Tất cả chúng ta có mặt trên trần gian này, ai cũng mơ ước sống một cuộc đời hạnh phúc, chẳng ai muốn cuộc đời mình bất hạnh. Thế nên mỗi năm vào ngày mùng một tết gặp nhau đều chúc nhau một năm hạnh phúc. Hạnh phúc là điều mình mơ ước và mọi người chúc tụng, vậy quý vị sống có được hoàn toàn hạnh phúc không? Không. Tại sao mơ ước hạnh phúc và chúc tụng nhau hạnh phúc mà không được hạnh phúc? Ngay trong cuộc sống này có ai dám vỗ ngực tự xưng rằng mình hoàn toàn hạnh phúc không? Nếu có, chỉ có chút ít thôi, mười phần chỉ được một hai, chứ không được trọn vẹn. Hạnh phúc là gì mà ai cũng mơ ước chúc tụng cho nhau?
Ví dụ đi lỡ đường, bụng đói cồn cào, lúc đó được bữa cơm ngon miệng, no lòng, đó là hạnh phúc. Giả sử thân đang bị rét lạnh được áo len mền nỉ thì thân được ấm, không còn rét run nữa, đó là hạnh phúc. Hạnh phúc là cái người đời thấy khi đói được ăn no, khi lạnh được sưởi ấm… Tóm lại, hạnh phúc không ngoài mắt thấy được sắc đẹp, tai nghe được âm thanh hay, mũi ngửi được mùi hương thơm, lưỡi nếm được vị ngon, thân xúc chạm được vật êm ấm. Những cái ưa thích của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân được toại nguyện là hạnh phúc chứ gì? Vậy năm căn tiếp xúc với năm trần được thỏa mãn đó là hạnh phúc. Ở đây tôi chỉ nói riêng lỗ tai thôi, hằng ngày lỗ tai thường được nghe tiếng êm dịu hay cũng có khi nghe lời thô bỉ cộc cằn? Có khi được khen, có lúc cũng bị chê. Song, chê nhiều hơn khen. Như vậy, muốn được hưởng những âm thanh vừa với lỗ tai thì ít, mà trái với lỗ tai thì nhiều. Muốn được tất cả mọi người đều khen thì dễ hay khó? Như Phật là bậc toàn giác mà có được khen hoàn toàn đâu? Trên thế gian này ai là người được khen hoàn toàn? Hễ có khen thì liền bị chê, khi khen thì vui tươi là hạnh phúc, lúc chê thì buồn khổ là bất hạnh. Cũng vậy, mũi ngửi mùi hôi nhiều hơn mùi thơm, lưỡi nếm vị dở nhiều hơn vị ngon, mắt thấy sắc xấu nhiều hơn sắc tốt, thân xúc chạm vật bất như ý nhiều hơn như ý. Kiểm lại thì con người bất hạnh nhiều hơn là hạnh phúc, nên ai cũng tự than là khổ, không ai thấy mình sống thật hoàn toàn hạnh phúc cả. Tại sao vậy? Vì cái mà mình cho là hạnh phúc đó là do căn tiếp xúc với trần sanh cảm thọ vui là tướng vô thường, âm thanh êm dịu tai nghe thoáng qua rồi mất, vị ngon lưỡi vừa nếm nuốt qua khỏi cổ cũng không còn… Tất cả cái mà con người thọ hưởng đó bản chất nó là vô thường, hễ vô thường thì tạm bợ, nên vừa thấy hạnh phúc đó liền mất, muốn giữ lại mà không được, vì vậy mà cảm thấy khổ. Tất cả những cái mà con người cho là hạnh phúc chỉ có giá trị tạm thời, không lâu bền chắc thật. Sau đây Phật dùng ví dụ để chỉ cho mọi người thấy rõ hạnh phúc trần gian là tạm bợ.
Xưa có một vị vua và hoàng hậu lớn tuổi mới sanh được một nàng công chúa, nên hết mực cưng chiều. Vì quá cưng chiều nên công chúa rất nhõng nhẽo. Một hôm trời mưa nước đọng lại trên mái nhà, rơi xuống hồ nước, khiến cho bong bóng nước nổi lên mặt hồ, ánh nắng mặt trời chiếu rọi bong bóng nước óng ánh rất đẹp. Công chúa nhìn thấy bóng nước óng ánh, cô thích quá bèn nghĩ: Nếu được một xâu chuỗi bằng bong bóng nước như thế để đeo thì tuyệt đẹp. Nghĩ vậy, rồi cô vô phòng nằm trùm chăn từ sáng đến chiều. Hoàng hậu thấy vắng đi tìm, thấy cô nằm im trùm chăn, bà nghĩ cô bệnh, cuống quýt hỏi han đủ điều, hỏi mãi mà cô vẫn làm thinh không trả lời. Hoàng hậu báo tin cho vua hay, vua đến thăm hỏi, cô cũng không trả lời. Năn nỉ tới chiều cô mới nói nho nhỏ rằng:
– Nếu có xâu chuỗi bằng bong bóng nước đeo thì con sẽ mạnh, nếu không có xâu chuỗi ấy chắc là con chết.
Vua nghe hoảng hốt, nếu công chúa chết thì nhà vua sẽ khốn khổ vô cùng. Vua bèn ra lệnh cho bá quan tìm người xâu bong bóng nước thành chuỗi cho công chúa đeo và hứa sẽ thăng quan trọng thưởng cho người xâu. Quý vị có dám lãnh trách nhiệm làm việc đó không? Không. Như vậy, mà có một ông già tới xin nhận trách nhiệm đó. Vua đưa ông tới chỗ công chúa ở. Bấy giờ cô vẫn còn nằm. Vua giới thiệu ông già với công chúa:
– Đây là người xâu chuỗi bong bóng nước, ông có biệt tài xâu chuỗi rất đẹp, cha sẽ nhờ ông xâu cho con một xâu chuỗi như ý con muốn, vậy con hãy ngồi dậy.
Công chúa nghe mừng quá liền trỗi dậy, ông già chậm rãi nói:
– Tôi chuyên nghề xâu bong bóng nước, bây giờ công chúa hãy ăn uống trở lại đi, sáng mai tôi sẽ xâu cho công chúa một xâu chuỗi bong bóng nước.
Công chúa vui mừng ăn uống bình thường. Sáng hôm sau, công chúa, nhà vua, hoàng hậu và ông già xâu chuỗi cùng ra trước thềm, trên mặt hồ vẫn có những hạt bong bóng nước nổi lóng lánh. Mọi người nhìn bong bóng nước, ông già bèn than:
– Tôi chuyên nghề xâu bong bóng nước làm chuỗi, song rất tiếc, tôi già cả, hai mắt sờ sệt e thấy không rõ. Vậy công chúa hãy lựa cái bong bóng nào thật đẹp vừa ý đưa tôi xâu cho.
Công chúa mừng rỡ, chờ giọt nước rơi xuống, bong bóng nước nổi lên, liền đưa tay vớt, nhưng bong bóng nước vừa lên khỏi mặt nước là bể tan. Từ sáng tới trưa vớt không được cái bong bóng nước nào hết. Công chúa mệt mỏi chán nản xoay qua nhà vua nói:
– Thưa cha, thôi, bây giờ con không thèm xâu chuỗi bong bóng nước nữa.
Nhà vua gật đầu:
– À, thì cha sẽ cho con xâu chuỗi kim cương.
Bong bóng nước dụ cho hạnh phúc ở trần gian, xa nhìn thì thấy nó đẹp lắm nhưng vừa nắm bắt được là nó tan mất, vì nó vô thường. Thế nên người tìm hạnh phúc trong ngũ dục, suốt đời không bao giờ được thỏa mãn. Công chúa dụ cho mọi người chúng ta. Cả cuộc đời đuổi theo hạnh phúc rốt cuộc rồi lại tay không, không ai là người tự hào rằng mình hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vì hạnh phúc mà chúng ta mơ ước, vừa chạm tới là nó tiêu tan. Vì cái mà con người mơ ước trông chờ là cái vô thường không chân thật. Thế nên vừa chạm tới là nó vuột khỏi tầm tay, không ai nắm giữ nó lâu bền. Nhà vua dụ cho đức Phật, khi nào con người chán chê hạnh phúc trần gian tạm bợ, Phật liền chỉ cho hạnh phúc chân thật, ở đây dụ cho xâu chuỗi kim cương. Ví dụ cho chúng ta thấy rằng công chúa đòi cái việc không đáng đòi. Cũng như con người mong mỏi mơ ước cái tạm bợ giả dối, để cả cuộc đời đeo đuổi nắm bắt, rốt lại chỉ thấy mỏi mệt nhọc nhằn. Hạnh phúc của trần gian là như vậy! Nếu biết trở về với đạo chúng ta sẽ có được cái hạnh phúc chân thật.
Nói đến hạnh phúc của đạo Phật, tôi xin nhắc qua hình ảnh Bồ-tát Di-lặc. Quý vị thấy tượng Bồ-tát Di-lặc có lúc nào buồn không? Ngài cười hoài. Tượng Di-lặc có hai: một tượng thì Bồ-tát Di-lặc ngồi một mình, thân mập mạp bụng to miệng cười toe toét. Còn một tượng ngài ngồi với sáu đứa bé, đứa thì móc lỗ tai, đứa thì móc lỗ mũi, đứa thì móc con mắt, đứa thì chọc lét… Chúng nó làm gì mặc nó, ngài vẫn cười. Còn chúng ta những cái đẹp mắt, vui tai, vừa miệng… thì vui mừng cho là hạnh phúc, còn ngược lại thì khó chịu bực bội cho là bất hạnh. Bồ-tát Di-lặc miệng bị móc, tai bị chọc, mũi bị kéo… Việc làm đó của đám trẻ là vừa ý ngài hay không vừa ý mà ngài vẫn cười? Chúng ta thì vừa ý mới cười, không vừa ý thì bực tức nên cái vui rất giới hạn, buồn nhiều hơn vui. Bồ-tát Di-lặc lúc nào cũng vui cười, vì mọi thuận nghịch đối với sáu căn của ngài đều không trở ngại, không buồn khổ.
Bồ-tát Di-lặc tu hạnh gì mà được phước báu vui cười như thế? Kinh nói Bồ-tát Di-lặc chuyên tu về pháp môn Duy thức quán. Song, nói theo hạnh thông thường thì ngài tu hạnh tùy hỷ và hỷ xả. Tùy là theo, hỷ là vui, xả là buông bỏ – vui theo và vui bỏ. Có một số chùa có để thùng phước sương, trên thùng ghi hai chữ tùy hỷ. Thấy người ta cúng mình tùy hỷ cúng theo, thấy người ta làm việc tốt mình tùy hỷ vui theo. Song, hiện tại chúng ta thấy người giàu có sang trọng hơn mình, có danh vị cao hơn, mình tùy hỷ hay đố kỵ? Chẳng hạn mình mặc áo rách thấy người mặc gấm vóc lụa là mình vui hay buồn? – Hơi buồn! Mình ở nhà trệt thấy người ở nhà lầu, mình vui hay buồn? – Hơi buồn! Buồn là đố kỵ không tùy hỷ. Bồ-tát Di-lặc do lòng từ bi thấy cái khổ của chúng sanh như cái khổ của mình, thấy cái vui của chúng sanh như cái vui của mình. Nên thấy ai được điều gì tốt ngài đều vui. Người biết tu hạnh tùy hỷ thấy ai hơn mình là mình vui, chẳng hạn thấy người có sắc vóc, tinh thần tươi đẹp cao thượng hơn mình, mình tùy hỷ nói: Mừng cho anh chị có nhiều phước báu được sắc diện tươi sáng, tinh thần thanh cao. Thấy người đi xe mới đẹp, mình tùy hỷ nói:
Mừng cho anh chị làm ăn phát đạt hưng thịnh. Như vậy là mình vui cả ngày không buồn và còn được người thương mến nữa. Ngược lại thấy người ta tươi đẹp thanh cao hơn mình, mình buồn, khởi lòng đố kỵ, nói: Chị đó hay se sua chưng diện làm duyên làm dáng… khiến người ta không ưa mình. Thấy người ta đi xe đẹp, mình không vui, sanh lòng đố kỵ nói: Anh đó làm phách khoe của… làm cho người ta ghét mình. Mình ở nhà trệt mái tôn, thấy người ta ở nhà lầu nhiều tầng cũng ghét chê người ta là hạng trọc phú… Nói như vậy cho bớt bực bội, cho thỏa mãn lòng ganh tỵ. Nếu gặp họ mà mình nói: Tôi mừng cho anh chị có được nhà rộng rãi đẹp đẽ. Người ta ở nhà đẹp mình ở nhà xấu mà vẫn vui. Mình có tâm tùy hỷ như vậy, có khi được họ mời vào nhà chơi nữa. Nếu mình ganh ghét đố kỵ cứ kiếm chuyện nói xấu, có khi bị người ta hại nữa là khác. Như vậy đố kỵ được lợi lạc hay tùy hỷ được lợi lạc? Phát tâm tùy hỷ chính mình được an lạc lại còn đem sự an vui cho mọi người. Ngược lại, đố kỵ thì bản thân mình bực bội và người khác cũng không vui thích, chỉ gây khổ cho mình cho người. Tùy hỷ không thiệt hại, không hao tiền tốn của chỉ thấy người ta được điều tốt đẹp hơn mình là mình vui theo vậy thôi. Việc làm không thiệt hại không tốn hao, lại được lợi ích, tại sao không làm? Còn đố kỵ thì tâm buồn phiền cau có, sanh bệnh hoạn, lại bị người ghét, mà cứ làm hoài!
Trong kinh Phật dạy: Người nào thấy ai làm điều thiện phát tâm tùy hỷ, thì người làm điều thiện được bao nhiêu công đức, người phát tâm tùy hỷ cũng được bấy nhiêu công đức.
Các thầy Tỳ-kheo lại hỏi tiếp:
– Bạch Thế Tôn, nếu công đức người phát tâm tùy hỷ bằng công đức của người làm thiện, như vậy công đức của người làm thiện có hao mòn, có bị chia bớt không?
Phật đáp bằng một ví dụ:
– Giả sử một cây đuốc đang cháy, có người đem cây đuốc khác tới mồi lửa. Khi lửa cháy qua ngọn đuốc thứ hai thì ngọn đuốc thứ nhất vẫn cháy, ánh sáng vẫn nguyên vẹn không lu không tắt. Cũng vậy, công đức người làm thiện không bị hao mòn, không bị chia bớt.
Chẳng hạn người làm lành được một trăm công đức thì người tùy hỷ cũng được một trăm công đức. Người làm lành thì tốn công tốn của, còn người tùy hỷ không hao tốn gì hết sao công đức ngang bằng như vậy? Người phát tâm làm thiện là họ xả lòng tham, nếu tham thì đâu có dám bỏ công của ra giúp người. Còn người phát tâm tùy hỷ, xả được tâm tật đố. Người thì xả lòng tham, người thì xả tâm tật đố. Cùng lìa bỏ được hai tật xấu như nhau nên công đức ngang nhau. Quý vị nghĩ có nên tu hạnh tùy hỷ không? Thật nhẹ nhàng, không tốn hao gì hết, rất dễ, chỉ cần vui theo là được. Như vậy cả ngày vui hoài và ai cũng thương mến.
Bồ-tát Di-lặc tu hạnh tùy hỷ nên ngài vui mãi, còn chúng ta đang làm hạnh gì mà khổ hoài vậy? Có phải chúng ta cứ để lòng ích kỷ tật đố dấy khởi hoài không? Bây giờ chúng ta tập sống với tâm tùy hỷ là bỏ được lòng tật đố ích kỷ, thì sẽ được vui như Bồ-tát Di-lặc.
Bồ-tát Di-lặc lại còn tu hạnh hỷ xả nữa. Tất cả chúng ta đây ai cũng có giận người, không giận mười người cũng giận năm, ba người. Mỗi khi giận ai, trong lòng quý vị cảm thấy nóng hay mát? Nóng. Nóng là lửa sân. Chúng ta thấy cái cây mà lửa cháy nám hoài thì cây đó khô. Cũng vậy, người nào sân nhiều thì người đó hốc hác khô gầy, dễ sanh bệnh hoạn. Mỗi lần nổi sân lên thì mặt quạu mắt đỏ, hiện ra tướng hung dữ ai cũng sợ, ai cũng ghét, tự mình thì ray rứt bực tức khó chịu. Có người nói tôi giận ông nọ bà kia suốt đời cũng không quên. Suốt đời ôm sân hận phiền não, làm sao an vui được? Đừng tưởng giận lâu là tốt là hay! Người ôm sân giận là người chứa lửa. Giả sử quý vị có lỡ giận người nào, trong đêm ngủ có yên không? Trằn trọc không ngủ được, vừa chợp mắt chợt nhớ đến kẻ đó hại tôi như thế này hại tôi như thế nọ, gian xảo hỗn ẩu như thế kia… bao nhiêu ý niệm oán thù dấy khởi, làm ran ngực nhức đầu không ngủ được, sáng ra mệt mỏi ăn không ngon, lâu ngày sanh ra đau bệnh rồi chết yểu. Như vậy, người chứa thù oán sân hận là người sáng suốt thông minh hay tối tăm dốt nát? Thật là mê mờ khờ dại. Vậy chúng ta nên tu hạnh hỷ xả, buông bỏ mọi oán hờn thù hận vì kiếp người sống không bao lâu, ôm ấp nó chỉ thêm khổ. Muốn sống được vui tươi hạnh phúc thì cái gì làm cho bực bội khổ đau phải xả bỏ, có xả bỏ tâm mới an ổn. Nếu lòng còn chứa chấp sân hận thì không bao giờ được an vui. Người thực hành hạnh hỷ xả, lòng không chứa chấp sân hận thì cả ngày an vui hạnh phúc, thân thể tráng kiện khỏe mạnh. Bồ-tát Di-lặc sở dĩ vui cười hoài là do ngài tu hạnh tùy hỷ và hỷ xả, nên người đời gọi ngài là con người hạnh phúc.
Quý Phật tử muốn được hạnh phúc như ngài phải tập tu hạnh tùy hỷ và hỷ xả. Tôi bảo đảm tu một tháng là được an vui một tháng, tu một năm là được an vui một năm, tu trọn đời là an vui trọn đời. Có nhiều Phật tử nói: Tôi đi chùa mười mấy năm nay, càng đi chùa nhiều chừng nào phiền não nhiều chừng nấy. Đi chùa mà phiền não là tại sao? Vì khởi tâm tật đố với người. Ví dụ tới giờ tụng kinh, thầy trụ trì bảo Phật tử A đánh chuông chủ lễ, Phật tử B không được đánh chuông chủ lễ thì buồn. Phật tử B đi chùa mà mang lòng đố kỵ, thấy người hơn mình một chút là không vui bực bội, do đó mà phiền não. Nếu Phật tử B biết tu tùy hỷ thì tán thán Phật tử A chủ lễ nghiêm trang, cất giọng dễ tụng hòa âm tốt… Đi chùa với tâm niệm như thế thì làm gì có phiền não? Phật dạy đi chùa để tu cốt cho hết phiền não, được an vui chứ Phật đâu có dạy đi chùa để tăng thêm phiền não. Bây giờ Phật tử đi chùa mà phiền não tăng là do tu sai, chỉ lo nhìn người để cho lòng ích kỷ đố kỵ dấy khởi mà không biết vui theo hạnh lành, xả bỏ lòng đố kỵ. Như vậy, đi chùa mà phiền não tăng trưởng có xứng đáng là một Phật tử tu theo Phật chưa? Vậy Phật tử làm tốt cho Phật hay làm xấu cho Phật? Phật thì cứu khổ, Phật tử đi chùa cứ khổ thêm, tức là làm cho người đời chê bai Phật pháp. Đó là làm trái với mục đích mà Phật đã nhắm đã dạy chúng ta. Nên người Phật tử chân chánh khi nói đến đi chùa, nói đến tu hành là phải buông xả phiền não, tự mình hết khổ, giúp cho mọi người cùng hết khổ, tu như thế mới là tu theo đạo Phật. Chứ còn nói tu, mà cứ ôm lòng đố kỵ oán hờn thì chưa tu gì hết. Như vậy, hạnh phúc mà đức Phật cho chúng ta đó là hạnh phúc gì? – Tùy hỷ và hỷ xả là niềm vui bất tận, là hạnh phúc chân thật, là xâu chuỗi kim cương đó vậy. Đó là hạnh phúc nhất.
Hạnh phúc thứ hai cao siêu hơn nữa đó là khi còn sống thì lúc nào cũng được an vui, khi chết thì chết một cách tự tại, không yếu đau oằn oại, không sợ hãi mà người đời không ai là không mơ ước. Thuở xưa bên Trung Hoa có ông Bàng Uẩn, là một nhà nho khá giả, sau phát tâm học Phật, tới thiền sư Hy Thiên ở Thạch Đầu hỏi:
– Người không cùng muôn pháp làm bạn là người gì?
Thiền sư Thạch Đầu liền bụm miệng ông lại, mà không nói gì. Ngang đó ông ngộ.
Sau, ông đến Mã Tổ Đạo Nhất cũng hỏi câu đó. Mã Tổ nói:
– Chừng nào ông hớp một hớp cạn nước Tây Giang, ta sẽ vì ông mà nói.
Qua câu nói này ông ngộ sâu thêm lý thiền. Sau đó, ông đem của cải đổ xuống sông hết. Cả gia đình sống đời thanh bạch. Gia đình ông có bốn người: ông, bà, con trai và con gái. Ông giáo dục cả gia đình tu, sau ngộ được lý thiền. Một hôm cả nhà bàn đạo lý. Ông nói:
– Khó khó, mười tạ dầu mè trên cây vuốt.
Trên thân cây cao, vuốt mười tạ dầu mè rất trơn, ai leo lên cũng tuột xuống nên rất khó leo. Việc tu hành rất khó, giống như leo lên cây vuốt dầu mè vậy. Bà Bàng Uẩn nói:
– Dễ dễ, trên đầu trăm cỏ ý tổ sư.
Việc tu hành rất dễ, khắp trên đầu trăm cỏ đều có ý tổ sư, đâu có khó! Cô Linh Chiếu liền kết thúc:
– Cũng chẳng dễ, cũng chẳng khó, đói đến thì ăn mệt ngủ khò!
Việc tu hành không dễ mà cũng không khó, chỉ biết khéo tùy thời, đói thì ăn mệt thì ngủ, chẳng có gì bận tâm. Câu này có nhiều người hiểu lầm.
Có thiền khách tới hỏi thiền sư Huệ Hải:
– Hòa thượng tu dụng công như thế nào?
– Đói ăn mệt ngủ.
– Đói ăn mệt ngủ ai làm chẳng được, có gì khó đâu mà Hòa thượng nói dụng công?
– Khác chứ.
– Khác chỗ nào?
– Người đời đói mà không chịu ăn, đòi trăm thứ. Mệt không chịu ngủ mà nghĩ trăm việc.
Quý Phật tử khi đói lên mâm cơm, thiếu ớt có chịu ăn không? Đòi ớt. Đói mà không chịu ăn đòi hỏi đủ thứ. Tối đến ngủ mà không chịu ngủ, gác tay lên trán lăn qua trở lại, nghĩ chuyện này nhớ chuyện kia. Cứ suy nghĩ mà không ngủ. Người tu hiểu đạo và ngộ đạo rồi thì ăn là ăn, ngủ là ngủ, không có vọng niệm xen tạp làm cho bỏ ăn mất ngủ. Người chưa hiểu đạo thì ăn còn đòi ngon chê dở, ngủ thì còn suy tính việc hơn việc thua, vì vậy nên khác.
Cô Linh Chiếu nói như vậy là người có tu hay không tu? Có tu. Một hôm ông Bàng Uẩn thấy duyên mãn, mới bảo cô Linh Chiếu ra sân coi đúng ngọ chưa cho ông hay. Ông leo lên bộ ngựa giữa ngồi kiết già, chờ đúng ngọ thì tịch. Cô Linh Chiếu ra nhìn mặt trời rồi trở vô thưa:
– Thưa ba, gần đúng ngọ, nhưng có nguyệt thực.
Ông bước xuống bộ ngựa ra sân coi. Cô Linh Chiếu leo lên bộ ngựa ngồi kiết già tịch trước. Ông trở vô thấy con đã tịch, cười nói:
– Con gái ta lanh lợi quá!
Chôn cất cô Linh Chiếu xong, ông báo tin cho bạn bè hay bảy ngày sau ông tịch. Lúc đó có ông Châu mục tới thăm, hai vị đàm đạo một hồi. Ông Bàng Uẩn nằm gác đầu trên gối của ông Mục công tịch. Tin ông Bàng Uẩn và cô Linh Chiếu tịch đưa về, bà Bàng Uẩn đang ở riêng. Cậu con trai đang cày ruộng, bà ra đồng cho hay:
– Ông già vô tri và con nhỏ ngu si đi rồi con.
– Vậy hả má!
Cậu đứng giữa ruộng tịch theo. Bà nói:
– Thằng ngu si nó cũng đi nữa.
Bà chôn cất con trai xong, từ giã mọi người biệt tích luôn. Cả gia đình ông Bàng Uẩn muốn sống thì sống muốn chết thì chết tự do tự tại. Cho nên ai cũng mơ ước cái hạnh phúc đó. Trên đời này có gì khổ hơn là chết, ai nghe chết cũng đều sợ. Thế mà người tu muốn chết là chết muốn sống là sống, sanh tử tự tại, đó mới là chân hạnh phúc. Hạnh phúc đó mới là hạnh phúc cứu cánh, còn cái hạnh phúc do thỏa mãn sáu căn chưa phải là cứu cánh.
Mọi người tu theo đạo Phật là tìm cái hạnh phúc chân thật đó. Nghĩa là làm sao trong cuộc sống này chúng ta luôn luôn an vui không bị phiền não quấy nhiễu và khi chết cũng được an ổn tự tại. Đừng tưởng rằng hằng ngày tu sơ sơ chừng nhắm mắt niệm mười câu A-di-đà Phật là được Phật rước về Cực lạc mới là hạnh phúc, đó chỉ là tưởng tượng thôi. Bởi vì tu nhân thế nào thì thành tựu quả thế ấy. Hiện tại tu được an vui không phiền não thì mai kia chết mới được tự tại. Còn hiện tại tâm phiền não bất an mong chết được tự tại thì vô lý. Thế nên, muốn được hưởng hạnh phúc chân thật trong cuộc sống này, chúng ta phải khéo tu để được nguồn an lạc thật sự thì khi chết mới được tự do tự tại.
Vậy tôi chúc quý Phật tử đi chùa, lần này về mỗi người đều được quàng xâu chuỗi kim cương, nhớ đừng đòi xâu chuỗi bong bóng nước như cô công chúa nhõng nhẽo kia. Đó là lợi ích thiết thực trong việc tu hành, chứ không phải là chuyện xa vời không thể thực hiện.