Thiền Tông Phật Giáo Trong Mạch Nguồn Dân Tộc

Đạo Phật Thấy Nói Đúng Như Thật



(Giảng tại Hội liên hiệp Khoa học kỹ thuật UIA ngày 13-04-1996)

Thưa quý vị giáo sư, các nhà nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, cùng tất cả Phật tử và quý vị khách tham dự. Đối tượng chúng tôi nói chuyện hôm nay là các nhà khoa học kỹ thuật, nên tôi sẽ nói về đề tài Đạo Phật thấy nói đúng như thật. Qua đây tôi trình bày tinh thần đạo Phật thích hợp với khoa học như thế nào, để tất cả quý vị cùng thấy được đạo Phật trí tuệ và thực tế, chứ không phải huyễn hoặc mơ hồ như một số người đã hiểu lầm.

Trước kia có người nói, khi khoa học tiến là lúc tôn giáo lùi. Câu này được nhiều người chấp nhận, nhưng cái nhìn của chúng tôi thì khác. Khoa học tiến tôn giáo lùi, đó là căn cứ vào các tôn giáo ở phương Tây, còn với đạo Phật thì câu đó chưa hẳn là đúng. Theo tôi, khoa học càng tiến đạo Phật càng sáng tỏ. Bởi khoa học càng tiến chừng nào thì càng làm sáng tỏ thêm cho đạo Phật chừng ấy, chứ không có nghĩa là khoa học tiến rồi đạo Phật bị lùi. Chúng tôi nêu lên đây một vài nét để quý vị nghiệm xét.

Những ai từng đọc kinh Phật, ắt đều thuộc lòng câu nói trong kinh Kim Cang: “Thế giới phi thế giới, thị danh thế giới. Vi trần phi vi trần, thị danh vi trần. Chúng sanh phi chúng sanh, thị danh chúng sanh.” Đó là tôi dẫn nguyên văn chữ Hán, còn dịch sang tiếng Việt là: “Thế giới không phải thế giới, ấy gọi là thế giới. Vi trần không phải vi trần, ấy gọi là vi trần. Chúng sanh không phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh.” Xưa kia đọc tụng những câu này, tôi cảm thấy ngoài tầm hiểu biết của con người. Nhưng ngày nay nhờ khoa học phát triển, giúp chúng ta sáng tỏ được một cách dễ dàng.

Nhìn theo thuyết nguyên tử của khoa học, chúng ta thấy thế giới chỉ là một sự xoay tròn xoắn chặt của bao nhiêu nguyên tử. Nếu như căn cứ trên thuyết nguyên tử thì thế giới có phải là thế giới không? Chẳng qua chỉ là một số lớn nguyên tử xoắn chặt lại với nhau mà thôi. Khi nó xoắn chặt lại, chúng ta tạm gọi đây là thế giới. Thể của nó không phải là thế giới, nhưng khi nó hợp lại thành ra hiện tượng, hiện tượng đó chúng ta đặt tên là thế giới. Như vậy thì thế giới chỉ là giả danh, không có thật thể.

Vi trần cũng do bao nhiêu nguyên tử kết hợp lại mà thành, những nguyên tử kết hợp lại đó do đơn vị của nó rất nhỏ, nên tạm gọi là vị trần. Thế thì tên vị trần cũng là giả danh, chỉ do một mớ nguyên tử kết hợp lại, không có thật thể.

Chúng sanh cũng thế, từ con người cho đến tất cả các loài động vật đều không thật. Nói chúng sanh thuộc phạm vi rộng chúng ta khó hiểu, ở đây tôi có thể dùng từ khác hơn cho quý vị dễ hiểu, là tế bào. Một con người có bao nhiêu tế bào kết hợp bảo vệ, gìn giữ và làm cho tăng trưởng… gọi đó là con người, là chúng sanh; chứ thật thể con người, thật thể chúng sanh cũng không có, có đó chẳng qua chỉ là do sự kết hợp của bao nhiêu tế bào chung lại mà thôi.

Nếu nhìn theo con mắt khoa học thì rõ ràng thế giới, vi trần, chúng sanh… chỉ là một giả tướng. Do đủ các nhân tố chung hợp lại thì gọi là chúng sanh, thế giới, vi trần v.v… Những tên mà chúng ta gọi đó cũng chỉ là giả danh, tạm đặt để cùng hiểu với nhau chứ thật thể của nó hoàn toàn không có, đó là lẽ thật. Lẽ thật ấy nhờ vào khoa học phát triển mà chúng ta dễ hiểu dễ biết.

Kinh Kim Cang hay kinh Kim Cương, nói đủ là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Bát-nhã dịch nghĩa là Trí tuệ, Ba-la-mật là cứu cánh. Trí tuệ cứu cánh là trí tuệ tột cùng, vững chắc như chất kim cương khó phá tan được. Cái nhìn của đức Phật trong kinh Kim Cương là cái thấy đúng như thật, nhưng rất tiếc người học chúng ta chưa tới trình độ đó nên khó hiểu. Ngày nay nhờ sự phát minh của các nhà khoa học, mà càng ngày chúng ta càng thấy rõ và hiểu hơn khi đọc lại những vấn đề đức Phật đã nói. Đó là tôi nói về trí tuệ của đạo Phật qua kinh Kim Cang.

Nếu quý vị không đọc kinh Kim Cang thì chắc cũng có nghe Bát-nhã Tâm kinh, đây là một bản kinh rất ngắn, được toát yếu từ bộ Đại Bát-nhã sáu trăm quyển, trong đó có dùng nhiều chữ Không. Như câu “Chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách”, hay là “Thị chư pháp Không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm” v.v… Chữ Không trong hệ Bát-nhã tối quan trọng. Tại sao vậy? Vì chữ Không này không phải người thường hiểu Không nghĩa là chẳng có gì, mà Không đây là chỉ cho tất cả muôn sự muôn vật ở thế gian đều do duyên hợp không có thật thể. Nghĩa là các pháp do nhiều nhân tố chung lại thành hình, mà nhiều nhân tố thì đương nhiên nó không có tự thể riêng nên gọi là tánh Không.

Từ trí tuệ Bát-nhã đức Phật nhìn tất cả sự vật trên thế gian, không có cái gì chỉ do một nhân mà thành quả, cũng không cái gì bỗng nhiên mà có hình tượng, tất cả đều là tướng duyên hợp. Mọi sự vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, điều này với con mắt của các nhà khoa học ngày nay thấy rất cụ thể. Thấy như thế đức Phật gọi là cái thấy đúng, cái thấy chân thật.

Thói quen của con người thường nghĩ rằng, có một cái gì đó khởi đầu và cũng có một cái gì đó kết thúc. Thế nên khi suy nghĩ muốn tìm hiểu điều gì, họ đều tìm hiểu theo nghĩa nhất nhân, tức là có một cái ban đầu tạo thành tất cả, nhưng đạo Phật phủ nhận điều đó. Đức Phật không chấp nhận do một nhân tạo nên tất cả, mà do nhiều duyên hợp lại mới thành. Như vậy, cái nhìn của đạo Phật và cái nhìn của các nhà khoa học ngày nay không có cách biệt, đó là điều tôi muốn nêu lên cho quý vị thấy rõ. Điều đáng buồn là do chúng ta không hiểu thấu chỗ đức Phật thấy biết, nên khi nghe trong kinh nói tất cả pháp là vô thường, tất cả pháp đều huyễn hóa… rồi cho đạo Phật là đạo bi quan. Lầm nghĩ rằng đã là vô thường huyễn hóa, vậy tranh đua cầu mong đạt được cái này cái nọ làm gì? Suy nghĩ như thế nên họ không nỗ lực phấn đấu, không cố gắng để đạt được kết quả thật nhiều thật tốt cho bản thân mình.

Hiện nay chúng ta có thể thấy, như trong lãnh vực y khoa, nhờ y học phát triển mà các bác sĩ biết rất rõ thân này là một khối tế bào chung hợp, trong đó tế bào nào thuộc loại chống vi trùng, tế bào nào làm cho cơ thể bị hủy hoại v.v… Biết như thế nhưng các bác sĩ không bị quan mà ngược lại còn lạc quan hơn. Cũng như các nhà khoa học, qua nghiên cứu đã thấy rõ tất cả sự vật trên thế gian, đều do sự kết hợp từ các nguyên tử mà thành. Thấy vậy các vị có bi quan không? Thấy rõ lẽ thật mà không bị quan. Tại sao? Bởi đâu phải vì thấy lẽ thật mà gọi là bị quan, thấy để tìm ra phương pháp ứng dụng đưa lẽ thật đi vào cuộc đời, giúp cho sự sống của con người được lợi ích tốt đẹp hơn. Tinh thần của đạo Phật cũng như thế.

Tiến sâu hơn về đề tài chúng tôi đã nêu, đạo Phật thấy nói đúng như thật. Tại sao tôi nói như thế? Trước hết xin hỏi các vị, Phật là gì? Biết Phật là gì rồi mới nói đến đạo Phật thấy, nói đúng như thật được.

Phật là phiên âm từ chữ Buddha trong tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Giác giả, tức người giác ngộ. Vì để giản trạch giữa giác ngộ tầm thường và giác ngộ đến chỗ cứu cánh, nên khi dịch các ngài không gọi là người giác ngộ, mà vẫn giữ nguyên phiên âm là Phật. Khi ai cần hiểu thêm thì nghiên cứu bên tiếng Phạn sẽ được đầy đủ hơn.

Như vậy, Phật là chỉ cho người đã giác ngộ, hoặc người được giác ngộ thì gọi là Phật. Như vậy, giác ngộ là một hiện tượng phát minh lớn lao về một vấn đề mà đức Phật đang theo dõi, đó là thấy đúng như thật về con người và muôn vật. Do giác ngộ thấy đúng như thật, nên lời chỉ dạy của đức Phật cũng đúng như thật. Như các nhà bác học, khi nghiên cứu một vấn đề gì thì dồn hết tâm lực trong ấy, bất thần một phút giây nào đó phát minh được cái mình đang nghiên cứu thì gọi là người phát minh hay nhà phát minh. Còn người tu Phật khi dồn hết tâm lực vào việc chuyên tu, tới chỗ an định trí tuệ bừng sáng thì gọi là người giác ngộ hay bậc giác ngộ.

Phật là bậc giác ngộ, pháp Phật dạy là phương pháp hướng dẫn chúng ta tu tập giác ngộ, thế nên nói tới đạo Phật tức là nói đến con đường đưa tới giác ngộ, mà con đường đó chính chúng ta phải đi mới được. Đức Phật thường dạy: “Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp.” Đuốc là cái sẵn có của mình, nhưng chưa cháy nên nó còn tối. Vì vậy mỗi người phải tự thắp đuốc lên cho sáng, để soi rõ mới thấy đường mà đi. Nhưng bây giờ mình đang không có lửa thì làm sao mà thắp sáng được? Buộc lòng phải mồi cái đuốc của Phật. Đuốc của Phật là chánh pháp, tức những lời Phật dạy trong kinh. Chánh pháp là ngọn lửa của cây đuốc trí tuệ, chúng ta mồi vào để thắp sáng cây đuốc trí tuệ của mình. Như vậy, chủ yếu tu theo đạo Phật là thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, chứ không phải cốt để tăng trưởng lòng tin mù quáng lệch lạc.

Quý vị có biết đức Phật giác ngộ được những gì mà ngài chỉ dạy lại cho chúng ta ngày nay không? Đức Phật lúc còn là thái tử Tất-đạt-đa, ngài rời bỏ hoàng cung đi tu và tìm học với các vị tiên nhân thời đó, nhưng không thỏa mãn được bản hoài. Bản hoài của ngài chính là phải tìm cho ra manh mối của con người, từ đâu mà đến, chết rồi sẽ đi đâu, làm sao để không còn bị sanh tử nữa? Ba vấn đề lớn mà thái tử Tất-đạt-đa thao thức và quyết chí đi tu để giải đáp cho mình. Bởi thế dù ai dạy hay cách mấy mà không thấu đạt được ba vấn đề đó, ngài cũng không hài lòng.

Ngài từ giã các vị tiên nhân rồi tự tu khổ hạnh thử tìm giải đáp nhưng vẫn không được, cuối cùng ngài lìa bỏ tất cả, ăn uống trở lại bình thường. Thái tử đến dưới cội Bồ-đề trải cỏ ngồi thiền định, tâm an tĩnh vắng lặng. Đến đêm thứ bốn mươi chín, bừng sáng được ba vấn đề cưu mang trong lòng, ngài chứng Tam minh. Tam minh tức ba cái sáng. Đó là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.

Canh đầu chứng Túc mạng minh, ngài sáng tỏ được sinh mạng của mình từ muôn kiếp xa xưa. Trong kinh còn ghi lại, đức Phật nói: “Ta nhớ chuyện vô số kiếp về trước, như nhớ việc mới xảy ra hôm qua.” Ngài biết rằng con người không phải chỉ có mặt một lần, mà đã có mặt vô số lần trên thế gian này rồi, sinh mạng hiện tại chỉ là một chặng của muôn lần sanh tử mà thôi. Do sáng được lẽ ấy, Phật mới nói ra hai bộ kinh Bản Sanh và Bản Sự. Bản sanh là nói về tiền kiếp của ngài, bản sự là nói về tiền kiếp của những vị đệ tử.

Khoảng canh ba ngài chứng Thiên nhãn minh, hay còn gọi Sanh tử minh, là thấy rõ được nguyên nhân sanh tử. Ngài thấy tường tận lý do gì mình phải sanh ra, rồi cứ thế mà cuộc sống được tiếp tục. Sáng được vấn đề thứ hai, đức Phật kể: “Khi chứng được Thiên nhãn minh, ta thấy chúng sanh theo nghiệp luân hồi trong lục đạo, giống như người đứng trên lầu ba nhìn xuống ngã tư đường thấy kẻ qua người lại rõ ràng không chút ngờ vực.” Đức Phật thấy được chúng ta chết rồi không phải là hết, mà theo nghiệp thọ sanh nơi này nơi nọ, tốt hay xấu là tùy theo nghiệp duyên riêng của mỗi người.

Sau khi chứng được Thiên nhãn minh, ngài lại thấy những điều mà thế gian thời đó không ai biết. Đức Phật thấy trong hư không có vô số thế giới không thể kể hết, chỉ có thể dụ như cát sông Hằng, nên trong kinh hay nói “hằng hà sa số thế giới”. Thí dụ thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Độ chắc quý vị khó biết, tôi tạm nói thế giới nhiều như cát sông Hồng ở Việt Nam cho dễ hiểu. Quý vị thử tưởng tượng, cát sông Hồng nhiều chừng bao nhiêu mà dụ thế giới nhiều như vậy?

Từ chứng được minh này mà đức Phật nhìn thấy, trong bát nước có vô số vi trùng, nên nói: “Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng.” Phật nhìn thấy trong bát nước có tám muôn bốn ngàn vi trùng, vì thế Phật bảo các Tỳ-kheo, muốn uống nước trước phải lọc kỹ để không chết côn trùng, nếu không lọc mà uống thì cũng như ăn thịt chúng sanh vậy.

Đó là nhìn bên ngoài, còn nhìn vào trong thân thì Phật nói: “Nhân thân chi nội, hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú”, nghĩa là trong thân con người có vô số vi trùng đang ở trong ấy. Quý vị thấy, đức Phật ra đời cách chúng ta hơn hai mươi lăm thế kỷ, mà ngài đã nhìn thấy vô số thế giới, vô số vi trùng. Những điều này thuở xưa không ai tin nổi, vì không có phương tiện. Tuy nhiên Phật thấy như thế nào thì ngài nói ra thế ấy mà thôi, còn chuyện tin hay không là quyền của mọi người. Mãi về sau, vào thế kỷ XIX, thế kỷ XX khi khoa học phát triển, chúng ta mới tin được những lời đức Phật nói.

Xưa kia nghe Phật nói như thế thì chúng ta chỉ biết thế thôi, chứ chuyện cuộc sống hàng ngày trước mắt chúng ta còn chưa biết rõ, nói gì chuyện xa xôi như vậy. Nhưng thời đại hiện nay, chúng ta có thể thấy được rõ ràng những lẽ thật mà đức Phật đã nói. Cho nên kinh sách đạo Phật, nếu chúng ta chỉ đọc và hiểu theo cái nhìn hời hợt thì không bao giờ thấu suốt được, phải suy ngẫm kỹ và nhờ vào sự hỗ trợ từ kiến thức khoa học ngày nay, chúng ta mới thấy tường tận hơn.

Có lần khi đang ở trong rừng, đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo: “Lá cây trong rừng, có những lá vừa mới sanh, có những lá xanh non mơn mởn, có những lá đang vàng úa, có những lá đã rơi rụng… Thế giới trong hư không này cũng lại như vậy, có cái mới thành, có cái đang trụ, có cái suy hoại, có cái thành không.” Đức Phật đã thấy tường tận về cội gốc của con người và muôn vật, cho nên ngài mới nói ra thuyết vô thường. Đứng về thời kỳ vô thường thì thế giới có thành, trụ, hoại, không; sự vật thì sanh, trụ, dị, diệt; con người thì sanh, lão, bệnh, tử. Tất cả đều chuyển biến đổi thay không dừng.

Đạo Phật nói vô thường không phải đợi đến khi mình già bệnh chết, mà vô thường chuyển biến trong từng sát-na. Sự chuyển biến trong từng sát-na đó, gọi là sát-na vô thường. Đây là từ ngữ chuyên môn của đạo Phật. Chữ sát-na là chỉ thời gian rất ngắn, mà trong tiếng Việt lẫn tiếng Trung Hoa đều không có từ để dịch, ngay cả hiện nay chúng ta cũng không thể diễn tả được. Thông thường muốn nói về một cái gì rất nhanh, chúng ta hay nói nhanh như chớp mắt, mà trong kinh nói mỗi một chớp mắt là mấy trăm sát-na. Một cái chớp mắt đã qua mấy trăm sát-na, cho nên không biết dùng từ ngữ nào để dịch cho sát nghĩa.

Tuy không từ ngữ nào để nói rõ về nghĩa sát-na, nhưng chúng ta cũng có thể biết được rằng, cứ mỗi phút giây trong cơ thể mình và sự vật chung quanh, luôn luôn chuyển biến không dừng. Bài kinh Kim Sắc Đồng Tử Nhân Duyên quyển một, có đoạn nói:

Ban ngày hay ban đêm,

Hoặc đi hay dừng ở,

Như sông lớn chảy mạnh,

Mỗi niệm không dừng nghỉ.

Ngủ nghỉ qua một đêm,

Thọ mạng giảm bớt theo,

Giống như cá cạn nước, 

Nào có vui sướng gì.

Bài kinh này diễn tả sự sanh diệt của con người, không phải chờ đợi một phút giây nào mới đổi thay, mà đổi thay liên tục. Giống như con cá ở dưới ao, gặp trời nắng hạn nước sắp cạn, cứ mỗi phút mỗi giây nước cạn dần cạn dần.

Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Sơ tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, khi lên Bảo Đài Sơn, ngài cảm hứng làm một bài thơ. Bài thơ có tám câu, nhưng ở đây tôi chỉ trích hai câu mà tôi rất tâm đắc:

Vạn sự thủy lưu thủy

Bách niên tâm ngữ tâm.

Tôi tạm dịch là:

Muôn việc nước trôi nước 

Trăm năm lòng dặn lòng.

Ngài thấy rõ tất cả sự vật trên thế gian luôn chuyển biến, như dòng nước trôi liên tục không dừng. Tuổi thọ trăm năm của con người cũng vậy, chỉ là một chặng phỏng định chứ không có lẽ thật. Cho nên chúng ta phải hằng nhớ, muôn sự muôn vật đang trôi không dừng. Luôn luôn nhắc nhở trong lòng như thế, để chúng ta đừng đắm mê theo đuổi thế gian tạm bợ này.

Đó là nói về sát-na vô thường, giờ đây tôi giải thích tới nhất kỳ vô thường. Các vị thiền sư Việt Nam thường nói đến nhất kỳ vô thường để nhắc nhở chúng ta thức tỉnh. Thiền sư Vạn Hạnh nói:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố ủy 

Thịnh suy như lộ thảo đầu phố.

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, thân này như làn điện, như tia chớp, có rồi trở lại không. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô, tất cả cây cối đến tiết mùa xuân thì tươi nhuần, mùa thu bắt đầu tàn héo. Từ con người cho tới muôn vật, theo thời gian mà chuyển biến luôn luôn. Chuyển biến luôn luôn, đó là vô thường. Nhưng với cái nhìn của người học Phật, khi thấy cảnh đổi thay như thế chúng ta phải thế nào?

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, mặc dù có thịnh có suy theo vô thường đổi thay, nhưng chúng ta đừng sợ hãi. Tại sao? Bởi vì thịnh suy như lộ thảo đầu phô, thịnh suy giống như sương trên đầu ngọn cỏ, thấy đó rồi tan mất, không có gì thật. Đã là không thật thì có gì mà phải sợ hãi. Cho nên hiểu được lý vô thường chúng ta mới không chán đời, không bi quan, sống trong vô thường mà vẫn luôn an nhàn tự tại.

Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, một hôm giảng dạy cho chư tăng và cư sĩ. Bước lên tòa nhìn đại chúng chưa nói gì, bỗng nhiên ngài ngâm bốn câu thơ:

Thân như hô hấp tỹ trung khí,

Thế tự phong hành lãnh ngoại vân.

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,

Bất thị tầm thường không quá xuân.

Rồi vỗ bàn một cái, nói:

– Không có gì sao? Ra đây! Ra đây!

Thân như hấp tỹ trung khí, thân mình giống như hơi thở vô ra trong lỗ mũi. Nghĩa là sự sống của chúng ta gá vào hơi thở, nếu thở ra không hít vào là chết, nên nói mạng sống chỉ trong hơi thở. Thế tự phong hành lãnh ngoại vân, cuộc đời giống như gió thổi mây trôi ngoài đỉnh núi, thấy đó rồi mất không lâu bền. Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú, con chim đỗ quyên kêu hót từng chặp từng hồi trong ánh trăng sáng như ban ngày. Bất thị tầm thường không quá xuân, đâu phải tầm thường qua một xuân.

Chúng tôi dẫn qua những bài kệ để quý vị thấy cái nhìn của các thiền sư Việt Nam rất tường tận, đúng theo tinh thần Phật dạy không khác. Trong kinh kể, một hôm đức Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo:

– Mạng người sống được bao lâu?

Một Tỳ-kheo thưa:

– Bạch Thế Tôn, mạng người sống được đôi ba năm.

Phật nói:

– Ông chưa hiểu đạo.

Vị Tỳ-kheo khác thưa:

– Bạch Thế Tôn, mạng người sống khoảng bữa ăn.

– Ông cũng chưa hiểu đạo.

Tỳ-kheo khác thưa:

– Bạch Thế Tôn, mạng người sống trong hơi thở.

Phật gật đầu:

– Ông đã hiểu đạo.

Chữ đạo ở đây là lẽ thật, là chân lý. Câu trả lời nghe rất tầm thường, nhưng đó chính là chân lý. Dù có cho rằng năm ba năm… hay một giờ nữa mình chết vẫn chưa đúng lẽ thật. Bởi bất cứ chết trong hoàn cảnh nào, cũng chỉ thở khì ra không hít vô là chết. Đến như bệnh nằm liệt giường, tuy nhắm mắt không có cảm giác mà còn thở vẫn chưa chết, đến lúc thở ra không hít vào là chết, rõ ràng mạng sống chỉ nằm trong hơi thở. Thấy được lẽ thật đó là thấy đạo.

Đạo Phật thấy mạng người sống trong hơi thở, cuộc đời tợ áng mây trôi, không có gì quan trọng. Các thiền sư ngay nơi lời dạy của đức Phật, đi sâu và nhận ra bên cạnh cái sanh diệt có cái không sanh diệt. Thiền sư Việt Nam cũng thế, hiểu đạo Phật đúng theo lý của Phật dạy, ngay nơi vô thường sanh diệt mà thấy được cái không sanh diệt bất động.

Ngài Điều Ngự Giác Hoàng mượn hình ảnh chim đỗ quyên kêu từng chặp để diễn tả thế gian sanh diệt không dừng, nhưng ánh sáng mặt trăng vằng vặc không động. Cuộc sống của con người là vậy, vô thường sanh diệt. Thế nhưng chúng ta đừng khinh thường thân sanh diệt tạm bợ này, mà bỏ mất cái quý báu bất sanh bất diệt thường hằng. Trong sanh diệt đó mà thấy được có cái không sanh diệt, trong tướng riêng biệt mà nhận ra cái vô tướng lặng lẽ hiện bày, đừng sống tầm thường để trôi suông qua đi một đời.

Hiện giờ đa số chúng ta chỉ tìm được những thứ thuộc về sanh diệt, phân tích trên sanh diệt mà chưa tìm ra được cái gì không sanh diệt. Đây là điều quan trọng mà tôi nêu lên cho quý vị cùng thấy. Tôi thường hỏi các Phật tử, như cuộc sống chúng ta hiện tại có ăn, uống và thở, vậy hàng ngày mình nhớ cái nào nhiều nhất? Phật tử trả lời nhớ ăn là số một, số hai là uống, còn thở nhiều khi quên không để ý.

Nhưng thưa quý vị, trong ba thứ này cái nào quan trọng hơn? Chúng ta nhịn ăn một tuần lễ chưa chết, nhịn uống đôi ba ngày có thể cũng chưa chết, nhưng nhịn thở chừng một hai phút là không còn gì. Như vậy điều thiết yếu mà chúng ta coi thường, còn cái không thiết yếu thì chúng ta lại dồn hết tâm lực để lo. Thân và những thứ suy nghĩ hiểu biết, kiến thức phân biệt… thuộc về hình tướng hư hoại, mà chúng ta lo lắng cả đời. Lo cho thân ấm no, lo cho kiến thức được sung túc v.v… còn cái không thuộc hình tướng, không bị hư hoại thì chúng ta không lo. Đó là sai lầm của chúng ta.

Thân là thể xác thô, bị kiến thức hiểu biết chỉ huy nó. Nhưng những kiến thức chúng ta có được đó, cũng chỉ là bề nổi ở trên thôi. Bên cạnh hiểu biết này còn có cái biết sáng rỡ thường hằng mà chúng ta không nhận ra, cái ấy Phật gọi là tánh giác, hay chân tâm.

Trong quyển Cành Lá Vô Ưu, chúng tôi nêu thí dụ, như có người hỏi nước ở biển có dậy sóng không, có chảy không? Chúng ta thường đáp, nước ở biển có dậy sóng, có chảy. Nhưng tôi hỏi lại: Nếu nước ở biển có dậy sóng, có chảy, vậy khi đem nước đó đổ vô trong một cái bình, không gió và không duyên cao thấp thì nước có chảy, có dậy sóng không? Không. Nước trong bình không chảy cũng không dậy sóng.

Sở dĩ nước ở biển dấy động bởi do có gió, tuôn chảy là tùy cao thấp. Như vậy động và chảy là tùy duyên, còn tự nước thì không động không chảy. Cũng vậy, tâm suy nghĩ hiểu biết của chúng ta luôn duyên theo cảnh, nên hễ có cảnh là có duyên. Cảnh thế nào thì chúng ta liền đuổi theo nó để phân biệt, rồi cho cái biết đó là tâm của mình. Thế nên cả đời chúng ta chỉ lo có hai mặt, một mặt là thân và một mặt là tâm sanh diệt, còn cái biết lặng lẽ thường hằng thì chúng ta không màng tới.

Hôm nay tôi chỉ nói vắn tắt về vấn đề này, khi khác có thời gian tôi sẽ giải thích kỹ hơn, giờ trở về đề tài chúng ta đang nói. Tôi lặp lại, với cái nhìn của đức Phật tất cả muôn vật trên thế gian này đều thuộc vô thường, vì do nhân duyên sinh. Nói lý duyên sinh tức Phật không chấp nhận thuyết nhất nhân và vô nhân của ngoại đạo.

Quý vị là những nhà khoa học chắc chắn thấy rõ điều này. Không có một cái gì từ một cái thành một cái, từ một vật thành một vật, mà đều do sự tụ họp của nhiều duyên chung lại mới thành. Đã là duyên hợp thì nó không có thật thể cố định, chỉ là tướng hư dối theo duyên. Duyên tụ thì thành, duyên ly tán thì hoại. Tụ do duyên, tán cũng do duyên, không có một pháp gì tự nó nguyên vẹn, chân thật.

Bây giờ tôi xin hỏi tất cả quý vị, thân mình là thật hay không thật? Hầu hết mọi người đều nói thân này là thật, nhưng trong đạo Phật thì cho rằng thân này không thật. Đủ các duyên hợp lại thành thân, nên gọi là tứ đại hợp hay ngũ uẩn hợp. Đã duyên hợp tức nó hoàn toàn hư dối, không có gì là thật. Thế nhưng khi nghe nói thân mình hư dối không thật, có nhiều người buồn nghĩ rằng đạo Phật nói nghe chán đời quá. Nhưng lẽ thật là như thế.

Đạo Phật nói thân này do tứ đại hợp thành. Tứ đại là đất nước gió lửa, bốn chất ấy hợp lại thành thân, thiếu một thứ thì không thể tồn tại. Chất cứng thuộc đất, chất ướt thuộc nước, động thuộc gió, hơi ấm thuộc lửa. Thân chúng ta hiện đang có đây là do đất nước gió lửa chung hợp, vì thế tứ đại bên trong tự nó không thể tồn tại nguyên vẹn, mà phải có sự bồi bổ trợ giúp của tứ đại bên ngoài, nếu không thì thân sẽ tan hoại.

Những khi giảng pháp, tôi thường hỏi các Phật tử: Hiện giờ lỗ mũi quý vị đang làm gì? Trăm người như một đều trả lời đang thở. Tôi hỏi thêm: Thở có nghĩa là làm gì? Câu này hơi khó trả lời, phải không? Thở có nghĩa là mượn không khí bên ngoài đem vô, có mượn vô thì phải trả ra, mượn trả rồi lại mượn trả đều đặn như thế. Quý vị có mặt ở đây, có phải cũng đang mượn trả không? Chúng ta cứ mượn trả như vậy cả ngày không dừng, nếu lúc nào đó mệt mỏi quá, trả mà không mượn lại thì lập tức tử vong liền.

Cuộc sống này luôn mượn trả, đâu những mượn gió để hít thở không khí, mà còn mượn nước, mượn đất. Lát thì mượn nước, chốc thì mượn đất. Mượn tách nước đổ vô, lát sau phải trả. Mượn cơm, bánh mỳ… đem vô bổ sung cho đất, rồi cũng trả. Mượn vô nhanh thì trả ra nhanh, mượn vô chậm thì trả ra chậm. Quý vị kiểm điểm lại tường tận xem, suốt ngày, suốt đời chúng ta làm gì? Chỉ là tạo duyên tốt để đủ điều kiện mượn, đủ điều kiện trả. Mượn trả đều đặn êm ái thì sự sống bình an, gọi là sống hạnh phúc. Còn mượn trả bị trục trặc trở ngại thì sự sống bất an, lập tức phải kêu xe cứu thương chở vào bệnh viện. Như vậy thử hỏi, cái gì là cuộc sống của con người? Rõ ràng giá trị của cuộc sống chỉ là sự mượn trả liên tục, lẽ thật là vậy mà ít khi con người để ý tới. Nghe đức Phật nói thân này là vay mượn, là tạm bợ, mình không tin còn cho rằng đạo Phật bi quan. Chúng ta phải hiểu, lời của Phật nói ra không phải muốn hù dọa, cũng không phải để cho mình chán đời, mà đức Phật thấy lẽ thật thế nào thì dạy lại thế ấy, nhằm giúp cho chúng ta thấy rõ đừng có sai lầm.

Đứng về mặt nhân duyên thì sự sống của chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn nhờ sự đóng góp chung mới được tồn tại. Cho nên nói tới nhân duyên, tức là chỉ cho nguyên nhân dẫn đến kết quả. Nhân là nguyên nhân trực tiếp, duyên là nguyên nhân gián tiếp từ bên ngoài trợ giúp. Do nhân duyên tụ tán mà thành có sanh có diệt, lúc hòa hợp thì gọi là giả sanh. Vì không có tánh thật nên gọi là không tự tánh. Đó là thuyết Nhân duyên tức không, nghĩa là khi thấy tất cả sự vật do nhân duyên hợp, chúng ta liền biết các pháp không có thật thể.

Đến đây tôi trích dẫn hai bài kệ: Bài kệ thứ nhất là của Tỳ-kheo Ác-bệ nói cho ngài Xá-lợi-phất nghe, khi ngài còn là ngoại đạo.

Pháp từ duyên sanh, 

Cũng từ duyên diệt.

Tất cả pháp không, 

Vì không có chủ.

Hai câu cuối nói: Tất cả pháp không, vì không có chủ. Chữ Không này là không có thật thể, vì cái gì do duyên hợp thì cái đó vô ngã, nên không có chủ thể. Nghe qua bài kệ ngài Xá-lợi-phất liền thức tỉnh, bỏ ngoại đạo tu theo Phật.

Thứ hai là bài kệ nhân duyên trong luận Trung Quán. Bài kệ này được xem là gốc của toàn bộ quyển luận:

Nhân duyên sở sanh pháp 

Ngã thuyết tức thị không 

Nhược danh vi giả danh 

Nhược danh trung đạo nghĩa. 

Hai câu kệ cuối trong bản khác ghi là:

Diệc danh vi giả danh 

Diệc danh trung đạo nghĩa. 

Pháp do nhân duyên sanh, ta nói nó là Không, tức là không có thật thể. Hoặc gọi là Giả danh, hoặc gọi nghĩa Trung đạo. Thấy được các pháp duyên sanh, tướng của nó chỉ là tướng giả, tên giả, cho nên gọi là giả danh, cũng gọi nghĩa trung đạo. Về sau, ngài Huệ Tư ở Trung Quốc nhân đọc bài kệ này mới lập ra pháp tu Nhất tâm tam quán. Căn cứ vào thuyết nhân duyên sanh, thấy tất cả sự vật không có thật thể, có đó chỉ là giả danh giả tướng. Thấy rõ như vậy, biết đúng như vậy là thấy được lý trung đạo. Trung đạo tức không mắc kẹt vào hai bên, có hoặc không. Bệnh của người thế gian luôn thấy hai bên, hoặc thật có hoặc thật không. Đạo Phật không có cái nhìn phiến diện như thế, mà đạo Phật thấy rõ các pháp trên giả tướng tạm có nhưng không có thật thể, vì do nhân duyên sanh. Tóm lại, giả tướng là có, thật thể là không; không nhưng không phải không ngơ, có cũng không phải là có thật.

Đức Phật lúc nào cũng muốn nói thẳng lẽ thật cho mọi người cùng thấy biết, chứ không nói cái gì quanh co, tưởng tượng. Phật thường nói “đến để mà thấy chứ không phải đến để tin”. Nghĩa là mọi người đến với đạo Phật là để thấy đúng lẽ thật, thấy bằng trí tuệ chứ không phải đến chỉ vì niềm tin mù quáng. Tôi dẫn một đoạn kinh để quý vị thấy rõ hơn ý nghĩa đó.

Bài kinh này Phật nói với ngoại đạo tên Bố-tra- bà-lâu: “Bố-tra-bà-lâu luôn cho sắc thân được tạo thành giữa tứ đại lục căn… là ngã, nhưng ta thuyết một đạo đưa đến sự diệt ngã. Do vậy nếu ngươi hành trì theo đạo ấy, thời các nhiễm ô của ngươi có thể được trừ diệt, các hạnh đưa đến thanh tịnh sẽ được tăng trưởng. Ngươi có thể tự mình thấy mặt tận mặt, tự mình chứng ngộ được sự tuyệt đối và cao thượng của trí tuệ.” Lời Phật nói với ngoại đạo Bố-tra-bà-lâu rất rõ ràng, có thể tự mình thấy được tường tận và chứng ngộ đầy đủ trí tuệ cao thượng. Phật không nói những chuyện mơ hồ, những chuyện tưởng tượng.

Trong kinh Phật còn ghi lại, đối với người dạy đạo mà thiếu thực tế, họ cho rằng có một thế giới hay một cõi nào đó tốt đẹp, sung sướng, đầy đủ mọi sở thích v.v… Phật liền hỏi: Như vậy ông đã tới đó chưa? Nếu ông chưa tới mà nói thì không thể tin được. Hoặc có người nào ở cõi đó đến nói chuyện với ông chưa? Nếu chưa thì cũng không đáng tin. Giả sử ông chưa tới cõi đó, người cõi đó cũng không đến nói chuyện với ông, vậy ông có nghe, có biết rõ người nào đã từng đến rồi chỉ lại và diễn tả đầy đủ cảnh giới ấy cho ông chưa? Nếu ba điều này đều chưa có hết thì lời ông nói chưa đáng tin.

Như vậy, khi chúng ta chỉ cho người ta biết, nói cho người ta nghe về một cõi nào thì chính mình phải thấy, phải tiếp xúc trực tiếp, hoặc phải thấy hiểu qua sự chỉ dẫn của người đã biết tường tận mới được. Nếu cứ bảo rằng có một nơi tốt đẹp an lành, mà chính người nói chưa đủ ba điều kiện trên thì không đúng. Phật đưa thí dụ: Như có người nói, tôi được một cô gái đẹp thương. Người khác hỏi, anh biết cô gái đẹp đó tên gì không? Đáp, không biết. Hỏi, anh biết cô gái đẹp đó hình dáng ra sao không? Đáp, không biết. Hỏi, anh biết cô gái đẹp đó ở đâu không? Đáp, không biết. Hỏi cái gì người kia cũng đáp không biết, vậy lời nói được cô gái đẹp thương đó có giá trị không? Chỉ là lời nói rỗng mà thôi.

Đạo Phật không cho phép chúng ta tưởng tượng mà bắt buộc phải nhận ra, thấy được rồi mới chỉ lại và nói cho người khác biết. Đây là chỗ mà chúng tôi muốn nêu lên cho quý vị thấy, những điều đức Phật nói ra để chỉ dạy chúng ta, hoàn toàn đúng lý thật như ngài đã thấy đã biết.

Ở trên đã nói rõ về lý vô thường và lý nhân duyên, đến đây tôi muốn nói rõ thêm về cái nhìn sự vật vô thường của đạo Phật. Đó không phải là nhìn bi quan, hời hợt mà là cái nhìn rất thâm trầm.

Thiền sư Mãn Giác – Việt Nam, có bài kệ nói về xuân:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười.

Trước mắt việc đi mãi,

Trên đầu già đến rồi.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai.

Thiền sư nhìn muôn sự muôn vật vô thường, đó là cái nhìn theo lẽ thật trên hiện tượng. Hình tướng phải vô thường, không ai nghi ngờ được điều này. Vì thế,

Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười.

Mùa xuân đi trăm hoa rơi rụng, mùa xuân đến trăm hoa tươi nở. Thiền sư diễn tả rất khéo, dùng hai hình ảnh để chỉ sự vật theo chiều thời gian mà có sanh có diệt. Muôn vật đã sanh diệt thì con người thế nào?

Trước mắt việc đi mãi,

Trên đầu già đến rồi.

Trước mắt cái gì cũng trôi theo thời gian mà qua đi, nhìn lại con người mình thì đầu đã bạc, chúng ta cũng luôn bị vô thường chi phối. Thời gian luôn biến chuyển, mùa đông tuyết rơi giá lạnh cành lá trơ trụi, sang xuân khí trời ấm áp hoa nở tươi thắm, mùa xuân tàn rồi thì hoa héo úa rơi rụng. Nhưng trên những hiện tượng đó, nếu chúng ta tiến sâu vào trong bản thể của nó thì sẽ nhận ra có cái không phải vô thường.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai.

Những tưởng xuân tàn hoa không còn, nhưng không ngờ đêm vừa qua, sáng ra thấy một cành mai nở trước sân chùa. Thật là đẹp!

Trong dòng hiện tượng luôn bị vô thường chi phối sanh diệt, vẫn có cái không sanh diệt ngầm ở đó. Nghĩa là muôn pháp có bản thể của nó, chứ không phải chỉ cái sanh diệt vô thường mà thôi. Nếu chúng ta chỉ thấy trên hiện tượng sanh diệt thì sẽ nhìn cuộc đời rất buồn chán. Còn thấy được trong sanh diệt có cái không sanh diệt, khi sanh diệt đến chúng ta không lo buồn, lúc già chết tới cũng không sợ hãi, đó là tuy thấy các pháp vô thường mà không bi quan.

Đạo Phật thấy các pháp duyên sinh, huyễn hóa, tạm bợ như thế nào? Trong kinh Kim Cang, phần trước nói các pháp là không thật, nhưng tới gần cuối bộ kinh thì đức Phật lại nói bài kệ:

Nhược dĩ sắc kiến ngã Dĩ âm thanh cầu ngã Thị nhân hành tà đạo Bất năng kiến Như Lai.

Nếu dùng sắc thấy ta, 

Dùng âm thanh tìm ta,

Người đó hành đạo tà,

Không thấy được Như Lai.

Bài kệ muốn nói lên ý nghĩa gì? Theo cái nhìn của đạo Phật, thấy Phật và chúng sanh đều có ba thân. Đó là Báo thân, Hóa thân và Pháp thân. Câu đầu Nhược dĩ sắc kiến ngã, tức chỉ cho báo thân. Báo thân là thân do nghiệp báo mà có mặt. Nghiệp báo thiện thì mang thân đẹp đẽ, khỏe mạnh, sống thọ. Nghiệp báo ác thì mang thân tật nguyền, bệnh hoạn, xấu xa. Thân hiện tại là thân có hình tướng sai biệt, đẹp hay xấu là do nghiệp báo thiện hoặc ác của mình.

Câu kế Dĩ âm thanh cầu ngã, tức chỉ cho hóa thân. Hóa thân là thân từ cái gì? Âm thanh là tiếng nói được phát ra từ ý nghĩ của chúng ta. Ý nghĩ tới người thì nói ra những hình ảnh về người, muốn diễn tả vật thì nói ra các tướng trạng của vật để cho người ta hiểu. Lời nói là biểu tin cho ý nghĩ của mình. Ý nghĩ hay diễn tả muôn vật đó là hóa thân. Hóa thân Phật thì giảng nói pháp này pháp nọ, hoặc hiện nơi đây nơi kia để hóa độ chúng sanh. Hóa thân chúng ta thì diễn tả, trình bày cho người này người kia hiểu được tư tưởng, suy nghĩ của mình.

Như vậy, báo thân và hóa thân là tướng sanh diệt. Nếu lấy hai tướng ấy mà thấy Phật, hay để tìm Phật thì sao?

Người đó hành đạo tà,

Không thấy được Như Lai.

Hai tướng kia thuộc vô thường sanh diệt không phải chân thật, muốn thấy được Như Lai phải là pháp thân. Cho nên đức Phật nói, người thấy Phật qua sắc tướng và âm thanh là người hành đạo tà, không thể thấy Như Lai, tức là không thấy được Phật thật. Bởi vì Như Lai là chỉ cho Phật pháp thân hay tánh giác nơi mỗi người, là thể ngầm lặng vô tướng bất sanh bất diệt mà luôn hiện tiền. Tất cả chúng ta ai cũng sẵn có tánh giác này, nhưng tại quên nên chưa tìm thấy.

Hôm nay chúng tôi giải thích tới đây tạm ngưng, hôm khác sẽ nói tiếp về tu thiền như thế nào, công dụng và lợi ích của tu thiền ra sao), để cho tất cả quý vị nghiên cứu có thể thấy rõ được đường hướng chỉ dạy của đức Phật trong cả hai phương diện, tu hành và truyền bá.

——

Hai bài Tu Thiền và Lợi ích Của Tu Thiền đã in trong Hoa Vô Ưu tập 7 (Thanh Từ Toàn Tập tập 48, trang 85 đến trang 136)


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.