Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán giảng giải

Phần Chánh Tông - Chương 8: Hiểu Biết Ma Sự -



Chánh văn:

Tiếng Phạn gọi là Ma-la (Māra), đời Tần dịch là Sát. Nó cướp của công đức và giết mạng trí tuệ của người tu hành, nên gọi là ác ma. Sự là, lấy công đức trí tuệ độ thoát chúng sanh vào Niết-bàn là Phật sự, thường phá hoại căn lành của chúng sanh khiến lưu chuyển trong vòng sanh tử là ma sự. Nếu người khéo an tâm trong chánh đạo mới biết đạo càng cao, ma càng thịnh. Phải biết ma sự có bốn loại:

1- Ma phiền não.

2- Ma ấm, nhập, giới.

3- Ma chết.

4- Ma quỷ thần.

Ba loại ma trước đều là việc thường ở thế gian và tùy tâm người sanh ra, nên phải tự tâm chân chánh đuổi trừ nó, ở đây không phân biệt. Tướng ma quỷ thần là điều cần phải biết, đây lược nêu ra. Ma quỷ thần có ba loại:

  1. Ma tinh mỵ

Là loài thú theo mười hai giờ, nó biến hóa làm các thứ hình sắc. Hoặc nó hóa người thiếu nữ, người già nua, nhẫn đến những hình tướng đáng sợ không phải ít để làm não loạn người tu hành. Các loài tinh mỵ này não hại người tu, mỗi loài đến theo giờ của nó, phải biết rành rõ. Nếu giờ Dần (3 giờ – 5 giờ) đến, ắt là loài cọp v.v… Nếu giờ Mẹo (5 giờ – 7 giờ) đến, ắt là loài thỏ, nai v.v… Nếu giờ Thìn (7 giờ – 9 giờ) đến, ắt loài rồng, trạnh v.v… Nếu giờ Tỵ (9 giờ – 11 giờ) đến, ắt loài rắn, trăn v.v… Nếu giờ Ngọ (11 giờ – 13 giờ) đến, ắt loài ngựa, lừa, lạc đà v.v… Nếu giờ Mùi (13 giờ – 15 giờ) đến, ắt loài dê v.v… Nếu giờ Thân (15 giờ – 17 giờ) đến, ắt loài khỉ, vượn v.v… Nếu giờ Dậu (17 giờ – 19 giờ) đến, ắt loài gà, chim v.v… Nếu giờ Tuất (19 giờ 21 giờ) đến, ắt loài chó, chó sói v.v… Nếu giờ Hợi (21 giờ – 23 giờ) đến, ắt loài lợn v.v… Nếu giờ Tý (23 giờ – 01 giờ) đến, ắt loài chuột v.v… Nếu giờ Sửu (01 giờ – 03 giờ) đến, ắt loài trâu bò v.v… Hành giả nếu thấy chúng thường dùng những giờ này đến, tức biết những loài tinh thú ấy, kêu tên nó mà quở trách liền phải tiêu diệt.

  1. Ma đôi dịch

Nó cũng làm những việc xúc chạm não loạn người tu hành. Hoặc hóa như con sâu con mọt bò lên đầu mặt người vùi chích chớp nhoáng, hoặc bươi vạch dưới hai nách của người, hoặc chợt ôm người giữ người, hoặc kêu vang lên làm ồn náo và hóa hình các loài thú rất nhiều tướng lạ. Khi nó đến não loạn, người tu liền biết nên nhất tâm nhắm mắt lại, thầm mắng nó thế này: “Ta nay đã biết ngươi, ngươi là loài quỷ Thâu-lạp-kiết-chi tà kiến ưa phá giới ngửi mùi ăn lửa trong cõi Diêm-phù-đề, ta nay giữ giới quyết không sợ ngươi.” Nếu người xuất gia nên tụng giới bản, nếu người tại gia nên tụng tam quy ngũ giới v.v… thì bọn quỷ này khúm núm rút lui. Nếu có hóa các thứ tướng mạo làm chướng nạn người tu như thế và các phương pháp đoạn trừ, ở trong kinh thiền có nói rộng.

  1. Ma não

Bọn ma này hay hóa làm ba thứ cảnh tướng ngũ trần đến phá thiện tâm người.

– Hóa cảnh nghịch ý: Là ngũ trần ghê sợ khiến người phải kinh khủng.

– Hóa cảnh thuận ý: Là ngũ trần yêu thích khiến người sanh tâm đắm mến.

– Hóa cảnh không thuận không nghịch: Là cảnh ngũ trần bình thường làm loạn động tâm người tu hành khiến mất thiền định.

Thế nên, ma gọi là “Sát” cũng gọi là “mũi tên hoa”, cũng gọi là “năm mũi tên”, vì nó bắn vào năm giác quan của người. Giữa vật chất và tinh thần nó tạo ra bao nhiêu cảnh giới làm mê lầm não loạn người tu hành, nên gọi là ma. Hóa làm cảnh thuận, như hóa làm hình tượng cha mẹ anh em, chư Phật và nam nữ đẹp đẽ đáng yêu, khiến tâm người đắm trước. Hoặc hóa làm những cảnh nghịch, như hóa cọp, sói, sư tử, la-sát những hình tượng đáng sợ, đến khủng bố người tu hành. Hoặc hóa làm cảnh không thuận không nghịch, tức là việc bình thường làm loạn động khiến mất thiền định, nên gọi là ma. Hoặc nó tạo ra những thứ âm thanh hay dở, những thứ mùi thơm hôi, tạo ra những thứ vị ngọt đắng, những cảnh giới khổ vui đến làm xúc não thân người đều là việc của ma, tướng nó rất nhiều, ở đây không thể kể hết. Tóm phần trọng yếu, nếu tạo những thứ ngũ trần làm não loạn người, khiến mất pháp lành, khởi các phiền não đều là ma quân. Do nó hay phá hoại tính bình đẳng của Phật pháp, khởi các pháp chướng đạo: tham dục, lo buồn, giận hờn, ngủ mê v.v… Như bài kệ trong Kinh nói:

Dục ma quân thứ nhất, 

Ưu sầu đội thứ hai, 

Đói khát quân thứ ba, 

Mến yêu là thứ tư, 

Ngủ mê quân thứ năm, 

Kinh sợ đội thứ sáu, 

Nghi hối quân thứ bảy, 

Giận hờn là thứ tám,

Mê danh lợi thứ chín,

Ngã mạn là thứ mười.

Như thế những thứ quân, 

Dìm đắm người xuất gia, 

Ta lấy sức thiền trí, 

Phá dẹp các quân ma, 

Được thành Phật đạo rồi, 

Độ thoát tất cả người.

Hành giả đã biết việc ma, cần phải đuổi nó. Phương pháp đuổi có hai:

1/ Tu Chỉ đuổi: Phàm thấy tất cả cảnh ma bên ngoài đều biết là hư dối, không lo không sợ, cũng không thủ không xả hay vọng chấp phân biệt, dứt tâm lặng yên thì ma tự tiêu diệt.

2/ Tu Quán đuổi: Nếu thấy các cảnh ma như trước đã nói, dùng Chỉ đuổi không đi, phải phản quán tâm năng kiến không thấy chỗ nơi thì bọn ma kia chỗ nào mà não loạn? Khi quán như thế ma liền diệt hết. Nếu nó trì hoãn không đi, cần phải chánh tâm, chớ sanh tưởng kinh sợ, không tiếc thân mạng, chánh niệm không động, biết trên bản tánh chân như ma giới tức là Phật giới; nếu ma giới là Phật giới thì chỉ có một không hai; rõ biết như vậy thì ma giới không xả, Phật giới không thủ, Phật pháp tự sẽ hiện tiền, ma cảnh tự nhiên tiêu diệt.

Lại nữa, nếu thấy ma cảnh không tiêu chẳng cần phải lo, nếu thấy tiêu diệt cũng chớ sanh mừng. Vì cớ sao? Vì chưa từng thấy có người ngồi thiền thấy ma hóa làm cọp sói đến ăn thịt, cũng chưa từng thấy ma hóa làm nam nữ đến kết làm vợ chồng, chính nó là huyễn hóa. Người ngu không rõ, tâm sanh kinh sợ và khởi lòng tham đắm, nhân đó mà tâm loạn, mất thiền định và sanh cuồng, tự chuốc lấy họa hoạn đều tại mình không có trí tuệ mà thọ hại, không phải tại ma gây nên. Nếu các ma cảnh làm não loạn người tu, hoặc trải qua nhiều tháng đến cả năm mà không đi, chỉ phải đoan tâm chánh niệm cho kiên cố, không tiếc thân mạng, chớ ôm lòng lo sợ, phải tụng các kinh Đại thừa, Phương đẳng và thần chú trị ma, thầm tụng niệm và hằng nhớ Tam bảo. Nếu khi xuất định cũng phải tụng chú để tự đề phòng, sám hối, hổ thẹn và tụng giới luật, tà không can phạm được chánh, lâu lâu nó tự diệt. Ma sự rất nhiều nói không thể hết, phải khéo mà biết nó.

Thế nên, người sơ tâm tu hành cần phải gần gũi thiện tri thức. Nếu có những việc nạn như vậy, ấy là ma nhập tâm người hay khiến người tâm thần cuồng loạn, hoặc mừng hoặc lo, nhân đó thành bệnh đến chết. Hoặc khi ma cho được tà thiền định, trí tuệ, thần thông, đà-la-ni, thuyết pháp giáo hóa, người đều kính phục, về sau phá hoại việc lành xuất thế của người và phá hoại chánh pháp. Những việc ma như thế, có nhiều loại sai biệt không thể nói hết. Nay lược chỉ bày những điều cần yếu để cho người tu trong lúc tọa thiền không lầm nhận các cảnh giới ma.

Nói tóm lại, nếu muốn dẹp tà về chánh phải quán thật tướng của các pháp, khéo tu Chỉ Quán thì không có cái tà nào mà không dẹp được. Cho nên trong kinh luận nói: “Trừ thật tướng của các pháp, kỳ dư tất cả là ma sự.” Như bài kệ nói:

Nếu phân biệt nhớ tưởng, 

Tức là lưới của ma, 

Không động, không phân biệt, 

Ấy tức là pháp ấn.

Giảng:

Tiếng Phạn gọi là Ma-la, đời Tần dịch là Sát. Nó cướp của công đức và giết mạng trí tuệ của người tu hành, nên gọi là ác ma.

Phần đông chúng ta hay sợ ma, ở chúng ngồi chung thiền đường thì không sợ, còn ở thất một mình trong đêm khuya ngồi lặng lẽ thì dễ sợ ma, cho nên đây nói về ma sự. Sao gọi là ma? Vì nó cướp mất công đức và phá hoại trí tuệ sáng suốt của người tu, nên gọi nó là ác ma.

Sự là, lấy công đức trí tuệ độ thoát chúng sanh vào Niết-bàn là Phật sự, thường phá hoại căn lành của chúng sanh khiến lưu chuyển trong vòng sanh tử là ma sự.

Phật sự là lấy công đức trí tuệ độ thoát chúng sanh vào Niết-bàn. Bởi đạo Phật là đạo giác ngộ, chúng ta tu theo đạo giác ngộ thì phải dùng trí tuệ giáo hóa giúp cho chúng sanh mở sáng mắt tuệ, dẹp sạch phiền não vào Niết-bàn, đó là Phật sự. Ngược lại, cái gì thúc đẩy khuyến khích chúng ta làm, mà những việc làm đó phá hoại căn lành của chúng sanh, khiến lưu chuyển trong vòng sanh tử luân hồi, thì đó là ma sự.

Nếu người khéo an tâm trong chánh đạo mới biết đạo càng cao, ma càng thịnh. Phải biết ma sự có bốn loại.

Người tu có đạo càng cao thì ma lại càng thịnh. Chúng ta nghe nói như vậy liền sợ cho rằng tu ít ít không có ma, tu nhiều ma phá khó tu. Vấn đề này phải hiểu cho kỹ. Người tu là người phát nguyện mạnh mẽ thực hiện được lời Phật tổ dạy, chứ không có tâm mong mỏi riêng tư hoặc cầu những việc kỳ quái. Cho nên người tu hành chân chánh khi gặp việc biết thì không phải ma, còn không biết thì nó thành ma. Như có người đang tu nghe người khác dọa nói, tu vừa vừa tu quá ma phá, vì đạo càng cao ma càng thịnh. Hoặc nghe nói tụng kinh ít ít thôi, tụng Kim Cang, Pháp Hoa nhiều coi chừng đổ nghiệp v.v… Nghe vậy liền sợ thối lui. Nghiệp ở đâu mà đổ? Đổ hết thì sạch nghiệp có gì mà sợ. Nếu tu mà nghiệp còn nguyên mới đáng sợ, còn đổ hết nghiệp thì phải mừng, vì không còn chứa chấp nữa.

Nếu chúng ta phát nguyện tu hạnh nhẫn nhục, nhưng gặp ai họ cũng vái chào mình thì có gì đâu mà nhẫn. Thỉnh thoảng có người vô cớ mắng chửi đánh đập mình, chúng ta phải nghĩ đó là Bồ-tát đến thử coi mình có hành theo lời nguyện không, chứ đừng cho là tại tu nhiều ma tới phá. Tu nhẫn nhục mà không có người chửi thì làm sao biết nhẫn được hay chưa. Có người tới làm những việc không thể chịu nổi mà nhẫn được tức là thành tựu được hạnh nhẫn nhục. Người chịu chọc phá để cho mình tròn hạnh nhẫn thì đó là Bồ-tát chứ không phải ma. Như vậy khi tu bị phá thì đừng nghĩ là ma, mà thấy như Bồ-tát tới thử coi mình chịu nổi không, nếu vượt qua được là thành công.

Ví dụ khuya nay phát nguyện ngồi thiền hai tiếng, đang ngồi bất thần có con rắn bò tới, lúc đó nếu nghĩ mình mới phát nguyện tu liền bị ma phá thì sẽ bỏ chạy vì sợ rắn cắn chết, vậy là nguyện của mình không thành. Nếu can đảm nguyện ngồi hai tiếng thì chấp nhận nhắm mắt, dù chết cũng vẫn ngồi đó, quyết tâm một hồi rắn bò đi chỗ khác, là thành công. Rắn đó cũng là ma, cũng là Bồ-tát. Hoảng sợ không dám ngồi thiền nữa thì đó là ma phá, còn quyết tâm dù chết vẫn không thối lui thì đó là Bồ-tát giúp mau thành tựu đạo Bồ-đề. Càng bị phá càng tu nhiều thêm, càng quyết tâm hơn nữa, nhất định thành công. Cho nên người tu mà sợ ma phá thì không thể tu tiến, còn người quyết tâm dám liều chết để tiến thì người đó không bao giờ bị lui sụt.

Một cô ni thuật lại tôi nghe, cô đang ngồi thiền ở trong thất, chợt nghe hai bàn tay lành lạnh, nhìn xuống thấy con rắn nằm khoanh trong tay. Cô nhắm mắt lại định tâm một hồi nghe nhè nhẹ, mở mắt ra nhìn không thấy con rắn, nó đã bò đi đâu mất. Như vậy con rắn đâu giết mình, chẳng qua là thử thách chút thôi. Nhờ can đảm không sợ sệt nên trở thành tốt. Chúng ta nghe đó để kinh nghiệm, trong lúc tu có những việc gì lạ, cứ thản nhiên không sợ thì mọi việc đều tốt đẹp. Đừng nghĩ sợ ma phá rồi không dám tu, làm uổng phí đi đời tu của mình.

1- Ma phiền não.

2- Ma ấm, nhập, giới.

3- Ma chết.

4- Ma quỷ thần.

Ba loại ma trước đều là việc thường ở thế gian và tùy tâm người sanh ra, nên phải tự tâm chân chánh đuổi trừ nó, ở đây không phân biệt. Tướng ma quỷ thần là điều cần phải biết, đây lược nêu ra.

Ma phiền não . Ma phiền não mỗi người đều có sẵn, khi tu chúng ta cố tâm tiến lên, dẹp bỏ những điều xấu tệ ở nội tâm cho trong sáng thanh tịnh, đó là việc thiết yếu. Nhưng cố bỏ đôi lúc nó có phản ứng ngược lại, nên nhiều khi bực bội giận hờn. Có một số Phật tử nói khi chưa đi chùa thì ít phiền não, giờ đi chùa nhiều sao phiền não nhiều quá, hết muốn đi chùa. Đi chùa là để dẹp phiền não mà tại sao lại sanh phiền não? Đâu phải đức Phật hay quý thầy làm cho chúng ta phiền não, mà tại bệnh ưa phiền giận của chúng ta, gặp người này nói trái ý giận chút, người kia nói trái ý phiền chút. Lúc ở nhà chỉ có ba bốn người thì có ba bốn phiền giận, vào chùa huynh đệ đông cả trăm người, kẻ thế này người thế kia, mỗi người mỗi ý mỗi người mỗi tư cách, nên đụng tới cái gì cũng sanh phiền não. Đi chùa nhiều phiền não nhiều là tại chỗ đó. Chùa là nơi tụ hội đông đảo, bản thân mình lại dễ sanh phiền não, nên đi chùa nhiều thành phiền não nhiều. Phiền não về kể lại người khác nghe, họ khuyên phiền não quá đừng nên đi chùa, nghe khuyên cũng có lý thôi không đi chùa nữa, mà không đi chùa tức là thôi tu rồi.

Như vậy phiền não đâu phải tại chùa, tại Phật hay tăng ni, mà tại cái tâm dễ dính mắc của mình. Bỏ dính mắc thì không có phiền não. Đi chùa càng nhiều thì thêm nhiều kinh nghiệm, thấy người tốt hạnh này, người hay hạnh kia, chúng ta học hỏi bắt chước để tu tập thì đâu có phiền não. Bởi tới chùa không chịu thấy cái tốt, mà chỉ thấy toàn cái xấu nên phiền não nhiều. Chúng ta là Phật tử có tâm muốn dẹp những điều xấu, nên đi chùa học tu để bỏ dần dần, chứ đâu phải là người tốt mới đến chùa. Đó là những điều mà Phật tử phải hiểu để tu không trái với đạo lý.

Ma phiền não ngăn trở chúng ta trong lúc tu thiền, ngăn trở chúng ta đến với đạo, vì vậy khi tu vừa có niệm phiền não liền bỏ, khởi nghĩ đây là ma phiền não muốn phá công đức của ta, nó cướp công đức và giết mạng trí tuệ của người tu hành. Chúng ta đi chùa nghe giảng kinh để mở sáng trí tuệ, mà bị phiền não không muốn đi, đó là làm cho trí tuệ suy giảm, là ma phiền não. Hiểu vậy thì chúng ta dẹp bỏ phiền não, đi chùa để làm Phật sự tăng trưởng công đức, đó là việc thiết thực. Phật tử đừng sợ ma mà nên sợ mình bị kẹt chấp, vì kẹt chấp thì công đức không thể đầy đủ được. Đó là nói về ma phiền não.

Ma ấm, nhập, giới . Ấm là ngũ ấm, nhập là mười hai nhập, giới là mười tám giới. Ma ấm là khi muốn làm việc thiện, muốn tu hành mà thân này bệnh hoạn hoài, khiến tu không được, trở ngại việc lành. Mười hai nhập là sáu căn và sáu trần hợp lại làm tâm bị kẹt nhiễm. Mười tám giới gồm căn trần thức, ba thứ đó dính kẹt nhau làm cho sự tu hành không tiến. Những thứ đó cụ thể nơi thân nơi cảnh, làm cho chúng ta đắm nhiễm nên gọi là ma.

Trong bốn thứ ma thì ma phiền não, ma ấm nhập giới và ma chết, ba thứ ma này ở ngay nơi thân tâm sanh ra, nên phải tu tập chân chánh đuổi trừ nó, còn tướng ma quỷ thần là điều cần phải biết, nên đây lược nêu ra.

Ma quỷ thần có ba loại:

  1. Ma tinh mỵ

Là loài thú theo mười hai giờ, nó biến hóa làm các thứ hình sắc. Hoặc nó hóa người thiếu nữ, người già nua, nhẫn đến những hình tướng đáng sợ không phải ít để làm não loạn người tu hành. Các loài tinh mỵ này não hại người tu, mỗi loài đến theo giờ của nó, phải biết rành rõ. Nếu giờ Dần (3 giờ – 5 giờ) đến, ắt là loài cọp v.v… Nếu giờ Mẹo (5 giờ – 7 giờ) đến, ắt là loài thỏ, nai v.v… Nếu giờ Thìn (7 giờ – 9 giờ) đến, ắt loài rồng, trạnh v.v… Nếu giờ Tỵ (9 giờ – 11 giờ) đến, ắt loài rắn, trăn v.v… Nếu giờ Ngọ (11 giờ – 13 giờ) đến, ắt loài ngựa, lừa, lạc đà v.v… Nếu giờ Mùi (13 giờ – 15 giờ) đến, ắt loài dê v.v… Nếu giờ Thân (15 giờ – 17 giờ) đến, ắt loài khỉ, vượn v.v… Nếu giờ Dậu (17 giờ – 19 giờ) đến, ắt loài gà, chim v.v… Nếu giờ Tuất (19 giờ 21 giờ) đến, ắt loài chó, chó sói v.v… Nếu giờ Hợi (21 giờ – 23 giờ) đến, ắt loài lợn v.v… Nếu giờ Tý (23 giờ – 01 giờ) đến, ắt loài chuột v.v… Nếu giờ Sửu (01 giờ – 03 giờ) đến, ắt loài trâu bò v.v… Hành giả nếu thấy chúng thường dùng những giờ này đến, tức biết những loài tinh thú ấy, kêu tên nó mà quở trách liền phải tiêu diệt.

Đây nói mười hai giờ theo xưa, nếu ngồi thiền những giờ đó mà thấy tướng lạ đến quấy nhiễu thì biết là loại ma gì, kêu tên quở trách thì nó hết.

  1. Ma đôi dịch

Nó cũng làm những việc xúc chạm não loạn người tu hành. Hoặc hóa như con sâu con mọt bò lên đầu mặt người vùi chích chớp nhoáng, hoặc bươi vạch dưới hai nách của người, hoặc chợt ôm người giữ người, hoặc kêu vang lên làm ồn náo và hóa hình các loài thú rất nhiều tướng lạ. Khi nó đến não loạn, người tu liền biết nên nhất tâm nhắm mắt lại, thầm mắng nó thế này: “Ta nay đã biết ngươi, ngươi là loài quỷ Thâu-lạp-kiết-chi tà kiến ưa phá giới ngửi mùi ăn lửa trong cõi Diêm-phù-đề, ta nay giữ giới quyết không sợ ngươi.” Nếu người xuất gia nên tụng giới bản, nếu người tại gia nên tụng tam quy ngũ giới v.v… thì bọn quỷ này khúm núm rút lui. Nếu có hóa các thứ tướng mạo làm chướng nạn người tu như thế và các phương pháp đoạn trừ, ở trong kinh thiền có nói rộng.

Các loài này chúng ta cũng thường thấy. Ngồi thiền mà nghe con gì nhỏ nhỏ bò bò như chui vào khóe mắt, hoặc muốn chui vào lỗ tai làm khó chịu, đó gọi là ma đôi dịch. Ma này không có gì quan trọng, chỉ cần biết rồi kêu tên mắng nó. Ta nay đã biết ngươi, ngươi là loài quỷ Thâu-lạp-kiết-chi tà kiến ưa phá giới ngửi mùi ăn lửa trong cõi Diêm-phù-đề, ta nay giữ giới quyết không sợ ngươi. Không thèm sợ nó thì nó hết. Hoặc không nhớ tên dài dòng, chỉ quở nó là ma quái, không biết tu hành tới đây quậy phá, ta tu hành đúng giới luật không sợ các ngươi. Nói là ma vì lúc ngồi thiền nó bò lung tung, làm cho tâm mình mất thiền định, nên gọi nó là ma. Chúng ta đừng sợ, biết là hư giả thì nó hết chứ không có gì nguy hiểm.

  1. Ma não

Bọn ma này hay hóa làm ba thứ cảnh tướng ngũ trần đến phá thiện tâm người.

– Hóa cảnh nghịch ý: Là ngũ trần ghê sợ khiến người phải kinh khủng.

– Hóa cảnh thuận ý: Là ngũ trần yêu thích khiến người sanh tâm đắm mến.

– Hóa cảnh không thuận không nghịch: Là cảnh ngũ trần bình thường làm loạn động tâm người tu hành khiến mất thiền định.

Thế nên, ma gọi là “Sát” cũng gọi là “mũi tên hoa”, cũng gọi là “năm mũi tên”, vì nó bắn vào năm giác quan của người. Giữa vật chất và tinh thần nó tạo ra bao nhiêu cảnh giới làm mê lầm não loạn người tu hành, nên gọi là ma. Hóa làm cảnh thuận, như hóa làm hình tượng cha mẹ anh em, chư Phật và nam nữ đẹp đẽ đáng yêu, khiến tâm người đắm trước. Hoặc hóa làm những cảnh nghịch, như hóa cọp, sói, sư tử, la-sát những hình tượng đáng sợ, đến khủng bố người tu hành. Hoặc hóa làm cảnh không thuận không nghịch, tức là việc bình thường làm loạn động khiến mất thiền định, nên gọi là ma. Hoặc nó tạo ra những thứ âm thanh hay dở, những thứ mùi thơm hôi, tạo ra những thứ vị ngọt đắng, những cảnh giới khổ vui đến làm xúc não thân người đều là việc của ma, tướng nó rất nhiều, ở đây không thể kể hết. Tóm phần trọng yếu, nếu tạo những thứ ngũ trần làm não loạn người, khiến mất pháp lành, khởi các phiền não đều là ma quân. Do nó hay phá hoại tính bình đẳng của Phật pháp, khởi các pháp chướng đạo: tham dục, lo buồn, giận hờn, ngủ mê v.v…

Ma não này hóa ra cọp, sói, sư tử… những cảnh tướng ngũ trần đáng sợ, khiến người phải kinh khủng, đó là loại ma hóa nghịch cảnh. Hoặc ma hóa cảnh thuận ý, hóa cảnh không thuận không nghịch, trong khi tu chúng ta nên biết rõ các loại ma này.

Ma gọi là Sát cũng gọi là mũi tên hoa, cũng gọi là năm mũi tên. Tại sao gọi là mũi tên hoa? Vì mới thấy nó đẹp nhưng khi dính vào thì đau nhức khó chịu, đó là ma theo cảnh thuận.

Ma bày ra nhiều thứ, thứ nào cũng trở ngại sự tu hành, làm chúng ta mê nhiễm chướng ngại tâm thanh tịnh của mình. Cho nên khi tất cả hiện tượng khởi lên sanh chướng ngại sự tu hành thì biết đó là tướng của ma, chúng ta đừng sợ cứ chánh tâm quán các tướng đó là hư dối, như trong kinh Kim Cang Phật dạy “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Thấy các tướng biết giả dối là thấy Phật, còn thấy thật rồi sợ là thấy ma. Khi thấy tất cả hình tướng đáng yêu đáng sợ, chúng ta đều quán theo lời Phật dạy, chí tâm tưởng niệm như vậy thì ma tan mất. Nếu thấy mà sanh mừng sợ thì đó là bệnh.

Như vậy tuy ma có nhiều thứ nhưng chúng ta chỉ cần giữ tâm thanh tịnh sáng suốt, đừng cho xao động sợ sệt, là chúng ta chiến thắng ma. Trường hợp thấy có gì lạ mà tâm rung rinh, bình thản không được, thì nhớ lời Phật dạy “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng, như sương cũng như điện, phải luôn quán như vậy” là phá được hết tất cả các thứ ma. Chúng ta tu dường như có nhiều trở ngại mà thật không có gì trở ngại, nếu luôn luôn khéo biết thì sự tu hành chắc chắn thành công.

Như bài kệ trong Kinh nói:

Dục ma quân thứ nhất, 

Ưu sầu đội thứ hai, 

Đói khát quân thứ ba, 

Mến yêu là thứ tư, 

Ngủ mê quân thứ năm, 

Kinh sợ đội thứ sáu, 

Nghi hối quân thứ bảy, 

Giận hờn là thứ tám,

Mê danh lợi thứ chín,

Ngã mạn là thứ mười.

Như thế những thứ quân, 

Dìm đắm người xuất gia, 

Ta lấy sức thiền trí, 

Phá dẹp các quân ma, 

Được thành Phật đạo rồi, 

Độ thoát tất cả người.

Bài kệ kể về mười thứ quân ma. Chúng ta kiểm lại xem mình có bị ma nào không? Thứ nhất ma tham dục, thứ hai ma lo buồn, thứ ba ma sợ đói thiếu, thứ tư ma mến yêu, thứ năm ma ngủ mê, thứ sáu ma kinh sợ, thứ bảy ma nghi ngờ hối tiếc, thứ tám ma giận hờn, thứ chín ma mê danh, thứ mười ma ngã mạn. Mười thứ ma này trong tâm chúng ta có đủ, nên ngồi lại tu cứ sợ ma. Ma bên trong có đủ mà sợ ma bên ngoài phá cái gì? Người khéo tu phải quán chiếu xem xét lại nội tâm, làm sao cho ma ở trong giảm bớt thì ma bên ngoài không cách gì phá được. Muốn cho ma ở ngoài không xâm nhập thì phải thấy rõ ác ma đang ẩn náu ở trong, tìm đủ cách dẹp sạch nó. Chúng ta tu sớm thấy được những ma trong tâm niệm của mình, gìn giữ sửa đổi cho trong sạch, đó là điều thiết yếu, chứ đừng chỉ lo sợ ma bên ngoài mà thối thất việc tu tập.

Như thế những thứ quân, 

Dìm đắm người xuất gia, 

Ta lấy sức thiền trí, 

Phá dẹp các quân ma.

Những quân ma làm cho người xuất gia bị chìm đắm, không thoát ra khỏi biển khổ được. Muốn thoát khỏi phải lấy sức thiền định và trí tuệ phá dẹp nó, nếu không thiền định, không trí tuệ thì không làm sao dẹp được quân ma.

Được thành Phật đạo rồi, 

Độ thoát tất cả người.

Chúng ta chưa thành Phật mà muốn độ mọi người thì không thể độ được. Vì vậy người tu phải phát nguyện lớn, nguyện thành Phật đạo để độ tất cả chúng sanh. Kể cả quân ma còn phải độ hết, huống là kẻ oán người thân. Thế nên người có ân nghĩa cũng độ, kẻ không ân nghĩa cũng độ, độ tất cả cùng đạt đạo, không giới hạn một chỗ nào.

Hành giả đã biết việc ma, cần phải đuổi nó. Phương pháp đuổi có hai:

1/ Tu Chỉ đuổi: Phàm thấy tất cả cảnh ma bên ngoài đều biết là hư dối, không lo không sợ, cũng không thủ không xả hay vọng chấp phân biệt, dứt tâm lặng yên thì ma tự tiêu diệt.

2/ Tu Quán đuổi: Nếu thấy các cảnh ma như trước đã nói, dùng Chỉ đuổi không đi, phải phản quán tâm năng kiến không thấy chỗ nơi thì bọn ma kia chỗ nào mà não loạn?

Ma ở ngoài phải tu Chỉ để phá dẹp nó, tức là định tâm không nghĩ tưởng, không lo sợ thì quân ma tự lùi. Nếu dùng Chỉ đuổi ma không đi thì nên quán lại tâm năng kiến của mình, tức là quán chiếu cái tâm thấy ma biết ma đó, xem nó ở đâu. Xét tìm không thấy chỗ nơi thì ma không có chỗ nào não hại được.

Khi quán như thế ma liền diệt hết. Nếu nó trì hoãn không đi, cần phải chánh tâm, chớ sanh tưởng kinh sợ, không tiếc thân mạng, chánh niệm không động, biết trên bản tánh chân như ma giới tức là Phật giới; nếu ma giới là Phật giới thì chỉ có một không hai; rõ biết như vậy thì ma giới không xả, Phật giới không thủ, Phật pháp tự sẽ hiện tiền, ma cảnh tự nhiên tiêu diệt.

Nếu chúng ta tu Quán đuổi mà nó trì hoãn không đi thì cần phải dùng chánh tâm, quán Phật giới ma giới không hai, cảnh giới Phật cảnh giới ma cả hai đều không thật. Cảnh giới Phật không thật thì cảnh giới ma làm sao thật được, vì cảnh Phật và cảnh ma đều từ tự tâm mình phát ra, cho nên không thủ không xả. Không thủ cảnh giới Phật, không xả cảnh giới ma, vậy là Phật pháp hiện tiền, ma cảnh tự nhiên tiêu diệt.

Lại nữa, nếu thấy ma cảnh không tiêu chẳng cần phải lo, nếu thấy tiêu diệt cũng chớ sanh mừng. Vì cớ sao? Vì chưa từng thấy có người ngồi thiền thấy ma hóa làm cọp sói đến ăn thịt, cũng chưa từng thấy ma hóa làm nam nữ đến kết làm vợ chồng, chính nó là huyễn hóa.

Thấy ma tới phá chúng ta liền biết là hư giả không thật, nó lặng mất đừng mừng, nó chưa lặng cũng đừng sợ. Vì sao? Vì có mừng sợ là rơi vào cảnh giới của ma. Nhiều người thấy ma hóa ra cọp sói, rắn rít v.v… sợ nó cắn ăn thịt mình, nhưng xét kỹ lại xem có ai ngồi thiền bị ma ăn thịt không? Chúng ta nghe nói ma liền sợ, đó là tưởng tượng thiếu thực tế. Người khéo tu thì không có gì sợ, dù ma hiện ra đuổi không đi vẫn không sợ. Định tâm thì nó tự hết. Có ma nam, ma nữ nào tới kết làm người thân với người tu thiền không? Không. Nó chỉ lừa gạt thôi chứ không làm gì được, chúng ta đừng sợ mà mất thời giờ tu tập.

Người ngu không rõ, tâm sanh kinh sợ và khởi lòng tham đắm, nhân đó mà tâm loạn, mất thiền định và sanh cuồng, tự chuốc lấy họa hoạn đều tại mình không có trí tuệ mà thọ hại, không phải tại ma gây nên.

Người ta cứ ngỡ ma làm mình đau, làm cho sanh chứng này tật kia, nhưng sự thật ma không làm gì được hết. Do khi thấy nó người ta hoảng sợ khiến tâm rối loạn sanh cuồng điên, rồi nói ma bắt. Chúng ta ngu mê không nắm vững tinh thần tu hành, thấy những điều lạ liền sợ hãi hoảng hốt, từ đó sanh bệnh. Người trí thấy cái gì tới cũng thản nhiên, biết ma chỉ là bóng dáng đâu có gì đáng sợ.

Nếu các ma cảnh làm não loạn người tu, hoặc trải qua nhiều tháng đến cả năm mà không đi, chỉ phải đoan tâm chánh niệm cho kiên cố, không tiếc thân mạng, chớ ôm lòng lo sợ, phải tụng các kinh Đại thừa, Phương đẳng và thần chú trị ma, thầm tụng niệm và hằng nhớ Tam bảo. Nếu khi xuất định cũng phải tụng chú để tự đề phòng, sám hối, hổ thẹn và tụng giới luật, tà không can phạm được chánh, lâu lâu nó tự diệt. Ma sự rất nhiều nói không thể hết, phải khéo mà biết nó.

Có nhiều cách để đối trị ma cảnh, như tụng các kinh Đại thừa Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bát-nhã… Hoặc sám hối, phát tâm hổ thẹn, gìn giữ giới luật tinh nghiêm, ma từ từ sẽ đi không làm hại được.

Thế nên, người sơ tâm tu hành cần phải gần gũi thiện tri thức. Nếu có những việc nạn như vậy, ấy là ma nhập tâm người hay khiến người tâm thần cuồng loạn, hoặc mừng hoặc lo, nhân đó thành bệnh đến chết. Hoặc khi ma cho được tà thiền định, trí tuệ, thần thông, đà-la-ni, thuyết pháp giáo hóa, người đều kính phục, về sau phá hoại việc lành xuất thế của người và phá hoại chánh pháp. Những việc ma như thế, có nhiều loại sai biệt không thể nói hết. Nay lược chỉ bày những điều cần yếu để cho người tu trong lúc tọa thiền không lầm nhận các cảnh giới ma.

Ma có nhiều thứ nhưng điều trọng tâm chúng ta phải nhớ là ma không làm hại được người, chỉ do chúng ta sợ hãi hoảng hốt sanh ra bệnh cuồng loạn. Vì vậy cần phải hiểu biết cho rõ. Như trường hợp, có người rất tha thiết tu hành nhưng vì không hiểu đạo lý căn bản, khi tu được những định tà cũng có thần thông, thuyết pháp rất hay mọi người kính phục, thời gian sau phá giới phạm tội… các thứ định được kia đều mất. Đó là tà thiền, do không khéo học hiểu mà bị sai lầm.

Nói tóm lại, nếu muốn dẹp tà về chánh phải quán thật tướng của các pháp, khéo tu Chỉ Quán thì không có cái tà nào mà không dẹp được. Cho nên trong kinh luận nói: “Trừ thật tướng của các pháp, kỳ dư tất cả là ma sự.” Như bài kệ nói:

Nếu phân biệt nhớ tưởng, 

Tức là lưới của ma, 

Không động, không phân biệt, 

Ấy tức là pháp ấn.

Chúng ta tu đa số đều có tâm lo sợ, sợ đêm khuya ngồi yên một mình ma tới phá không biết làm sao trị. Có người trước khi tu thiền học bùa chú, để ma tới vẽ bùa thổi cho nó bay đi. Nghĩ vậy tưởng chừng như hay, nhưng sự thật không hay. Ở đây dạy rằng trừ thật tướng của các pháp, kỳ dư tất cả là ma sự . Muốn trừ quân ma dẹp tà về chánh, phải quán thật tướng của các pháp. Các pháp không có tự tánh, đều do nhân duyên sanh, hư dối không thật. Khi ma hiện ra với bất cứ hình thức nào, chúng ta cũng đều biết đó là duyên hợp hư dối không thật. Như xem múa lân, biết con lân là giả thì đâu có sợ. Tưởng thật mới sợ, còn biết giả thì sợ làm gì. Vì vậy khi quán thật tướng của các pháp thì không còn sợ hãi, đó là chánh pháp.

Đức Phật ngồi tu dưới cội Bồ-đề, ma vương hiện ra những mỹ nữ kiều diễm tới dụ dỗ, ngài dùng trí tuệ thấy đúng như thật để đuổi nó. Ngài nói: “Đãy da hôi thối! Đi, ta không có dùng”, ma vương xấu hổ rút lui. Khi ma hiện hình đầu trâu mặt ngựa cầm gươm giáo vây quanh, ngài thiền định tâm không dao động, ma bao vây một hồi rồi bỏ đi. Phật nói: “Ta dùng cây cung thiền định và mũi tên trí tuệ để dẹp phá ma quân.” Phật lấy thiền định và trí tuệ để trị ma, còn chúng ta nhát quá nên muốn dùng bùa chú để trị ma, đó không phải là chánh. Nếu tâm bất động thì không có ma nào phá được, còn khởi tâm lo sợ là bị ma phá.

Nếu phân biệt nhớ tưởng, 

Tức là lưới của ma, 

Không động, không phân biệt, 

Ấy tức là pháp ấn.

Chúng ta ngồi thiền thấy những cảnh lạ nhớ định tâm, không nghĩ không tưởng, tâm an định thì ma biến mất, hoặc dùng trí tuệ quán chiếu phá dẹp nó. Dùng thiền định và trí tuệ để trị ma đó là cách hay hơn tất cả, nếu thấy ma rồi phân biệt ma này dữ v.v… là rơi vào lưới của ma. Pháp ấn đuổi ma là ở chỗ đó. Người tu đừng sợ ma quái ở bên ngoài mà chỉ sợ tâm mình không an định. Thiền định và trí tuệ là gốc, là phương pháp trị ma hay nhất, chúng ta khéo nhớ để ứng dụng tu tập.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.