Chánh văn:
Quán tâm Lục diệu môn chỉ những bậc đại căn tánh thực hành, khéo biết pháp ác không do thứ lớp, xa chiếu tận nguồn của các pháp. Thế nào là nguồn của các pháp? Nghĩa là tâm chúng sanh vậy. Tất cả muôn pháp do tâm mà khởi, nếu hay phản quán tâm tánh, không thấy có nguồn tâm liền biết các pháp đều không căn bản. Y cứ pháp quán tâm này nói Lục diệu môn không giống như trước. Tại sao?
Hành giả khi mới học quán tâm biết tất cả pháp số lượng thế gian và xuất thế gian thảy đều từ tâm sanh, rời ngoài tâm không có một pháp. Thế nên đếm tất cả pháp, đều y cứ nơi tâm mà đếm. Tâm tức là Sổ môn vậy.
Hành giả chính khi quán tâm biết tất cả pháp số lượng đều từ tâm vương sanh. Nếu không tâm vương tức không tâm số, vì tâm vương động nên tâm số cũng động, ví như bá quan thần dân thảy đều tùy thuận đại vương, tất cả pháp số lượng đều y theo tâm vương cũng như vậy. Khi quán như thế liền biết tâm là Tùy môn.
Hành giả chính khi quán tâm biết tâm tánh thường tịch thì các pháp cũng tịch. Vì tịch cho nên không niệm, không niệm nên không động, không động nên gọi là Chỉ. Tâm là Chỉ môn vậy.
Hành giả chính khi quán tâm biết rõ tâm tánh cũng như hư không, không danh không tướng, tất cả ngôn ngữ đều bặt, mở kho vô minh thấy tánh chân thật, được tuệ Vô trước đối với tất cả các pháp. Tâm tức là Quán môn.
Hành giả chính khi quán tâm đã không có tâm sở quán, cũng không có trí năng quán. Khi ấy tâm như hư không, không chỗ nương tựa, tuy không thấy các pháp mà dùng diệu tuệ Vô trước phản chiếu thông suốt tất cả pháp, phân biệt hiển bày, vào các pháp giới không chỗ kém thiếu, khắp hiện sắc thân, bày hình trong cửu đạo, vào kho tàng khắp suốt, nhóm các căn lành, hồi hướng Bồ-đề trang nghiêm Phật đạo. Tâm tức là Hoàn môn.
Hành giả chính khi quán tâm, tuy không thấy có tâm và các pháp mà hay rõ ràng phân biệt tất cả pháp; tuy phân biệt tất cả pháp mà không trước tất cả pháp, thành tựu tất cả pháp, không nhiễm tất cả pháp, do tự tánh thanh tịnh từ xưa đến nay không bị vô minh mê hoặc điên đảo làm ô nhiễm. Cho nên Kinh nói: “Tâm không nhiễm phiền não, phiền não không nhiễm tâm.” Vì hành giả thông đạt tự tánh thanh tịnh tâm, vào cấu pháp không bị cấu pháp làm ô nhiễm, nên gọi là Tịnh. Tâm tức là Tịnh môn.
Như thế sáu môn không do thứ lớp, thẳng quán tâm tánh tức đầy đủ cả.
Giảng:
Quán tâm Lục diệu môn chỉ những bậc đại căn tánh thực hành, khéo biết pháp ác không do thứ lớp, xa chiếu tận nguồn của các pháp. Thế nào là nguồn của các pháp? Nghĩa là tâm chúng sanh vậy. Tất cả muôn pháp do tâm mà khởi, nếu hay phản quán tâm tánh, không thấy có nguồn tâm liền biết các pháp đều không căn bản. Y cứ pháp quán tâm này nói Lục diệu môn không giống như trước. Tại sao?
Quán tâm Lục diệu môn là chỉ cho những bậc đại căn tánh thực hành, khéo biết pháp ác không do thứ lớp, tất cả suy nghĩ hay dở, tốt xấu, thiện ác v.v… đều từ nguồn tâm ra. Nghĩ xấu ác gọi là các pháp ác, nó không có trật tự thứ lớp, niệm dấy khởi thì liền sanh. Tâm nghĩ ác nên miệng nói ác, thân làm ác. Nghiệp xấu ác là gốc của tội lỗi, chúng ta nhìn tận nguồn tâm tìm thử xem nó ở chỗ nào, nó ra sao? Tìm lại không thấy, mới biết rằng tất cả pháp không có thật, chỉ do tâm khởi. Quán như vậy rồi tâm liền được an ổn, đó là trở lại nguồn tâm. Bởi y cứ pháp quán tâm này mà nói Lục diệu môn, nên không giống như các thứ quán trước.
Hành giả khi mới học quán tâm biết tất cả pháp số lượng thế gian và xuất thế gian thảy đều từ tâm sanh, rời ngoài tâm không có một pháp. Thế nên đếm tất cả pháp, đều y cứ nơi tâm mà đếm. Tâm tức là Sổ môn vậy.
Tất cả pháp số lượng thế gian và xuất thế gian thảy đều từ tâm sanh. Chúng ta nghe có nghi ngờ không? Như vậy nói cái bàn này từ tâm sanh được không? Bàn không tự dưng có, do người ta nghĩ ra hình dáng rồi đặt thợ mộc đóng thành cái bàn. Bàn ghế, nhà cửa… tất cả các pháp đều từ tâm nghĩ phác họa ra, rồi theo đó mà làm. Nên nói tâm là gốc của tất cả các pháp.
Khi quán trở lại nguồn tâm thì thể của nó lặng lẽ thanh tịnh. Do tâm sanh nên các pháp sanh, tâm không sanh thì các pháp làm sao có? Ví dụ chúng ta vừa khởi nghĩ trồng cây cảnh trước sân, liền chạy đi tìm cây cảnh về trồng. Cây cảnh có là do tâm khởi nghĩ của mình, nếu không nghĩ gì hết thì đâu có đi kiếm mua, đâu có trồng cảnh. Nên nói, rời ngoài tâm không có một pháp . Tâm diệt thì các pháp cũng không có. Như vậy, tất cả hay dở của thế gian từ tâm mà ra, nếu khéo biết quán lại tâm mình đó là trở về nguồn gốc, còn không thì cứ bị sai sử chạy hoài, hết đầu này tới đầu kia, không lúc nào dừng được.
Hành giả chính khi quán tâm biết tất cả pháp số lượng đều từ tâm vương sanh. Nếu không tâm vương tức không tâm số, vì tâm vương động nên tâm số cũng động, ví như bá quan thần dân thảy đều tùy thuận đại vương, tất cả pháp số lượng đều y theo tâm vương cũng như vậy. Khi quán như thế liền biết tâm là Tùy môn.
Duy thức học phân tích tâm chia ra hai thứ, tâm vương và tâm sở. Tâm vương là tâm chủ, tâm sở là tâm bị lệ thuộc. Như con mắt thấy, là nhân thức tâm vương; thấy mà phân biệt tốt xấu rồi sanh yêu ghét, đó là tâm sở. Do đó nên biết, tất cả pháp từ tâm vương dấy động mà có các thứ tâm sở. Quán như vậy liền biết các pháp tùy tâm, nên gọi là Tùy tức.
Hành giả chính khi quán tâm biết tâm tánh thường tịch thì các pháp cũng tịch. Vì tịch cho nên không niệm, không niệm nên không động, không động nên gọi là Chỉ. Tâm là Chỉ môn vậy.
Khi quán tâm, biết tâm tánh lặng yên không động, đó là tâm tịch diệt. Vì tịch nên không niệm, không niệm nên không động . Như khi chúng ta đang đứng hoặc đi mà không khởi nghĩ gì hết, lúc đó cây cối nhà cửa xe cộ… tất cả cảnh trước mắt chúng ta đều thấy, có tiếng động chung quanh đều nghe. Có thấy có nghe là có biết, đâu phải đợi suy nghĩ mới biết. Tâm thể vốn lặng lẽ thanh tịnh, vừa dấy khởi người này dễ thương, người kia dễ ghét v.v… là rơi vào tâm sở, là dấy động. Còn cái hằng thấy hằng nghe, hằng cảm xúc, cái biết thường xuyên đó lìa phân biệt, không dấy động.
Nơi chúng ta có cái biết dấy động và không dấy động. Cái biết dấy động thuộc về sanh diệt, cái biết không dây động thì không sanh diệt. Vậy mà lâu nay chúng ta cứ chạy theo cái biết sanh diệt, thấy cái gì cũng phân biệt thế này thế kia, rồi khen chê ưa ghét đủ thứ. Nếu theo tâm sanh diệt mãi, là quên mất tâm bất sanh bất diệt của chính mình. Người tu thiền là người biết xoay lại chính mình, buông xả tâm sanh diệt trở về tâm không sanh diệt. Vì tâm sanh diệt là tâm chúng sanh, tâm không sanh diệt là tâm Phật. Nên nói Phật tức tâm, tâm tức Phật.
Hành giả chính khi quán tâm biết rõ tâm tánh cũng như hư không, không danh không tướng, tất cả ngôn ngữ đều bặt, mở kho vô minh thấy tánh chân thật, được tuệ Vô trước đối với tất cả các pháp. Tâm tức là Quán môn.
Khi quán tâm, chúng ta biết rõ tâm tánh không hình tướng như hư không, như hư không mà không phải hư không, vì hư không không biết nghe, không biết thấy. Tâm tánh không tướng mạo nên không phải do duyên hợp, không danh không tướng, tất cả ngôn ngữ đều bặt. Tâm chạy theo phân biệt cảnh là đi theo chiều vô minh, lặng vô minh trở về tâm tánh chân thật nơi mình là phá kho vô minh nhận ra tánh chân thật, gọi đó là tuệ Vô trước, trí tuệ không dính mắc nơi các pháp. Tâm này tức là Quán môn vậy.
Hành giả chính khi quán tâm đã không có tâm sở quán, cũng không có trí năng quán. Khi ấy tâm như hư không, không chỗ nương tựa, tuy không thấy các pháp mà dùng diệu tuệ Vô trước phản chiếu thông suốt tất cả pháp, phân biệt hiển bày, vào các pháp giới không chỗ kém thiếu, khắp hiện sắc thân, bày hình trong cửu đạo, vào kho tàng khắp suốt, nhóm các căn lành, hồi hướng Bồ-đề trang nghiêm Phật đạo. Tâm tức là Hoàn môn.
Chính khi quán tâm đã không có tâm sở quán, cũng không có trí năng quán, tức là không có trí quán và đối tượng quán. Khi chúng ta nhìn lại niệm khởi thì niệm khởi là sở quán, trí nhìn là năng quán, đến lúc cảnh sở quán hết rồi thì trí năng quán cũng không còn dùng. Như trong mười bức tranh chăn trâu, khi con trâu hung hăng thì thằng chăn vừa cầm dây kéo mũi, vừa cầm roi đánh, từ từ con trâu hiền hòa thuần thục, thằng chăn ngồi thổi sáo chơi, trâu nằm kế bên; đến cuối cùng, con trâu mất, thằng chăn cũng không còn. Như vậy, có con trâu thì phải có thằng chăn, còn sở là còn năng. Chúng ta mới tu, nếu không có năng sở thì làm sao tu, cho nên buổi đầu phải dụng công, rầy la quở phạt, lần lần tâm lung lăng giảm mới được thảnh thơi. Khi tâm hư vọng biến mất, lúc đó không cần nhìn không cần quán, tâm trùm khắp, hiện tất cả pháp mà không có gì trở ngại. Cho nên nói, hồi hướng Bồ-đề trang nghiêm Phật đạo . Tâm tức là Hoàn môn vậy.
Hành giả chính khi quán tâm, tuy không thấy có tâm và các pháp mà hay rõ ràng phân biệt tất cả pháp; tuy phân biệt tất cả pháp mà không trước tất cả pháp, thành tựu tất cả pháp, không nhiễm tất cả pháp, do tự tánh thanh tịnh từ xưa đến nay không bị vô minh mê hoặc điên đảo làm ô nhiễm. Cho nên Kinh nói: “Tâm không nhiễm phiền não, phiền não không nhiễm tâm.” Vì hành giả thông đạt tự tánh thanh tịnh tâm, vào cấu pháp không bị cấu pháp làm ô nhiễm, nên gọi là Tịnh. Tâm tức là Tịnh môn.
Như thế sáu môn không do thứ lớp, thẳng quán tâm tánh tức đầy đủ cả.
Chỉ cần quán tâm là đầy đủ Lục diệu môn trong đó, bởi vì tâm trùm hết những thứ ấy.
Tâm không nhiễm phiền não, phiền não không nhiễm tâm. Tâm dấy niệm giận ghét đó là phiền não, tại sao trong kinh nói tâm không nhiễm phiền não, phiền não cũng không nhiễm được tâm? Ví dụ có một lu nước đục, nếu để yên cho những cặn bã đất bùn lắng xuống, thì nước đục trở thành nước trong. Nước đục và nước trong là một hay hai? Không hai. Vì nước trong ngay nơi nước đục.
Chúng ta nghe nói “tức tâm tức Phật”, tâm tánh mình là Phật, mà hiện tại chỉ thấy tham sân si đủ thứ, vậy Phật ở đâu? Tìm không ra. Bởi vì chúng ta sống theo tâm dao động điên đảo nên làm phàm phu tạo tội, nếu để cho tham sân si lặng xuống hết rồi thì Phật hiện ra ngay, không cần kiếm tìm ở đâu hết, như nước trong không phải ngoài nước đục mà có, cũng vậy Phật tánh hay tâm tánh chân thật không rời tâm điên đảo hiện giờ.
Tu Phật là một lối tu thực tế, không có gì huyền bí siêu việt ngoài mình, vậy mà chúng ta cứ mong cầu huyền bí. Là Phật tử, tự cho mình trung thành với Phật, kính trọng Phật, rằm ba mươi đi chùa lễ Phật, khấn vái thế này thế kia, mong Phật ban cho mình cái này cái nọ, cầu xin đủ thứ như: tâm con phiền não quá xin Phật giải cho con hết phiền não v.v… Chúng ta thử nghĩ xem, Phật hay ai giải cho mình hết phiền não? Chính mình là chủ nhân gây ra phiền não thì tự mình phải gỡ bỏ phiền não, chứ ai gỡ cho được. Ví dụ mình đang giận ai sùng sục, giả sử lúc ấy Bồ-tát Quan Âm đem nước cam lồ rải trên đầu, mình có mát rượi liền hay là vẫn tiếp tục giận? Chúng ta đang giận ghét người khác thì phải dùng trí tuệ xét lại cái đang giận ghét đó, có lợi hay có hại, đưa đến khổ hay vui? Mình khổ, người cũng khổ. Quán chiếu như vậy dần dần hết giận, hết khổ. Như vậy, bỏ giận là quyền của mình chứ đâu phải quyền của Phật, mà khi gặp điều gì khó khăn lại cầu xin Phật giải quyết giùm! Đó là tại chúng ta ỷ lại, không thực tế.
Phật dạy chúng ta tu để có sức tự chủ, không ỷ lại, không cầu xin, tự giải quyết vấn đề bằng trí tuệ thấy đúng như thật của chính mình. Nhưng chúng ta lại quá nhiều điên đảo, cứ thích cầu xin. Thật đáng thương! Ví dụ đang đi đường mà có ai chê dáng mình hơi thô, là đủ giận rồi. Chúng ta muốn hết khổ mà cứ tạo khổ. Nếu nghe nói đi thô thì ráng dịu dàng lại, còn lo gây gổ giận ghét người ta thì càng thô hơn nữa. Khi nghe ai phê bình điều gì, mình biết sửa lại cho tốt hơn là có trí tuệ. Người không biết tu, đổ thừa họa phước ở đâu chất trên đầu mình, đi ra gặp chuyện này chuyện kia làm khổ. Họa phước đâu có chất sẵn, chẳng qua mình dễ kẹt mắc nên thấy cái gì cũng kẹt mắc rồi khổ. Chúng ta không chịu trách cái kẹt mắc của chính mình mà lo trách họa phước ở đâu đổ trên đầu, đó là lầm lẫn.
Hôm qua có một người Mỹ biết nói tiếng Việt đến học thiền với tôi, chú nói chú chạy chiếc xe máy có mang cái ba lô trên lưng, vừa rồi bị một thanh niên chạy xe ngang giật đi mất. Lúc đó chú nghĩ, nó cần lấy để cho nó lấy. Về nhà chú lại suy nghĩ thấy vui, mình được tặng cho anh ta mấy món quà. Tôi nói, không phải tặng mà là cho, cho cái họ muốn mà không dám xin. Một người ngoại quốc bị mất đồ, chẳng những không buồn giận mà còn vui, vì nghĩ rằng được cho người ta. Nếu gặp chúng ta thì sao? Mình sẽ tức tối tìm cách trả thù người giật của mình. Người biết đạo lý xử sự mọi việc đều tốt, còn không thì việc không đáng phiền hà cũng thành phiền hà, đó là lẽ thường tình.
Tóm lại, chúng ta tu là không để bị vô minh che đậy, giữ tâm được thanh tịnh, khéo biết trở về nguồn tâm của mình, đây gọi là Tịnh môn.