Thiền Quan Sách Tấn Giảng Giải

Dẫn Các Kinh



1. IM LẶNG CHUYÊN CẦN TU TẬP

Tôn giả A-na-luật-đà, tôn giả Nan-đề, tôn giả Kim-tỳ-la ở chung trong rừng chuyên tu thiền định. Sáng các ngài trước sau đi khất thực, trở về thọ trai xong, mỗi vị đều tọa thiền đến chiều mới xả. Vị nào xả trước, thấy trong hũ hết nước, nếu mạnh thì một mình đi xách, nếu yếu lấy tay ra dấu gọi một vị nữa cùng xách, mọi người không nói chuyện với nhau. Đến năm ngày mới họp một lần, hoặc hai người thuyết pháp, hoặc như thánh im lặng.

(Kinh Trung A-hàm)

2. KHÔNG THẤY ĐẠO THỀ KHÔNG NẰM NGHỈ

Một vị xuất gia ở nước Ba-la-nại, tự thệ: “Không khế hội chân lý, thệ không nằm nghỉ.” Ngày đêm đều đi kinh hành, trải ba năm như vậy, liền đắc đạo. Một vị Sa-môn ở nước La-duyệt-kỳ, trải cỏ làm nệm ngồi, ngài tự thệ: “Không đắc đạo, quyết không rời chỗ này.” Những khi buồn ngủ quá, ngài lấy dùi chích vào vế cho mất buồn ngủ. Trong vòng một năm như vậy, ngài ngộ đạo.

(Kinh Tạp Thí Dụ)

Những vị sau này cũng giống như các vị trước

quyết chết tu hành mới được ngộ.

3. VÌ CHUYÊN CẦN CAM CHỊU MỌI KHÓ KHỔ

Giả sử thân ta máu thịt khô kiệt, chỉ còn da bọc xương, nếu chưa đạt được thắng pháp, quyết không dừng nghỉ. Vì tinh tấn cam chịu những việc nóng lạnh, đói khát, gió mưa… lại cam chịu người khác hành hạ thân thể đau đớn, cam chịu mọi sự mắng nhiếc, hủy nhục của người.

(A-tỳ-đàm Tập Dị Môn Túc)

Người tu hành phải phát thệ nguyện như vậy. Thân này dù cho còn da bọc xương, nếu không đạt được thắng pháp của Phật quyết không dừng nghỉ. Cam chịu hết tất cả, không sợ, không ngại bất cứ điều gì, chỉ một bề tinh tấn tu hành.

4. HÔNG KHÔNG BÉN CHIẾU

Ngài Hiếp Tôn Giả tám mươi tuổi mới xuất gia. Những vị tăng thiếu niên hỏi ngài: “Việc của người xuất gia, một là tập tu thiền định, hai là học tụng kinh điển, mà ông nay tuổi già yếu làm sao tu tiến được?” Tôn giả nghe rồi, liền phát thệ: “Tôi nếu không thông ba tạng kinh, không đoạn được ái dục trong ba cõi và chứng được sáu pháp thần thông, đầy đủ tám món giải thoát, thệ không để hông bén chiếu.” Từ đây, Tôn giả ban ngày thì nghiên cứu giáo lý, ban đêm thì tọa thiền an định, suốt ba năm như vậy, liền chứng đầy đủ như sở nguyện. Người thời bấy giờ kính trọng hạnh tinh tấn của ngài, nên đặt hiệu là “Hiếp Tôn Giả” (Tôn giả hông không bén chiếu).

(Tây Vực Ký)

Chúng ta thấy vị nào khi đã phát đại nguyện đều được như nguyện. Còn mình bây giờ tại chưa phát đại nguyện nên không cố gắng. Bởi không cố gắng nên sống như lục bình trôi chờ tới ngày mục rã, không được gì hết, thật uổng phí! Chúng ta phải nỗ lực, phải thệ nguyện làm sao trong một đời giải quyết cho xong, đừng lơ mơ.

Đọc xong quyển Thiền Quan Sách Tấn này tôi cũng rất hổ thẹn thấy mình chưa xứng đáng. Người tu phải đi cho tới tột cùng, tức là cùng sông tột núi mới là chỗ an thân lập mạng. Chưa tới tột cùng mà dừng lại, đó là bệnh. Chính vì thế chúng ta phải nỗ lực.

Khi nhập thất, tôi nghĩ: Nếu sống thì phải biết Phật pháp cho thấu đáo, còn không thì chết, chứ không chấp nhận sống lừng chừng, nói đạo lý ngoài miệng mà trong ruột không có tu. Chính tâm nguyện đó giúp cho tôi cố gắng tu tiến lên.

Khi tiến được, tôi mừng rằng lâu nay mình bế tắc, cũng như đoàn người cùng lạc đường trong rừng, bây giờ tìm thấy rõ lối ra. Nhớ lại còn bao nhiêu người đang lẩn quẩn trong đó, không lẽ một mình mình thoát ra, nên vội vàng nhắc người này, kêu người kia, chỉ đây là đường ra, đường về nhà. Tuy có lòng tha thiết muốn chỉ cho mọi người biết đường về nhà nhưng lúc đó chính mình cũng chưa phải là kẻ tới nhà. Thành ra thấy dường như sốt sắng nhưng thật tình mình cũng chưa xong việc, cần phải nỗ lực hơn nữa.

Hồi trước có lúc tôi rất buồn vì tuy đã dạy học, mà tự biết mình còn bế tắc trong công phu. Khi đó tôi có làm bài thơ về người mù. Đại ý tả nỗi đau khổ của người mù, quờ quạng tìm kiếm đường đi. Đó là tâm trạng lúc tôi ham tu thiền nhưng không có người hướng dẫn, thấy mình như kẻ mù. Vì vậy sau khi tìm được pháp tu, tôi không cam chịu hưởng một mình.

Ai nỗ lực tu thì một ngày nào đó chắc chắn sẽ được ngộ. Người nào quyết chí dám chết để hiểu đạo thì người đó sẽ được sống và hiểu đạo. Nếu ai cứ lừng chừng thì suốt đời cũng chỉ là kẻ chờ chết, không có ý nghĩa gì.

Người tu đâu phải chỉ lo an thân mà phải giải quyết vấn đề sanh tử. Vì giải quyết vấn đề sanh tử

mới đi tu. Cho nên chúng ta phải nỗ lực hơn. Còn sống ngày nào thì ngày đó phải tu, không được chần chừ. Nhiều người hơi bệnh một chút là dừng công phu, hoặc hơi khó chịu liền sợ. Cứ như vậy công phu sẽ không tới đâu. Nếu ham sống thì chính mình là người chết. Ngài Đơn Hà nói: “Tâm niệm lăng xăng, sống mà gọi là kẻ chết.” Trong tâm cứ hết niệm này tới niệm kia, lăng xăng không dừng, đó gọi là kẻ chết.

Học Thiền Quan Sách Tấn thúc đẩy chúng ta phải mạnh mẽ, không được yếu đuối, phải có một sức mạnh quyết tiến không ngừng. Làm sao người xưa mười, mình cũng được bảy, tám. Chẳng lẽ người xưa mười, mình chỉ có một thì thật đáng xấu hổ./.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.