Lục Diệu Pháp Môn Giảng Giải

Sơ Dẫn



Chánh văn:

Pháp môn này do ngài đại sư Trí Khải đời Tùy lược nói ra ở đất Đô Hạ, chùa Ngõa Quan.

A. THÍCH ĐỀ

Lục diệu môn là căn bản của kẻ nội hành, là lối trọng yếu của bậc Tam thừa đắc đạo. Cho nên đức Thích-ca lúc mới đến cội bồ-đề rải cỏ ngồi kiết già, bên trong suy nghĩ pháp An-ban:

1- Sổ tức (đếm hơi thở)

2- Tùy tức (để tâm theo hơi thở)

3- Chỉ

4- Quán

5- Hoàn

6- Tịnh

Nhân đó được muôn hạnh khai phát, hàng ma, thành đạo. Phật là mô phạm của muôn loài, chỉ bày đường lối như vậy, bậc Tam thừa chánh sĩ đâu không đi đường ấy.

Lục là thuộc về số, y cứ số để nói thiền. Như Phật hoặc y cứ số một để biện thiền là Nhất hạnh tam-muội, hoặc y cứ số hai là Chỉ và Quán, hoặc y cứ số ba là Tam tam-muội, hoặc y cứ số bốn là Tứ thiền, hoặc y cứ số năm là Ngũ môn thiền, hoặc y cứ số sáu là Lục diệu môn, hoặc y cứ số bảy là Thất y định, hoặc y cứ số tám là Bát bội xả, hoặc y cứ số chín là Cửu thứ đệ định, hoặc y cứ số mười là Thập thiền chi. Như thế cho đến trăm, ngàn, muôn, ức, vô số không thể kể các môn tam-muội đều là y cứ số, nói các môn thiền. Tuy số có nhiều ít, nhưng tận cùng pháp tướng thảy đều nhiếp nhau, do căn cơ hiểu ngộ của chúng sanh không đồng nên số có tăng giảm phân biệt để lợi ích chúng sanh. Ở đây nói Lục là y cứ số nêu bày thiền.

Diệu ý rất nhiều, nếu luận ý chánh tức là Diệt đế Niết-bàn, cho nên trong Diệt tứ hạnh nói: “Diệt chỉ diệu ly.” Niết-bàn không phải đoạn không phải thường, có mà khó hội, không mà dễ được, nên nói Diệu.

Sáu pháp này hay thông nên gọi là Môn. Cửa tuy có sáu mà nhận được chỗ nhiệm mầu thì không có khác, nên kinh nói: “Chân pháp bảo Niết-bàn, chúng sanh tùy mỗi cửa vào.” Đây là giải thích chung đại ý Lục Diệu Môn.

B. CHÁNH THUYẾT

Lục diệu môn đại ý có mười:

1- Lục diệu môn đối riêng qua các pháp thiền

2- Lục diệu môn thứ lớp cùng sanh

3- Tùy tiện nghi tu Lục diệu môn

4- Tùy đối trị tu Lục diệu môn

5- Lục diệu môn nhiếp nhau

6- Lục diệu môn chung và riêng

7- Lục diệu môn triển chuyển

8- Quán tâm Lục diệu môn

9- Viên quán Lục diệu môn

10- Tướng chứng của Lục diệu môn

Giảng:

Pháp môn này do ngài đại sư Trí Khải đời Tùy lược nói ra ở đất Đô Hạ, chùa Ngõa Quan.

A. THÍCH ĐỀ

Lục diệu môn là căn bản của kẻ nội hành, là lối trọng yếu của bậc Tam thừa đắc đạo. Cho nên đức Thích-ca lúc mới đến cội bồ-đề rải cỏ ngồi kiết già, bên trong suy nghĩ pháp An-ban:

1- Sổ tức (đếm hơi thở)

2- Tùy tức (để tâm theo hơi thở)

3- Chỉ

4- Quán

5- Hoàn

6- Tịnh

Nhân đó được muôn hạnh khai phát, hàng ma, thành đạo. Phật là mô phạm của muôn loài, chỉ bày đường lối như vậy, bậc Tam thừa chánh sĩ đâu không đi đường ấy.

An-ban là pháp tu theo hơi thở, tiếng Phạn gọi là A-na-ban-na. Lúc đức Phật tu ở cội bồ-đề, ngài cũng áp dụng pháp tu An-ban, trong các kinh điển A-hàm có nói đầy đủ. Như vậy người tu muốn giải thoát sanh tử đều phải đi theo con đường này, nên nói bậc Tam thừa chánh sĩ đâu không đi đường ấy.

Lục là thuộc về số, y cứ số để nói thiền. Như Phật hoặc y cứ số một để biện thiền là Nhất hạnh tam-muội, hoặc y cứ số hai là Chỉ và Quán, hoặc y cứ số ba là Tam tam-muội, hoặc y cứ số bốn là Tứ thiền, hoặc y cứ số năm là Ngũ môn thiền, hoặc y cứ số sáu là Lục diệu môn, hoặc y cứ số bảy là Thất y định, hoặc y cứ số tám là Bát bội xả, hoặc y cứ số chín là Cửu thứ đệ định, hoặc y cứ số mười là Thập thiền chi. Như thế cho đến trăm, ngàn, muôn, ức, vô số không thể kể các môn tam-muội đều là y cứ số, nói các môn thiền. Tuy số có nhiều ít, nhưng tận cùng pháp tướng thảy đều nhiếp nhau, do căn cơ hiểu ngộ của chúng sanh không đồng nên số có tăng giảm phân biệt để lợi ích chúng sanh. Ở đây nói Lục là y cứ số nêu bày thiền.

Diệu ý rất nhiều, nếu luận ý chánh tức là Diệt đế Niết-bàn, cho nên trong Diệt tứ hạnh nói: “Diệt chỉ diệu ly.” Niết-bàn không phải đoạn không phải thường, có mà khó hội, không mà dễ được, nên nói Diệu.

Sáu pháp này hay thông nên gọi là Môn. Cửa tuy có sáu mà nhận được chỗ nhiệm mầu thì không có khác, nên kinh nói: “Chân pháp bảo Niết-bàn, chúng sanh tùy mỗi cửa vào.” Đây là giải thích chung đại ý Lục Diệu Môn.

Lục diệu môn thuộc về pháp số, trong thiền có nhiều pháp số, ở đây chỉ nói riêng về Lục diệu môn mà thôi.

Chữ Diệu này không phải nghĩa thường, trong pháp Tứ đế nó thuộc về Diệt đế, tức là Niết-bàn, là một trong bốn hạnh của Diệt tứ hạnh. Bốn hạnh là Diệt, Chỉ, Diệu và Ly. Diệt là tiêu sạch các mầm tạo thành nhân sanh tử. Chỉ là dừng hết tất cả mọi loạn động. Diệu là chỉ cho Niết-bàn. Ly là xa lìa những pháp sanh diệt thế gian.

Niết-bàn , Trung Hoa dịch là Vô sanh. Người thế gian nghe nói vô sanh chắc là buồn lắm, vì không sanh trở lại thì còn gì để hưởng. Bệnh nặng nhất của chúng sanh là chấp ngã, muốn ngã này còn mãi để hưởng, như đạo tu tiên tìm thuốc trường sanh bất tử, sống hoài không chết. Nhưng thử kiểm lại xem, có vị tiên nào còn sống đến bây giờ hay không? Bất tử mà sao cũng chết! Chúng ta ai cũng muốn sống lâu, nên nghe nói trường sanh bất tử thì thích, vì hợp với bản ngã của mình. Giả sử có người sống được tám chín mươi tuổi, run rẩy đi không nổi, nếu cho sống thêm một trăm tuổi nữa thì có thích không? Sống trăm tuổi mà nằm bệnh không làm được gì, lúc đó chắc không còn ham cầu trường sanh bất tử nữa.

Thế gian có sanh phải có tử, chỉ pháp Niết-bàn vô sanh là giải thoát sanh tử. Chúng ta luân hồi trong lục đạo là do nghiệp lành hoặc nghiệp dữ. Nghiệp dữ thì rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nghiệp lành thì sanh về cõi trời, người, a-tu-la. Đường lành hay đường dữ là do thân khẩu ý tạo nghiệp, mà trong đó ý là chủ động. Ý nghĩ thiện thì miệng nói thiện, thân làm thiện, tạo thành nghiệp thiện. Ý nghĩ ác thì miệng nói ác, thân làm ác, tạo thành nghiệp ác. Bởi ý luôn chạy theo hai bên, thiện ác, tốt xấu, phải quấy, hơn thua v.v… nên nói “tâm viên ý mã”. Nếu ý lặng rồi thì không còn gì tạo nghiệp để đi trong sanh tử nữa, cho nên các vị tu đến nhập Diệt tận định thì tất cả ý niệm sanh diệt đều sạch, chứng quả A-la-hán.

A-la-hán là chết rồi mới chứng hay lúc còn sống đã chứng? Như các ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất… hiện đời đã chứng A-la-hán thì thế nào? Chúng ta thường nói, tôi tu để nhập Niết-bàn vô sanh. Nhưng nếu có ai hỏi, cái gì nhập Niết-bàn, nhập Niết-bàn là còn gì không, thì không trả lời được. Bởi chúng ta cứ cho những nghĩ tưởng thế này thế kia là tâm mình, mà không biết còn có tâm hằng tri hằng giác, cái đó không tạo nghiệp. Nên nhớ, hằng tri hằng giác mà không phải ý, vì khi ý lặng hết rồi thì trí tuệ hằng giác mới hiện tiền, tạm gọi đó là trí tuệ Phật, là Phật tánh, là thành Phật.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn có ghi lại bài pháp đầu tiên của Lục Tổ nói với thượng tọa Minh. Khi thượng tọa Minh xin Tổ nói pháp, Tổ bảo ông yên lặng giây lâu, rồi nói: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?” Ngay đó thượng tọa Minh liền ngộ. Nghĩ thiện nghĩ ác là ý dẫn đi trong sáu đường, dừng ý lại thì không còn hình bóng của đối đãi. Không nghĩ thiện ác thì không còn luân hồi. Hằng giác hằng tri thì ngay đó liền giải thoát sanh tử, là hiện tại Niết-bàn.

Chúng ta có Niết-bàn mà không dám hưởng, cứ hưởng con đường luân hồi, thích luân hồi đẹp, sợ luân hồi xấu. Bởi thế cho nên Phật mới nương theo đó mà mượn phương tiện răn dạy từng chặng, để chúng ta tu tập. Chặng thứ nhất, đối với người mới vào đạo, Phật cấm không được phạm năm điều: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Đó là ngăn không cho đi đường ác. Người giữ được năm điều này rồi thì Phật dạy tu Thập thiện, là mở đường lành cho chúng ta đi lên. Chặng thứ hai, đối với bậc Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát, Phật dạy phải tu thiền định để dứt trừ ý thức, mới giải thoát sanh tử luân hồi. Lời Phật dạy rất rõ ràng, nhưng vì chúng ta tu lừng chừng nên không nắm vững đường nào đi lên, đường nào đi xuống, đường nào giải thoát v.v…

Tất cả phương tiện tu đều để dừng ý, ý dừng thì hết tạo nghiệp đi trong lục đạo luân hồi, là giải thoát sanh tử, là vô sanh. Như người tu niệm Phật thì phải nhất tâm, tu Mật tông thì phải ba nghiệp đồng cảm tức duy nhất không loạn, tu thiền thì phải định. Nhắc lại, vô sanh là không còn sanh, chứ không phải là không ngơ, không có gì hết. Bởi Niết-bàn không phải đoạn không phải thường, có mà khó hội, không mà dễ được, nên nói là Diệu.

Sáu pháp này hay thông nên gọi là Môn. Cửa tuy có sáu nhưng nhận được chỗ nhiệm mầu thì chẳng khác , chúng sanh tùy theo căn cơ của mình, nương nơi mỗi cửa mà vào không có gì chướng ngại.

Đó là giải thích chung về đại ý của Lục Diệu Môn.

B. CHÁNH THUYẾT

Lục diệu môn đại ý có mười:

1- Lục diệu môn đối riêng qua các pháp thiền

2- Lục diệu môn thứ lớp cùng sanh

3- Tùy tiện nghi tu Lục diệu môn

4- Tùy đối trị tu Lục diệu môn

5- Lục diệu môn nhiếp nhau

6- Lục diệu môn chung và riêng

7- Lục diệu môn triển chuyển

8- Quán tâm Lục diệu môn

9- Viên quán Lục diệu môn

10- Tướng chứng của Lục diệu môn

Lục diệu môn có mười thứ, trước tiên là nói về Lục diệu môn đối riêng qua các thiền.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.