Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán giảng giải

Phần Chánh Tông - Chương 10: Chứng Quả -



Chánh văn:

Nếu hành giả khi tu Chỉ Quán như thế, biết rõ tất cả pháp đều do tâm sanh, nhân duyên hư giả không thật, nên là không; vì biết không, nên không thấy có tướng danh tự của tất cả pháp, thế là thể nhập chân thật. Khi ấy, trên không thấy có Phật quả đáng cầu, dưới không thấy có chúng sanh đáng độ. Ấy gọi là quán từ Giả nhập Không, là quán nhị đế, là tuệ nhãn, là Nhất thiết trí. Nếu trụ nơi quán này tức là sa vào quả vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Cho nên trong Kinh chép: “Các vị Thanh văn v.v… tự than rằng: Chúng ta nếu nghe cõi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh, tâm không vui mừng. Vì sao? Vì tất cả pháp thảy đều rỗng lặng, không sanh không diệt, không lớn không nhỏ, vô lậu vô vi, suy nghĩ như thế nên không vui mừng.” Phải biết người thấy được pháp vô vi mà vào chánh vị, người ấy trọn không thể phát ba thứ tâm Bồ-đề, vì sức định nhiều mà không thấy Phật tánh.

Nếu Bồ-tát vì tất cả chúng sanh thành tựu tất cả Phật pháp thì không nên chấp giữ vô vi tự tịch diệt, khi ấy nên tu Quán từ Không nhập Giả. Nghĩa là phải thật quán tâm tánh tuy không, nhưng khi đối duyên liền sanh ra tất cả các pháp cũng như huyễn hóa, tuy không quyết định thật mà vẫn có các tướng thấy, nghe, hiểu, biết v.v… khác nhau. Hành giả khi quán như thế, tuy biết tất cả pháp rốt ráo là rỗng lặng, mà hay ở trong Không tu các hạnh, như gieo giống trong Không; cũng hay phân biệt các căn của chúng sanh tánh dục vô lượng, nên thuyết pháp cũng vô lượng. Nếu chứng được vô ngại biện tài thì hay làm lợi ích chúng sanh khắp lục đạo. Ấy gọi là Phương tiện tùy duyên Chỉ, là quán từ Không nhập Giả, là quán bình đẳng, là pháp nhãn, là Đạo chủng trí. Trụ trong quán này sức trí tuệ nhiều, tuy thấy được Phật tánh mà không rõ ràng.

Bồ-tát tuy thành tựu hai pháp quán trên, đó gọi là Quán môn phương tiện, không phải là chánh quán. Kinh chép: “Hai thứ trước là đạo phương tiện, nhân hai thứ quán Không Giả ấy được vào quán Trung đạo đệ nhất nghĩa, song chiếu cả hai đế, tâm thường vắng lặng, tự nhiên trôi vào biển Đại Giác.” Nếu Bồ-tát muốn ở trong một niệm đầy đủ tất cả Phật pháp, nên tu “Chỉ dứt hai bên phân biệt” (Tức nhị biên phân biệt Chỉ) thực hành chánh quán Trung đạo.

Thế nào là Chánh quán? Nếu thấu hiểu tâm tánh không phải Chân, không phải Giả, dứt tâm duyên Chân Giả, gọi là Chánh thật quán. Tâm tánh không phải không, không phải Giả, mà không phá hoại pháp Không, Giả. Nếu hay chiếu liễu như thế thì ở nơi tâm tánh thông đạt được Trung đạo, viên chiếu cả nhị đế. Nếu hay tự tâm thấy được Trung đạo, nhị đế, thì thấy Trung đạo, nhị đế của tất cả pháp mà không chấp Trung đạo, nhị đế. Bởi vì quyết định tánh không thể có, ấy gọi là chánh quán Trung đạo. Như bài kệ Trung Luận nói:

Nhân duyên sanh các pháp,

Ta nói tức là Không,

Cũng gọi là Giả danh, 

Cũng gọi nghĩa Trung đạo.

Sưu tầm ý bài kệ này, không những đầy đủ phân biệt tướng Trung quán, cũng gồm nói chỉ thú hai thứ quán môn phương tiện trước. Phải biết chánh quán Trung đạo tức là Phật nhãn, Nhất thiết chủng trí. Nếu trụ nơi quán này thì sức định và tuệ đồng đẳng, thấy Phật tánh rõ ràng, an trụ trong Đại thừa, bước đi bằng phẳng nhanh như gió, tự nhiên vào trong biển Đại Giác. Thực hành hạnh Như Lai, vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, dùng đồ trang nghiêm của Như Lai mà tự trang nghiêm. Được sáu căn thanh tịnh, vào cảnh giới của Phật, đối với tất cả pháp không nhiễm trước, tất cả Phật pháp đều được hiện tiền, thành tựu Niệm Phật tam-muội, an trụ trong định Thủ-lăng-nghiêm, thế là phổ hiện sắc thân tam-muội, khắp vào cõi Phật trong mười phương, dạy bảo chúng sanh trang nghiêm tất cả cõi Phật, cúng dường mười phương chư Phật, thọ trì pháp tạng của chư Phật, đầy đủ tất cả hạnh ba-la-mật, ngộ nhập vị Đại Bồ-tát, cùng với ngài Văn-thù, Phổ Hiền kết bạn. Thường trụ trong thân pháp tánh, vì chư Phật khen ngợi thọ ký, ấy là trang nghiêm Đâu-suất-đà thiên, thị hiện giáng thần trong thai mẹ, xuất gia, đến đạo tràng, hàng phục ma oán, thành chánh giác, chuyển pháp luân, vào Niết-bàn. Ở các cõi nước khắp mười phương làm viên mãn tất cả Phật sự, đầy đủ hai thân Chân và Ứng… ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát.

Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Khi sơ phát tâm liền thành Chánh giác, thông suốt tánh chân thật của các pháp, được tuệ thân không phải do người khác mà ngộ.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát được một thân Như Lai làm vô lượng thân.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát tức là Phật.” Kinh Niết-bàn nói: “Sơ phát tâm và cứu cánh tâm hai cái không khác, hai tâm như thế, tâm trước là khó.” Kinh Đại Phẩm nói: “Tu-bồ-đề! Có đại Bồ-tát mới sơ phát tâm liền tọa đạo tràng, chuyển bánh xe chánh pháp, phải biết Bồ-tát ấy như Phật vậy.” Trong kinh Pháp Hoa nàng Long nữ dâng hạt châu làm chứng, những kinh như thế đều nói sơ phát tâm làm đủ tất cả Phật pháp, như kinh Đại Phẩm nói “Chữ A”, kinh Pháp Hoa nói “Khiến chúng sanh khai Phật tri kiến”, kinh Niết-bàn nói “Thấy Phật tánh cho nên trụ Đại Niết-bàn”. Đã lược nói tướng Sơ phát tâm nhân tu Chỉ Quán được chứng quả.

Kế nói Hậu tâm chứng quả. Cảnh giới của Hậu tâm chứng không thể biết, nay suy theo giáo lý để rõ, trọn không rời hai pháp Chỉ và Quán. Tại sao? Kinh Pháp Hoa nói: “Ân cần khen ngợi trí tuệ của chư Phật”, trí tuệ là nghĩa Quán. Đây là đứng về Quán để rõ quả. Kinh Niết-bàn luận rộng về “một trăm câu giải thoát” để giải thích Đại Niết-bàn, Niết-bàn nghĩa là Chỉ. Đó là đứng về Chỉ để rõ quả. Cho nên nói Đại Niết-bàn là thường tịch định. Định tức là nghĩa Chỉ. Trong kinh Pháp Hoa tuy đứng về mặt Quán để rõ quả, nhưng cũng nhiếp Chỉ. Cho nên nói “nhẫn đến tướng cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt trọn quy về Không”. Trong kinh Niết-bàn tuy đứng về mặt Chỉ để rõ quả, nhưng cũng gồm Quán. Bởi vì lấy ba đức làm Đại Niết-bàn. Hai bộ kinh lớn này tuy văn có hiện có ẩn khác nhau, nhưng đều đứng về hai môn Chỉ Quán biện chỗ cứu cánh của nó, gồm căn cứ hai pháp định tuệ để rõ quả vị cùng tột.

Hành giả phải biết quả ban đầu, bậc giữa, rốt sau đều không thể nghĩ bàn. Cho nên bản tân dịch kinh Kim Quang Minh nói: “Như Lai lúc ban đầu không thể nghĩ bàn, Như Lai khoảng giữa bao nhiêu thứ trang nghiêm, Như Lai rốt sau thường không thể phá hoại.” Đó là ước về hai tâm tu Chỉ Quán để biện kết quả của nó. Bài kệ trong kinh Ban Châu tam-muội chép:

Chư Phật từ tâm được giải thoát, 

Tâm ấy thanh tịnh gọi không nhớp,

Năm đạo sạch sẽ chẳng nhuốm màu, 

Học được pháp này thành Đại đạo.

Thệ nguyện tu hành phải trừ tam chướng và ngũ cái. Nếu như không trừ, tuy siêng năng dụng công trọn không lợi ích.

Giảng: 

Phần chứng quả này chúng ta nghe kỹ, nghiệm xét sự tu hành của mình xem có tiến bộ không, để nắm vững không nghi. Bởi chúng ta tu là phải có tiến bộ, có kết quả, chứ không đứng một chỗ hoài. Vì vậy nếu không hiểu rõ thì dễ sanh nghi ngờ.

Nếu hành giả khi tu Chỉ Quán như thế, biết rõ tất cả pháp đều do tâm sanh, nhân duyên hư giả không thật, nên là không; vì biết không, nên không thấy có tướng danh tự của tất cả pháp, thế là thể nhập chân thật. Khi ấy, trên không thấy có Phật quả đáng cầu, dưới không thấy có chúng sanh đáng độ. Ấy gọi là quán từ Giả nhập Không, là quán nhị đế, là tuệ nhãn, là Nhất thiết trí. Nếu trụ nơi quán này tức là sa vào quả vị Thanh văn, Bích-chi Phật.

Khi tu Quán biết rõ các pháp đều là nhân duyên, do tâm sanh, hư giả không thật. Nhờ biết rõ nên không thấy tướng danh tự của tất cả pháp là thật, vì các pháp đã là duyên hợp không thật thì có gì mà chấp vào danh tự. Nếu thấy được như vậy là thể nhập thật tánh của các pháp. Nhận được rồi thì khi ấy, trên không thấy có Phật quả đáng cầu, dưới không thấy có chúng sanh đáng độ . Tại sao? Vì các pháp không thật thể thì quả Phật và chúng sanh cũng không có thật thể.

Ấy gọi là quán từ Giả nhập Không, là quán nhị đế, là tuệ nhãn, là Nhất thiết trí. Tất cả các hiện tượng chứng đắc của Phật và đau khổ của chúng sanh đều là hư giả, nên thể tánh của nó là không. Đó là quán nhị đế. Nhị đế là tục đế và chân đế. Tục đế là chúng sanh, chân đế là Phật. Biết rõ như vậy tức là người có trí tuệ, được nhất thiết trí.

Nếu trụ nơi quán này tức là sa vào quả vị Thanh văn, Bích-chi Phật. Thấy các pháp không tự tánh rồi không cầu Phật quả, không nghĩ độ chúng sanh, nếu trụ trong quán này thì gọi đó là trí tuệ của Thanh văn, Bích-chi Phật. Tuy cũng có trí tuệ nhưng trí tuệ đó chưa được tròn đủ.

Cho nên trong Kinh chép: “Các vị Thanh văn v.v… tự than rằng: Chúng ta nếu nghe cõi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh, tâm không vui mừng. Vì sao? Vì tất cả pháp thảy đều rỗng lặng, không sanh không diệt, không lớn không nhỏ, vô lậu vô vi, suy nghĩ như thế nên không vui mừng.”

Hàng Thanh văn chấp nhận nhập Niết-bàn mãi, vì các ngài thấy rõ thể tánh của các pháp là không sanh không diệt, thì có gì để sanh có gì để diệt. Do nhàm chán không ưa thích, nên an trụ Niết-bàn.

Phải biết người thấy được pháp vô vi mà vào chánh vị, người ấy trọn không thể phát ba thứ tâm Bồ-đề, vì sức định nhiều mà không thấy Phật tánh.

Vì quán các pháp là Không mà được định, định nhiều nhưng không thấy Phật tánh, nên ở hàng Nhị thừa, Bích-chi Phật.

Nếu Bồ-tát vì tất cả chúng sanh thành tựu tất cả Phật pháp thì không nên chấp giữ vô vi tự tịch diệt, khi ấy nên tu Quán từ Không nhập Giả.

Bồ-tát phải tu Quán từ Không nhập Giả, nghĩa là biết các pháp tự tánh không nhưng duyên hợp giả có, chứ chẳng phải không ngơ. Chúng sanh tự tánh là không, nhưng hiện tại vẫn còn mê lầm, vẫn còn đau khổ, cho nên vẫn phải hóa độ họ, không thể an trụ Niết-bàn.

Nghĩa là phải thật quán tâm tánh tuy không, nhưng khi đối duyên liền sanh ra tất cả các pháp cũng như huyễn hóa, tuy không quyết định thật mà vẫn có các tướng thấy, nghe, hiểu, biết v.v… khác nhau. Hành giả khi quán như thế, tuy biết tất cả pháp rốt ráo là rỗng lặng, mà hay ở trong Không tu các hạnh, như gieo giống trong Không; cũng hay phân biệt các căn của chúng sanh tánh dục vô lượng, nên thuyết pháp cũng vô lượng. Nếu chứng được vô ngại biện tài thì hay làm lợi ích chúng sanh khắp lục đạo. Ấy gọi là Phương tiện tùy duyên Chỉ, là quán từ Không nhập Giả, là quán bình đẳng, là pháp nhãn, là Đạo chủng trí. Trụ trong quán này sức trí tuệ nhiều, tuy thấy được Phật tánh mà không rõ ràng.

Có hai thứ trí: Trí của Thanh văn thấy các pháp không thật, nên trụ ở chỗ vô vi bất sanh bất diệt, gọi đó là tuệ. Trí của Bồ-tát quán các pháp tự tánh là không, duyên hợp giả có, vì vậy phải tùy duyên mà hóa độ không dừng nghỉ, chừng nào chúng sanh đạt đạo giác ngộ mới thôi. Biết các tướng là giả nhưng vẫn vào trong đó để giáo hóa chúng sanh mà không nhập Niết-bàn, đó là tâm Bồ-tát.

Nếu Bồ-tát có nhập Niết-bàn thì Niết-bàn đó là Vô trụ xứ Niết-bàn, chứ không phải là Niết-bàn bất sanh bất diệt. Tại sao? Vì Bồ-tát thấy sanh diệt chỉ là hiện tượng giả hợp, như thiền sư Từ Minh nói “sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ”. Mùa đông lạnh thì đắp chăn, mùa hạ nóng thì cởi áo. Bồ-tát sanh ra đời xem như đắp chăn đông, khi mất thân này coi như cởi áo hạ, không buồn không sợ, đó gọi là Du hý tam-muội, tức là dạo chơi khắp lục đạo luân hồi mà vẫn ở trong chánh định. Do biết các pháp là giả tạm nên các ngài khởi quán bình đẳng, giáo hóa chúng sanh không mỏi mệt. Vì vậy gọi các ngài là hàng được pháp nhân, có Đạo chủng trí.

Bồ-tát tuy thành tựu hai pháp quán trên, đó gọi là Quán môn phương tiện, không phải là chánh quán. Kinh chép: “Hai thứ trước là đạo phương tiện, nhân hai thứ quán Không Giả ấy được vào quán Trung đạo đệ nhất nghĩa, song chiếu cả hai đế, tâm thường vắng lặng, tự nhiên trôi vào biển Đại Giác.” Nếu Bồ-tát muốn ở trong một niệm đầy đủ tất cả Phật pháp, nên tu “Chỉ dứt hai bên phân biệt” (Tức nhị biên phân biệt Chỉ) thực hành chánh quán Trung đạo.

Nếu còn quán Không quán Giả là còn kẹt hai bên chưa tới chỗ cứu cánh, cho nên đến đây dung hợp cả hai, Không Giả đều buông nhập vào Trung đạo đệ nhất nghĩa. Đó là Trung đạo quán đi tới trí tuệ Phật.

Thế nào là Chánh quán? Nếu thấu hiểu tâm tánh không phải Chân, không phải Giả, dứt tâm duyên Chân Giả, gọi là Chánh thật quán. Tâm tánh không phải không, không phải Giả, mà không phá hoại pháp Không, Giả. Nếu hay chiếu liễu như thế thì ở nơi tâm tánh thông đạt được Trung đạo, viên chiếu cả nhị đế. Nếu hay tự tâm thấy được Trung đạo, nhị đế, thì thấy Trung đạo, nhị đế của tất cả pháp mà không chấp Trung đạo, nhị đế. Bởi vì quyết định tánh không thể có, ấy gọi là chánh quán Trung đạo. Như bài kệ Trung Luận nói:

Nhân duyên sanh các pháp,

Ta nói tức là Không,

Cũng gọi là Giả danh, 

Cũng gọi nghĩa Trung đạo.

Nhị đế là hai lẽ thật, tục đế và chân đế. Thấy có tục có chân là còn đối đãi chưa tới được Trung đạo. Bài kệ trong Trung Quán Luận của ngài Long Thọ nói:

Nhân duyên sanh các pháp, ta nói tức là Không . Các pháp do nhân duyên sanh đều không có thật thể nên tánh nó là không.

Cũng gọi là Giả danh, cũng gọi nghĩa Trung đạo. Do không có thật thể đợi duyên hợp mới có, nên có đó cũng chỉ là tên giả.

Như vậy nếu quán Không quán Giả riêng từng phần là chưa đến chỗ cứu cánh, mà phải dung hợp cả hai Không và Giả, để thấy rõ cuối cùng chân và giả cũng không còn, gọi đó là nghĩa Trung đạo, là đệ nhất nghĩa đế.

Sưu tầm ý bài kệ này, không những đầy đủ phân biệt tướng Trung quán, cũng gồm nói chỉ thú hai thứ quán môn phương tiện trước. Phải biết chánh quán Trung đạo tức là Phật nhãn, Nhất thiết chủng trí.

Nếu quán bằng trí tuệ biết các pháp duyên hợp hư giả không có tự tánh mà chúng sanh mê lầm tưởng thật, nên chúng ta khởi lòng từ bi thì đó là chánh quán Trung đạo, cũng là con mắt của Phật, cũng là Nhất thiết chủng trí, là trí tuệ của Phật.

Nếu trụ nơi quán này thì sức định và tuệ đồng đẳng, thấy Phật tánh rõ ràng, an trụ trong Đại thừa, bước đi bằng phẳng nhanh như gió, tự nhiên vào trong biển Đại Giác.

Nếu người nào có đủ hai thứ quán này, tức là có đủ từ bi và trí tuệ, thì đó là người vào được trí tuệ Phật.

Thực hành hạnh Như Lai, vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, dùng đồ trang nghiêm của Như Lai mà tự trang nghiêm.

Trong kinh Pháp Hoa, Phật bảo phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai . Vào nhà Như Lai là tâm từ bi. Mặc y Như Lai là nhu hòa nhẫn nhục. Ngồi tòa Như Lai là trí tuệ thấy tất cả pháp Không. Nếu có trí tuệ mà chưa có từ bi là chưa vào nhà Như Lai, có từ bi nhẫn nhục mà không có trí tuệ thấy các pháp tánh Không thì chưa được ngồi tòa Như Lai. Như vậy giá trị của người tu Phật là phải có đủ trí tuệ và từ bi. Đó là hai điều căn bản.

Được sáu căn thanh tịnh, vào cảnh giới của Phật, đối với tất cả pháp không nhiễm trước, tất cả Phật pháp đều được hiện tiền, thành tựu Niệm Phật tam-muội, an trụ trong định Thủ-lăng-nghiêm, thế là phổ hiện sắc thân tam-muội, khắp vào cõi Phật trong mười phương, dạy bảo chúng sanh trang nghiêm tất cả cõi Phật, cúng dường mười phương chư Phật, thọ trì pháp tạng của chư Phật, đầy đủ tất cả hạnh ba-la-mật, ngộ nhập vị Đại Bồ-tát, cùng với ngài Văn-thù, Phổ Hiền kết bạn.

Có đủ trí tuệ và từ bi là được vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa của Phật. Tất cả những gì Phật có, chúng ta cũng đều có. Niệm Phật tam-muội, an trụ định Thủ-lăng-nghiêm v.v… đầy đủ như Phật, khỏi phải tìm kiếm ở đâu. Như vậy người tu Phật trước hết phải có trí tuệ, kế khởi tâm đại bi và đầy đủ hạnh của chư Phật mới được. Chúng ta muốn có trí tuệ thì phải cố gắng quán chiếu đúng như lời Phật dạy, các pháp do nhân duyên sanh, không có cái gì lìa ngoài nhân duyên. Pháp do nhân duyên sanh tạm có rồi hoại, không có gì lâu bền mãi mãi, vì vậy chúng ta không nên cố chấp.

Nếu chúng ta biết các pháp từ cái nhà, cái bàn cho đến con người… đều là giả hợp, thì tạm mượn cái thân giả làm tất cả Phật sự giả, giáo hóa chúng sanh hư giả. Bởi thấy chúng sanh mê lầm lấy giả cho là thật nên chúng ta không cam lòng, vì vậy làm tất cả để độ chúng sanh mà không chán không mệt. Ví dụ chúng ta cùng năm ba người ở chung một phòng, giữa đêm nghe huynh đệ nằm bên cạnh mớ, họ hốt hoảng kêu khóc cầu cứu. Dù biết họ đang khóc kêu cứu trong mộng, nhưng chúng ta có nỡ để họ khóc la kêu cứu hoài không? Biết họ đang khổ trong mộng mà mình vẫn phải cứu, gọi cho họ thức dậy thì các cảnh khổ đau trong mộng tự tan. Cũng vậy, chúng sanh đang mê lầm tưởng giả là thật, bị cảnh đó lôi kéo tạo không biết bao nhiêu khổ đau. Muốn cứu cho hết khổ chỉ cần gợi nhắc họ thấy đúng như thật, khi thấy đúng như thật rồi lúc đó hết khổ. Mục tiêu chủ yếu của đạo Phật là đánh thức mọi người trong cơn mê. Bởi vì mê thì mộng, mộng thì khổ. Hết mê thì hết mộng, hết mộng là hết khổ. Đó là độ chúng sanh.

Hiện tại chúng tôi giảng kinh cho Phật tử nghe, tức là đang đánh thức, đang độ chúng sanh. Độ chúng sanh không cần chèo thuyền bè mà chỉ cần đánh thức cho hiểu cái gì thật, cái gì chưa phải thật. Hiểu được rồi là giải tỏa bao điều khổ. Tự mình thấy đúng như thật thì khổ tự nhiên hết. Nhận ra và ứng dụng đúng mới thấy được hiệu nghiệm của Phật pháp, còn rủ nhau đi chùa tụng kinh hết bộ này đến bộ kia mà không có trí tuệ tỉnh thức, chỉ cho việc tụng nhiều là có phước qua tai nạn, nghĩ vậy là sai lầm. Nếu tụng kinh mà bị tai nạn thì thầm trách Phật không ủng hộ mình, đó là người mê khó tránh hết khổ.

Chúng ta tu khéo dùng trí tuệ Bát-nhã, thấy tường tận các pháp thể tánh là không, duyên hợp giả có, tụ rồi phải tan, hợp rồi phải rã. Biết vậy rồi nên không còn chấp, không chấp thì hết khổ. Từ đó khởi lòng từ bi đánh thức chúng sanh giúp cho họ dứt mê lầm, đó là tâm của Bồ-tát. Nếu chúng ta cứ nghĩ mình hết khổ rồi an phận cho khỏe, chúng sanh mê cũng là giả thôi không cần cứu giúp, nghĩ như vậy là tâm của Thanh văn Duyên giác. Cho nên tuy biết cảnh đời là tạm bợ, nhưng thấy người khổ vẫn thương cứu giúp cho họ tỉnh thức hết khổ, đó là bổn phận người tu. Đủ trí tuệ và lòng từ bi là đủ tất cả Phật sự, là tròn được hạnh Bồ-tát.

Thường trụ trong thân pháp tánh, vì chư Phật khen ngợi thọ ký, ấy là trang nghiêm Đâu-suất-đà thiên, thị hiện giáng thần trong thai mẹ, xuất gia, đến đạo tràng, hàng phục ma oán, thành chánh giác, chuyển pháp luân, vào Niết-bàn. Ở các cõi nước khắp mười phương làm viên mãn tất cả Phật sự, đầy đủ hai thân Chân và Ứng… ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát.

Đoạn này từ câu “Sưu tầm ý bài kệ này…” đến “ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát” là phần nói về kết quả tu chứng của người ứng dụng pháp quán Trung đạo. Như ở trên nói, nhân duyên sanh các pháp, ta nói tức là Không . Với cái nhìn của Phật thấu suốt được các pháp do nhân duyên sanh, không có thật thể cố định. Như bàn tay khi co năm ngón tay lại thì gọi là nắm tay. Như vậy nắm tay là có hay là không? Nếu không thì mắt đang thấy mà nói không sao được. Nếu có thì khi buông ra nắm tay ở chỗ nào? Nắm tay này do nhân duyên hợp lại thành, nó không có thật tánh chứ không phải không có giả tướng nắm tay.

Chúng ta học Bát-nhã thuộc lòng, đêm nào cũng đọc: Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Khi Bồ-tát Quán Tự Tại thực hành trí tuệ Bát-nhã thâm sâu, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua tất cả khổ nạn. Soi thấy năm uẩn đều không, vậy hiện tại ai đứng ai ngồi đây? Cho nên nói Không là không có thật thể cố định, chứ không phải là không có thân giả tướng này. Chữ Không này không phải là không đối với có, cái này vật chất là có cái kia trống rỗng là không, mà là ngay trong cái có biết rõ duyên hợp thể tánh là không, gọi là tánh Không. Hiểu được tánh Không thì mọi khổ nạn đều qua.

Chúng ta hiểu rồi mà sao chưa qua khổ nan? Bởi vì tuy hiểu năm uẩn là không, nhưng hiểu bằng nghĩ suy chứ chưa phải hiểu bằng thâm nhập. Nếu thật sự hiểu, lúc nào cũng thấy thân năm uẩn là giả tướng tạm bợ, thì người ta chửi mình cũng không giận. Chính mình đã tạm bợ thì những thứ như lời chửi, khinh khi, được mất, hơn thua, phải quấy v.v… lại càng tạm bợ. Một chuỗi tạm bợ thì có cái gì làm khổ ách cho mình? Thấy thân thật nên khổ thật, còn biết thân giả thì tất cả những thứ làm mình khổ cũng là giả, có gì quan trọng mà khổ. Như vậy là qua hết khổ ách. Nếu hiểu thì tu một câu cũng đủ hết khổ, còn không thì dù tụng Bát-nhã bao lần, tụng thì tụng mà khổ vẫn cứ khổ hoài. Thấy bằng trí tuệ Bát-nhã là Bồ-tát, thấy theo mê chấp là chúng sanh. Bồ-tát thì hết khổ ách còn chúng sanh thì chịu khổ ách. Hết khổ hay còn khổ là do trí tuệ thấy đúng lẽ thật, chứ không phải do ai cứu mình hết khổ, nếu cứ ôm ấp mê lầm thì muôn đời vẫn không hết khổ.

Học Phật pháp là học về trí tuệ. Phật là giác nên điều gì đức Phật nói ra đều căn cứ trên trí tuệ giác ngộ mà nói. Chúng ta học Phật phải dùng trí tuệ để hiểu được lẽ thật, có trí thì tự mình giải khổ cho mình. Nếu Phật tử gặp tai nạn đến chùa nhờ quý thấy quý cô tụng kinh cầu nguyện, mà bản thân mình thì cứ chấp thân thật, lời nói thật… thì dù có cầu nguyện vẫn khổ mãi. Phật dạy người tu hạnh Bồ-tát phải có đủ tự giác và giác tha. Tự giác là cứu khổ cho mình, giác tha là cứu khổ cho người. Cứu khổ bằng giác tha, tức là giúp cho người giác ngộ.

Tất cả kinh điển của Phật dạy cốt làm sao cho mọi người tự thức tỉnh, tự biết lẽ thật thì hết khổ. Người thế gian vì mê muội nên khổ, chẳng những khổ đời này mà còn khổ mãi mãi về sau. Chúng ta tự cho mình là tốt, là thanh cao, nhưng nếu gặp người có thế lực hơn nhục mạ, chúng ta không thể trả lời chống cự lại được thì ôm hận suốt đời, nguyện đời này trả không được đời sau trở lại sẽ trả. Rõ ràng chúng sanh vì mê muội nên cột những mối dây sanh tử vào mình, đời này đã khổ lại muốn đời sau gặp nhau để tiếp tục khổ, nối tiếp không ngừng, cứ vậy mà luân hồi. Cho nên người tu phải sáng suốt, thấy bằng trí tuệ đúng với lẽ thật chứ đừng thấy theo mê lầm.

Đức Phật luôn dùng trí tuệ chân thật nên không ai quấy nhiễu được ngài. Có lần Phật đi khất thực tới một vùng đạo Bà-la-môn, họ nghe Phật nói pháp được cảm hóa nên bỏ đạo theo Phật, khiến vị thủ lãnh Bà-la-môn tức giận. Một hôm Phật đi khất thực, ông đi theo sau chửi, ngài cứ khoan thai bước đi, gần đến cuối đường ông tức quá chạy lên chặn đường hỏi:

– Cù-đàm! Ngài thua tôi chưa?

Phật chậm rãi trải tọa cụ ngồi xuống nói bài kệ:

Kẻ hơn thì thêm oán,

Người thua ngủ chẳng yên.

Hơn thua hai đều xả,

Ấy được an ổn ngủ.

Đức Phật có trí tuệ nên bị người theo chửi mà không buồn không giận, vì vậy ngài an ổn, còn chúng ta thì cứ sợ thua nên ráng cãi cho hơn, mà hơn thì người giận hờn oán thù mình. Cho nên chỉ cần xả bỏ tâm hơn thua thì ngủ bình an, hết tai họa, hết khổ ách.

Học Phật phải làm theo hạnh Phật, đừng làm theo hạnh chúng sanh. Nếu dùng trí tuệ quán chiếu tu tập dần dần thì trí tuệ sẽ mạnh lên. Sở dĩ trí tuệ của chúng ta không mạnh là vì mình có bệnh dửng dưng. Nghe thấy ai khổ thì nói “Ôi đồ giả!”, khổ mặc họ không để tâm đến. Cho nên phải bước qua giai đoạn thứ hai là quán. Quán các pháp tánh Không nhưng duyên hợp giả có, bởi chúng sanh do mê lầm tưởng thật nên khổ. Chúng ta tỉnh giác cần phải khởi lòng thương mà độ họ, chứ không phải thấy giả rồi bỏ mặc. Quán tánh Không là trí tuệ, thấy chúng sanh lầm mê khởi lòng thương là từ bi. Như vậy trí tuệ và từ bi quân bình không thiếu, đó là nghĩa Trung đạo, là bước vào trí tuệ Phật. Nếu quán tánh Không mà không khởi từ bi thì dễ bị khô khan, nên nói trí tuệ thiếu từ bì là trí tuệ khô, gọi là càn tuệ. Người đủ trí tuệ và từ bì thì tất cả Phật sự đều tròn đủ. Đây kết thúc nói, ở các cõi nước khắp mười phương làm viên mãn tất cả Phật sự, đầy đủ hai thân Chân và Ứng… ấy là Sơ phát tâm Bồ-tát.

Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Khi sơ phát tâm liền thành Chánh giác, thông suốt tánh chân thật của các pháp, được tuệ thân không phải do người khác mà ngộ.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát được một thân Như Lai làm vô lượng thân.” Cũng nói: “Sơ phát tâm Bồ-tát tức là Phật.”

Sao nói Sơ phát tâm Bồ-tát tức là Phật? Bởi vì người thấy được pháp tánh đúng như thật là đại giác ngộ, rồi khởi tâm đại bi độ chúng sanh đó là tâm của Phật. Như vậy ngộ pháp Phật thì phát được tâm Phật, nên tuy sơ phát tâm mà đồng tánh Phật không khác.

Kinh Niết-bàn nói: “Sơ phát tâm và cứu cánh tâm hai cái không khác, hai tâm như thế, tâm trước là khó.”

Khi tu thành Phật rồi đủ cả trí tuệ và từ bi mới độ chúng sanh, việc đó dễ hơn người mới phát tâm Bồ-tát mà sẵn sàng đem trí tuệ của mình cứu độ chúng sanh. Hai tâm này thì tâm trước khó hơn tâm sau.

Kinh Đại Phẩm nói: “Tu-bồ-đề! Có đại Bồ-tát mới sơ phát tâm liền tọa đạo tràng, chuyển bánh xe chánh pháp, phải biết Bồ-tát ấy như Phật vậy.” Trong kinh Pháp Hoa nàng Long nữ dâng hạt châu làm chứng, những kinh như thế đều nói sơ phát tâm làm đủ tất cả Phật pháp, như kinh Đại Phẩm nói “Chữ A”, kinh Pháp Hoa nói “Khiến chúng sanh khai Phật tri kiến”, kinh Niết-bàn nói “Thấy Phật tánh cho nên trụ Đại Niết-bàn”. Đã lược nói tướng Sơ phát tâm nhân tu Chỉ Quán được chứng quả.

Bồ-tát tuy mới phát tâm mà liền tọa đạo tràng chuyển bánh xe chánh pháp, những vị đó tuy là Bồ-tát mà cũng đồng như Phật. Đây dẫn kinh làm chứng, để thấy rằng người phát tâm ban đầu mà có đầy đủ trí tuệ và từ bi thì tâm đó cũng như tâm của Phật. Chúng ta từ phát tâm ban đầu là vì ai mà phát tâm? Vì khởi nghĩ độ chúng sanh hay tu để cho mình bớt phiền não? Nếu chỉ ráng tu cho mình bớt phiền não bớt khổ thì phát tâm đó là vì mình, chứ không phải vì thương muốn cứu độ chúng sanh. Tâm ấy chưa phải là tâm Phật.

Chúng ta kiểm nghiệm lại để hiểu cho đúng, bởi vì phần nhiều nghe nói phát tâm tu rồi tưởng là mình tu hay, cũng giống như Phật. Tu vì thương muốn độ chúng sanh là tâm Bồ-tát, nếu không được vậy thì phát tâm đó cũng chỉ là tâm chúng sanh. Tuy nhiên khi đã phát tâm tu, dù muốn cho mình bớt phiền não khổ hay vì muốn độ chúng sanh, miễn là cố gắng tu thì cũng đều tốt.

Kế nói Hậu tâm chứng quả. Cảnh giới của Hậu tâm chứng không thể biết, nay suy theo giáo lý để rõ, trọn không rời hai pháp Chỉ và Quán. Tại sao? Kinh Pháp Hoa nói: “Ân cần khen ngợi trí tuệ của chư Phật”, trí tuệ là nghĩa Quán. Đây là đứng về Quán để rõ quả. Kinh Niết-bàn luận rộng về “một trăm câu giải thoát” để giải thích Đại Niết-bàn, Niết-bàn nghĩa là Chỉ. Đó là đứng về Chỉ để rõ quả.

Chỉ là định, Quán là trí tuệ. Người tu cốt có đủ định và tuệ. Định thì tâm yên lặng không có niệm khởi mà hằng giác hằng tri, tuệ thì thấy đúng như thật về các pháp. Do dùng trí tuệ quán chiếu nên hằng tỉnh giác không còn mê lầm điên đảo, do nội tâm không có niệm khởi nên mầm sanh diệt dứt, đó là Niết-bàn. Thấy bằng tỉnh giác là cái thấy của Phật, nên nói Chỉ là Niết-bàn, Quán là trí tuệ Phật.

Cho nên nói Đại Niết-bàn là thường tịch định. Định tức là nghĩa Chỉ. Trong kinh Pháp Hoa tuy đứng về mặt Quán để rõ quả, nhưng cũng nhiếp Chỉ. Cho nên nói “nhẫn đến tướng cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt trọn quy về Không”.

Đại Niết-bàn là thường lặng lẽ an định, trong kinh Pháp Hoa gọi là tri kiến Phật, đó là nói về Quán. Tuy Quán nhưng cũng nhiếp Chỉ, nên nói nhẫn đến cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt trọn quy về Không . Không tức là không tự tánh. Như trong kinh Bát-nhã nói “chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách” thì chúng ta hiểu rồi, nhưng đến đoạn sau nói “vô nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp…” chắc là chúng ta cũng chưa thông suốt lắm. Đây tôi nói thêm cho rõ, bởi nếu không hiểu thì khi tu có nhiều thứ chướng.

Trong tánh không đó không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới… Nghĩa là trước thấy ngũ uẩn không thật, kế thấy luôn sáu căn, sáu trần, sáu thức, thập nhị nhập, thập bát giới cũng không thật. Đó là chỉ cho các pháp thế gian đều không có tánh thật.

Những pháp thế tục không thật thì phải, vì là duyên hợp, nhưng đoạn sau nói “Vô vô minh diệc vô vô minh tận…, vô khổ tập diệt đạo…” không có vô minh cũng không có hết vô minh…, cho đến không có khổ tập diệt đạo v.v… Pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên của Phật nói là chân lý, tại sao cũng không? Đó là điều mà nhiều người không nắm vững đâm ra nghi ngờ, cho rằng học Bát-nhã dễ bị bệnh chấp không, nên nói “thà chấp có bằng núi Tu-di chứ đừng chấp không bằng hạt cải”, vì chấp không là nguy hiểm.

Pháp Phật là những phương thuốc trị tâm bệnh, chúng sanh có bao nhiêu bệnh thì Phật có bấy nhiêu thuốc. Do chúng sanh mê lầm thấy ngũ uẩn thật, nên Phật dạy quán thân năm uẩn là không. Nếu biết năm uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới… đều là tánh Không thì không còn mê lầm để chấp. Bởi không chấp trong thân, không chấp ngoại cảnh thì pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên cũng không có thật.

Chúng ta bệnh là do chấp thật, nếu biết không thật thì bệnh lành. Bệnh lành rồi thuốc phải bỏ, bệnh lành mà cứ uống thuốc hoài là thêm họa. Như pháp Tứ đế, Phật nói Khổ đế gồm có tứ khổ hoặc bát khổ, là căn cứ trong cuộc sống mà nói. Do thấy thân thật nên có khổ thật. Muốn khổ hết phải quán thân này duyên hợp hư giả, thấy tất cả khổ đều là trò chơi thì hết khổ. Hết khổ thì Tập đế là nguyên nhân làm ra khổ cũng hết. Tập đế hết nên Đạo đế, Diệt đế hết. Nếu biết thân năm uẩn cho đến tất cả pháp thế gian không thật, mà còn thấy pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, trí đắc v.v… là thật, tức hết bệnh mà còn giữ thuốc, còn giữ thuốc là còn nuôi bệnh chứ chưa thật hết bệnh.

Bát-nhã phá tất cả chấp, từ pháp thế gian cho đến pháp Phật dạy, không có một pháp nào là thật. Muốn chứng Phật quả viên mãn phải không còn thấy bên đây không thật, bên kia là thật. Thấy được chỗ tột cùng đó Bồ-tát mới chứng Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Hiểu được ý nghĩa của kinh Bát-nhã chúng ta tu không lầm, không bị dính mắc. Như vậy đây nói Chỉ và Quán, tức chỉ cho định và tuệ. Trí tuệ là Phật, là giác. Định là tịch tĩnh, là Niết-bàn. Đầy đủ trí tuệ và thiền định mới an trú Niết-bàn.

Trong kinh Niết-bàn tuy đứng về mặt Chỉ để rõ quả, nhưng cũng gồm Quán. Bởi vì lấy ba đức làm Đại Niết-bàn. Hai bộ kinh lớn này tuy văn có hiện có ẩn khác nhau, nhưng đều đứng về hai môn Chỉ Quán biện chỗ cứu cánh của nó, gồm căn cứ hai pháp định tuệ để rõ quả vị cùng tột.

Kinh Niết-bàn tuy nặng về Chỉ nhưng cũng có Quán, trong đó đủ ba đức là Pháp thân, Bát-nhã và Giải thoát. Pháp thân là chỉ cho tâm thể thanh tịnh. Bát-nhã là chỉ cho trí tuệ. Giải thoát là không dính mắc. Tuy nói có ba, nhưng gom lại căn bản là trí tuệ và thiền định. Chúng ta tu học tất cả pháp đều phải có trí tuệ và thiền định, dùng trí tuệ quán chiếu để không nhiễm nhơ và tọa thiền để tâm thanh tịnh. Đó là gốc của người tu thiền.

Hành giả phải biết quả ban đầu, bậc giữa, rốt sau đều không thể nghĩ bàn. Cho nên bản tân dịch kinh Kim Quang Minh nói: “Như Lai lúc ban đầu không thể nghĩ bàn, Như Lai khoảng giữa bao nhiêu thứ trang nghiêm, Như Lai rốt sau thường không thể phá hoại.”

Quả ban đầu tức là lúc mới phát tâm, khoảng giữa là trong thời gian ứng dụng tu, rốt sau là khi chứng được quả chân thật.

Trong kinh Kim Quang Minh nói Như Lai lúc ban đầu không thể nghĩ bàn. Tại sao? Bởi vì sự thấy biết và tu hành của Phật đều đi tới chỗ chân thật, chỗ đó chúng ta không thể dùng suy nghĩ để hiểu, không thể dùng ngôn ngữ mà nói đến được. Như Lai khoảng giữa bao nhiêu thứ trang nghiêm . Trong thời gian tu Phật làm tất cả việc vì lợi ích cho chúng sanh, không thể tính lường hết. Như Lai rốt sau thường không thể phá hoại. Khi đức Phật thành đạo chứng quả rồi, không còn sanh không còn diệt, nên không gì có thể phá hoại được.

Thân chúng ta đang có đây là dễ phá hoại hay khó phá hoại? Chỉ một mũi tên, một lằn đạn… đụng vào thì liền tan nát, vì nó là tướng duyên hợp không bền chắc. Trong khi chúng ta đang sống, toàn thân là một dòng sanh diệt không dừng. Lỗ mũi hít vô thở ra, tim đập mạch máu vận hành, các tế bào chuyển biến sanh diệt… không có cái gì dừng trụ yên định, như dòng nước chảy đổi thay luôn luôn. Chúng ta nhìn thấy nước chảy liên tục gọi là dòng nước, chứ dòng nước đó không thật có, vì cái này vừa tới thì cái kia đã qua mất rồi. Thân chúng ta cũng vậy, là một dòng biến chuyển không có thật. Không thật mà nói thật thì đó là người giác hay mê? Nếu biết thân này là dòng biến chuyển không thật, giả sử nó bị mất thì có gì mà buồn, mà quý tiếc. Tưởng thật nên mất mới tiếc, biết giả thì còn hay mất đâu có gì quan trọng. Thấy thật là kẻ mê, biết giả là người giác.

Hiểu thấu đáo chúng ta mới thấy, mình sống bị mê lầm che phủ nên cứ vọng chấp cái giả là thật. Mê từ đời này đến kiếp nọ, tạo nghiệp không cùng, luân hồi không có ngày ra. Bởi thấy thân thật nên nó thèm món gì thì phải ăn, sợ nó thiếu. Ăn món này xong lại thèm cái khác… Càng phục vụ nó càng sanh chứng, đòi hoài cả đời không đủ, vì vậy nên khổ. Khổ này chưa xong lại tới khổ kia, luôn luôn là khổ. Nếu người giác biết thân là giả thì dừng tạo nghiệp, không làm nô lệ cho nó nữa. Biết không thật là có trí tuệ, nhờ trí tuệ làm chủ nên bớt tham sân si, hết tham sân si thì hết khổ, là giải thoát sanh tử.

Đó là ước về hai tâm tu Chỉ Quán để biện kết quả của nó. Bài kệ trong kinh Ban Châu tam-muội chép:

Chư Phật từ tâm được giải thoát, 

Tâm ấy thanh tịnh gọi không nhớp,

Năm đạo sạch sẽ chẳng nhuốm màu, 

Học được pháp này thành Đại đạo.

Thệ nguyện tu hành phải trừ tam chướng và ngũ cái. Nếu như không trừ, tuy siêng năng dụng công trọn không lợi ích.

Bài kệ trong kinh Ban Châu Tam-muội nói: Chư Phật dùng tâm từ bi mà được giải thoát. Tâm từ bi đó trong sạch, ở trong năm đạo, hoặc lục đạo luân hồi, sạch sẽ chẳng bị nhuộm những màu phiền não nhơ nhớp. Người nào học được pháp như vậy, người đó thành đại đạo.

Người có tâm quyết chí tu hành phải ráng trừ ba chướng và ngũ cái. Nếu không trừ, tuy siêng năng dụng công mà trọn không có lợi ích. Ba chướng là báo chướng, nghiệp chướng và phiền não chướng, cũng có chỗ nói là tham sân si.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.