Tọa Thiền Tam Muội giảng giải

Chương VI - Tổng Kết



Chánh văn:

Hành giả khi định tâm cầu đạo 

Thường phải xét xem thời, phương tiện, 

Nếu không hợp thời, không phương tiện, 

Như thế là thất, không có lợi.

Như trâu chưa sanh con không sữa 

Vì sữa không thể có phi thời, 

Nếu trâu đã sanh, tìm nơi sừng 

Sữa không thể có, ấy kẻ ngu.

Như dùi cây ướt mong ra lửa 

Vì lửa không thể có phi thời, 

Nếu chẻ cây khô để tìm lửa 

Lửa không thể có, ấy kẻ ngu.

Phải chỗ, biết thời, lượng sức mình, 

Quán tâm phương tiện sức nhiều ít, 

Đáng nên tinh tấn và không nên, 

Tướng đạo hợp thời và không hợp.

Nếu tâm diêu động không dụng quá, 

Dụng quá tất nhiên không thể định, 

Ví như củi nhiều lửa cháy mạnh 

Gió to thổi đến không thể diệt.

Nếu khéo dùng định tự điều tâm 

Như thế động hết tâm được định, 

Ví như lửa mạnh gặp gió lớn, 

Mưa to tưới xuống ắt phải tắt.

Nếu người tâm yếu và lười biếng, 

Như thế, chán bỏ không thể hành,

Ví như củi ít, chỉ đóm lửa

Không gặp gió thổi liền tiêu diệt.

Nếu người tinh tấn tâm mạnh mẽ,

Như thế càng mạnh, chóng được đạo, 

Ví như lửa ít, rất nhiều củi 

Gặp gió thổi đến càng cháy mạnh.

Nếu hành phóng xả, Chỉ điều phục 

Mà lại bỏ bê mất pháp lợi,

Ví như người bệnh nên nuôi dưỡng 

Mà lại bỏ đi không thể sống.

Nếu có tưởng xả, tâm chân chánh, 

Hợp thời, siêng hành mau đắc đạo, 

Ví như người nài cưỡi mình voi 

Tùy ý sai sử không trở ngại.

Nếu người nhiều dâm tâm rối loạn, 

Khi ấy không nên hành pháp Từ, 

Nhiều dâm hành Từ thêm mê muội, 

Như người bệnh lạnh uống thuốc mát.

Người dâm dục nhiều quán bất tịnh, 

Chuyên quán bất tịnh tâm được định, 

Hành pháp như thế mới thích hợp, 

Như người bệnh lạnh uống thuốc nóng.

Nếu nóng giận nhiều tâm rối loạn, 

Khi ấy không nên quán bất tịnh, 

Người sân quán thế, thêm tức giận, 

Như người bệnh nóng uống thuốc nóng.

Người nhiều nóng giận hành Từ tâm, 

Hành Từ chẳng bỏ, sân tâm diệt, 

Hành pháp như thế mới tương ưng, 

Như người bệnh nóng uống thuốc mát.

Nếu nhiều mê muội tâm mờ mịt, 

Không nên hành Từ và Bất tịnh, 

Hai pháp tăng si không lợi ích, 

Như người bệnh cảm uống thuốc bổ.

Người tâm mê muội quán Nhân duyên, 

Phân biệt quán kỹ, si tâm diệt, 

Hành pháp như thế mới thích hợp, 

Như người bệnh cảm uống thuốc cảm.

Ví như thợ bạc thổi lò lửa, 

Dụng công phi thời, thổi sai pháp, 

Lăng xăng gấp thổi không biết thời, 

Hoặc khi nhúng nước, hoặc lấy ra.

Vàng chảy thổi nhiều ắt chảy tiêu, 

Chưa chảy bèn dừng thì không chảy, 

Nhúng nước phi thời vàng vẫn sống, 

Phi thời dừng nghỉ vàng không chín.

Tinh tấn nhiếp tâm và phóng xả, 

Phải nên xem xét pháp hành đạo, 

Phi thời, phương tiện mất pháp lợi, 

Nếu không pháp lợi thì không lợi.

Ví như thầy thuốc ba thứ bệnh: 

Lạnh, nóng, phong phải nên trừ diệt, 

Hợp bệnh cho thuốc là pháp Phật, 

Bệnh tham, sân, si tùy thuốc diệt.

Giảng:

Hành giả khi định tâm cầu đạo 

Thường phải xét xem thời, phương tiện, 

Nếu không hợp thời, không phương tiện, 

Như thế là thất, không có lợi.

Như trâu chưa sanh con không sữa 

Vì sữa không thể có phi thời, 

Nếu trâu đã sanh, tìm nơi sừng 

Sữa không thể có, ấy kẻ ngu.

Như dùi cây ướt mong ra lửa 

Vì lửa không thể có phi thời, 

Nếu chẻ cây khô để tìm lửa 

Lửa không thể có, ấy kẻ ngu.

Người biết tu phải nắm vững thời và phương tiện, nếu đúng thời, hợp phương tiện thì việc làm có kết quả. Nếu hợp thời mà không phương tiện cũng không có kết quả. Đây dùng những ví dụ như trâu chưa sanh con mà mong có sữa. Trâu hay bò chưa sanh con làm sao vắt ra sữa, vì sữa không thể có phi thời. Bò đã sanh con thì đương nhiên có sữa, không vắt sữa ở vú của nó mà vắt ở trên sừng thì cũng không có sữa, đó là hiện tượng của người ngu. Đây là ví dụ thứ nhất.

Ví dụ thứ hai, như dùi cây ướt mong ra lửa không bao giờ có, chẻ cây khô để tìm lửa, lửa cũng không thể có vì không đúng phương tiện. Việc làm vừa phi thời vừa không biết phương tiện thì không bao giờ thành tựu. Trước dùng ví dụ rồi sau hợp pháp.

Phải chỗ, biết thời, lượng sức mình, 

Quán tâm phương tiện sức nhiều ít, 

Đáng nên tinh tấn và không nên, 

Tướng đạo hợp thời và không hợp.

Người tu phải biết quán tâm, tùy theo phương tiện cần nhiều thì nhiều, cần ít thì ít, biết khi nào nên tinh tấn, khi nào không nên. Vì tướng đạo hợp thời mới có, không hợp thời thì không có. Kinh nói, một thầy Tỳ-kheo tinh tấn tu đến bỏ ăn bỏ ngủ mà không đạt đạo. Thầy chán nản muốn thối tâm, đến bạch Phật, Phật dùng ví dụ lên dây đàn. Nếu dây chùng quá thì đàn không có tiếng, dây căng quá thì tiếng nghe không hay. Muốn tiếng đàn được vi diệu phải điều hòa, đừng quá căng đừng quá chùng.

Chúng ta tu nên tránh hai bệnh này, khi thì thả trôi làm biếng, khi thì hăng hái tu quên ăn quên ngủ. Nên giữ mức vừa chừng, biết đúng thời đúng lúc, khi nào cần mình phải ráng. Như đến giờ ngồi tu mà cứ gục lên gục xuống thì lúc đó làm sao, nên tinh tấn hay nên bỏ cuộc? Nên tinh tấn, lấy hết sức phấn chấn để vượt qua. Nếu khi ngồi kìm quá nhức đầu khó chịu, lúc này mới nhẹ nhàng thư giãn, buông tâm nghỉ ngơi. Nhức đầu mà cứ ráng riết rồi đứt gân máu thì nguy. Đó là tu biết đúng thời đúng lúc.

Nếu tâm diêu động không dụng quá, 

Dụng quá tất nhiên không thể định, 

Ví như củi nhiều lửa cháy mạnh 

Gió to thổi đến không thể diệt.

Khi tâm chúng ta dao động, lăng xăng lộn xộn thì đừng quá dụng công kìm giữ, lúc đó không thể được định; phải nhè nhẹ, vừa chừng để tâm lắng xuống. Ví dụ như củi nhiều, lửa cháy mạnh, lại thêm gió thổi mạnh vô nữa thì sao? Nó cháy rần rần, không thể chữa trị được. Vì vậy, Phật tử tu thiền, vào buổi chiều mới gặp chuyện bất bình tranh cãi với nhau, đến tối ngồi thiền lại nhớ chuyện hơn thua, lúc đó tâm rất lăng xăng lộn xộn. Ngồi như vậy, dụng công thật nhiều thì đó là bệnh. Nhớ lời dạy ở đây, lửa cháy củi nhiều, thêm gió mạnh nữa thì không tốt. Chúng ta tu đúng đường hướng Phật dạy, không nên đi quá đà.

Nếu khéo dùng định tự điều tâm 

Như thế động hết tâm được định, 

Ví như lửa mạnh gặp gió lớn, 

Mưa to tưới xuống ắt phải tắt.

Trên đây nói dụng quá tất nhiên không thể định, như khi tâm đang dao động mà dùng quán tưởng, quán tưởng quá thì sanh ra bệnh. Khi đó phải dùng phương tiện định, vì đã loạn rồi mà quán nữa thì khó, cho nên phải định, định tức là chỉ, dừng lại một nơi. Đầu đang rối quá phải định tâm dưới đan điền, đừng cho nghĩ nhiều, như vậy mới yên. Đây dùng ví dụ lửa mạnh gặp gió lớn, có mưa to tưới xuống mới tắt lửa.

Nếu người tâm yếu và lười biếng, 

Như thế, chán bỏ không thể hành,

Ví như củi ít, chỉ đóm lửa

Không gặp gió thổi liền tiêu diệt.

Nếu người nào tâm đã yếu lại thêm bệnh lười biếng, lúc đó chán nản hết muốn tu. Ví như củi ít, chỉ có một đóm lửa, không gặp gió thổi giúp liền tiêu diệt.

Nếu người tinh tấn tâm mạnh mẽ,

Như thế càng mạnh, chóng được đạo, 

Ví như lửa ít, rất nhiều củi 

Gặp gió thổi đến càng cháy mạnh.

Nếu khi tu mà thấy tâm mình yếu đuối, thấy mình hơi lười nhác, muốn nằm ngủ cho ngon, không muốn gì nữa, lúc đó phải dụng tâm thế nào? Tức là phải tinh tấn mạnh mẽ lên. Tôi thường nói, chúng ta dùng cây roi tinh tấn đuổi con quỷ giải đãi. Nếu mạnh mẽ thì chóng được đạo. Đây ví như lửa ít, rất nhiều củi, gió đến càng cháy mạnh, vì gió giúp lửa bắt sang các cây khác cháy to lên. Đây chỉ dạy cách dụng công tu tùy theo trường hợp. Nếu bệnh tâm dao động nhiều, khi ngồi thiền phải chú tâm dùng định để lắng, không dùng quán, quán nhiều thì thêm bệnh. Nếu bệnh tâm giải đãi lười biếng, ngồi thiền phải vận dụng sức tinh tấn cho mạnh để vượt qua nó. Hướng dẫn kỹ để chúng ta không bị chướng ngại trong lúc tu.

Nếu hành phóng xả, Chỉ điều phục 

Mà lại bỏ bê mất pháp lợi,

Ví như người bệnh nên nuôi dưỡng 

Mà lại bỏ đi không thể sống.

Người hành phóng xả tức là tu buông bỏ, dừng tâm, thu nhiếp tâm. Nếu tu phóng xả là buông bỏ việc thế gian, chỉ chuyên quay về với chính mình điều phục mình thì tốt, hợp đạo. Nếu nói phóng xả rồi lại quên hết kinh điển, quên hết lời Phật dạy, đó là mất pháp lợi. Ví như người bệnh cần được nuôi dưỡng mà lại bỏ bê không chăm sóc nên không thể sống. Bệnh lẽ ra cần thuốc, cần nuôi dưỡng kỹ, bây giờ không thuốc, không nuôi dưỡng thì người bệnh phải chết. Nói tu phóng xả rồi không còn gì, bỏ việc thế tục mà cũng bỏ luôn đạo đức, bỏ Phật pháp, như vậy là bệnh mà không được nuôi. Có biết Phật pháp mới có nuôi dưỡng được.

Nếu có tưởng xả, tâm chân chánh, 

Hợp thời, siêng hành mau đắc đạo, 

Ví như người nài cưỡi mình voi 

Tùy ý sai sử không trở ngại.

Nếu tu phóng xả tất cả mà tâm chân chánh, hợp thời, siêng thực hành công phu thì sớm đắc đạo. Tuy tâm buông bỏ tất cả nhưng còn có tâm biết đạo, thấy đạo, chỉ xả vọng tưởng, xả buồn thương giận ghét thế gian, tâm đạo không lùi, không quên, như thế cố gắng thực hành sẽ đắc đạo. Tu buông xả bị thất bại là do xả mà không thấy đạo, không nhận ra pháp tu của mình, để tâm trống không như ngu si, lâu ngày thành bệnh. Còn tu xả, bỏ tâm lăng xăng để được thể thanh tịnh lặng lẽ, đó là hợp đạo lý. Ví dụ như người nài cưỡi trên mình voi, tùy ý sai sử không trở ngại.

Chúng ta đã học qua mấy thứ bệnh. Thứ nhất là bệnh dao động, thứ hai là bệnh giải đãi, thứ ba là bệnh buông hết, bỏ hết. Đến bệnh thứ tư.

Nếu người nhiều dâm tâm rối loạn, 

Khi ấy không nên hành pháp Từ, 

Nhiều dâm hành Từ thêm mê muội, 

Như người bệnh lạnh uống thuốc mát.

Người dâm dục nhiều quán bất tịnh, 

Chuyên quán bất tịnh tâm được định, 

Hành pháp như thế mới thích hợp, 

Như người bệnh lạnh uống thuốc nóng.

Nếu người tu tại gia hoặc xuất gia mà nặng về dâm dục, tâm cứ rối loạn nghĩ tưởng đến dâm dục, không nên hành pháp quán từ bi. Bệnh nặng về ái mà quán từ bi thì thương lại thêm thương, tâm không tỉnh sáng, thêm mê muội. Giống như người bệnh lạnh lại uống thuốc mát, bệnh tăng chứ không giảm. Quán từ bi là phương pháp tốt, nhưng với người nặng về bệnh ái dục thì không nên quán.

Đúng bệnh nào uống thuốc ấy, dùng sai thì càng thêm bệnh. Chỗ này Phật tử nhiều khi bị lầm. Tâm mình thường ái nhiễm mà lại quán từ bi mãi rồi không ra khỏi vòng lẩn quẩn. Ái nhiễm nặng thì phải quán bất tịnh. Quán tâm mình đầy chất nhơ bẩn đáng chán, thân mình hôi dơ thân người hôi dơ, lâu ngày không khởi niệm ái dục. Đó là bị bệnh lạnh thì phải uống thuốc nóng trị nó mới lành.

Nếu nóng giận nhiều tâm rối loạn, 

Khi ấy không nên quán bất tịnh, 

Người sân quán thế, thêm tức giận, 

Như người bệnh nóng uống thuốc nóng.

Người nhiều nóng giận hành Từ tâm, 

Hành Từ chẳng bỏ, sân tâm diệt, 

Hành pháp như thế mới tương ưng, 

Như người bệnh nóng uống thuốc mát.

Bệnh thứ năm, người nhiều sân hay nóng giận. Người này không nên quán bất tịnh, vì đang giận ghét người, quán bất tịnh thì quá khô khan, thấy ai mình cũng ghê gớm, thành ra càng ghét người ta nhiều. Càng quán bất tịnh càng thêm giận tức, như người bệnh nóng lại uống thuốc nóng.

Ở trên đối trị bệnh tham dục Phật dạy quán bất tịnh, đến đây thì quán bất tịnh không phải là thuốc trị bệnh sân. Người nóng giận nhiều thì phải quán từ bi mới trừ được bệnh sân. Cho nên nói: hành Từ chẳng bỏ, sân tâm diệt, hành pháp như thế mới tương ưng, như người bệnh nóng uống thuốc mát. Mình nóng thì phải uống thuốc mát trị, nóng mà uống thuốc nóng nữa không được. Quán bất tịnh là một thứ thuốc nóng, không phải thuốc lạnh, thuốc mát. Chúng ta phải khéo nhận định thật kỹ, biết bệnh mình và biết thuốc trị, chớ dùng lầm.

Nếu nhiều mê muội tâm mờ mịt, 

Không nên hành Từ và Bất tịnh, 

Hai pháp tăng si không lợi ích, 

Như người bệnh cảm uống thuốc bổ.

Người tâm mê muội quán Nhân duyên, 

Phân biệt quán kỹ, si tâm diệt, 

Hành pháp như thế mới thích hợp, 

Như người bệnh cảm uống thuốc cảm.

Như người bệnh cảm mà uống thuốc bổ, đây là bệnh si mê. Người nào nhiều si mê thì không được hành hai pháp quán từ bi và bất tịnh. Tại sao? Nếu hành pháp quán từ bi và bất tịnh thì thêm tăng trưởng si mê, không có lợi ích. Dùng trí tuệ quán xét thấy rõ các pháp do nhân duyên hợp, các pháp rõ ràng không tự sanh, không có thật thể, chỉ mượn duyên hợp mà có. Phân tích như vậy là trí tuệ, trí tuệ mới trừ si mê, còn từ bi và bất tịnh không trừ si mê được, cho nên đây nói như người bệnh cảm mà uống thuốc bổ. Tuy từ bi là tốt, nhưng bệnh cảm cho uống thuốc bổ bệnh nặng thêm. Người si mê áp dụng lối tu trí tuệ mới có kết quả, như bệnh cảm phải uống thuốc cảm mới thích hợp.

Ví như thợ bạc thổi lò lửa, 

Dụng công phi thời, thổi sai pháp, 

Lăng xăng gấp thổi không biết thời, 

Hoặc khi nhúng nước, hoặc lấy ra.

Vàng chảy thổi nhiều ắt chảy tiêu, 

Chưa chảy bèn dừng thì không chảy, 

Nhúng nước phi thời vàng vẫn sống, 

Phi thời dừng nghỉ vàng không chín.

Đoạn này kết luận chung tất cả pháp tu, phải biết ứng dụng đúng thời đúng phương tiện. Ví dụ chỗ khéo léo như thợ luyện vàng. Nấu vàng phải biết đúng thời lấy ra, lấy sớm hay trễ đều hư hỏng. Thổi lửa cũng phải biết khi nào cần nhiều lửa, khi nào cần ngưng, như vậy không phí công lực mà vàng được thành. Người tu tế nhị xem xét tâm mình, khi nào cần gấp tinh tấn, khi nào cần nghỉ ngơi. Mình bệnh gì nhiều, cần uống thuốc gì, dùng cho trúng thuốc. Uống thuốc đúng bệnh thì kết quả trăm phần trăm, uống thuốc sai bệnh thì tai họa.

Nhiều người nói tu thiền lâu ngày phát khùng, vì không biết đúng thời đúng thuốc. Ví dụ người nhiều sân mà dạy quán bất tịnh, quán riết họ quạu tức lên, thấy như điên như khùng. Với người ái nhiều lại dạy họ quán từ bi, quán riết thấy ai cũng thương, thương hoài ra không nổi, như vậy có phải tự giết họ không? Đó là kết quả nguy hiểm. Mình tu và dạy người khác tu phải xem xét cẩn thận chỗ này. Pháp của Phật là đối bệnh cho thuốc, bệnh nào thì có thuốc ấy. Mỗi người tu là ông thầy thuốc, phải biết người bệnh gì, áp dụng pháp tu nào để trị, không phải ai cũng như ai, chỉ có một thứ thuốc. Đôi khi chúng ta không nắm vững, người bệnh này chỉ thuốc khác, rốt cuộc không kết quả gì hết, lại sanh bệnh thêm, rồi nói tại tu sanh bệnh. Đó là cái lầm của người hướng dẫn. Vì vậy tất cả chúng ta phải hiểu, tự mình tu thì cũng biết cho rõ, dạy người tu cũng phải biết bệnh biết thuốc thật vững, không nên xem thường.

Tinh tấn nhiếp tâm và phóng xả, 

Phải nên xem xét pháp hành đạo, 

Phi thời, phương tiện mất pháp lợi, 

Nếu không pháp lợi thì không lợi.

Ví như thầy thuốc ba thứ bệnh: 

Lạnh, nóng, phong phải nên trừ diệt, 

Hợp bệnh cho thuốc là pháp Phật, 

Bệnh tham, sân, si tùy thuốc diệt.

Pháp hành đạo chỉ trong hai việc, tinh tấn và phóng xả, nên xem xét và uyển chuyển, lúc nào cũng giữ mực vừa chừng là tốt nhất. Tinh tấn quá mức hay buông lung vô độ đều không tốt, đều mất lợi lành.

Quyển Tọa Thiền Tam-muội này là pháp căn bản chỉ dạy chúng ta biết rõ đường lối Phật tổ dạy khi tu thiền. Trước tiên là quán sát tâm mình, sau là nắm vững pháp môn đối trị, cách thực hành từ thấp đến cao, dần dần được nhất tâm, được Tam-muội. Cần yếu biết mình bệnh gì, tham nhiều hay sân nhiều. Ba bệnh tham sân si nặng nhất của chúng sanh, ngăn trở con đường tu tiến, nếu áp dụng đúng pháp dạy trong đây sẽ được tiêu diệt. Khi hết bệnh phát tâm nguyện từ bi lớn, độ tất cả mọi người là đúng con đường Bồ-tát đang đi./.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.