Chánh văn:
Xả cái tức là bỏ ngũ cái: tham dục, giận hờn, mê ngủ, diêu động và hối hận, nghi ngờ.
I- Xả tham dục
Trước đã nói đối ngũ trần bên ngoài sanh tham muốn, nay nói chính trong ý căn sanh tham muốn. Nghĩa là khi hành giả ngồi ngay thẳng tu thiền, tâm khởi tham muốn niệm niệm tiếp nối, che đậy thiện tâm không được tăng trưởng, biết rồi liền bỏ. Tại vì sao? Vì như nàng Thuật-bà-già trong tâm khởi tham dục, còn bị đốt cháy cả thân thể thay! Huống chi trong tâm sanh lửa tham dục mà không thiêu hết các pháp lành. Người tham dục cách đạo rất xa. Tại sao? Vì dục là chỗ trú của bao nhiêu sự não loạn. Nếu trong tâm ôm ấp tham dục thì không do đâu được gần đạo. Như bài kệ Trừ Cái nói:
Người hổ thẹn vào đạo,
Ôm bát phước chúng sanh.
Tại sao theo trần dục,
Chìm lặn trong ngũ tình?
Đã xả ngũ dục lạc,
Bỏ nó không luyến tiếc,
Vì sao lại muốn được?
Như người ăn đồ mửa.
Các dục khi cầu khổ,
Khi được nhiều sợ hãi,
Khi mất lại lo rầu,
Tất cả thời không vui.
Họa các dục như thế,
Do đâu xả được nó?
Được vui sâu thiền định,
Liền không bị nó lừa.
II- Xả giận hờn
Giận là cội gốc làm mất Phật pháp, là nhân duyên sa vào ác đạo, là oan gia của pháp an lạc, là bọn giặc dữ của thiện tâm, là tạng phủ của bao nhiêu ác khẩu. Thế nên hành giả khi tọa thiền suy nghĩ người này hiện tại phá hại ta, phá hại gia quyến ta, khen ngợi người thù của ta; suy nghĩ quá khứ, vị lai cũng thế, ấy là chín thứ phiền não. Do đó sanh sân hận, khởi sân hận nên sanh oán thù, do tâm oán thù bèn khởi tâm tàn hại kẻ ấy. Sân hận che đậy tâm như thế, nên gọi là Cái. Phải gấp bỏ nó, không cho tăng trưởng. Như ngài Thích-đề-bà-na dùng bài kệ hỏi Phật:
Vật gì giết an lạc?
Vật gì giết vô ưu?
Vật gì gốc của độc?
Nuốt tiêu tất cả thiện?
Phật đáp:
Giết sân thì an lạc,
Giết sân thì vô ưu.
Sân là gốc của độc,
Sân diệt tất cả thiện.
Đã biết sân nguy hiểm như thế, phải chóng tu từ bi, nhẫn nhục để diệt trừ nó cho tâm được thanh tịnh.
III- Xả mê ngủ
Nội tâm mờ mịt gọi là thùy; năm tình che đậy, buông lung thân thể dã dượi ngủ vùi gọi là miên; do nhân duyên này gọi là thùy miên. Mê ngủ hay phá hoại cái vui chân thật nơi tâm đời này và đời sau, cùng cái vui cõi trời và Niết-bàn. Nó rất ác, không có chút thiện. Tại sao? Vì những phần Cái khác dễ biết nên trừ được, còn khi ngủ như chết, không thể hiểu biết, vì không biết nên khó trừ. Như bài kệ chư Phật Bồ-tát quở các đệ tử mê ngủ:
Ông dậy! Chớ ôm thây thối nằm,
Những thứ nhớp nhúa tạm gọi người.
Như bệnh nặng, tên cắm vào thân.
Dẫy đầy đau khổ đâu yên ngủ!
Như người bị trói sắp đem giết,
Tai hại kề bên đâu thể ngủ!
Giặc kiết chưa diệt, hại chưa trừ,
Như cùng rắn độc chung nhà ở,
Như vào trận, giữa hai đao bén,
Khi ấy làm sao yên ngủ được?
Ngủ là đen tối không thể thấy,
Ngày ngày cướp mất ánh sáng ta,
Do ngủ khiến tâm không thấy được,
Hại to như thế đâu yên ngủ?
Còn lắm việc như thế để quở trách mê ngủ. Lấy vô thường cảnh giác sự ngủ nghỉ khiến giảm bớt, không che mờ tâm tánh. Nếu tâm mê ngủ quá nặng phải dùng thiền trượng đuổi nó.
IV- Xả diêu động và hối hận
Ông đã cạo tóc mặc áo nhuộm,
Ôm bình bát vào xóm xin ăn.
Vì sao lại ưa thích diêu động?
Buông lung ý, mất cả lợi lành.
Đã mất pháp lợi, lại mất cả cái vui ở đời, biết lỗi ấy rồi phải gấp đuổi nó.
Nếu diêu động không thì chưa thành che đậy, phải có hối hận mới thành. Vì sao? Vì khi diêu động là còn ở ngoài. Trong khi nhập định mới hối hận việc làm trước, lo rầu che đậy cả tâm tánh.
Không nên làm mà làm,
Nên làm mà không làm,
Lửa hối hận thiêu cháy,
Đời sau đọa ác đạo.
Nếu phạm tội nên hối,
Hối rồi chớ lo phiền.
Như thế tâm an vui,
Không nên thường nhớ mãi.
Nếu có hai thứ hối:
Hoặc nên làm không làm,
Không nên làm lại làm,
Ấy là tướng kẻ ngu.
Vì không tâm hối hận,
Không nên làm lại làm.
Những việc ác đã làm,
Không thể bảo không làm.
V- Xả nghi ngờ
Do nghi che đậy tâm, đối trong chánh pháp không khởi lòng tin. Vì không có lòng tin, nên ở trong Phật pháp không được chi cả. Ví như người vào núi vàng mà không có tay nên không thể lấy được. Nhưng nghi rất nhiều tai hại, không riêng gì chướng định. Nay nói về chướng định, nghi có ba thứ:
Như người trước ngã ba,
Nghi ngờ không biết lối.
Trong các pháp thật tướng,
Nghi cũng lại như vậy.
Vì nghi không cần cầu
Thật tướng của các pháp.
Thấy nghi từ si sanh,
Là ác trong các ác.
Trong pháp lành và ác,
Sanh tử và Niết-bàn,
Quyết định thật có pháp,
Ở trong chớ sanh nghi.
Ông nếu ôm lòng nghi,
Chết bị chúa ngục trói,
Như sư tử chụp nai
Không thể nào thoát khỏi.
Ở đời tuy có nghi,
Phải tùy hỷ pháp lành,
Ví như thấy ngã ba,
Đường tốt, lợi nên đi.
Lòng tin hay vào được Phật pháp. Nếu người không tin, tuy ở trong Phật pháp mà hoàn toàn không được gì cả. Những việc như thế, đủ biết nghi là tai hại, hãy gấp bỏ nó.
Có người hỏi: Những việc ác nhiều như bụi không thể tính hết, tại sao ở đây chỉ dạy bỏ năm điều mà thôi?
Đáp: Trong năm điều này gồm cả tam độc và đẳng phần (tham sân si bằng nhau). Bốn thứ này làm căn bản, nhiếp cả tám muôn bốn ngàn trần lao. Đó là:
1- Tham muốn thuộc tham độc.
2- Giận hờn thuộc sân độc.
3- Mê ngủ và nghi thuộc si độc.
4- Diêu động và hối hận thuộc đẳng phần.
Chúng hiệp thành bốn phần phiền não. Trong mỗi phần có hai muôn một ngàn. Họp bốn phần là tám muôn bốn ngàn. Thế nên, trừ ngũ cái là trừ tất cả pháp ác. Người tu nên lấy những việc như thế trừ bỏ ngũ cái. Ngũ cái bỏ rồi, ví như người mang nặng được gỡ bỏ, như bệnh được lành, như người đói được đến nước giàu có, như bị giặc bao vây được cứu thoát, yên ổn không lo sợ. Người tu cũng vậy, trừ được ngũ cái rồi, tâm yên ổn, mát mẻ an vui. Như mặt trời, mặt trăng bị năm việc che tối: khói, bụi, mây, mù, nhật nguyệt thực, nên không thể chiếu sáng, tâm người bị ngũ cái cũng như thế.
Giảng:
Xả cái tức là bỏ ngũ cái: tham dục, giận hờn, mê ngủ, diêu động và hối hận, nghi ngờ.
Xả cái nghĩa là xả bỏ năm thứ che đậy làm cho mờ tối. Năm thứ đó là: tham dục, giận hờn, mê ngủ, diêu động hối hận, nghi ngờ. Người muốn tu thiền phải để cho tâm thanh tịnh, nên trước hết phải bỏ ngũ cái. Xả cái là điều kiện tiên quyết để tu hành, nếu ham tu thiền mà năm thứ này không chịu bỏ thì tu khó có kết quả.
I- Xả tham dục
Trước đã nói đối ngũ trần bên ngoài sanh tham muốn, nay nói chính trong ý căn sanh tham muốn. Nghĩa là khi hành giả ngồi ngay thẳng tu thiền, tâm khởi tham muốn niệm niệm tiếp nối, che đậy thiện tâm không được tăng trưởng, biết rồi liền bỏ.
Đoạn trước nói tham ngũ trần: sắc thanh hương vị xúc, tức tham muốn những chuyện bên ngoài. Đến đây nói chính trong ý căn sanh tham muốn. Người tu thiền mà thường khởi nghĩ nhớ tưởng ái dục thì tâm không bao giờ yên tịnh, nên phải biết dừng niệm để cho tâm lành tăng trưởng.
Tại vì sao? Vì như nàng Thuật-bà-già trong tâm khởi tham dục, còn bị đốt cháy cả thân thể thay! Huống chi trong tâm sanh lửa tham dục mà không thiêu hết các pháp lành. Người tham dục cách đạo rất xa. Tại sao? Vì dục là chỗ trú của bao nhiêu sự não loạn. Nếu trong tâm ôm ấp tham dục thì không do đâu được gần đạo.
Xưa có nàng Thuật-bà-già trong tâm khởi tham dục, liền bị lửa tham dục đốt cháy cả thân thể. Sự nguy hiểm họa hại lớn lao của tham dục, làm cho thân này phải tiêu tan. Huống chi trong tâm sanh lửa tham dục mà không thiêu hết các pháp lành? Trong tâm khởi tham dục thì tự nhiên các pháp lành không còn, làm sao gần được đạo. Nên nói, người tham dục cách đạo rất xa . Người tu thiền muốn cho tâm yên định thì những điều nào có hại cho sự tu chúng ta phải bỏ, đừng để những niệm tham dục dấy khởi, sự tu mới thành công.
Ngài dẫn một bài kệ trong kinh để cảnh tỉnh chúng ta.
Như bài kệ Trừ Cái nói:
Người hổ thẹn vào đạo,
Ôm bát phước chúng sanh.
Tại sao theo trần dục,
Chìm lặn trong ngũ tình?
Người hổ thẹn quyết tâm vào đạo tu hành, ôm bát đi khất thực để gieo phước lành, làm phước điền cho chúng sanh. Tại sao lại theo dục lạc thế gian, chìm lặn trong ngũ tình? Phật nhắc nhở người học đạo phải bớt tâm chạy đuổi theo trần dục, vì đó là trở ngại lớn lao trong sự tu hành.
Đã xả ngũ dục lạc,
Bỏ nó không luyến tiếc,
Vì sao lại muốn được?
Như người ăn đồ mửa.
Phật quở quá mạnh. Người tu đã xả cái vui của ngũ dục, tại sao còn luyến tiếc, còn muốn được nó? Người phát tâm vào đạo theo Phật tu hành, chán bỏ dục lạc thế gian như người ăn thức ăn không tiêu mửa ra không muốn nhìn, sao bây giờ quay lại thèm thuồng muốn ăn lại, điều này không thể chấp nhận được.
Các dục khi cầu khổ,
Khi được nhiều sợ hãi,
Khi mất lại lo rầu,
Tất cả thời không vui.
Dục lạc thế gian là thứ mà ai cũng ham muốn. Khi chưa được phải chạy ngược chạy xuôi, làm đủ phương tiện để tìm cho được. Nên nói, các dục khi cầu khổ . Cầu được rồi thì sao? Khi được nhiều sợ hãi . Như lúc chưa có tiền, phải lo làm khổ nhọc để kiếm nhiều tiền; đến lúc được rồi lại sợ mất mát, trộm cướp v.v… cứ lo gìn giữ nơm nớp không yên. Khi mất lại lo rầu . Chưa được cầu được là khổ, được rồi giữ gìn cũng khổ, đến lúc bị mất càng khổ hơn.
Tất cả thời không vui. Chưa được là thời quá khứ, lúc được là thời hiện tại, khi mất là thời vị lai. Như vậy ba thời đều khổ, không có thời nào vui hết. Cho nên người biết tu bớt tham theo ngũ dục là bớt khổ, bớt khổ thì được vui.
Chúng ta tu theo Phật, tìm được nhiều là vui hay phải bỏ nhiều là vui? Bỏ được nhiều là vui. Biết bỏ là vui mà chúng ta không gan để bỏ. Bệnh chung của con người là thiếu can đảm, không nỡ bỏ, cho nên không được vui, chứ bỏ được rồi thì vô cùng hạnh phúc.
Họa các dục như thế,
Do đâu xả được nó?
Được vui sâu thiền định,
Liền không bị nó lừa.
Họa các dục như thế, do đâu xả được nó? Đối với ngũ dục thế gian mà tâm chúng ta đang quyến luyến, làm sao để bỏ được? Phải hiểu rõ ngũ dục là tai họa, cần phải xả bỏ nó. Xả bỏ bằng cách nào?
Được vui sâu thiền định, liền không bị nó lừa. Phải tu thiền thâm sâu, tâm được an định mới bỏ được ngũ dục. Nếu chỉ nói ngoài miệng thì không bao giờ được an vui. Như chúng ta tọa thiền là muốn cho tâm an định, mà khi ngồi lại nhớ danh vọng, tiền bạc, sắc đẹp, ham muốn…, tâm cứ chạy ngược chạy xuôi theo tham dục không dừng, đó là bị tham chi phối. Cho nên tu tập thiền định là để tâm yên lặng, khi tâm yên thì tất cả niệm nhớ tài sắc thế gian không còn, lúc đó mới bỏ được những thứ tham dục kia không bị nó lừa.
Chúng ta xét kỹ lại nội tâm của mình, nếu thấy có bệnh tham dục nhiều thì phải ráng tu để nó lắng xuống, dừng lại, như vậy mới hết khổ.
II- Xả giận hờn
Giận hờn tại sao phải xả? Vì nó che đậy làm cho tâm mình không được thanh tịnh, nên cần phải xả bỏ.
Ví dụ trước giờ tọa thiền mà chúng ta gây gổ với ai, thì đến giờ ngồi thiền có yên không? Lúc đó bận nhớ những câu nói khi nãy nên tâm không yên, không yên thì làm sao ngồi thiền định. Do nó che đậy tâm mình không được sáng suốt, không thanh tịnh, nên phải xả bỏ nó. Vì vậy đến đây là nói về xả giận hờn.
Giận là cội gốc làm mất Phật pháp, là nhân duyên sa vào ác đạo, là oan gia của pháp an lạc, là bọn giặc dữ của thiện tâm, là tạng phủ của bao nhiêu ác khẩu.
Tai họa của giận hờn rất lớn, người hay nổi sân thì mất đạo đức, dễ tạo tội rơi vào đường ác, nên nói là nhân duyên sa vào ác đạo.
Là oan gia của pháp an lạc , tức là oán thù của pháp an lạc. Chúng ta muốn được vui tươi mát mẻ thì phải bỏ nóng giận, nếu còn nóng giận thì không bao giờ được an vui, vì nóng giận là kẻ oán thù của sự an lạc.
Là bọn giặc dữ của thiện tâm. Nóng giận là giặc dữ làm mất tâm lành. Chúng ta giận ai thì muốn cho họ bình an hay muốn họ phải đau đớn khổ sở? Khi giận nói lời nặng nề gây khổ cho người khác, muốn cho họ phải đau đớn, cho nên thiện tâm không còn. Nếu một ngày giận mười lần, thì tâm giống như ác quỷ chứ không còn là tâm lành nữa. Cho nên phải dè dặt, đừng để nóng giận.
Là tạng phủ của bao nhiêu ác khẩu. Giận ai chúng ta đâu nói lời hiền lành nhẹ nhàng dễ thương được, mà phải nói cho người đó điếc tai, tức tối lên mới chịu. Đó là nguồn gốc của tội ác khẩu. Người tu hành muốn trở thành hiền hòa lương thiện, nhất định phải bỏ nóng giận. Nếu tu mà ai đụng tới liền nổi sân la rùm lên, thì việc tu không chân chánh. Do tu chưa thuần nên mới dễ nóng giận ác khẩu như vậy.
Thế nên hành giả khi tọa thiền suy nghĩ người này hiện tại phá hại ta, phá hại gia quyến ta, khen ngợi người thù của ta; suy nghĩ quá khứ, vị lai cũng thế, ấy là chín thứ phiền não. Do đó sanh sân hận, khởi sân hận nên sanh oán thù, do tâm oán thù bèn khởi tâm tàn hại kẻ ấy.
Nếu chúng ta nghĩ đó là người hại mình, phá hại gia quyến mình, khen ngợi người thù của mình…, nhớ lại ba việc ấy rồi sanh phiền não. Cứ nhớ tới nhớ lui, quá khứ hiện tại vị lai cũng đều như vậy, cộng lại thành chín thứ phiền não. Người hại mình, hại gia đình mình thì giận phải rồi, còn kẻ mình ghét không muốn nhìn mặt mà được người khen thì mặc người ta khen, đâu có động chạm gì tới mình mà tại sao lại không ưa? Đó là bệnh chung của chúng ta, nghe khen người thương thì chịu, khen người ghét thì giận lây luôn cả người khen.
Chúng ta nên kiểm lại tâm niệm của mình, nếu có chín thứ phiền não này thì ráng gạt qua, đừng nuôi dưỡng nó khiến cho việc tu tập thiền định bị ngăn trở, không thể tiến được.
Sân hận che đậy tâm như thế, nên gọi là Cái. Phải gấp bỏ nó, không cho tăng trưởng.
Sự tu tập rất khó, khó không phải vì đường lối tu mà vì tập khí lâu đời của chúng ta. Như nghe nói giận hờn là xấu, hại mình hại người, nhưng bỏ nó không phải dễ. Tại sao? Vì ngã to quá! Thấy mình quan trọng mà bị chê bai nên mới giận, nếu thấy mình không là gì thì bị khinh chê cũng có sao đâu.
Một hiền triết nói: “nếu ngài bảo tôi nói sai thì tôi sẽ đáp lại rằng, ngài trông đợi gì ở con lừa?” Ngu như lừa thì nói trật là đương nhiên, có gì lạ đâu. Câu này nói theo người Việt Nam là “nếu anh nói tôi nói bậy thì tôi sẽ đáp lại rằng, anh trông đợi gì ở con bò?” Nếu anh nói tôi nói bậy thì anh trông đợi gì ở tôi, vì tôi ngu như bò làm sao nói trúng được. Thấy mình ngu như bò thì sẽ không giận ai hết. Ở thế gian ai cũng giành khôn, chứ đâu ai chịu nhận mình ngu. Mười người thì hết chín người giành khôn rồi, nên bị ai nói ngu thì nổi tức lên liền, mà nổi tức lên là khôn hay ngu?
Thông thường chúng ta cho những gì mình biết được gọi đó là khôn. Nhưng thử xét lại xem, sự việc trên thế gian vô số mà hiểu biết của chúng ta đâu được bao nhiêu. Ví dụ chúng ta giỏi văn chương, khi được hỏi về văn chương thì sẽ trả lời lưu loát, nhưng sang qua toán học, điện tử, hoặc các nghề thủ công khác như thợ mộc, thợ hồ… thì không rành. Có lúc tôi đứng nhìn thợ mộc đẽo đục bào cây, hoặc thấy thợ hồ xây, tôi thấy mình ngu hơn các vị ấy rõ ràng. Vì tôi chỉ biết được có một chút việc tu thôi, còn những việc này tôi không biết làm. Chúng ta chỉ biết được trong phạm vi chuyên môn, ở một góc cạnh nào thôi chứ chưa biết hết toàn bộ, làm sao gọi là khôn được. Ngu nhiều hơn khôn, vậy bị nói ngu có gì đâu mà giận!
Cái giận của chúng ta hết sức vô lý. Người ta nói mình dại, mình có thành dại không? Vậy mà cứ giận người này buồn người kia, rồi khổ. Người khổ mình khổ, rốt cuộc không có ai khôn. Muốn nóng giận giảm, trước hết phải chấp nhận mình ngu, mới không tranh hơn thua nữa. Nên nói, người biết mình ngu là người khôn, còn ngu mà tưởng mình khôn thì thật quá ngu. Biết rõ nóng giận là họa hại làm mất sáng suốt, nên phải gấp bỏ nó, không cho nó tăng trưởng. Hiểu được ý này chúng ta dễ tu, còn ngược lại cứ tranh khôn với nhau hoài thì chỉ toàn là rối rắm khổ sở.
Như ngài Thích-đề-bà-na dùng bài kệ hỏi Phật:
Vật gì giết an lạc?
Vật gì giết vô ưu?
Vật gì gốc của độc?
Nuốt tiêu tất cả thiện?
Phật đáp:
Giết sân thì an lạc,
Giết sân thì vô ưu.
Sân là gốc của độc,
Sân diệt tất cả thiện.
Đã biết sân nguy hiểm như thế, phải chóng tu từ bi, nhẫn nhục để diệt trừ nó cho tâm được thanh tịnh.
Người nào tiêu diệt được sân thì người đó sẽ an lạc, không có lo buồn. Sân là gốc của độc, vì tất cả độc đều từ sân mà ra, nó tiêu diệt tất cả pháp lành. Sân là tai họa lớn lao cho nên phải cố gắng diệt trừ, mà muốn diệt trừ nó thì phải bớt cãi lẫy. Có bao giờ khi không mà sân đâu, phải có cãi rồi mới sân. Bởi ai cũng giành khôn nên mới cãi. Nếu chúng ta chịu lép, nhận sự thật mình ngu thì nóng giận sẽ giảm năm mươi phần trăm. Còn cứ giành khôn thì nóng giận tăng lên biết chừng nào. Đây là điều mà chúng ta cần phải cố gắng thực hành, thực hành được thì sự tu mới dễ tiến.
Phật dạy, nếu biết sân là hiểm nguy thì phải tập tu hạnh từ bi và đức nhẫn nhục, để diệt trừ sân cho tâm mình thanh tịnh. Tu từ bi là sao? Bởi vì khi mình ghét người nào thì người đó nói gì làm gì mình cũng không ưa, cho nên phải tập thương tất cả mọi người, đừng để ghét bất cứ một chúng sanh nào. Nếu cứ nhớ người đó là thù, kẻ kia là ác thì không bao giờ mình thương họ được, dù họ nói cái gì mình cũng bực, làm gì mình cũng giận, không ưa.
Như ở trên Trúc Lâm, tôi có cái thất bằng gỗ, trần cũng bằng gỗ. Tối mấy chú chuột chạy giỡn trên trần kêu chít chít, thị giả hỏi như vậy làm sao thầy ngủ được? Tôi nói, xưa đức Phật tu khổ hạnh, chim đến làm tổ trên đầu mà ngài cũng không đuổi, bây giờ mấy chú chuột chạy trên trần có nhằm gì. Chuột ra ngoài kiếm ăn, bị mèo rình, chó rượt, rắn ăn… lo sợ đủ thứ. Ăn no rồi về, vợ chồng con cái gặp nhau vui mừng chạy giỡn, vậy mình nên cảm thông vui giùm nó mới phải chứ.
Chỉ một việc này thôi mà xét kỹ mới thấy mình nhỏ mọn, ngã và ngã sở của chúng ta thật nặng. Chim làm tổ trên đầu, Phật không đuổi, còn chúng ta chuột mới chạy trên trần thôi đã nổi giận. Trước đây lúc chưa nghĩ thông, tôi cũng bực mình lắm. Cứ tìm cách đuổi nó ra, nhưng đuổi đầu này nó chạy đầu kia, rốt cuộc bực bội ngủ không được. Bây giờ thì mặc nó giỡn, mình vẫn ngủ bình an.
Cũng vậy, đối với mọi người ai mình cũng nghĩ là người tốt, là người hiền lương đáng thương; nghĩ vậy thì chúng ta sẽ không thù ghét ai, tối ngủ an ổn. Nếu tối nằm xuống nhớ ông A là người thù số một, ông B là kẻ thù thứ hai v.v… nhớ chừng mười người thì hết ngủ. Như vậy chúng ta mới thấy cái hại của sự ôm ấp oán hờn, và cái lợi của sự buông xả. Người khéo tu sẽ tự tạo cho mình nguồn sống an lạc, còn không khéo thì cứ khổ sở, kêu trời trách đất, than thở khó ăn khó ngủ. Khổ này tự chuốc chứ không phải ở đâu đem đến cho mình mà than!
Đó là nói về hạnh từ bi. Tu đức nhẫn nhục cũng giống như vậy. Bởi thương người thì phải nhịn chịu những điều họ xúc phạm tới mình. Như mẹ thương con, khi con còn bé, những thứ đồ dơ của con mẹ đâu thấy gớm. Thương thì nhẫn chịu được hết, còn không thương thì chịu không nổi. Cho nên từ bi đi đôi với nhẫn nhục, có từ bi và nhẫn nhục thì sự tu hành dễ tiến, còn không thì khó tu. Nhiều Phật tử ham tu nhưng những tật này chưa chịu bỏ, nên tu không có kết quả. Như vậy tu không có kết quả là tại không buông bỏ, nếu bỏ được thì tu hành nhất định có kết quả tốt đẹp. Đó là tại mình chứ không phải tại Phật.
III- Xả mê ngủ
Xả mê ngủ thấy như dễ, nhưng bỏ không phải dễ. Tại sao? Bởi chúng ta có bệnh thích ăn ngon ngủ kỹ. Ngủ thiếu một chút là hơi bực bội rồi. Ban ngày làm, tối ngủ kỹ thì còn thời giờ đâu mà tu. Người muốn tu mà ăn ngon ngủ kỹ quá làm sao tu được, cho nên phải xả bớt, ngủ ít một chút, thay vì ngủ tám tiếng chúng ta ngủ sáu hoặc bảy tiếng thôi, như vậy mới có thời giờ để tu.
Nội tâm mờ mịt gọi là thùy; năm tình che đậy, buông lung thân thể dã dượi ngủ vùi gọi là miên; do nhân duyên này gọi là thùy miên. Mê ngủ hay phá hoại cái vui chân thật nơi tâm đời này và đời sau, cùng cái vui cõi trời và Niết-bàn. Nó rất ác, không có chút thiện. Tại sao? Vì những phần Cái khác dễ biết nên trừ được, còn khi ngủ như chết, không thể hiểu biết, vì không biết nên khó trừ.
Thường chúng ta thấy nằm ngủ có hại ai đâu, nhưng sự thật cái hại của nó không nhỏ. Ban ngày bận làm, ban đêm có được một hai giờ yên lặng, mà muốn ngủ đủ không chịu thức thì còn thời giờ đâu để tu. Không tu làm sao tâm thanh tịnh, làm sao được phước đức, cho nên phải hạn chế, phải chiến thắng nó.
Phật tử tại gia tập cái này cũng khó, đang ngủ ngon lành nghe đồng hồ reo phải trỗi dậy thật khó. Có người đồng hồ reo thì reo mà ngủ vẫn cứ ngủ, nghĩ không ai rầy mình, lười quá thôi ngủ luôn. Cái này khó tập, nhưng đã muốn tu thì phải cố gắng, tuy khó mà thắng được là tiến bộ. Vì khi ngủ như chết, không biết nên khó trừ. Nên tập ngủ vừa đủ còn dành thời giờ thức để tu hành, làm những phận sự khác, được vậy mới không luống uổng.
Như bài kệ chư Phật Bồ-tát quở các đệ tử mê ngủ:
Ông dậy! Chớ ôm thây thối nằm,
Những thứ nhớp nhúa tạm gọi người.
Như bệnh nặng, tên cắm vào thân.
Dẫy đầy đau khổ đâu yên ngủ!
Phật, Bồ-tát quở đệ tử, tại sao ông ôm thây thối nằm đó? Dậy! Dậy! Trong thân này toàn đồ dơ bẩn nhớp nhúa, hợp lại tạm gọi thân người, đâu có cái gì tốt. Như bị bệnh nặng, bị mũi tên cắm vào thân, cuộc đời dẫy đầy đau khổ, đâu được rảnh rang mà nằm yên ngủ, phải thức dậy tu hành hoặc làm gì lợi ích cho chúng sanh.
Như người bị trói sắp đem giết,
Tai hại kề bên đâu thể ngủ!
Giặc kiết chưa diệt, hại chưa trừ,
Như cùng rắn độc chung nhà ở,
Như vào trận, giữa hai đao bén,
Khi ấy làm sao yên ngủ được?
Thân chúng ta sống bao nhiêu năm, có ai bảo đảm phải đúng chín mươi tuổi mới chết không? Giặc chết rình rập sẵn bất cứ lúc nào. Già chết, trẻ chết, trung niên chết, lứa tuổi nào cũng có thể chết. Chúng ta đừng nghĩ rằng chết là chuyện của người khác, mà nó ở ngay bên cạnh mình. Phải khéo nhớ ráng thức dậy lo tu, làm việc thiện, cái chết ở một bên đừng ham ngủ nhiều, giết mất thời giờ quý báu của mình. Nên nói, như người bị trói sắp đem giết, tai hại kề bên đâu thể ngủ! Đây là lấy lý vô thường quán xét để cố gắng trỗi dậy tu hành, đừng để ma ngủ làm cho mê muội.
Giặc kiết chưa diệt, hại chưa trừ. Như cùng rắn độc chung nhà ở. Giặc kiết sử chưa diệt, những cái hại chưa trừ được, như đang ở chung nhà với ba con rắn độc, sự nguy hiểm đe dọa tánh mạng, đâu thể yên tâm mà nằm ngủ.
Như vào trận giữa hai đao bén, khi ấy làm sao yên ngủ được? Người vào trận mạc giữa gươm giáo bén nhọn làm sao ngủ ngon được. Cho nên muốn làm chủ được cái ngủ, chúng ta phải nhớ đem pháp vô thường răn nhắc mình. Cuộc sống tạm bợ nguy hiểm, hãy thức tỉnh để tu hành đừng ham mê ngủ nghỉ.
Ngủ là đen tối không thể thấy,
Ngày ngày cướp mất ánh sáng ta,
Do ngủ khiến tâm không thấy được,
Hại to như thế đâu yên ngủ?
Ngủ làm mất ánh sáng, vì ngủ là mê. Khi ngủ không thấy được những sự vật bên ngoài, tâm mình cũng không hiểu biết được lý lẽ. Tai hại của ngủ to như thế, nên phải chiến thắng nó.
Còn lắm việc như thế để quở trách mê ngủ. Lấy vô thường cảnh giác sự ngủ nghỉ khiến giảm bớt, không che mờ tâm tánh. Nếu tâm mê ngủ quá nặng phải dùng thiền trượng đuổi nó.
Những người tập tọa thiền luôn có vị thầy vác thiền trượng đi giám sát, để khi nào ngủ gục đánh cho giật mình. Có người chưa quen, nói “ông thầy tàn nhẫn quá, mệt mỏi ngủ gục một chút mà đánh!” Đánh đó không phải tàn nhẫn mà chính là từ bi. Vì sợ người ngồi thiền ngủ gục quên mất mình, không còn sáng suốt là rơi vào hang quỷ, nên mới đánh cho thức tỉnh. Vì vậy trong thiền đường khi có người ngồi thiền ngủ gục, vị thầy liền đi đến dùng thiền trượng nhịp nhịp trên vai, người ấy chắp tay xá, tỏ ý nhờ đánh giùm. Khi đánh một cái vào vai xong, lại chắp tay xá lần nữa để tỏ ý cám ơn, chứ không giận. Còn người không biết thì bực, người mới tu chưa quen thấy vác thiền trượng đi quanh thì ngán, sợ bị đánh. Nhưng đó chính là phương tiện để cảnh tỉnh kẻ ngủ mê, nhờ sợ ngán nên ráng tỉnh. Chúng ta tu một giờ là vàng ngọc chứ không phải tầm thường, cho nên phải quý trọng thời giờ quý báu, đừng để mê ngủ làm mất đi sự tỉnh sáng của mình.
IV- Xả diêu động và hối hận
Diêu động có ba thứ: thân diêu động, miệng diêu động và tâm diêu động. Thân ưa chạy giỡn lăng xăng, không chịu ngồi yên. Miệng ưa ca hát, tranh cãi phải quấy, nói việc thế gian vô ích. Về thân thì còn có thể làm chủ được phần nào, nhưng miệng thì chắc khó hơn. Người ta thường nghĩ ngồi làm thinh là buồn, nên chuyện năm trên năm dưới gì cũng đem ra nói.
Kế đến là tâm diêu động. Tâm tình phóng túng, ý nghĩ lăng xăng, suy nghĩ văn chương, kỹ nghệ thế gian, các điều xét nghĩ xấu ác… Nếu thân và miệng không giữ được thì tự nhiên tâm phải chạy. Nếu chỉ kìm tâm mà buông ra ca hát cãi lẫy… thì không bao giờ kìm tâm được. Cho nên trong ba thứ, thân miệng tâm, thì thân miệng ở ngoài dễ thấy phải điều phục trước, rồi sau điều phục tâm mới được.
Nếu thân tâm miệng đều diêu động thì phá hại tâm của người xuất gia, dù cố ngồi thiền kìm cho yên định cũng không được. Như con voi say mà không câu móc, con lạc đà không dây mũi không thể kìm giữ. Vì vậy phải cố gắng kìm chế, giữ gìn cho thân tâm miệng bớt diêu động, ngồi tu mới yên được.
Có bài kệ:
Ông đã cạo tóc mặc áo nhuộm,
Ôm bình bát vào xóm xin ăn.
Vì sao lại ưa thích diêu động?
Buông lung ý, mất cả lợi lành.
Đã mất pháp lợi, lại mất cả cái vui ở đời, biết lỗi ấy rồi phải gấp đuổi nó.
Đây nhắc người xuất gia đã cạo tóc mặc áo nhuộm, ôm bình bát đi khất thực, tại sao lại thích diêu động, buông lung ý của mình, làm mất hết tất cả lợi lành, nên phải gấp đuổi nó.
Nếu diêu động không thì chưa thành che đậy, phải có hối hận mới thành. Vì sao? Vì khi diêu động là còn ở ngoài. Trong khi nhập định mới hối hận việc làm trước, lo rầu che đậy cả tâm tánh.
Phần thứ tư nói diêu động và hối hận chung, vì hai thứ này theo nhau.
Ví dụ khi chưa tọa thiền nói chuyện với bạn bè huynh đệ, lúc đầu thì nói chuyện đạo đức, một hồi hăng lên nói sang qua chuyện thế gian, rồi từ từ đến chuyện bên Tây bên Tàu, từ việc tốt tới việc xấu… Đến lúc ngồi thiền nhớ lại những lời lỡ nói không được tao nhã, liền sanh hối hận. Do không làm chủ được diêu động, nên khi ngồi tu hối hận, cứ ôn tới ôn lui khiến tâm không an định. Đó là trường hợp thứ nhất.
Trường hợp thứ hai, có người lúc chưa biết tu đã làm những lỗi lớn, bây giờ ngồi thiền nhớ lại hối hận, buồn bực bất an, làm cho tâm mờ mịt.
Trong pháp sám hối có dạy, nếu làm lỗi rồi phải biết hối hận để chừa lỗi, nhưng tại sao ở đây nói hối hận làm tâm diêu động? Bởi khi làm lỗi biết hối hận, sám hối với người mình đã làm lỗi cho họ tha thứ, để lòng hết cắn rứt tu được an ổn. Nếu làm lỗi mà không xin lỗi, không sám hối, đến khi ngồi thiền cứ nhớ bứt rứt trong lòng tu không được, đó là bệnh. Chúng ta phải biết thật rõ ý nghĩa này, chứ làm gì sai quấy cũng không hối hận thì nguy.
Có bài kệ:
Không nên làm mà làm,
Nên làm mà không làm,
Lửa hối hận thiêu cháy,
Đời sau đọa ác đạo.
Ví dụ có người đã quy y thọ năm giới, hôm nào bạn bè rủ uống rượu, việc đó không nên làm nhưng vui quá uống, uống xong về nhà hối hận vì đã phạm giới. Hoặc khi thấy người tật nguyền, nghèo đói, khổ sở cùng cực, trong túi có tiền lẽ ra nên giúp đỡ họ, nhưng mình phớt lờ đi luôn, đến tối ngồi nhớ lại hối hận, vì việc đáng làm mà không làm. Do đó lửa hối hận thiêu cháy khiến tâm không thanh tịnh, đời sau lại bị vào đường ác.
Nếu phạm tội nên hối,
Hối rồi chớ lo phiền.
Như thế tâm an vui,
Không nên thường nhớ mãi.
Khi đã lỡ phạm tội thì nên hối hận sám hối, nhờ đó tâm được giải trừ không lo rầu buồn phiền nữa. Không nên ôm ấp trong lòng không chịu sám hối, rồi cứ nhớ hoài ngồi tu không được.
Nếu có hai thứ hối:
Hoặc nên làm không làm,
Không nên làm lại làm,
Ấy là tướng kẻ ngu.
Nếu người có hai thứ hối hận: việc không nên làm mà làm, việc nên làm không làm, đó là tướng của kẻ ngu. Người thông minh sáng suốt, nếu thấy việc gì đáng làm nên làm liền, còn việc không đáng làm thì tuyệt đối không làm.
Vì không tâm hối hận,
Không nên làm lại làm.
Những việc ác đã làm,
Không thể bảo không làm.
Những việc tội, việc ác đã tạo, chúng ta đừng nói rằng Phật dạy không nên hối hận, việc đó đã bỏ qua rồi tôi không còn nhớ gì nữa. Trước đây mình làm khổ người, bây giờ nói tâm tôi yên không nhớ gì hết được không? Dù cho mình bỏ qua nhưng việc gì đã làm thì không mất, không thể bảo không làm. Chúng ta thành tâm sám hối để chừa cải tội lỗi, chứ không phải nói xả hối hận rồi không chừa bỏ, không hối cải để tu, việc đó không thể được.
V- Xả nghi ngờ
Do nghi che đậy tâm, đối trong chánh pháp không khởi lòng tin. Vì không có lòng tin, nên ở trong Phật pháp không được chi cả. Ví như người vào núi vàng mà không có tay nên không thể lấy được. Nhưng nghi rất nhiều tai hại, không riêng gì chướng định. Nay nói về chướng định, nghi có ba thứ:
Xả nghi ngờ, vấn đề này tôi nói rộng một chút, vì nếu không hiểu rõ sẽ thấy mâu thuẫn. Trong nhà thiền có câu “đa nghi đa ngộ”, nghi nhiều thì ngộ nhiều, mà ở đây nói “xả nghi ngờ”, vậy cái nào đúng? Nghi ngờ đây là đối trong chánh pháp không khởi lòng tin, vì không tin nên ở trong Phật pháp không được lợi ích chi cả. Giống như người vào núi vàng mà không có tay, dù cho một mảnh vàng nhỏ cũng không lấy được. Không những vậy, nghi còn có rất nhiều tai hại, không riêng gì chướng định mà thôi.
Nghi có ba thứ:
Có người mặc cảm tội chướng nặng nề, tu hành không thể tiến nổi. Do nghĩ vậy nên không cố gắng, làm sao tu cho thành đạt được. Phật nói “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Hoặc nói “Ta thấy tất cả chúng sanh đều đã thành Phật.” Những câu nói này nghe có dễ tin không? Nếu đã thành Phật sao còn ngồi đây, tranh cãi phải quấy với nhau? Chúng ta phải hiểu, sở dĩ Phật nói như vậy vì e sợ chúng ta không cố gắng tu, nghĩ rằng chỉ có Phật mới làm được, còn mình thì không thể nào. Cho nên Phật khuyến khích, các ngươi cố gắng tu như ta, các ngươi cũng sẽ thành Phật như ta.
Phật là một con người như chúng ta mà ngài tu thành Phật, vậy chúng ta tu cũng sẽ thành Phật như ngài. Bởi vì giác ngộ viên mãn gọi là thành Phật. Mà giác ngộ đó ở đâu? Từ tâm của mỗi người chúng ta mà thôi. Ai cũng có tâm sáng suốt, gọi là vô sư trí, là tánh giác… Tánh giác này có sẵn từ thuở nào, chứ không phải bây giờ mới có. Đứng về tánh giác thì tất cả chúng ta là Phật hết rồi. Chúng ta thật vinh hạnh, đã có sẵn ông Phật mà không chịu nhận mình là Phật, thích làm chúng sanh, ưa theo tình phàm phu rồi tạo nghiệp đau khổ, than thở kêu la cầu xin đủ thứ. Nếu chịu trở về, nhận ra ông Phật nơi mình, khỏi cầu xin ở đâu. Không cần than thở, chỉ khéo quay lại thì sẽ giác ngộ như Phật.
Nói tất cả chúng sanh đã thành Phật là để chỉ rằng nơi mọi người đã có tánh giác, mà đã có tánh giác tức là đã thành Phật. Sở dĩ làm chúng sanh là tại quên. Như trong kinh Pháp Hoa, Phật đưa ví dụ. Có người nghèo khổ đi tìm bạn cũ, người bạn kia giàu có thấy bạn mình nghèo khổ thương lắm, bèn thết đãi cơm rượu say sưa. Trong lúc anh ta say còn nằm ngủ, người bạn có việc gấp phải đi xa, nên vội lấy viên ngọc quý nhét trong túi áo cho bạn, nghĩ rằng khi tỉnh rượu anh bạn sờ vào túi áo gặp viên ngọc, lấy đem đi bán sẽ giàu. Anh bạn nghèo đã tỉnh rượu mà không hay biết có viên ngọc trong túi áo, nên vẫn tiếp tục đi ăn xin như xưa. Thời gian sau gặp lại người bạn giàu, người bạn giàu ngạc nhiên hỏi, tại sao tôi cho anh viên ngọc quý mà bây giờ còn đi ăn xin? Anh ta sực tỉnh sờ vào túi áo lấy ra viên ngọc, từ đó về sau hết khổ.
Cũng vậy, tánh giác của chúng ta sẵn có mà quên, từ đó đi lang thang trong lục đạo, bây giờ nhớ liền xoay trở lại. Như anh bạn nghèo kia có viên ngọc trong túi mà quên, được nhắc sờ vào túi liền nắm trúng viên ngọc, chỉ trong ít giây trở thành người giàu. Vậy tu dễ hay khó? Trong kinh nói tu đến ba vô số kiếp, e chúng ta ngán quá, nên Phật mới nói cho mình biết cái sẵn có của mình, một phen nhìn lại, nhớ lại thì được. Nên nói “hồi đầu thị ngạn”, quay đầu lại là bờ chứ không đâu xa. Dễ như trở bàn tay, chỉ nhớ với quên thôi. Quên thì đi trong luân hồi sanh tử, nhớ thì liền đó có Phật. Chúng ta muốn nhớ hay muốn quên? Muốn nhớ thì phải ráng tu.
Việc tu quá thực tế, quá gần gũi mà chúng ta lại không biết, cứ tưởng cái gì đó xa vời, rồi nghi mình không có khả năng thành Phật, mà thả trôi lăn trong luân hồi. Vì vậy đừng nên nghi mình.
Chúng ta hay mang tâm tưởng thầy giống như Phật. Do lấy Phật làm mẫu, nên thấy thầy thiếu mặt này thiếu mặt kia, chưa ai giống như Phật, rồi không chấp nhận thầy nào hết. Nếu như thế thì tìm hoài cũng không tìm được vị thầy như mình nghĩ. Nên nói, khởi nghi mạn như thế, tức là chướng ngại định.
Nếu thấy vị thầy chưa đúng lý tưởng của mình, nhưng xét vị thầy ấy thấu hiểu đạo lý, biết đường lối tu để chỉ dạy mình thì nên nương theo. Giống như trong cái đãy da hôi thối mà có chứa đựng vàng, vì ham vàng nên không thể bỏ đãy da đó. Người tu cũng như thế, thấy tuy chưa hoàn toàn thanh tịnh, vẫn tưởng như Phật. Chúng ta chấp nhận vị thầy vừa phải mà học được đạo lý, còn hơn khắt khe quá rốt cuộc không có thầy hướng dẫn tu, không học được gì hết. Hiểu như vậy thì không cố chấp, cũng đừng quá dễ dãi thấy ai cạo đầu mặc áo vàng đều tôn làm thầy, nói gì nghe nấy cũng không được, đó là lạc lầm tai hại.
Như người trước ngã ba,
Nghi ngờ không biết lối.
Trong các pháp thật tướng,
Nghi cũng lại như vậy.
Nghe pháp Phật chưa hiểu sanh ra nghi ngờ, gọi là nghi pháp. Nghi ngờ thì đối với những lời dạy đó không cố gắng phụng hành, vì vậy không đạt được kết quả tốt. Giống như người tới ngã ba đường, nghi ngờ không biết đi đường nào nên đứng mãi một chỗ. Trong các pháp thật tướng, nghi cũng lại như vậy.
Vì nghi không cần cầu
Thật tướng của các pháp.
Thấy nghi từ si sanh,
Là ác trong các ác.
Do nghi ngờ nên không tìm cầu Phật pháp, không nhận được tướng chân thật của các pháp. Từ si mê sanh ra nghi, vì vậy nó là điều ác trong các điều ác.
Trong pháp lành và ác,
Sanh tử và Niết-bàn,
Quyết định thật có pháp,
Ở trong chớ sanh nghi.
Trong pháp lành và pháp ác, trong sanh tử và Niết-bàn, chắc hẳn có lối đi riêng rõ ràng, quyết định không nghi ngờ.
Ông nếu ôm lòng nghi,
Chết bị chúa ngục trói,
Như sư tử chụp nai
Không thể nào thoát khỏi.
Nếu cứ nghi thầy, nghi mình, nghi pháp không làm gì hết, thì có ngày bị vô thường dẫn đi, không thể nào thoát khỏi sanh tử.
Ở đời tuy có nghi,
Phải tùy hỷ pháp lành,
Ví như thấy ngã ba,
Đường tốt, lợi nên đi.
Ở đời tuy có nghi, nhưng phải khéo chọn, tùy hỷ theo pháp lành. Như đứng ở ngã ba đường, thấy đường nào hợp lý thì đi, chứ đứng hoài sẽ không tới đâu hết.
Lòng tin hay vào được Phật pháp. Nếu người không tin, tuy ở trong Phật pháp mà hoàn toàn không được gì cả. Những việc như thế, đủ biết nghi là tai hại, hãy gấp bỏ nó.
Nghi là tai hại, hãy gấp bỏ nó. Tại sao? Vì nghi này không giống đại nghi đại ngộ trong nhà thiền, như trước tôi đã nói. Nghi trong nhà thiền là nhân của ngộ, còn nghi thầy, nghi pháp, nghi mình là cái nghi làm chướng ngại đạo.
Khi chúng ta phát tâm tu, ai cũng muốn giác ngộ, muốn thành Phật, cho nên lúc tu có những vấn đề chưa giải quyết được thì phải ôm nghi. Như nói “Trước khi cha mẹ sanh ra, ta là gì?” Hiện tại mình đang có mặt, nhưng trước khi ra đời chúng ta là gì, ở đâu, đã có hay không có, nếu có thì ở đâu tới đây? Đó là mối nghi lớn, vì là manh mối sanh tử của chính mình. Do nghi nên khi tu, tâm thanh tịnh tự mình sáng biết. Như khi đức Phật ngồi dưới cội Bồ-đề, đến đêm thứ bốn mươi chín ngài chợt sáng tỏ, ngài nhớ được vô số kiếp trước đã từng làm gì, ở đâu, có hay không có v.v… liền chứng được Túc mạng minh. Nếu không nghi làm sao nghĩ, làm sao nhớ, làm sao ngộ.
Chúng ta tu, khi học một bài kinh, nghe một buổi giảng có những câu chưa hiểu thấu đáo cũng phải nghi. Nghi không phải nói ra ngoài, mà là tích lũy trong tâm điều mình chưa hiểu, đến lúc ngồi thiền tâm yên tĩnh chợt nhớ lại câu kinh đó, bỗng sáng ra. Một mối nghi là một lần sáng, một trăm mối nghi là một trăm lần sáng, nên nói đa nghi đa ngộ .
Lời Phật tổ dạy chúng ta tin chắc rồi, nhưng do chưa hiểu thông nên nghi, chứ không phải không tin Phật, không tin pháp. Còn nghi mình, nghi pháp, nghi thầy là cái nghi chưa bước vào đạo, nghi đó là tai họa nên phải gấp bỏ nó.
Có người hỏi: Những việc ác nhiều như bụi không thể tính hết, tại sao ở đây chỉ dạy bỏ năm điều mà thôi?
Đáp: Trong năm điều này gồm cả tam độc và đẳng phần (tham sân si bằng nhau). Bốn thứ này làm căn bản, nhiếp cả tám muôn bốn ngàn trần lao. Đó là:
1- Tham muốn thuộc tham độc.
2- Giận hờn thuộc sân độc.
3- Mê ngủ và nghi thuộc si độc.
4- Diêu động và hối hận thuộc đẳng phần.
Chúng hiệp thành bốn phần phiền não. Trong mỗi phần có hai muôn một ngàn. Họp bốn phần là tám muôn bốn ngàn. Thế nên, trừ ngũ cái là trừ tất cả pháp ác. Người tu nên lấy những việc như thế trừ bỏ ngũ cái. Ngũ cái bỏ rồi, ví như người mang nặng được gỡ bỏ, như bệnh được lành, như người đói được đến nước giàu có, như bị giặc bao vây được cứu thoát, yên ổn không lo sợ. Người tu cũng vậy, trừ được ngũ cái rồi, tâm yên ổn, mát mẻ an vui. Như mặt trời, mặt trăng bị năm việc che tối: khói, bụi, mây, mù, nhật nguyệt thực, nên không thể chiếu sáng, tâm người bị ngũ cái cũng như thế.
Người tu thiền mà bị ngũ cái che đậy thì tâm không sáng, vì vậy phải gấp nên xả bỏ tham dục, giận hờn, mê ngủ, diêu động hối hận, nghi ngờ. Nếu xả được năm điều này thì việc tu có kết quả tốt đẹp, không có gì phải nghi ngờ; còn không trừ được thì việc tu thiền rất khó.