Thiền Quan Sách Tấn Giảng Giải

Sự Khổ Công Tu Tập Của Chư Tổ



1. MỘT MÌNH NGỒI TRONG TỊNH THẤT

Đại sư Đạo An một mình ngồi trong tịnh thất ngót mười hai năm, chuyên gạn lọc tâm tư, được ngộ đạo.

2. NGỒI TRÊN CÂY DỰA MÉ HỐ

Thiền sư Tịnh Lâm, bỏ việc diễn giảng để tu tập thiền định, thường bị bệnh ngủ làm mê loạn tâm. Gần chỗ ngài ở có một cây đại thọ nghiêng mình ra giữa hố sâu thăm thẳm. Ngài lấy cỏ trải lên ngồi kiết già trên đó, giữ tâm buộc niệm, trải qua mấy ngày đêm tâm sợ chết quá mạnh, nên tinh cần chuyên nhất, nhờ thế ngài được đại ngộ.

Đại sư Đạo An ngồi trong tịnh thất ngót mười hai năm mới được ngộ đạo. Ngài Tịnh Lâm trước là một giảng sư, bỏ việc diễn giảng chuyên tu thiền. Khi tu, ngài bị hôn trầm hành gật tới gật lui, ngài cố hết sức trấn tỉnh, nhưng cứ mỗi lần ngồi được một lúc, lại mơ màng hồi nào không hay. Ngài muốn trị bệnh ngủ gục, bèn lên ngồi thiền trên một nhánh cây cao nghiêng ra vực thẳm. Vì sợ té nhào xuống vực nên cố giữ tỉnh táo, không dám chợp mắt. Nhờ thế mà được ngộ. Chính người không sợ chết là người được sống. Chúng ta bây giờ ngồi phải ở nơi yên ổn, tham thiền phải có phòng kín, máy điều hòa không khí, tưởng ngồi trong đó tu chắc hay, nhưng không ngờ những nơi càng tốt, càng khỏe chừng nào càng dễ buông xuôi chừng nấy.

Ở trong cảnh khó, những nơi đáng sợ như chỗ có cọp sói, rắn rết lại mau ngộ đạo. Chúng ta ở nơi an lành quá rất khó ngộ vì không có tâm sợ chết nên không cố gắng. Ngồi thiền khỏe, bước ra tươi rói, trong người tỉnh táo sung sướng, tu như chơi, không có gì mệt nhọc. Chính vì thế nên tu không tới đâu.

Những vị ngồi bị muỗi mòng cắn khổ sở nên ráng đem hết tinh thần ý chí vượt qua. Chúng ta cứ thả rề năm này qua tháng nọ rồi nói “Tôi tu thiền lâu quá mà sao không thấy gì”. Đó là tại vì mình thả trôi như lục bình dưới sông. Phải nỗ lực, nhờ sức cố gắng sẽ vượt qua. Người xưa tu thấy gần như chết, chính như vậy mới sống. Còn mình chưa từng trải qua cảnh gần chết thành ra cũng chưa từng được sống thật.

3. ĂN RAU NGỦ DƯỚI GỐC CÂY

Thiền sư Thông Đạt vào núi Thái Bạch tu, không mang cơm gạo, đói thì ăn rau, nghỉ thì nằm dưới gốc cây. Ngài tọa thiền tư duy năm năm liền không dừng. Do sự cố gắng đó, nhào nặn tâm tư thành một khối. Một hôm, bỗng nhiên khối ấy tan vỡ, ngài đại ngộ.

Chúng ta so với người xưa thật cách quá xa, miệng thì nói “bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ” nhưng trong tâm yếu đuối khiếp nhược. Người xưa như sư tử, còn mình giống dã can không xứng đáng gì hết.

Thiền sư Thông Đạt vào núi Thái Bạch tu không mang theo cơm gạo, đói thì hái rau ăn, không có nhà ở thì nằm dưới gốc cây ngủ. Ăn rau rừng, ngủ gốc cây, chịu đựng khó khổ tham thiền năm năm liền không dừng. Do sự cố gắng nhào nặn về sau bỗng nhiên ngài đại ngộ. Thật là một tấm gương đáng quý.

4. KHÔNG GIẢI Y

Thiền sư Kim Quang Chiếu xuất gia hồi mười ba tuổi, mười chín tuổi vào núi Hồng Dương, nương theo hòa thượng Ca-diếp, hầu thầy ngót ba năm chưa bao giờ giải y, ngủ không đặt lưng xuống chiếu. Sau, ngài đến núi Cô Xạ cũng chuyên cần như thế, bỗng nhiên khai ngộ.

Thiền sư Kim Quang Chiếu xuất gia lúc mười ba tuổi, mười chín tuổi vào núi Hồng Dương theo hòa thượng Ca-diếp, hầu thầy chuyên cần ba năm mà không giải y, còn chúng ta mặc đồ dơ một chút là thấy nực nội. Ngủ cũng không đặt lưng xuống chiếu, tức là ngồi gục lên gục xuống gì cũng chịu. Sau ngài đến núi Cô Xạ chuyên cần như thế bỗng nhiên đại ngộ. Chính sức cố gắng phi thường đó giúp các ngài ngộ đạo.

5. LẤY DÙI CHÍCH VÀO MÌNH

Từ Minh, Cốc Tuyền, Lang Da, ba người kết bạn đến tham học với Phần Dương. Bấy giờ ở Hà Đông lạnh tột độ, mọi người đều kinh sợ, duy có Từ Minh quyết chí cầu đạo, sớm chiều bền chí tinh tấn tu tập. Ban đêm tọa thiền ma ngủ đến, Từ Minh lấy dùi chích vào mình khiến ma ngủ tan mất. Sau này, Từ Minh nối pháp Phần Dương, đạo phong phát triển, được hiệu là Sư tử Tây Hà.

Ba ngài Từ Minh, Cốc Tuyền, Lang Da kết bạn, cùng nhau đến tham thiền với ngài Phần Dương. Hà Đông trời lạnh, mọi người đều chịu không nổi chỉ có ngài Từ Minh quyết chí cầu đạo, ban đêm tọa thiền mỗi lần ma ngủ đến, ngài lấy dùi chích vào bắp đùi, đau quá giật mình tỉnh ngủ. Chúng ta bây giờ chỉ bị đánh thôi, còn người xưa lấy dùi châm vào đùi. Cứ như vậy cố gắng tu tới ngộ đạo. Chúng ta thấy ý chí người xưa hết sức mãnh liệt. Sau ngài nối pháp Phần Dương xiển dương tông phong, được gọi là Sư tử Tây Hà.

6. TRONG THẤT TỐI KHÔNG QUÊN

Thiền sư Hoằng Trí đến tham học nơi tổ Đơn Hà Thuần. Một hôm, nhân cùng bạn đồng tu gạn hỏi nhau về công án, Thiền sư bỗng cười to lên. Tổ nghe, trách: “Một tiếng cười của ông đã mất bao nhiêu việc tốt. Nếu tạm thời tâm không định, đồng như người chết!” Thiền sư Hoằng Trí bái tạ, ghi lòng. Từ đấy về sau, dù ở trong thất tối ngài cũng không bao giờ quên.

Đây là tấm gương của thiền sư Hoằng Trí tham học nơi tổ Đơn Hà Tử Thuần. Một hôm hai ba huynh đệ ngồi trong thiền đường hỏi nhau về công án, bỗng nhiên ngài cười to quá, động chúng. Tổ Đơn Hà trách: Một tiếng cười của ông đã mất bao nhiêu việc tốt. Nếu tạm thời tâm không định, đồng như người chết! Tâm lúc nào không định là coi như người chết, như vậy chúng ta là kẻ chết hay sống? Chúng ta tưởng mình sống nhưng thật ra đã chết. Ngài bị quở câu đó liền bái tạ, ghi lòng. Từ đó về sau dù ở trong thất tối một mình cũng không bao giờ dám lớn tiếng. Người xưa một lần được dạy là suốt đời không quên, chúng ta bây giờ nhắc rồi quên liền.

7. CHIỀU VỀ RƠI NƯỚC MẮT

Thiền sư Y Am tu hành rất tinh tấn. Mỗi khi trời ngả bóng về chiều, ngài sa nước mắt, than: “Ngày nay vẫn chưa được gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao!” Ở trong tăng chúng, không bao giờ ngài thốt ra một lời vô ích.

Người xưa tinh tấn tu hành, chiều đến, thấy một ngày đã qua công phu vẫn chưa có gì nên rơi nước mắt, than ngày nay vẫn chưa được gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao! Tâm thiết tha như vậy làm sao không ngộ đạo.

Chúng ta ngày nay ngồi trông thời gian qua nhanh, đủ ba năm mãn hạn, được đi đây đi đó. Nhất là vào ba tháng an cư kiết hạ, cứ mong cho đến rằm tháng bảy mãn hạ tự tứ, để được thêm một tuổi hạ. Hoặc nhập thất mong cho mau tới ngày ra thất. Người nào tu mà mong chờ cho hết ngày, hết tháng, hết năm là những kẻ mong chờ mau chết. Biện đạo như vậy nên rất xa với đạo.

Nhiều người thật mâu thuẫn, mỗi ngày qua là một ngày gần cái chết nhưng lại cứ mong nó qua mau. Chuyện quan trọng của người tu là giải quyết vấn đề sanh tử, giải quyết chưa xong mong hết ngày làm gì? Người có chuyện cần thiết, chỉ muốn làm cho xong việc, sớm chừng nào tốt chừng đó, hết giờ mà không xong thấy rất tiếc. Tu hành cũng phải nuôi tâm niệm khẩn thiết như vậy.

Như những người làm mướn, lụi hụi cho hết ngày ghi sổ, tới cuối tháng lãnh lương, không đặt vấn đề làm xong việc. Người tu đâu phải như vậy. Chúng ta phải làm cho xong việc giải thoát của mình, chứ đâu phải tính ngày tính giờ. Thói thường chúng ta cứ suy tính thời gian, lại không nghĩ vấn đề then chốt là giải quyết sanh tử. Mỗi ngày mỗi giờ trôi qua là mất đi một phần sự sống, mà vẫn chưa giải quyết xong, thật là đáng buồn.

Các vị trụ trì phải thuộc lòng bài này, lâu lâu nhắc chúng, người tu phải giải quyết vấn đề sanh tử của mình, đâu thể vào chùa ngồi chờ chết như vậy. Làm sao mỗi ngày phải vượt lên một bước, thấy chưa tiến là điều đáng đau buồn. Thời nay tìm một người tu hành có ý chí thật là hy hữu.

8. BA NĂM NỖ LỰC TU HÀNH

Thiền sư Hối Đường Tâm tự nói: Lúc mới vào đạo trong tâm thầm nghĩ việc tu rất dễ dàng. Đến khi gặp tiên sư Hoàng Long, nghĩ lại tâm niệm ngày trước rất mâu thuẫn với lý đạo. Tôi bèn nỗ lực tu hành, suốt ba năm, nhiều lúc lạnh như cắt, nóng như thiêu vẫn không lay chuyển chí nguyện, mới được mọi việc hợp lý đạo. Hiện nay, dù tôi vung tay, tằng hắng đều là trúng ý Tổ sư từ Ấn Độ truyền sang.

Ngài nói lúc mới vào đạo tưởng chuyện tu là dễ dàng. Có người ở ngoài đời khổ quá thấy mấy thầy thong thả, tự tại nên muốn vào chùa tu, không ngờ vào chùa tu cũng khổ. Người đời khổ theo kiểu người đời. Người tu cũng có cái khổ của người tu. Chỉ những ai biết tu, siêng tu mới vượt qua các trở ngại chướng duyên trên đường tu của mình.

Đến khi gặp tổ Hoàng Long, ngài mới thấy tâm niệm ngày trước là mâu thuẫn, hiểu sai lý đạo nên nỗ lực tu hành. Suốt ba năm nhiều lúc lạnh như cắt, nóng như thiêu vẫn không lay chuyển chí nguyện. Bởi vậy ngài mới được mọi việc hợp lý đạo. Khi đó ngài nói vung tay, tằng hắng, mỗi hành động đều là đúng với ý Phật, tổ. Nghĩa là xong việc, tự do tự tại, hoàn toàn yên ổn, không còn khổ sở nữa.

9. ĐÁNH THỨC BẰNG CÁCH KÊ ĐẦU GỐI TRÒN

Thị giả Triết khi ngủ lấy cây tròn làm gối, gối đầu. Ngủ vừa trở mình thì đầu rớt xuống chiếu, ngài giật mình thức dậy tu tập. Ngài lấy đó làm quy tác nhất định hằng ngày trong việc tu hành. Có người bảo: “Dụng tâm như thế là thái quá.” Ngài đáp: “Tôi đối với Bát-nhã duyên phần rất mỏng manh, nếu không cố gắng như vậy, e bị vọng tập lôi cuốn.”

Thị giả Triết khi ngủ lấy cây tròn làm gối chỉ đủ kê cái đầu. Vừa trở qua là đầu rớt xuống giường, giật mình thức dậy tu. Ngài lấy đó làm nguyên tắc nhất định hằng ngày trong việc tu hành. Giờ chúng thức, ngài đã thức trước. Giờ chúng ngủ, ngài còn tiến tu. Có vị nói dụng công như vậy là thái quá. Câu trả lời của ngài rất đáng kính phục: Tôi đối với Bát-nhã duyên phần rất mỏng manh, nếu không cố gắng như vậy, e bị vọng tập lôi cuốn. Ngài là người tự biết mình, thấy duyên đối với đạo kém nên phải cố gắng gấp đôi. Những người có duyên lành đối với đạo, không bị chướng, tất nhiên ít cố gắng. Người bị chướng duyên phải cố gắng bằng hai. Chúng ta bây giờ trái lại, chướng nhiều, duyên ít lại buông xuôi thì thật quá dở.

Câu nói của ngài thật đáng ghi lòng. Người ta có duyên lớn dễ ngộ dễ chứng, còn duyên của mình yếu mỏng phải cố gắng nhiều mới chứng ngộ. Cho nên ngài nỗ lực không ngừng, không vì nghe nói dụng công thái quá mà buông xuôi.

10. BỊ MƯA KHÔNG HAY

Am chủ Toàn dụng công tu tập rất mãnh liệt, đến bỏ ăn quên ngủ. Một hôm, ngài đứng dựa lan can khán câu “con chó không có Phật tánh”, mưa đến bao giờ không hay, khi ướt cả áo mới biết.

Am chủ Toàn dụng công đứng ngoài lan can trời mưa ướt cả áo mà không hay, quên mình vì đạo như thế. Chúng ta ngày nay đâu thể so sánh với người xưa. Cho nên kết quả tu tập chẳng tới đâu cũng là điều dễ hiểu thôi.

11. THỀ KHÔNG XỔ MỀN

Phật Đăng Tuần thiền sư học đạo với tổ Phật Giám. Tham hỏi mãi mà không khế ngộ, ngài than: “Nếu đời này không tỏ ngộ, ta thề không xổ mền ra nằm nghỉ.” Phát thệ rồi, ngót bốn mươi chín ngày, thiền sư chỉ đứng dựa cột chuyên tâm tham cứu, trạng thái như ngây dại, không khác nào người mất mẹ. Do đó, ngài được đại ngộ.

Thiền sư Phật Đăng Tuần đời Tống, học đạo với tổ Phật Giám. Ngài thấy học hoài mà không ngộ nên than Nếu đời này không tỏ ngộ, ta thề không xổ mền ra nằm nghỉ. Phát thệ xong suốt bốn mươi chín ngày Sư chỉ đứng, khi mỏi quá dựa cột không chịu nằm. Do nỗ lực dũng mãnh ngài được đại ngộ. Chính nhờ quyết tử mới đạt tới đại ngộ, còn chúng ta thử kiểm điểm xem có lần nào cố gắng như vậy chưa? Chắc chưa từng. Nếu chưa từng cố gắng thì phải phát đại nguyện, khả dĩ mới có thể vượt lên.

12. NÉM THƯ KHÔNG XEM

Thiền sư Thiết Diện Bỉnh đi hành cước, ly hương chưa bao lâu, được thư nhà gửi đến. Ngài ném thư, nói: “Đây là việc làm rối loạn ý người.”

Trong chúng ta có ai gan dạ như vậy chưa? Nhiều khi đi tới nơi nào, liền biên thư cho bà con dòng họ, nói tôi ở địa chỉ này để người nhà tới thăm. Người xưa đi hành cước, được thư nhà gửi đến quăng đi không xem, sợ làm rối tâm. Tuy đây là việc nhỏ nhưng cũng là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo.

13. DO KIÊN THỆ ĐƯỢC GIÁC NGỘ

Thiền sư Linh Nguyên Thanh ban đầu đến tham học với tổ Hoàng Long Tâm, nhiều lần thưa hỏi mà vẫn mờ mịt không biết manh mối. Đêm lại, ngài đến trước bàn Phật phát thệ: “Con nguyện trọn đời phụng sự chánh pháp, cầu mong sớm được khai ngộ.” Sau này, ngài xem bản ngữ lục của tổ Huyền Sa, mệt mỏi dựa vách rồi đứng dậy đi kinh hành. Ngài vừa bước đi sút chiếc dép, cúi đầu xuống tìm, chợt đại ngộ.

Ngài tham học mà không ngộ nên phát thệ Con nguyện trọn đời phụng sự chánh pháp, cầu mong sớm được khai ngộ. Do đại nguyện đó mà sau này Sư được khai ngộ.

14. KHÔNG LÚC NÀO DUYÊN CẢNH KHÁC

Thiền sư Viên Ngộ Cần trở lại tham học với tổ Đông Sơn Diễn. Ngài làm thị giả, ngày đêm chuyên cần gắng sức tham cứu. Thiền sư tự nói: “Sơn tăng ở trong chúng không lúc nào tâm duyên cảnh khác, ngót mười năm mới được thấu đạt.”

Sư làm thị giả cho tổ Đông Sơn Diễn, ngày đêm chuyên cần gắng sức tham cứu. Ngài tự nói Sơn tăng ở trong chúng không lúc nào tâm duyên cảnh khác. Tức là tâm lúc nào cũng sống trong thoại đầu, trong chánh niệm ngót mười năm không duyên cảnh khác mới thấu đạt.

15. LÚC VỘI VÀNG VẪN KHÔNG QUÊN

Thiền sư Mục Am Trung lúc đầu học tập Thiên Thai giáo, sau chuyên về Thiền tông. Ngài đến tham học với tổ Long Môn Nhãn. Ở đây, thiền sư không một phút giây quên phản tỉnh. Một hôm, ngài đến chỗ quay nước, thấy trên ngạch đề “pháp luân thường chuyển”, chợt đại ngộ.

Ban đầu Sư tập học theo Thiên Thai giáo, tức theo lối tu thiền Chỉ Quán của ngài Thiên Thai. Sau gặp tổ Long Môn Nhãn, ở đây ngài không một phút giây nào quên phản tỉnh. Phản tỉnh cũng giống như lối tu biết vọng. Chính do không quên tu một giây phút nào, một hôm ngài thấy câu pháp luân thường chuyển chợt đại ngộ.

16. QUÊN ĐÒ ĐẾN BẾN

Thiền sư Khánh Thọ Hưởng đến tham học với tổ Bảo Công, chuyên cần quên cả sớm chiều. Một hôm, có duyên sự đến Huy Dương, qua bến đò Triệu, nghi tình chưa tan, Thiền sư quên đò đã cập bến. Người đồng hành thấy thế, gọi: “Đò đến bến rồi, sao không lên?” Bỗng nhiên, Thiền sư buồn vui lẫn lộn. Trở về, Thiền sư đem việc ấy bạch lại Bảo Công. Bảo Công nói: “Đó là kẻ nằm cứng đờ, chưa phải ngộ.” Lại dạy khán “Nhật diện Phật”. Một đêm, cùng chúng họp lên thiền đường tịnh tọa, nghe tiếng bảng cây, Thiền sư đại ngộ.

Ngài tu quên cả sớm chiều, đi đò tới bến mà quên lên bờ. Có người nhắc ngài bước lên nhưng vui buồn lẫn lộn. Tại sao vui buồn lẫn lộn? Vì thấy công phu của mình đã sâu nhưng vẫn chưa ngộ. Về thuật lại cho ngài Bảo Công, Bảo Công nói: Đó là kẻ nằm cứng đờ, chưa phải ngộ. Lúc quên thân vẫn chưa phải là ngộ còn phải tiến lên nữa. Vì vậy thiền sư Bảo Công dạy khán câu Nhật diện Phật. Nhờ công phu chuyên cần quên cả sớm chiều, một hôm nghe tiếng bảng ngài đại ngộ.

17. QUÊN CẢ ĂN NGỦ

Thiền sư Tùng Nguyên Nhạc lúc còn làm cư sĩ đến tham vấn Ưng Am Hoa, không khế hội, nhưng vẫn cố gắng tinh tấn. Sau ngài đến học với Mật Am Kiệt. Am Kiệt hỏi đâu, ngài trả lời suốt thông cả. Am Kiệt than: “Thiền như cây Hoàng Dương” Ngài càng cố gắng tinh tấn hơn, cho đến quên ăn quên ngủ. Một hôm, Mật Am Kiệt vào thất một vị tăng bên cạnh hỏi: “Không phải tâm, không phải vật, không phải Phật?” Ngài nghe lóm liền đại ngộ.

Ngài cố gắng tu không bao giờ dám bê trễ cho tới quên ăn quên ngủ. Nhờ vậy một hôm nghe câu nói vị tăng bên cạnh hỏi thiền sư Mật Am Kiệt, ngài nghe lóm liền đại ngộ. Các ngài đều là những tấm gương lớn cho chúng ta học tập.

18. THÂN MIỆNG ĐỀU QUÊN

Thiền sư Cao Phong Diệu ở trong chúng lưng không bén chiếu, thân miệng đều quên. Có khi ngài ngậm miệng bụm mũi đi như người trong nhà vệ sinh mới ra; hoặc khi ngài hả hoác miệng như cửa không gài. Sau đến Kính Sơn, ngài vừa vào đến nhà, liền đại ngộ.

Thiền sư Cao Phong Diệu tức tổ Cao Phong, ở trong chúng lưng không bén chiếu, thân miệng đều quên. Xưa trong tùng lâm đông người, đi vệ sinh phải đào hầm, khu vực này rất hôi thối. Khi vào nhà vệ sinh phải bụm mũi lại, lúc ra ngài cũng bụm mũi như vậy đi luôn. Tức là ngài quên hết chỉ còn biết có câu thoại đầu. Hay có khi hả hoác miệng như cửa không gài, chứng tỏ ngài tu quên cả thân tâm, vì vậy mới có ngày đại ngộ.

19. BỎ HẾT MUỐN VIỆC

Thiền sư Kiệt Phong Ngu trước tiên học đạo với tổ Thạch Môn. Sự vâng giữ pháp ngữ của Tổ, ngày đêm mải miết tham cứu. Về sau, Sư đến tham vấn tổ Chỉ Nham, tham câu “Không phải tâm, không phải vật, không phải Phật”. Lúc ấy lòng nghi càng tăng. Sư bỏ hết muôn việc, quên cả ăn ngủ. Hết mai lại chiều, Sư ngồi sững như tượng gỗ. Một đêm, Sư nghe vị tăng ở phòng cạnh bên ngâm câu “Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân” trong bài Chứng Đạo Ca, bỗng nhiên thấy tự do như người trút gánh nặng. Sư đắc ý hai câu:

Đêm vắng bỗng quên tay chỉ nguyệt,

Hư không thoát lộ bóng dương hồng.

Thiền sư Kiệt Phong Ngu việc gì cũng bỏ, quên hết cả ăn ngủ. Hết mai lại chiều, Sư ngồi sững như tượng gỗ, đêm ngày đều như vậy. Một hôm nghe đọc câu: Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân, ngài liền chứng đạo nói hai câu thơ:

Đêm vắng bỗng quên tay chỉ nguyệt,

Hư không thoát lộ bóng dương hồng.

Nguyên văn chữ Hán: Dạ bán hốt nhiên vong nguyệt chỉ, hư không tịnh xuất nhật luân hồng.

Hai câu này thật hay. Đêm vắng bỗng quên tay chỉ nguyệt, tức là trong đêm lặng lẽ bỗng quên ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay chỉ mặt trăng dụ cho Phật pháp. Lời Phật dạy hay những câu thoại đầu cũng như ngón tay chỉ mặt trăng, đều quên hết. Khi ấy bỗng nhiên Hư không thoát lộ bóng dương hồng. Hư không ví dụ cho tâm không. Trong chỗ tâm không, rỗng lặng đó có mặt trời chiếu sáng. Đúng với câu của ngài Vô Ngôn Thông ngộ nơi tổ Bá Trượng “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”. Tức chỉ cho khi tâm không, mặt trời trí tuệ tự chiếu sáng. Tâm không mà phải có ánh sáng trí tuệ hiện ra mới là xong việc. Câu này cho thấy ngài đã đạt đến chỗ cứu cánh.

20. BẾ CỬA NỖ LỰC THAM CỨU

Thừa tướng Di Thích Sở Tài đến tham học với Vạn Tùng lão nhân. Ông bỏ hết việc nhà bế cửa thất không tiếp khách. Dù những khi giá lạnh, nóng bức, không ngày nào ông dừng nghỉ tham cứu. Đêm đến, ông thắp đèn sáng kế tiếp mặt trời để bỏ ngủ. Ban ngày thì ông quên ăn. Như vậy, suốt ba năm, ông mới được ấn chứng.

Đây là một cư sĩ làm thừa tướng sau khi tham học với Vạn Tùng lão nhân về nhà bế cửa không tiếp khách. Dù cho giá lạnh hay nóng bức, ngày hay đêm cũng không dừng nghỉ tham cứu. Ban đêm thắp đèn sáng rực như ban ngày để không ngủ. Quên ăn quên ngủ như vậy suốt ba năm mới được ấn chứng. Dù là cư sĩ nếu nỗ lực tu cũng sẽ ngộ. Cư sĩ còn tu như vậy huống là người xuất gia. Cạo đầu xuất gia cầu giải thoát sanh tử mà tu lơ mơ thì thật là đáng tủi!

21. ĐỤNG ĐẦU VÀO CỘT

Thiền sư Trung Phong Bổn theo hầu ngài Tử Quan. Ngày đêm chuyên cần tu tập, mỗi khi buồn ngủ lắm, Sư đụng đầu vào cột nhà cho ma ngủ tan biến. Một hôm, Sư tụng kinh Kim Cang đến câu “Hà đảm Như Lai sứ” (Gánh vác việc Như Lai) bỗng nhiên thấu đạt. Sư tự cho rằng chỗ chứng chưa cùng tột, càng cố gắng tinh tấn, thưa hỏi không dám bê trễ. Một lúc nọ, Sư nhìn dòng nước chảy, chợt đại ngộ.

Ngài Trung Phong Bổn theo hầu thiền sư Tử Quan, còn nhỏ mà hầu thầy, ngày đêm chuyên cần tu tập. Mỗi khi buồn ngủ quá, đụng đầu vào cột cho ma ngủ tan biến. Nhờ vậy, một hôm tụng kinh Kim Cang đến câu Hà đảm Như Lai sứ liền thấu đạt, nhưng vẫn cho rằng chưa cùng tột, ngài cố gắng mải miết đến một hôm nhìn thấy dòng nước chảy chợt đại ngộ. Lúc đó mới thật là ngộ cứu cánh. Gương hạnh của người xưa, có vị buồn ngủ quá lấy dùi chích, có vị đụng đầu vào cột. Chúng ta bây giờ vừa buồn ngủ đã lo ngủ, rất dở.

22. TRONG THẤT KHẮC KHỔ

Thiền sư Độc Phong Thiện bế quan ở Dục Khê. Trong thất, ngài không kê giường, chỉ để một cái ghế ngồi. Ngài tự nguyện: “Nếu chẳng tỏ ngộ, ta không rời khỏi chỗ này.” Một đêm, hành đạo quá mỏi mệt, ngài vừa lại ghế ngồi, bất giác ngủ quên đến canh ba. Tự trách mình, ngài chỉ đi đứng chứ không ngồi nữa. Nhưng một hôm, ngài lại dựa vách ngủ quên. Sau khi thức giấc, rất hối hận, Thiền sư lập thệ: “Không nương tựa vách.” Chừng ấy, thân thể nặng nề mỏi mệt, mí mắt chỉ muốn sụp xuống, ngài khóc lóc lễ Phật sám hối, tìm đủ cách để đánh đuổi ma ngủ đi. Nhờ thế, công phu của ngài càng lúc càng tăng tiến thêm.

Ngài thật là khắc khổ, đóng cửa ở trong thất, không kê giường, chỉ để một cái ghế ngồi, nguyện chết sống tại chỗ đó: Nếu chẳng tỏ ngộ, ta không rời khỏi chỗ này. Một đêm hành đạo mỏi mệt quá vừa lại ghế ngồi, ngủ quên đến canh ba. Khi giật mình dậy, ngài tự trách, từ đó chỉ đi đứng chứ không ngồi. Vì ngồi dễ buồn ngủ nên ngài không ngồi để xem có ngủ hay không.

Nhưng một hôm lại dựa vách ngủ, tỉnh giấc hối hận nên lập thệ: Không nương tựa vách. Như vậy tức là luôn luôn đi đứng ở ngoài chứ không dựa vách. Người ta không nằm là quá rồi, ngài không ngồi. Không ngồi là quá rồi lại cũng không dựa vách luôn. Tới chỗ này là tột.

Chừng ấy, thân thể nặng nề mỏi mệt, mí mắt chỉ muốn sụp xuống. Dụng công tới như vậy mà chưa tỏ ngộ nên ngài khóc, lễ Phật sám hối, tìm đủ cách đuổi ma ngủ đi. Nhờ thế công phu càng lúc càng tăng tiến. Chính lời nguyện này giúp ngài thành công.

Một đêm, nghe tiếng chuông, ngài bỗng cảm thấy thân tâm vắng lặng không còn chỗ nương tựa, liền đắc ý làm kệ:

Dịch:

Trầm trầm tịch tịch tuyệt thi vi,

Xúc trước vô đoan, hầu tợ lỗi!

Động địa nhất thinh tiêu tức tận, Độc lâu phấn túy mộng sơ hồi.

Thầm thầm lặng lặng bặt duyên ngàn, Một tiếng chày kình tự sấm vang! Manh mối khôn tìm, tin tức vắng,

Đầu xương sọ nát, mộng vừa tan.

Nghe tiếng chuông thì bao nhiêu tin tức, tâm nguyện đều vắng lặng. Lúc đó giống như đầu xương sọ nát ra, tỉnh giấc tan cơn mộng. Tu tới đây mới thỏa chí nguyện. Nếu không ngộ chắc ngài đã chết trong thất. Cho nên Phật, tổ không bao giờ cô phụ người có chí. Có nỗ lực tất nhiên có ngày tỏ ngộ.

Chỉ vì chúng ta không nỗ lực nên không ngộ đạo. Nếu cứ cố gắng mãi, chừng nào chết thì thôi tất nhiên sẽ ngộ. Nên nói Phật, tổ không bao giờ cô phụ mình tại mình cô phụ Phật, tổ.

23. QUÊN NẰM

Thiền sư Bích Phong Kim tham học với ngài Phổ Vân Hải. Phổ Vân dạy khán công án “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” Ngài nghi đến ba năm. Một hôm, nhân đi hái rau với Phổ Vân, ngài chợt im lặng rất lâu. Phổ Vân hỏi: “Ông định sao?” Ngài thưa: “Định và động không quan hệ.” Phổ Vân hỏi: “Định động không quan hệ, ấy là người gì?” Ngài lấy cái sọt đựng rau đưa lên. Phổ Vân không chịu. Ngài ném cái sọt xuống đất. Phổ Vân cũng không chịu. Từ đó về sau, ngài càng thiết tha công phu, đến lưng không bén chiếu, một lần tọa thiền đến bảy ngày mới xuất. Một hôm, nghe tiếng chặt cây ngài đại ngộ.

Nghi tình của ngài kéo dài tới ba năm. Nhân một hôm đi hái rau, ngài chợt im lặng. Phổ Vân thấy hỏi: Ông định sao? Ngài thưa: Định và động không quan hệ. Phổ Vân lại hỏi: Định động không quan hệ, ấy là người gì? Ngài đưa sọt rau lên Phổ Vân không chịu, ném sọt rau xuống cũng không được. Nếu người nào tới đó cho rằng đã xong, không cố gắng nữa thì công phu sẽ bị dừng lại. Ngài Phổ Vân biết vậy nên không chấp nhận. Từ đó về sau ngài càng cố gắng tu thiết tha tới lưng không bén chiếu, một lần tọa thiền đến bảy ngày. Một hôm, nghe tiếng chặt cây ngài đại ngộ.

24. GIỮ ĐỘN CÔNG PHU

Thiền sư Vô Tế lúc mới thực hành công phu không đọc đến bốn quyển kinh Lăng-già, và những bản ngữ lục cũng không xem. Ngài cam chịu mù tối chuyên ròng thực hành độn công phu. Thế mà sau này, ngài vẫn được đại ngộ.

Thiền sư Vô Tế tu bằng cách chịu dốt, không coi kinh sách, chỉ nghe lời thầy dạy lấy đó làm pháp tu hành. Cứ chuyên ròng thực hành công phu, sau cùng cũng được đại ngộ. Như vậy rõ ràng tu là cốt phải đem hết nhiệt tình, nhiệt huyết mà tu, nhất định sẽ được đại ngộ.

Phần trên là dẫn gương các vị thiền sư ngày xưa khổ hạnh được đạo. Sau đây là phần trích dẫn trong các kinh.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.