồi thiền nhiều giờ, nhưng chưa hòa với nhau thì ngồi thiền chỉ là hình thức, tâm chưa thanh tịnh được.
Tôi nhắc toàn chúng, mình đã quyết chí tu, lìa bỏ gia đình, cha mẹ để vào chùa thì phải cho xứng với việc tu, chứ không nên tu lưng chừng, tu để mà tu. Phải tu cho thành công, có kết quả, cho bản thân mình thành một người đạo đức chân thật, để làm lợi ích cho nhiều người, vậy mới tròn bổn phận. Muốn làm một người đạo đức thì mọi giận hờn, buồn phiền, ganh ghét phải dẹp bỏ hết, không để cho trỗi dậy trong lòng, để tâm thanh tịnh tu hành, mới có đầy đủ đạo đức.
Khi gặp Phật tử yêu cầu thầy giảng đạo cho nghe, có khi nào quý vị nói: “Thỉnh thoảng thầy còn sân mà giảng cái gì?” Có dám nói vậy không? Hay vẫn giảng nói ngon lành, bảo tu phải thế này thế kia… Giảng cho Phật tử nghe hay lắm mà thỉnh thoảng thầy cũng sân như thường. Đó là khuyết điểm, nói được mà làm chưa được. Đáng hổ thẹn! Nên quý vị phải nhớ, thực hành được, rồi dạy người, mới có giá trị thật.
Quý vị là huynh đệ, người tu với nhau, chỉ khác chút ít là người tu trước, người tu sau, người giữ giới nhiều, người giữ giới ít. Chứ thật sự đồng một lý tưởng, tu cầu giải thoát sanh tử, mà đã quyết tâm cầu giải thoát sanh tử thì chuyện hơn thua chút ít có nghĩa lý gì. Chuyện sanh tử mới là trên hết. Vậy mà tôi thấy, nhiều khi chuyện nho nhỏ mà cũng không buông xả, không tha thứ cho nhau thì sao làm việc lớn.
Do đó, tôi nhắc toàn chúng, mình muốn làm việc lớn cho đạo, để cứu độ chúng sanh thì phải thực hiện được những điều tốt, điều hay ngay nơi bản thân mình và với tất cả huynh đệ. Những lúc cùng chung sống tu hành, cùng hợp sức với nhau lo làm việc, đừng bao giờ mở miệng ra cứ nói là mình phải có trách nhiệm cứu độ tất cả chúng sanh. Trong khi đối với huynh đệ thì hờn người này, giận người kia, cãi lộn người nọ, thì lời nói cứu độ chúng sanh ấy chỉ là ảo tưởng, không thực tế.
Mong tất cả quý vị phải nhớ Lục hòa là bản chất, là nền tảng, là cốt tủy của người tu. Thiếu nó thì người tu mất hết giá trị. Tất cả toàn chúng nhớ đó mà thực hiện cho được, cho thấm nhuần, ứng dụng cho được, xứng đáng là một vị tăng, không xấu hổ với danh hiệu của mình. Đó là chỗ mong mỏi của tôi.
Tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Như trong Nội quy đã giải thích rõ, khi tu có những chướng ngại từ nơi bản thân hoặc là ngoại cảnh. Người nào tu cũng gặp, không phải chỉ riêng người nào.
Trước hết tôi nói ngoại cảnh. Ngoại cảnh chướng như thế nào? Chướng ngoại cảnh là người ở gần mình, chung quanh mình không hòa hợp, không thuận thảo mà sanh chướng với nhau. Nếu mình với huynh đệ không hòa thuận thì càng gần càng thấy phiền. Chướng ngại là do nội tâm mình còn chấp, còn phiền não, chứ không do người khác. Vì vậy, nếu thấy người chung quanh không hợp với mình, mình phải tìm đủ cách điều phục bản thân để vui vẻ, hòa hợp với mọi người.
Kế nữa là hoàn cảnh bên ngoài. Thí dụ mình chưa tu thì đủ ăn, đủ mặc, đủ tiền thuốc thang. Bây giờ đi tu thì ăn mặc đều thiếu thốn. Hoàn cảnh không thuận lợi, đó cũng là chướng. Tôi nhắc cho tất cả thấy.
Thứ nhất, nếu chúng ta tu mà không giải được những chướng ngại đó thì nó làm phiền lụy cho mình và những người khác. Nếu cảm thấy chung quanh mình người này, người nọ, người kia là những cái gai làm phiền hà mình thì nhất định tu hành không yên ổn được. Muốn cho sự tu hành an ổn thì mình với mọi người phải hòa thuận, vui vẻ với nhau.
Nếu gặp chướng bên ngoài là những người cùng tu, cùng ở chung với mình mà không thuận không hợp thì quý vị phải nhớ rằng: Chúng ta vì thấy được gốc sanh tử là đau khổ nên muốn giải thoát mà đi tu. Vậy sanh tử là việc lớn chứ không phải nhỏ. Còn chuyện hơn thua phải quấy, qua lại với nhau là chuyện nhỏ. Ngày mai chết đi, nếu mang nghiệp phải trầm luân muôn kiếp thì ai cứu mình. Nếu vì chuyện nhỏ mà ôm ấp thì khổ không biết chừng nào ra khỏi. Vì vậy, những thứ nhỏ nhặt đó bỏ qua hết. Chỉ một tâm niệm tu cho tâm được thanh tịnh, được sáng suốt, để giải thoát sanh tử. Đó là việc trọng tâm của mình. Còn mọi sự vui buồn của những người chung quanh đều không đáng kể. Nhớ như vậy thì gỡ được chướng ngoại cảnh, về người chung quanh.
Thứ hai, về ngoại cảnh là sự thiếu thốn không đầy đủ. Mình nhớ rằng, người tu là người không sợ chết. Tại sao không sợ chết? Vì trên đường tu, mình là người có trí tuệ, thấy rõ sanh tử chực sẵn bên mình, không thể hẹn, không thể chờ đợi. Cho nên giờ phút nào cũng có thể là giờ phút cận kề cái chết. Nhớ vô thường chực sẵn đó nên ta không sợ mình chết vì thiếu ăn thiếu mặc, thiếu thuốc thang. Cái chết luôn chực sẵn rồi. Không sợ chết, mình dễ qua khỏi bệnh hoạn, còn nếu sợ thì bệnh hoạn càng tăng, cái chết càng tới mau hơn. Bởi vậy, người tu phải có ý chí quyết liệt, nhất định sẽ thắng, vượt qua mọi khó khăn trở ngại. Người không sợ hãi thì dễ đạt được kết quả.
Đó là tôi nói ngoại cảnh. Còn bản thân chúng ta thì có hai phần, về thân xác thịt này và nội tâm có những gút mắc không giải quyết được, đó cũng là chướng ngại. Quý vị thấy, tất cả chúng ta mang thân này có nhiều chướng. Như trong kinh, đức Phật đã nói ái dục là bệnh nặng nhất của con người, nếu có cái thứ hai bằng nó thì thế gian này không ai tu được. Thành ra bệnh ái dục là bệnh đứng nhất. Ái dục là bệnh của bản thân, mang thân người thì đều có. Tại sao vậy? Vì chúng ta sanh trong cõi Dục. Đức Phật đã nói rõ, do sanh ra từ ái dục cho nên mầm ái đã có sẵn trong mỗi người chúng ta. Vì vậy nó là chướng ngại.
Nhiều người lúc ở Phật học đường, rất ham tu, nhưng bệnh ái dục làm trở ngại, có khi gây ra chứng di tinh, mộng tinh, cũng có người kìm chế không được, phải ra đời. Cho nên bệnh ái dục rất nặng, đó là bệnh của bản thân, ai cũng có, ít hoặc nhiều. Quý vị nghĩ, đó là bệnh bất kham, bất khả trị, nhưng nếu biết bệnh đó gốc từ ý niệm, khi ý niệm còn luyến ái đối với người khác phái thì bệnh ái không thể dừng được. Chỉ khi nào đối với mọi người, tâm dửng dưng không dính mắc thì tự nhiên sẽ hết. Chứ không phải là không hết được.
Trên đường tu, Phật tổ dạy đừng để tâm sanh luyến ái mà luôn luôn tìm cách tiêu diệt nó, dùng quán bất tịnh, quán vô thường, hoặc quán duyên hợp… để thấy thân không ra gì rồi nhàm chán, không nghĩ đến, lần lần nó sẽ khô cạn. Đó là chướng nơi thân, ngoài ra còn nhiều chướng khác như bệnh hoạn chẳng hạn.
Còn chướng ngại nơi tâm. Tâm là đầu mối tạo nghiệp, gây tội lỗi, cũng là đầu mối tạo những phước đức. Bởi vậy, phải biết rõ để làm chủ tâm mình. Nếu tâm nặng thị phi, hơn thua phải quấy thì không lúc nào được bình an. Không có buổi giảng nào mà tôi không nhắc, không đả phá tâm cố chấp, tâm hơn thua, phải quấy. Vì tâm đó là tâm sanh diệt, vô thường. Nếu nhận nó là mình thì bị trầm luân sanh tử. Chúng ta phải gạt bỏ nó ra, để sống với tâm an nhiên tự tại, đó là nhân của giải thoát.
Khi tu, nội tâm là chướng lớn, có những thứ muốn bỏ mà bỏ không được, vì vậy rất khó điều phục. Chúng ta phải nghiêm túc, quyết tâm dẹp trừ thì mới có thể hết. Nếu không, nó là đầu mối dẫn chúng ta đi sanh tử nơi này nơi kia, không bao giờ ra khỏi. Đó là tôi nói chướng của tâm phân biệt hơn thua.
Còn chướng chúng ta thường gặp là chướng vọng tưởng nhiều thứ. Vọng tưởng phải, quấy, hơn, thua đủ chuyện. Đó cũng là chướng. Tại sao? Vì có vọng tưởng tức là bị mê lầm. Như tôi đã nói thí dụ, nhìn vào mặt gương, do mặt gương trong sáng nên thấy bóng hiện. Nếu có bóng người hoặc bóng vật hiện trong gương, thì khi nhìn trong gương, lúc đó chúng ta thấy bóng người, vật, không thấy mặt gương. Rõ ràng thấy bóng thì quên gương.
Nội tâm chúng ta có những vọng tưởng, chúng ta vừa theo vọng tưởng thì không thấy được tâm chân thật. Cho nên muốn nhận, muốn thấy được tâm thật thì bóng phải lặng. Mặt gương có sẵn, mình thấy bóng quên mặt gương, chứ không phải mặt gương trốn đi đâu. Chỉ khi nào không thấy bóng thì thấy được mặt gương. Bóng là chỉ cho vọng tâm, mặt gương là chỉ cho tâm chân thật. Tâm chân thật lúc nào cũng hiện tiền, chỉ vì mình theo bóng nên quên gương. Bởi vậy nên tu phải định tâm thì thể chân thật sẽ sẵn đủ, không thiếu.
Vì vậy, khi chư tăng tu, chướng lớn nhất là chướng nội tâm. Khi mê, nghĩ vọng tưởng là tâm thì muôn đời không thấy được tâm chân thật. Chỉ tâm vọng tưởng lặng thì tâm chân thật hiện tiền. Quý vị ngồi thiền có kinh nghiệm, phút giây nào tâm không còn một niệm dấy khởi mà tỉnh táo không ngủ, lúc đó có biết không? Nếu không biết thì làm sao biết không dấy niệm. Thấy rõ mình không dấy niệm là tâm đang biết. Khi đó, gió thổi qua thân mát biết mát, muỗi kêu biết muỗi kêu…
Như vậy, cái tâm thật trùm khắp, nhưng khi có vọng tưởng thì không thể cảm nhận được. Quý vị cố gắng tu cho tâm vọng tưởng lặng, thì khỏi tìm kiếm cái chân thật, nó cũng hiện tiền. Còn cứ mơ ước, mong thấy tâm chân thật mà không hết vọng tưởng thì trông hoài, kiếm hoài cũng chẳng ra. Đó là lẽ thật!
Cho nên, chúng ta tu, một là dẹp chướng ở ngoài gọi là ngoại cảnh, hai là dẹp chướng của bản thân. Phải dẹp bỏ những thứ đó thì trên đường tu, sự giác ngộ không phải là khó. Còn nếu không khéo, không biết dẹp, không biết bỏ thì đường tu sẽ thiên nan vạn nan.
Tôi nhắc cho tất cả nhớ chú ý để vượt qua, không nên vì một, hai cái chướng mà thối tâm Bồ-đề, hủy hoại nguyện lớn của mình, bỏ mất tâm chân thật mà mình đang mong mỏi đạt được. Mong tất cả chư tăng ráng tiến tu để thành tựu đạo quả giải thoát, không nên vì những chuyện không đáng mà bận bịu, phiền hà.
Đầu năm, những vị tu trước hoặc mới tu đều thấy lỗi, thành tâm sám hối, đó là điều tốt. Chúng ta tu, ai cũng có sơ sót lỗi lầm, điều đó không ai tránh khỏi. Nhưng lầm lỗi mà biết sám hối, biết tránh, để chừa lỗi là điều hay. Chỉ những người có lỗi mà giấu giếm, có lỗi mà làm mãi, mới là không tốt, là bệnh, lâu ngày không thể cứu được.
Trong kinh Phật có dùng thí dụ: Như cái mụt ghẻ làm mủ, nếu biết điều trị thì từ chỗ làm mủ đó mình mổ, nặn hết mủ ra, rửa sạch khâu lại, thì nhất định mụt ghẻ sẽ lành. Trái lại, đã có mủ rồi mà cứ giữ kín hoài, không mổ, không nặn ra thì mủ sẽ gây nguy hiểm cho cơ thể.
Cũng như vậy, người có lỗi mà cứ âm thầm giấu giếm thì từ lỗi nhỏ thành lỗi lớn. Lần hồi thành những lỗi lớn hơn nữa. Tới một ngày nào đó nó phát tác ra thì tổn đức hạnh, mất sự tu hành. Cho nên, biết có lỗi, sám hối chừa cải là điều rất tốt.
Trong nhà Phật thường dạy phải thành tâm sám hối. Nếu mỗi vị, ai cũng thấy chỗ sơ suất của mình rồi cố gắng chừa bỏ, sám hối thì chắc rằng toàn chúng sẽ thanh tịnh. Tu vậy, đức hạnh của chúng càng tăng trưởng, thiền viện cũng được nhiều người kính quý. Còn nếu trong chúng không khéo tu, để cho đức hạnh suy giảm thì tiếng tốt, giá trị của thiền viện cũng theo đó suy giảm. Vậy, tôi mong toàn chúng, mỗi vị phải tự kiểm lại mình, ai nấy đều cố gắng gìn giữ, tự mình đã tốt, lại còn làm tốt đẹp cho tập thể thì phước đức tăng trưởng vô cùng.
Đầu năm, tôi nói thêm phần công tác của tôi, trước hết là phần xây dựng, kế là phần in ấn và sau đó là phần tăng ni tu hành cho đắc lực. Phần xây dựng, quý vị nhìn qua các thiền viện từ ngày thành lập tới nay, ở đây, ở Thường Chiếu, ở Chơn Không và các nơi đều được khang trang, tốt đẹp. Khi làm tôi không kêu gọi, mà chỉ tuyên bố tôi làm cái gì đó hoặc sửa chùa, hay cất nhà khách chẳng hạn, thì Phật tử sẵn sàng giúp đỡ để tôi làm Phật sự được dễ dàng. Đó là phước do tôi cố gắng lo cho tăng ni, cố gắng dạy dỗ Phật tử tu. Mình biết tu, dạy người biết tu thì phước đức rất lớn.
Gần đây, người ta hiểu lầm, ngỡ rằng tu là phải làm việc từ thiện bên ngoài nhiều, mới gọi là từ bi, là phước đức. Còn nếu chỉ giảng kinh, dạy đạo cho tăng ni là tiêu cực, không từ bi nên không đủ phước. Hiểu như vậy là sai lầm. Nếu chúng ta đem hết tâm lực của mình dạy chúng, giảng dạy cho Phật tử để họ hiểu đạo, biết đường tu, đó là bố thí lớn.
Trong ba sự bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy thì bố thí pháp được Phật khen ngợi, khuyến khích hơn cả. Chư tăng đừng nghĩ mình phải ra ngoài làm được nhiều việc mới gọi là từ bi. Mà chính mình hiểu đạo sâu, thấy rõ rồi đem chỗ hiểu, chỗ thấy chánh pháp đúng đắn đó để truyền bá, chỉ dạy cho mọi người. Như vậy, phước đức sẽ tăng trưởng.
Quý vị nhìn việc tôi làm sẽ thấy, tôi chưa có đi đâu, chưa làm được gì, nhưng tôi cứ lo cho tăng ni tu học đều đặn, không thối chuyển và không thiếu sót. Việc làm đó phước đức được tăng trưởng, nên ngày nay muốn làm gì thì được tùy duyên mãn nguyện. Đó là việc thứ nhất về kiến thiết.
Thứ hai là in ấn kinh. Tôi có nguyện phải làm sao sách Phật giáo Việt Nam còn lưu truyền lại từ đời Lý đời Trần trở về sau này, những quyển còn sót lại, thấy hay, tôi đều dịch hoặc là giảng ra cho tăng ni học. Việc in ấn để truyền bá rộng rãi, tôi đã khởi sự làm từ năm 1996 đến ngày nay, đã bốn năm rồi. Tôi định một năm in hai quyển, mỗi quyển in ra phí gần một trăm triệu. Mà mỗi năm in hai quyển thì tôi phải có hai trăm triệu. Thiền viện có một phòng phát hành, nhưng thật ra không thấm vào đâu hết. Tôi có tiền in kinh sách là do Phật tử phát tâm. Nghe tôi làm việc đó, họ thấy hợp chánh pháp nên ủng hộ. Mỗi khi in cuốn sách nào đó thì họ phát tâm ủng hộ, ấn tống năm ngàn, ba ngàn quyển. Vì vậy mình chỉ in thêm một, hai ngàn quyển, rất là nhẹ tiền. Nhờ vậy, mỗi năm đều in được hai quyển, từ 1996, 1997, 1998. Đến năm 1999, còn bốn quyển cũng in được luôn. Vậy năm nay chi phí khoảng chừng bốn trăm triệu.
Như vậy, quý vị thấy, một lúc tôi vừa xây dựng, vừa in kinh sách, ai cũng tưởng tôi giàu, tiền đâu mà nhiều vậy? Tôi có làm ra tiền không? Chẳng qua là việc làm của mình hợp đạo lý, đúng chánh pháp thì Phật tử hưởng ứng, nên họ chung lo với mình. Cho nên khi hô làm gì thì mọi người đều giúp đỡ, tôi làm được mãn nguyện.
Như vậy, tiền in kinh sách mấy năm nay, nếu tổng cộng lại rất là lớn, không phải nhỏ. Trong đó thật tình có một số để phát hành, nhưng không thấm vào đâu, không đủ đâu. Nhờ Phật tử hùn tiền lại, họ ấn tống, nên mình in kinh sách để phát cho tăng ni ở các thiền viện, hoặc ở các trường, để họ có đọc. Sở nguyện của tôi muốn làm tròn trong năm này, tất cả đều được mãn nguyện.
Còn nguyện thứ ba là làm sao cho tăng ni tu hành, có được đầy đủ phước đức, trí tuệ, thấy đạo đúng như thật, tự mình có đủ lòng tin tu hành tiến tới viên mãn. Để sau này, đem chỗ thấy của mình chỉ dạy cho những người khác. Việc đó là quá tầm tay của tôi rồi, phải không? Phần đó tôi chỉ có thể kêu gọi chư tăng chư ni ở đây và trong các thiền viện phải cố gắng, phải nỗ lực, mới hoàn thành tâm nguyện của tôi.
Làm sao trong những năm tôi còn có mặt, quý vị cố gắng tu, cố gắng giữ gìn, đừng để cho tâm mình phóng túng buông lung, để dần được an định. Nhờ sức tu đó, khi có cơ hội nhập thất, càng phát triển mạnh thì sẽ thành công. Tôi trông đợi ở tăng ni, phải cố gắng, tu cho được kết quả, thì tôi mới tròn bản nguyện. Còn nếu tăng ni tu trật vuột, trồi lên tuột xuống thì tôi rất buồn.
Như vậy, trong hai phần, phần xây dựng, phần in kinh sách, nhờ Phật tử ở ngoài ủng hộ, tôi làm xong. Còn phần thứ ba, tăng ni tu cho có kết quả, thì đó là trách nhiệm của tăng ni.
Ở ngoài, mọi người đã cố gắng làm cho tôi được toại nguyện. Đó đều là do lòng tốt của Phật tử, kẻ ít lòng nhiều, gom lại giúp tôi. Tôi làm xong các việc đó là do lòng tín thành của Phật tử. Tới phần tu ở trong. Bây giờ, tăng ni phải làm sao? Làm lừng chừng để tôi thất vọng thì không tốt. Tất cả quý vị phải có bổn phận tu, ứng dụng cho được đạo lý mà mình đã học hiểu. Làm sao mai kia, lời nói của mình phát từ trí tuệ, thấy đúng như thật. Từ tâm trong sáng, thấy suốt của mình, chứ không phải bắt chước, học lóm mà nói ra.
Tu vậy thì những lời mình nói ra là sự thật, không có dối, không có gạt ai. Nói để mọi người thấy được chỗ siêu thoát của đạo. Nói để họ thấy được sự quý giá của Phật pháp. Như vậy thì phước của quý vị sẽ tăng. Khi quý vị làm được việc đó thì tôi rất mãn nguyện.
Vậy mong rằng sang năm mới này, tất cả chư tăng bên đây, cũng như chư ni bên kia đều nỗ lực tu, để có kết quả tốt cho tôi được mãn nguyện. Chứ hai phần ngoài thành công, còn phần ở trong không được kết quả thì đó là nỗi buồn của tôi, mà cũng là sự thất vọng của Phật tử, họ trông đợi mà không được như nguyện. Mong chư tăng cố gắng tu hành trong năm mới này.
Phần thỉnh nguyện xong, những người có lỗi nhỏ cũng đã sám hối. Giờ tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Tất cả chúng ta là người tu theo Phật thì phải đủ hai điều kiện thiết yếu.
Điều thứ nhất là phải giác ngộ, điều thứ hai là phải từ bi. Người tu Phật mà không giác ngộ tức là không phải đệ tử Phật. Nếu giác ngộ mà không từ bi thì cũng không xứng đáng. Vì vậy, giác ngộ và từ bi là hai điều mà người vào đạo cố gắng thực hiện cho được.
Muốn giác ngộ phải nhờ thiền định. Thiền định thì phải có ngồi thiền. Tâm an định mới có thể giác ngộ được, nên nói định tuệ là vậy. Toàn chúng đều nhắm mục đích giác ngộ, nên phải cố gắng ngồi thiền. Tu thiền để tâm thanh tịnh, lặng yên, tâm thanh tịnh lặng yên thì trí sáng, đó là trí tuệ. Đó là điều kiện không thể thiếu.
Vì vậy kẻ cũ người mới đều phải nỗ lực, cố gắng tọa thiền cho tâm được yên định. Cố gắng tu rồi sẽ có kết quả như sở nguyện của mình. Nếu không thì dù tu trọn một đời cũng không đi tới đâu. Mong tất cả nỗ lực tu hành cho có kết quả tốt, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là từ bi. Từ bị tức là thương người, thương vật, thương tất cả chúng sanh. Nhưng gần đây, có những người lầm lẫn chữ thương này, rồi đi tới tâm ái dục. Nói tới từ bi là người ta lại nghĩ đến tình thương, phải không? Tình thương là thương hợp đạo lý. Có những cách thương phi đạo lý, tôi giản trạch cho quý vị biết.
Người tu phải có tâm từ bi, là tâm thương tất cả mọi người, thương đến loài vật, mà thương để làm gì? Thương để độ họ, thương để khiến họ được thức tỉnh, được giác ngộ, để giải thoát sanh tử. Đó là tình thương của lòng từ bi. Nếu tình thương mà cột trói, hoặc có tính cách riêng tư, thì không phải từ bi. Quý vị nhớ cho thật kỹ. Vì với người nào đó mình có cảm tình, thương rồi bênh vực, rồi tìm mọi cách gần gũi… thì tình thương đó gọi là ái kiến, chứ không phải từ bi. Vì thương người đó, nên dầu người đó sai, mình cũng vẫn bênh vực, họ có tội mình cũng tìm cách cứu cho hết tội, để thỏa mãn lòng thương của mình. Đó không phải là từ bi mà thuộc về ái kiến. Hoặc vì thương người đó, mà tìm cách này cách nọ để gần gũi, thân cận thì sự gần gũi thân cận đó không phù hợp đạo lý.
Có đôi khi tôi rất thương chư tăng, chư ni còn trẻ mà đi tu. Vì con người ai sống cũng có tình cảm, mà tình cảm đó bị nhầm lẫn biến thành sự luyến ái, luyến ái khác phái hoặc đồng phái. Nếu luyến ái khác phái thì nguy hiểm dẫn tới không còn tu được. Ở đây, căn cứ theo giới luật, cấm kỵ không cho phép gần gũi người nữ một cách bất thường, hay không đúng với nguyên tắc trong thiền viện, nên phải tránh duyên, không bị cột trói tình cảm với người khác phái. Nhưng, người đồng phái sống ở gần bên cạnh, rồi quý vị cũng có cảm tình riêng, cũng có những hành động trái với đạo lý. Đó cũng là tội lỗi.
Thế gian hiện giờ người ta đang tranh luận về tình trạng đồng tính luyến ái và dị tính luyến ái. Dị tính luyến ái thì người ta cho đó là hợp lý, tại sao? Nếu dị tính luyến ái, tức là nam nữ thương nhau để gầy dựng giống nòi thì thế gian chấp nhận. Vì con người sanh ra phải tiếp tục truyền giống, hết lớp này cho tới lớp khác. Còn đồng tính luyến ái thì có khác, nó có truyền gì không? Nó không có truyền gì hết mà chỉ là tâm tham ái trói buộc. Vì vậy nhiều người không dễ chấp nhận.
Ở trong đạo, vì muốn thoát khỏi vòng trần tục, muốn được giải thoát sanh tử nên mình bỏ cả hai thứ tình cảm khác phái lẫn tình cảm đồng phái. Người tu phải đem hết tâm thương mến mọi người, thương mến chúng sanh. Vì họ là những người đáng thương, đang đau khổ trầm luân trong sanh tử, giống như mình đã từng trải qua. Vì vậy, mình muốn thoát ly sanh tử, theo con đường giác ngộ giải thoát thì không nên cột trói nhau, làm khổ lụy cho nhau, lại trái với đạo lý.
Tôi mong toàn chúng phải có tâm từ bi bủa khắp mọi người, mọi loài. Nhưng cấm kỵ không để có tâm luyến ái với người đồng phái hoặc khác phái. Đó là tâm luyến ái, cột trói mình đi mãi trên đường sanh tử. Đừng bao giờ để vướng mắc điều đó.
Tất cả trong chúng từ người lớn đến người nhỏ, ai cũng nghĩ vì giải thoát sanh tử, nên tu để cứu độ chúng sanh. Phải nuôi dưỡng lý tưởng cao siêu đó, đừng bao giờ quên. Những cảm tình thô thiển, tầm thường, tạm bợ, phải gạt qua một bên. Mình là người có trách nhiệm đem ánh sáng trí tuệ giáo hóa chúng sanh, vì lý tưởng đó, không nên bị những thứ mờ ám, nhỏ mọn của tình cảm làm cho tăm tối. Như vậy, sẽ không xứng đáng với bản nguyện của mình, mà còn tủi nhục cho một đời tu hành không đến đâu.
Mong tất cả chư tăng đều phải ý thức điều đó mà cố gắng vươn lên, cho xứng đáng là con nhà họ Thích. Nên phải là người tu giác ngộ giải thoát, không có một lối nào khác. Mong tất cả cố gắng tinh tấn tu hành, đừng để mất thời gian quý báu.
Buổi thỉnh nguyện cũng chỉ một ít vị có sai lầm, đa số không có lỗi, đó là điều tốt. Giờ tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng.
Điều tôi nhắc nhở quan trọng đối với bổn phận một vị tăng trong đoàn thể Tăng-già. Tăng-già là một số người chung sống hòa hợp với nhau để tu hành. Nếu tách rời từng cá nhân, thì đó không phải là Tăng. Như vậy, nghĩa Tăng rất quan trọng ở chỗ hòa hợp, nên đức Phật đặt ra Lục hòa cho chúng tăng chung sống. Tại thiền viện lấy tinh thần Lục hòa làm căn bản, đó là chúng ta sống đúng với ý nghĩa Tăng.
Tất cả chư tăng ở đây ai cũng phải thuộc lòng, phải nhớ Lục hòa. Mỗi người chúng ta đều mang nghiệp từ quá khứ nên đều khác nhau, không ai giống ai. Chúng ta được sanh ra đời, người thì ở gia đình này, người ở gia đình khác. Đồng thời, tập tục ở mỗi nơi, mỗi gia đình… cũng không giống nhau. Bây giờ hòa hợp chung một chỗ để tu, thì đương nhiên do nghiệp quá khứ không giống nhau, do tâm tư hiện tại cũng không giống nhau, nên chắc rằng chuyện đụng chạm, không bằng lòng nhau xảy ra là thường, không có gì lạ.
Đừng bao giờ có ý nghĩ người kia giống hệt như mình hoặc ngược lại mình giống hệt người kia, chuyện đó không thể có. Chúng ta có giống nhau một điều, quý vị biết điều gì không? Đó là chúng ta đã gieo được chủng tử Phật pháp đời trước, nên đời này cũng được tiếp nối chủng tử đó. Đó là chỗ chúng ta giống nhau, còn tất cả những tâm tư, những thói quen, nghiệp cũ thì sai biệt nhau rất nhiều. Mỗi người đều có cái hay riêng, cũng có cái dở riêng. Vì vậy mà trong cuộc sống, không ai hoàn toàn chấp nhận ai.
Nhưng quý vị sống ở đây phải ráng tập. Người tu mà không chịu khó tập tâm Bồ-tát thì không thể làm Phật sự được. Tại sao? Vì làm Phật sự là phải điều chúng, mà chúng mỗi người mỗi ý, mỗi người mỗi thói quen khác nhau, nên rất khó điều. Bởi khó điều nên các vị A-la-hán khi chứng quả rồi, nhìn lại tập khí của chúng sanh quá nhiều nên các ngài ngán, các ngài nhập Niết-bàn cho xong, không muốn làm gì nữa.
Bây giờ, chúng tăng cũng vậy. Có nhiều người tu hành cũng khá, nhưng thấy chúng sanh phiền não nhiều quá, ngán không muốn độ, cất thất ở riêng tu. Vậy có giống tinh thần A-la-hán không? Chắc cũng hơi giống, giống chỗ thấy chúng sanh khó độ nên kiếm chỗ ở yên. Đó là tâm nghĩ cho riêng mình, không dám xông pha để làm lợi quần sanh. Làm lợi cho quần sanh là phải sống chung với nhau đông đảo, phải điều hòa, mà điều hòa được thì cuộc sống mới an vui, tu hành được, rồi mới làm lợi ích cho người khác.
Nếu sống mà phiền não nhau hoài thì không tu hành được. Nhìn kỹ lại, từ người này tới người nọ, khi phân công ra làm công tác chung, thì ít hôm có đụng chạm, hoặc ít hoặc nhiều, hiếm có khi nào được vui vẻ từ đầu đến cuối. Tôi thấy ở trong đạo, ai cũng quyết tu mà còn đụng chạm như vậy, thì ở ngoài đời chắc chắn cũng không tránh được điều đó.
Lúc trước, có một người tới hỏi tôi rằng, hai tư tưởng khác nhau như nước với lửa thì làm sao mà điều hòa. Tôi nói “có nước có lửa thì có cơm ăn”, nghe thì rất bình dân. Có nước có lửa thì có cơm ăn, quý vị xét thử coi tại sao? Vì muốn có cơm thì đầu tiên phải có nước để vo gạo, rồi kế đó phải có lửa nấu mới chín. Vo gạo rồi nấu cơm mà không khéo điều phục lửa, nước thì nồi cơm ra sao? Nếu cơm chưa chín mà thiếu nước thì cơm sống, chín rồi mà cứ để lửa nhiều thì cơm khét. Như vậy, điều hòa nước lửa là điều thiết yếu để có cơm ăn.
Sống chung với nhau chúng ta phải điều hòa, mình có cái này hay, huynh khác có cái kia dở. Vì vậy mà tha thứ nhau những cái dở, đem cái hay của nhau mà chia sẻ, nâng đỡ để tiến tu, đó là biết điều hòa. Nếu nhìn chăm chăm cái dở, bỏ quên cái hay của người, đó chỉ là khơi dậy những đụng chạm, chống đối mà thôi, chứ không biết điều hòa. Lục hòa là bước đầu của nếp sống tập thể, thiếu Lục hòa thì đời sống không an ổn được. Không an ổn, không hòa hợp thì không phải là Tăng, vì Tăng là hòa hợp chúng.
Tất cả chúng ta ở trong tập thể, mỗi người mang mỗi tâm niệm khác nhau, nghiệp thức khác nhau, thì cuộc sống thế nào cũng có đụng chạm. Nhưng qua những đụng chạm, chúng ta biết rồi tự bỏ, tự xả thì sự tu không thối chuyển, không lui sụt. Nếu một lần có phiền não, không vừa ý, là muốn bỏ, muốn xách gói đi thì tu không bao giờ tới đâu. Vì ở đâu cũng phải sống với nhiều người, nếu sống với nhiều người không được thì chẳng lẽ tu mà không ở trong chúng, không tới trường học sao!
Cho nên phải hiểu, sống là phải hòa. Muốn hòa thì phải biết mình – người có những thứ trái nghịch gì, để điều hòa nó thì sẽ thành công lớn. Cũng như khéo điều lửa điều nước thì cơm chín ngon để chúng ta có cơm ăn.
Như vậy, muốn làm việc lớn luôn cần có sự điều hòa khôn khéo. Chúng ta nhớ phải tự điều hòa, không phải đợi đến người lớn xử mới điều hòa, mà mỗi người tự điều hòa với nhau. Những cái bất như ý, chúng ta tự chuyển, tự sửa, tự nhắc nhở nhau để tránh nhiều lỗi lầm. Như vậy là biết tu. Nhiều khi mình không điều hòa được, xảy ra lủng củng hoài thì không tốt. Tăng thì phải hòa hợp. Đó là điều hết sức thiết yếu.
Bây giờ nói riêng về tập thể của chúng ta hiện giờ, ở tại đây. Mỗi người có mỗi trách nhiệm, mang mỗi bổn phận khác nhau, chúng ta làm sao để điều hòa. Guồng máy nào cũng vậy, đều có nhiều bộ phận. Bộ phận nào cũng chạy đều, êm thì guồng máy đó được tốt, hoạt động được kết quả. Nếu các bộ phận có trục trặc một hai cái thì guồng máy đó chạy không êm, không kết quả.
Ở đây, mỗi vị sau khi được cử mỗi một trách nhiệm, thì ở ngay phạm vi của mình, lãnh vực của mình, đừng giẫm đạp cũng đừng chen lấn lên lãnh vực của người khác. Người nào có bổn phận của người nấy, như vậy mới tốt. Chứ người này lấn qua người kia, người kia lấn qua người nọ, thì rốt cuộc, không ai có trách nhiệm hết. Người chịu trách nhiệm thì đổ thừa “tại người kia làm lấn qua”. Người làm lấn qua thì nói “tại người đó không chịu làm, nên họ phải làm”. Như vậy, rốt cuộc rồi bên này đổ qua, bên kia đổ lại, mà không ai chịu trách nhiệm. Tôi cũng không biết rầy ai.
Trong chúng khi nhận trách nhiệm thì mỗi vị đều phải làm tròn bổn phận của mình, đúng trách nhiệm của mình, đó là sự đóng góp lớn lao cho thiền viện. Còn nếu lãnh trách nhiệm mà không làm hoặc làm không tròn thì người đó bị tôi khiển trách, rầy quở. Nếu làm việc lộn xộn như vậy thì không biết đâu mà rầy, mà nhắc. Nên quý vị có trách nhiệm phải cẩn thận, làm việc đâu ra đó cho tròn bổn phận của mình. Nếu ai đó đi quá đà thì cho tôi biết, để tránh tình trạng người này đổ qua người kia, làm công tác của thiền viện bị hư hao mất mát, bị đủ thứ phê phán, chê cười.
Mong rằng quý vị lớn, có trách nhiệm, phải nhớ bổn phận của mình. Làm đúng nhiệm vụ của mình, giao việc gì thì làm tròn việc nấy. Còn ngoài bổn phận của mình, ai muốn nhờ giúp thì thưa rõ ràng cho tôi biết, để khỏi xảy ra chuyện lôi thôi.
Đó là điều tôi nhắc tất cả, ai cũng phải làm tròn bổn phận được giao phó riêng, để phục vụ cho cái chung. Hòa hợp nhau, chung sức nhau làm để thu hoạch kết quả chung, không phải kết quả riêng cho cá nhân nào. Thí dụ, thiền viện Trúc Lâm có những bộ phận làm không chạy, bị người ta chê, thì đâu phải chê một hai người, mà chê tổ chức thiền viện bết như vậy. Nên ai ở trong thiền viện đều bị mang tiếng. Vậy nên mỗi vị nhận trách nhiệm phải khéo làm cho tròn. Nếu vì duyên nào đó làm không được thì phải trình trước để thay đổi. Chứ không nên, người được cắt đặt công tác thì không làm, người không có trách nhiệm thì lại làm, chuyện đó không thể được.
Đó là điều tôi nhắc nhở tất cả quý vị ở đây ý thức rõ ràng. Phải tổ chức sao cho mọi bộ phận đều lăn tròn, nhịp nhàng với nhau. Đừng để có sự trái nghịch mà hư hỏng việc lớn. Đó là lời khuyên nhắc hôm nay.
Buổi thỉnh nguyện hôm nay, những vị tự thấy có lỗi đã thành tâm sám hối. Trong chúng cũng ít có lỗi, đó là sự tiến bộ trên đường tu. Sau đây tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng.
Tôi thường dạy Phật tử phải ráng loại bỏ tham sân si. Ba thứ độc này cần phải đuổi dẹp, không để nó hại mình. Tôi dẫn câu chuyện thời đức Phật.
Một hôm, Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo rằng:
– Này, các Tỳ-kheo, nếu có ba con rắn độc chui vào trong thất của các ông, các ông ngủ có được yên không?
Các thầy Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con ngủ không yên. Phật hỏi:
– Làm sao các ông ngủ mới yên.
Các thầy Tỳ-kheo thưa:
– Chừng nào chúng con đuổi hết ba con rắn độc ra khỏi thất thì ngủ mới yên.
Đức Phật bảo:
– Cũng vậy, tham sân si là ba con rắn độc. Chúng còn nguy hiểm hơn cả rắn độc nữa.
Nếu người nào còn tham, sân, si trong tâm, thì người đó sẽ còn khổ, còn nguy hiểm hơn ba con rắn độc. Tại sao vậy? Phật dạy, rắn độc cắn chỉ chết thân này, còn tham sân si tạo nghiệp thì luân hồi sanh tử, chịu khổ không biết bao nhiêu kiếp, hết thân này đến thân khác, không biết bao giờ thôi dứt. Vì vậy tham sân si độc hơn ba con rắn độc.
Chỉ một con rắn độc chui vô trong thất thì mình ngủ đã không được, huống nữa là ba con. Như vậy, muốn cho mình được an ổn tự tại ở trong thất thì phải không dung chứa một con rắn độc nào. Còn có một con thì mình chưa an ổn. Trên đường tu ai cũng muốn tiến tới chỗ an lành tự tại giải thoát sanh tử, nhưng nếu còn tham sân si thì mình không bao giờ được an lành, đừng nói là tự tại giải thoát sanh tử. Bởi vậy, trên đường tu, chúng ta phải tiêu mòn, phải dẹp bỏ tất cả tham, sân, si thì mới mong tiến trên con đường giải thoát.
Tôi đọc ở trong A-hàm nói rằng, vị Tu-đà-hoàn tuy hết sân mà còn tham luyến nhẹ, nên còn phải bảy lần tái sanh, mới đi tới chỗ hoàn toàn giải thoát, chứng A-la-hán. Còn tham luyến nhẹ mà bảy phen luân hồi, huống là chúng ta còn nguyên tham sân si thì không làm sao giải thoát sanh tử được.
Tất cả chư tăng là người đứng ra lãnh đạo, hướng dẫn cho Phật tử tu hành, nhất là hướng dẫn cho đàn em, những người xuất gia sau này thì quý vị phải có trách nhiệm tự cố gắng dẹp bỏ tham, sân, si nơi mình. Nếu tham, sân, si nơi mình chưa dẹp được, thì giáo dục hay hướng dẫn người sau không bao giờ vuông tròn được.
Tôi mong mỗi người ở đây ai cũng cố gắng tu, dẹp dần các phiền não. Trong ba độc, sân là nổi nhất vì sân là ngọn, chứ không phải là gốc. Nói sân là ngọn, vì tham không được thì mới nổi sân. Mà tại sao có tham? Vì si mê chấp thân là thật, chấp tâm là thật, từ si mê đó mới khởi tham, tham không được nên dấy lên sân. Những người sanh lên cõi trời, từ cõi trời Sắc giới trở lên thì không còn sân. Vì sao? Vì trên đó không còn tham nữa, không còn tham nên không còn sân.
Khi tu quý vị thấy, nổi nhất là sân. Nó là họa lớn nhưng nó cũng là cái cạn nổi bên ngoài. Dẹp sân rồi mình dẹp tham, dẹp tham rồi mới dẹp si. Hoặc ngược lại, dẹp si để cho hết tham, rồi sân cũng theo đó hết. Trên đường tu, chúng ta luôn luôn khéo quán chiếu, nhìn nhận cho kỹ thân này, cảnh này, lúc nào cũng biết thân là tạm bợ giả dối, ngày nay đủ duyên thì còn, ngày mai hết duyên thì tan rã, không có gì bảo đảm là chân thật. Thấy rõ như vậy để không quyến luyến thân, không chấp thân, thì cảnh cũng không chấp.
Nhà Phật lấy vô ngã làm gốc. Người tu thấy ta là thật thì tu không bao giờ tiến. Phật dạy, luôn luôn quán năm uẩn là hư dối, không thật. Quý vị đêm nào cũng tụng Bát-nhã, có “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, rõ năm uẩn không thật nên trí tuệ tăng trưởng, đó là trí tuệ Bát-nhã. Thấy rõ được bản thân mình là duyên hợp tạm bợ, không có tự tánh, tức là không có tánh thật của nó, chỉ là một mớ duyên hợp. Đã là duyên hợp thì tạm bợ, tạm bợ thì cái gì là thật mà chấp ta thế này, ta thế nọ. Do đó mà chấp ngã hết, thì tham không còn, tham không còn thì sân theo đó cũng tiêu diệt.
Bởi vậy, đêm nào cũng tụng Bát-nhã đôi ba biến, để nhắc tới nhắc lui phải dùng trí tuệ soi sáng chiếu phá si mê. Si mê căn bản, mê lầm đầu tiên là chấp thân vô thường tạm bợ, duyên hợp hư dối này là thật. Từ mê lầm đó mà đưa tới tham sân sau này. Nên tất cả trong chúng, tu thì phải biết dứt sạch vô minh. Vô minh tức là mờ mịt không sáng, nên biết không đúng lẽ thật.
Bây giờ chúng ta dùng minh, dùng trí tuệ sáng để chiếu soi thì vô minh theo đó tan hết. Vô minh tan thì dòng sanh tử dừng. Vì vậy, trên đường giải thoát, tất cả chúng ta phải nỗ lực tận dụng trí tuệ của mình thấy đúng như thật, đừng để lầm lẫn rồi sanh ra tham sân, tạo nghiệp luân hồi sanh tử không có ngày cùng. Nhiều khi tôi bảo Phật tử phải dẹp sân tham, mà trong chùa mình còn thì làm sao dạy bảo Phật tử được.
Mong tất cả cố gắng! Để từ bản thân mình được thanh tịnh, có đức hạnh tốt và mọi người sẽ được sự cảm hóa, họ sẽ tiến tu tốt. Đó là sự mong mỏi của tôi.