Trung Luận giảng giải

Phẩm 20: Quán Nhân Quả



Chánh văn: 

Hỏi: Các nhân duyên hòa hợp hiện có quả sanh thì nên biết quả ấy từ các duyên hòa hợp mà có. 

Đáp:

Nếu các duyên hòa hợp, 

Mà có quả sanh ra, 

Trong hòa hợp đã có, 

Đâu cần hòa hợp sanh. 

Nếu bảo các nhân duyên hòa hợp có quả sanh thì quả ấy ắt trong hòa hợp đã có mà từ hòa hợp sanh thì việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Quả nếu trước có cái thể quyết định thì không nên từ hòa hợp sanh. 

Hỏi: Trong các duyên hòa hợp tuy không quả mà quả từ các duyên sanh thì có lỗi gì? 

Đáp:

Nếu các duyên hòa hợp, 

Trong ấy không có quả, 

Làm sao từ các duyên 

Hòa hợp mà sanh quả? 

Nếu từ các duyên hòa hợp ắt quả sanh, nếu trong hòa hợp không quả mà từ hòa hợp sanh, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu vật không tự tánh, vật ấy trọn không sanh. 

Lại nữa: 

Nếu các duyên hòa hợp,

Trong ấy có quả thì 

Trong hòa hợp nên có, 

Mà thật không thể được. 

Nếu từ trong các duyên hòa hợp có quả, nếu là sắc thì nên có thể mắt thấy, nếu không phải sắc thì nên có thể ý biết. Mà thật trong hòa hợp quả không thể được, thế nên trong hòa hợp có quả, việc ấy không đúng. 

Lại nữa: 

Nếu các duyên hòa hợp, 

Trong ấy không có quả, 

Thế thì trong các duyên, 

Cùng phi nhân duyên đồng, 

Nếu trong các duyên hòa hợp không có quả thì các nhân duyên tức đồng với phi nhân duyên. Như sữa là nhân duyên của lạc, nếu trong sữa không có lạc thì trong nước cũng không có lạc. Nếu trong sữa không có lạc thì cùng với nước đồng, không nên nói chỉ từ sữa ra. Thế nên trong các duyên hòa hợp không có quả, việc ấy không đúng

Hỏi: Nhân vì quả làm nhân rồi diệt mà có nhân quả sanh, không có lỗi như thế. 

Đáp:

Nếu nhân cùng quả nhân, 

Làm nhân rồi mà diệt, 

Nhân ấy có hai thể, 

Một cùng, một thì diệt. 

Nếu nhân cùng quả làm nhân rồi mà diệt thì nhân ấy ắt có hai thể: một gọi là cùng nhân, hai gọi là diệt nhân. Việc ấy không đúng, vì một pháp có hai thể. Thế nên nhân cùng quả làm nhân rồi mà diệt, việc ấy không đúng. 

Hỏi: Nếu bảo nhân chẳng cùng quả làm nhân rồi mà diệt cũng có quả sanh thì có lỗi gì? 

Đáp:

Nếu nhân chẳng cùng quả, 

Làm nhân rồi mà diệt, 

Nhân diệt mà quả sanh, 

Quả ấy ắt không nhân. 

Nếu nhân ấy chẳng cùng quả làm nhân rồi mà diệt thì nhân diệt rồi mà quả sanh, quả ấy ắt không nhân, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Hiện thấy tất cả quả không có không nhân. Thế nên ông nói nhân chẳng cùng quả làm nhân rồi mà diệt cũng có quả sanh thì việc ấy không đúng. 

Hỏi: Khi các duyên hợp mà có quả sanh thì có lỗi gì?

Đáp:

Nếu khi các duyên hợp,

Mà có quả sanh ra, 

Cái sanh và bị sanh, 

Ắt là đồng một thời.

Nếu khi các duyên hợp có quả sanh thì sanh và bị sanh tức là đồng một lúc, nhưng việc ấy không phải. Vì cớ sao? Như cha và con không được đồng thời sanh. Thế nên ông nói khi các duyên hợp có quả sanh, việc ấy không đúng. 

Hỏi: Nếu trước có quả sanh rồi sau các duyên hợp thì có lỗi gì? 

Đáp:

Nếu trước có quả sanh, 

Rồi sau các duyên hợp, 

Đây tức lìa nhân duyên, 

Gọi là không nhân quả. 

Nếu các duyên chưa hợp mà trước quả sanh, việc ấy không đúng. Vì quả ấy lìa nhân duyên ắt gọi là không nhân quả. Thế nên ông nói khi các duyên chưa hợp mà trước có quả sanh, việc ấy ắt không đúng

Hỏi: Nhân diệt biến làm quả thì có lỗi gì?

Đáp:

Nếu nhân biến làm quả,

Nhân tức đến nơi quả, 

Ấy ắt nhân sanh trước, 

Sanh rồi mà lại sanh.

Nhân có hai thứ: một là tiền sanh, hai là cộng sanh. Nếu nhân diệt biến làm quả, quả là nhân tiền sanh nên trở lại sanh, nhưng việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Đã sanh vật chẳng nên lại sanh. Nếu bảo nhân ấy tức biến làm quả, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Nếu tức là chẳng gọi là biến. Nếu biến chẳng gọi tức là.

Hỏi: Nhân chẳng dứt hết, chỉ là danh tự diệt mà thể của nhân đổi làm quả. Như hòn đất biến làm bình, mất tên hòn đất mà sanh tên bình. 

Đáp: Hòn đất trước diệt mà có bình sanh thì chẳng gọi là biến. Lại thể của hòn đất không riêng sanh ra bình. Chậu, hũ v.v… đều từ trong đất ra. Nếu hòn đất chỉ có tên, không nên biến làm bình, biến tên như sữa biến làm lạc, Thế nên ông nói tên nhân tuy diệt mà biến làm quả, việc ấy không đúng. 

Hỏi: Nhân tuy diệt mất mà hay sanh quả, thế nên có quả thì không có lỗi như thế. 

Đáp:

Tại sao nhân diệt mất, 

Mà hay sanh ra quả? 

Lại nếu nhân trong quả, 

Làm sao nhân sanh quả? 

Nếu nhân diệt mất rồi, làm sao hay sanh quả? Nếu nhân chẳng diệt mà cùng quả hợp thì đâu có thể lại sanh ra quả? 

Hỏi: Nhân ấy khắp có quả rồi quả sanh

Đáp:

Nếu nhân khắp có quả, 

Lại sanh những quả gì? 

Thấy nhân không thấy quả, 

Cả hai đều không sanh. 

Nhân ấy nếu chẳng thấy quả còn không thể sanh ra quả huống nữa là thấy. Nếu nhân tự chẳng thấy quả thì không nên sanh ra quả. Vì cớ sao? Nếu chẳng thấy quả, quả ắt chẳng theo nhân. Lại chưa có quả thì làm sao sanh ra quả? Nếu nhân trước thấy quả, chẳng nên lại sanh quả vì đã có. 

Lại nữa: 

Nếu nói nhân quá khứ, 

Mà ở quả quá khứ, 

Quả vị lai, hiện tại, 

Thế thì trọn không hợp. 

Nếu nói nhân vị lai,

Mà ở quả vị lai, 

Quả hiện tại, quá khứ,

Thế thì trọn không hợp. 

Nếu nói nhân hiện tại, 

Mà ở quả hiện tại, 

Quả vị lai, quá khứ, 

Thế thì trọn không hợp. 

Quả quá khứ chẳng cùng nhân quá khứ, vị lai, hiện tại hợp. Quả vị lai chẳng cùng nhân vị lai, hiện tại, quá khứ hợp. Quả hiện tại chẳng cùng nhân hiện tại, vị lai, quá khứ hợp. Như thế ba thứ quả trọn chẳng cùng nhân quá khứ, vị lai, hiện tại hợp. 

Lại nữa: 

Nếu chẳng có hòa hợp,

Nhân gì hay sanh quả? 

Nếu có hòa hợp thì 

Nhân gì hay sanh quả? 

Nếu nhân quả chẳng hòa hợp thì không có quả. Nếu không quả thì làm sao nhân hay sanh quả? Nếu bảo nhân quả hòa hợp thì nhân hay sanh quả, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Nếu quả ở trong nhân thì trong nhân đã có quả, làm sao mà lại sanh? 

Lại nữa: 

Nếu nhân không, không quả, 

Nhân gì hay sanh quả? 

Nếu nhân chẳng không quả, 

Nhân gì hay sanh quả? 

Nếu nhân không quả vì không quả nên nhân không, làm sao nhân sanh quả, như người chẳng mang thai làm sao hay sanh con? Nếu nhân trước có quả, vì đã có quả thì không nên lại sanh. 

Lại nữa nay sẽ nói về quả: 

Quả chẳng không chẳng sanh,

Quả chẳng không chẳng diệt, 

Vì do quả chẳng không, 

Chẳng sanh cũng chẳng diệt.

Quả không nên chẳng sanh, 

Quả không nên chẳng diệt, 

Vì do quả là không, 

Chẳng sanh cũng chẳng diệt. 

Quả nếu chẳng không thì chẳng nên sanh, chẳng nên diệt. Vì cớ sao? Quả nếu trong nhân trước quyết định có lại chẳng cần lại sanh. Vì sanh không, nên không diệt. Thế nên vì quả chẳng không, nên chẳng sanh chẳng diệt. Nếu bảo quả không, nên có sanh diệt, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Quả nếu không, không gọi là không có gì, làm sao có sanh diệt? Thế nên nói vì quả không, nên chẳng sanh chẳng diệt. 

Lại nữa, nay dùng một, khác phá nhân quả: 

Nhân quả là một thì

Việc ấy trọn không đúng.

Nhân quả nếu là khác, 

Việc ấy cũng không đúng. 

Nếu nhân quả là một,

Sanh, bị sanh là một.

Nếu nhân quả là khác,

Nhân ắt đồng phi nhân.

Nếu quả định có tánh,

Nhân làm sao được sanh?

Nếu quả định không tánh, 

Nhân làm sao được sanh?

Nhân chẳng sanh ra quả,

Thì không có tướng nhân.

Nếu không có tướng nhân,

Cái gì hay có quả?

Nếu từ các nhân duyên, 

Mà có pháp hòa hợp, 

Hòa hợp tự chẳng sanh, 

Làm sao hay sanh quả? 

Thế nên quả chẳng từ 

Duyên hợp, chẳng hợp sanh. 

Nếu không có quả thì 

Chỗ nào có pháp hợp? 

Pháp các duyên hòa hợp ấy không thể sanh ra tự thể, vì tự thể không thì làm sao hay sanh ra quả? Thế nên quả chẳng từ duyên hợp sanh, cũng chẳng từ chẳng hợp sanh. Nếu không có quả thì chỗ nào có pháp hợp?

 Giảng:

Hầu hết giáo lý căn bản của đạo Phật, dù pháp thế gian hay xuất thế gian cũng đều lấy nhân quả làm gốc. Đối với pháp thế gian, Phật nói tất cả nhân thiện hay ác đều đưa tới quả thiện hay ác. Đối với pháp xuất thế gian như pháp tứ đế, khổ đế là quả, tập đế là nhân, diệt đế là quả, đạo đế là nhân. Vì nhân quả chi phối pháp thế gian và xuất thế gian nên người ta thấy nhân quả là cố định, có nhân nhất định có quả. Nhìn như vậy khó tránh được khuyết điểm vì nhân quả luôn tùy theo duyên mà chuyển, không phải cố định.

Trong kinh Phân Biệt Đại Nghiệp có nói: nếu ai nói “người làm thập ác, đời sau đọa địa ngục” thì Phật không chấp nhận, còn nếu nói “người làm ác sẽ bị quả báo ác” thì Phật chấp nhận; hoặc nói “người tu thập thiện, đời sau sẽ được sanh cõi trời”, Phật không chấp nhận, nếu nói “tu thập thiện đời sau sẽ được quả báo lành” thì Phật chấp nhận. Tại sao? Phật dạy nghiệp có hai thứ: tích lũy nghiệp và cận tử nghiệp. Thí dụ người làm mười điều ác khi chết họ vẫn giữ mười điều ác thì họ có thể đọa địa ngục, nhưng nếu họ chuyển tâm thiện trước khi chết thì quả địa ngục sẽ đổi, cho nên xác định người đó đọa địa ngục là sai. Như vậy cận tử nghiệp chuyển thì quả cũng chuyển. Hoặc người đó làm mười điều ác, gần chết cũng giữ tâm ác, nhưng nghiệp lành quá khứ của họ còn thừa thì họ cũng chưa đọa địa ngục, thế nên nói một chiều nhất định là sai, Còn người làm thập thiện nếu gần chết có những bực bội, sân hận, tâm ác dấy lên, đó là cận tử nghiệp ác làm chuyển quả lành nên không đủ phước sanh cõi lành. Hoặc người làm thập thiện đến chết vẫn giữ niệm lành, nhưng tích lũy nghiệp ác thời quá khứ chưa hết thì chưa được sanh lên cõi trời. Cho nên người theo đạo Phật lúc sắp chết, con cháu được khuyên hãy tỉnh táo, sáng suốt, đừng làm cho buồn giận, nhớ tụng kinh niệm Phật để giữ cận tử nghiệp tốt lành. Các vị lớn tuổi nên nhớ: khi sắp mất nếu con cháu có làm nghịch ý cũng bỏ qua nhớ niệm Phật, chứ lúc đó nổi sân là đi vào đường không tốt liền.

Vậy tích lũy nghiệp của quá khứ quan trọng mà cận tử nghiệp trước khi chết cũng quan trọng, nên nói một cách cố định là không được. Nếu chúng ta khẳng định làm ác phải gặp ác, khi thấy người làm ác không gặp ác liền nói nhân quả sai. Hoặc, người làm lành nhất định sẽ có quả lành, nhưng khi thấy họ không gặp lành liền phàn nàn. Đó là có ý nghi ngờ lý nhân quả.

Tóm lại nhân quả không mất nhưng không phải cố định, quả báo đến vào thời gian gần hay xa tùy theo nghiệp duyên quá khứ và hiện tại. Thế nên người biết tu phải dè dặt, chẳng những cả cuộc đời mình không dám tạo nghiệp xấu mà chính khi gần chết cũng phải ráng giữ, đừng để nghiệp quả không tốt chuyển, Tinh thần Trung quán là thấy nhân quả do duyên hợp không thật, có thể đổi dời tùy hoàn cảnh, tùy duyên. Quán nhân quả để thấy nhân quả không cố định, đó là thấy được lẽ thật của nhân quả. Nói bác nhân quả là nói sai, nhưng phải thấy thật đúng lý nhân quả.

Hỏi: Các nhân duyên hòa hợp hiện có quả sanh thì nên biết quả ấy từ các duyên hòa hợp mà có. 

Đáp:

Nếu các duyên hòa hợp,

Mà có quả sanh ra,

Trong hòa hợp đã có,

Đâu cần hòa hợp sanh,

Nếu bảo các nhân duyên hòa hợp có quả sanh thì quả ấy ắt trong hòa hợp đã có mà từ hòa hợp sanh thì việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Quả nếu trước có cái thể quyết định thì không nên từ hòa hợp sanh. 

Hỏi: Trong các duyên hòa hợp tuy không quả mà quả từ các duyên sanh thì có lỗi gì? Nghĩa là không có quả trước nhưng đợi các duyên hòa hợp mới sanh, như vậy có lỗi gì?

Đáp:

Nếu các duyên hòa hợp, 

Trong ấy không có quả, 

Làm sao từ các duyên 

Hòa hợp mà sanh quả? 

Nếu trong các duyên hòa hợp không có quả tức là không có sự liên hệ, làm sao các duyên hòa hợp sanh quả được?

Nếu từ các duyên hòa hợp ắt quả sanh, nếu trong hòa hợp không quả mà từ hòa hợp sanh, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu vật không tự tánh, vật ấy trọn không sanh. Không tự tánh tức là không có tánh sẵn. Đây nói hai trường hợp: Nếu trong các duyên hòa hợp mà quả đã có, đã có thì nói gì sanh? Nếu không có quả tức là không có liên hệ, làm sao mà sanh được? Vậy duyên và quả có liên hệ với nhau từ thủy chí chung rồi mới kết thành quả, chứ không phải có trước, cũng không phải bỗng dưng hợp lại có liền. Đó là giải thích về nghĩa Không, không tự tánh, không tự tánh thì không sanh.

Lại nữa: 

Nếu các duyên hòa hợp,

Trong ấy có quả thì 

Trong hòa hợp nên có, 

Mà thật không thể được. 

Nếu trong các duyên hòa hợp có quả thì phải có ngầm cái mầm trong đó, mà thật không thể được. Tại sao?

Nếu từ trong các duyên hòa hợp có quả, nếu là sắc thì nên có thể mắt thấy, nếu không phải sắc thì nên có thể ý biết. Thí dụ như hoa quýt, hoa xoài khi nở ra, rụng hết cánh mới thành trái. Lúc hoa nở chúng ta thấy được cái nụ nhỏ xíu, đó là thuộc về sắc. Như người tạo nhân ác chúng ta biết họ sẽ gặt quả ác, đó là ý biết.

Mà thật trong hòa hợp quả không thể được, tức là không thể biết được và không thể thấy được. Thế nên trong hòa hợp có quả, việc ấy không đúng. 

Lại nữa: 

Nếu các duyên hòa hợp, 

Trong ấy không có quả,

Thế thì trong các duyên, 

Cùng phi nhân duyên đồng. 

Nếu trong các duyên hòa hợp không có quả thì các nhân duyên tức đồng với phi nhân duyên. Như sữa là nhân duyên của lạc, nếu trong sữa không có lạc thì trong nước cũng không có lạc. Nếu trong sữa không có lạc thì cùng với nước đồng, không nên nói chỉ từ sữa ra. Thế nên trong các duyên hòa hợp không có quả, việc ấy không đúng. Nước không khuấy ra lạc, chỉ sữa mới khuấy ra lạc. Nếu trong các duyên hòa hợp không có quả thì nước và sữa giống nhau cùng không cho ra lạc. Nhưng thật sự sữa làm thành lạc còn nước không làm ra lạc thì không thể nói trong nhân không có quả.

Hỏi: Nhân vì quả làm nhân rồi diệt mà có nhân quả sanh, không có lỗi như thế. Nhân làm nhân cho quả thành rồi nhân diệt, như vậy có nhân quả sanh thì không có lỗi.

Đáp:

Nếu nhân cùng quả nhân, 

Làm nhân rồi mà diệt, 

Nhân ấy có hai thể, 

Một cùng, một thì diệt. 

Nếu nói nhân làm nhân cho quả rồi diệt thì không bị lỗi trong nhân có quả hoặc trong nhân không quả. Nhưng nói như vậy thì nhân có hai thể, một làm nhân cho quả rồi diệt, một cùng với quả để tồn tại.

Nếu nhân cùng quả làm nhân rồi mà diệt thì nhân ấy ắt có hai thể: một gọi là cùng nhân, hai gọi là diệt nhân. Việc ấy không đúng, vì một pháp có hai thể. Thế nên nhân cùng quả làm nhân rồi mà diệt, việc ấy không đúng. 

Hỏi: Nếu bảo nhân chẳng cùng quả làm nhân rồi mà diệt cũng có quả sanh thì có lỗi gì? 

Đáp:

Nếu nhân chẳng cùng quả, 

Làm nhân rồi mà diệt, 

Nhân diệt mà quả sanh, 

Quả ấy ắt không nhân. 

Nhân diệt rồi quả mới sanh thì quả ấy không nhân. Như ươm hạt mít lên cây mít, cây mít là quả, hạt mít là nhân. Khi cây mít mới lên thì hạt mít vẫn còn tồn tại, đó là nhân cùng với quả. Vì còn cùng với quả, còn có liên hệ mới nói cái này là quả, cái kia là nhân, nếu nhân diệt rồi mới có quả thì quả không nhân.

Nếu nhân ấy chẳng cùng quả làm nhân rồi mà diệt thì nhân diệt rồi mà quả sanh, quả ấy ắt không nhân, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Hiện thấy tất cả quả không có không nhân. Thế nên ông nói nhân chẳng cùng quả làm nhân rồi mà diệt cũng có quả sanh thì việc ấy không đúng. 

Hỏi: Khi các duyên hợp mà có quả sanh thì có lỗi gì?

Đáp:

Nếu khi các duyên hợp, 

Mà có quả sanh ra, 

Cái sanh và bị sanh, 

Ắt là đồng một thời, 

Nếu khi các duyên hợp có quả sanh thì sanh và bị sanh tức là đồng một lúc, nhưng việc ấy không phải. Vì cớ sao? Như cha và con không được đồng thời sanh. Cha và con không thể sanh một lượt nên nói nhân và quả đồng thời không được, phải nhân trước quả sau.

Thế nên ông nói khi các duyên hợp có quả sanh, việc ấy không đúng. Chúng ta hay hiểu là các duyên hòa hợp rồi mới sanh, các duyên là nhân, sanh là sanh quả.

Nếu duyên và quả hay nhân và quả có một lượt tức là đồng sanh thì không còn nhân quả nữa, việc ấy không đúng.

Hỏi: Nếu trước có quả sanh rồi sau các duyên hợp thì có lỗi gì? Câu hỏi này vô lý, trước có quả rồi sau các duyên hòa hợp thì thừa rồi.

Đáp:

Nếu trước có quả sanh, 

Rồi sau các duyên hợp, 

Đây tức lìa nhân duyên, 

Gọi là không nhân quả. 

Nếu các duyên chưa hợp mà trước có quả sanh, việc ấy không đúng. Vì quả ấy lìa nhân duyên ắt gọi là không nhân quả. Thế nên ông nói khi các duyên chưa hợp mà trước có quả sanh, việc ấy ắt không đúng. 

Hỏi: Nhân diệt biến làm quả thì có lỗi gì? Nghĩa là nhân mất rồi biến ra quả thì có lỗi gì?

Đáp:

Nếu nhân biến làm quả, 

Nhân tức đến nơi quả, 

Ấy ắt nhân sanh trước, 

Sanh rồi mà lại sanh. 

Nhân có hai thứ: một là tiền sanh, hai là cộng sanh. Nếu nhân diệt biến làm quả, quả là nhân tiền sanh nên trở lại sanh, nhưng việc ấy không đúng. Nhân diệt rồi biến làm quả thì nhân đã mất rồi mới thành quả, quả là nhân tiền sanh thì sanh rồi lại sanh nữa. Cho nên diệt rồi mà lại sanh, việc ấy không đúng.

Vì cớ sao? Đã sanh vật chẳng nên lại sanh. Nếu bảo nhân ấy tức biến làm quả, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Nếu tức là chẳng gọi là biến. Nếu biến chẳng gọi tức là. Tức là nghĩa là thẳng ngay nơi đó, không phải là đổi.

Hỏi: Nhân chẳng dứt hết, chỉ là danh tự diệt mà thể của nhân đổi làm quả. Như hòn đất biến làm bình, mất tên hòn đất mà sanh tên bình. Tên thì đổi còn thể chuyển thành quả, chỉ mất tên chứ không mất thể.

Đáp: Hòn đất trước diệt mà có bình sanh thì chẳng gọi là biến. Lại thể của hòn đất không riêng sanh ra bình. Chậu, hũ v.v… đều từ trong đất ra. Đất có thể làm thành chậu, hũ v.v.., không cố định thành bình. Như vậy nói biến thành bình là không hợp lý.

Nếu hòn đất chỉ có tên, không nên biến làm bình, biến tên như sữa biến làm lạc. Thế nên ông nói tên nhân tuy diệt mà biến làm quả, việc ấy không đúng. Đổi tên như đổi tên sữa thành lạc thì được. Còn tên đất đổi thành tên bình thì không cố định vì đất có thể thành những vật khác, chứ không nhất định sẽ thành bình.

Hỏi: Nhân tuy diệt mất mà hay sanh quả, thế nên có quả thì không có lỗi như thế. Nhân diệt mất rồi có quả sau thì không có lỗi như trước.

Đáp:

Tại sao nhân diệt mất, 

Mà hay sanh ra quả? 

Lại nếu nhân trong quả, 

Làm sao nhân sanh quả? 

Nhân diệt mất sanh quả không được, còn ở trong quả sanh quả cũng không được.

Nếu nhân diệt mất rồi, làm sao hay sanh quả? Nếu nhân chẳng diệt mà cùng quả hợp thì đâu có thể lại sanh ra quả? 

Hỏi: Nhân ấy khắp có quả rồi quả sanh. 

Nhân trùm khắp quả nên có quả sanh.

Đáp:

Nếu nhân khắp có quả, 

Lại sanh những quả gì? 

Thấy nhân không thấy quả, 

Cả hai đều không sanh. 

Nếu nhân trùm khắp quả thì thấy là thấy nhân, chứ không thấy quả, làm sao nói nhân sanh ra quả được?

Nhân ấy nếu chẳng thấy quả còn không thể sanh ra quả huống nữa là thấy. Thí dụ hạt mít là nhân của cây mít, khi mới ươm hạt mít thì chưa thấy quả, đủ duyên quả từ từ sanh. Trong khi có quả rồi mà nhân trùm hết không thấy quả, nói quả sanh còn không được huống là thấy.

Nếu nhân tự chẳng thấy quả thì không nên sanh ra quả. Tức là trong nhân không thấy có mầm của quả thì cũng không sanh ra quả được.

Vì cớ sao? Nếu chẳng thấy quả, quả ắt chẳng theo nhân. Lại chưa có quả thì làm sao sanh ra quả? Nếu nhân trước thấy quả, chẳng nên lại sanh quả vì đã có. Đã có làm sao nói sanh?

Lại nữa: 

Nếu nói nhân quá khứ, 

Mà ở quả quá khứ, 

Quả vị lai, hiện tại, 

Thế thì trọn không hợp. 

Đây là đứng về thời gian. Nhân quá khứ có quả quá khứ, nhân quả quá khứ đã thành thì không làm nhân cho quả vị lai và quả hiện tại được. Thế nên nói nhân quả quá khứ không thể hợp với nhân quả của hiện tại và vị lai.

Nếu nói nhân vị lai,

Mà ở quả vị lại, 

Quả hiện tại, quá khứ,

Thế thì trọn không hợp.

Nếu nói nhận hiện tại, 

Mà ở quả hiện tại, 

Quả vị lai, quá khứ, 

Thế thì trọn không hợp. 

Những câu này cũng giống như đoạn trước.

Quả quá khứ chẳng cùng nhân quá khứ, vị lai, hiện tại hợp. Hợp là nhân quá khứ hợp với quả quá khứ, chứ quả quá khứ đã thành thì không hợp với nhân quá khứ, cũng không hợp với nhân vị lai và hiện tại được vì ba thời khác nhau.

Quả vị lai chẳng cùng nhân vị lai, hiện tại, quá khứ hợp. Quả hiện tại chẳng cùng nhân hiện tại, vị lai, quá khứ hợp. Như thế ba thứ quả trọn chẳng cùng nhân quá khứ, vị lai, hiện tại hợp. Quá khứ, hiện tại, vị lai ba thời khác nhau thì quả của thời quá khứ không thể hợp với nhân của thời hiện tại hay thời vị lai vì ba thời riêng biệt, không có liên hệ nên không thể hợp.

Lại nữa: 

Nếu chẳng có hòa hợp, 

Nhân gì hay sanh quả?

Nếu có hòa hợp thì 

Nhân gì hay sanh quả? 

Không hòa hợp thì không sanh quả, việc đó dễ hiểu, còn có hòa hợp thì sao lại không sanh quả?

Đây giải thích: Nếu nhân quả chẳng hòa hợp thì không có quả. Nếu không quả thì làm sao nhân hay sanh quả? Nếu bảo nhân quả hòa hợp thì nhân hay sanh quả, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Nếu quả ở trong nhân thì trong nhân đã có quả, làm sao mà lại sanh? 

Lại nữa: 

Nếu nhân không, không quả, 

Nhân gì hay sanh quả? 

Nếu nhân chẳng không quả, 

Nhân gì hay sanh quả? 

Chẳng không quả tức là có quả. 

Nếu nhân không quả vì không quả nên nhân không, làm sao nhân sanh quả, như người chẳng mang thai làm sao hay sanh con? Nếu nhân trước có quả, vì đã có quả thì không nên lại sanh. 

Lại nữa nay sẽ nói về quả: 

Quả chẳng không chẳng sanh,

Quả chẳng không chẳng diệt,

Vì do quả chẳng không, 

Chẳng sanh cũng chẳng diệt.

Quả không nên chẳng sanh,

Quả không nên chẳng diệt, 

Vì do quả là không, 

Chẳng sanh cũng chẳng diệt

Quả có thì chẳng sanh chẳng diệt. Quả không cũng chẳng sanh chẳng diệt.

Quả nếu chẳng không thì chẳng nên sanh, chẳng nên diệt. Vì cớ sao? Quả nếu trong nhân trước quyết định có lại chẳng cần lại sanh. Vì sanh không, nên không diệt. Thế nên vì quả chẳng không, nên chẳng sanh chẳng diệt. Nếu bảo quả không, nên có sanh diệt, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Quả nếu không, không gọi là không có gì, làm sao có sanh diệt? Thế nên nói vì quả không, nên chẳng sanh chẳng diệt. 

Lại nữa, nay dùng một, khác phá nhân quả: 

Nhân quả là một thì 

Việc ấy trọn không đúng. 

Nhân quả nếu là khác, 

Việc ấy cũng không đúng. 

Nếu nhân quả là một, 

Sanh, bị sanh là một. 

Nếu nhân quả là khác, 

Nhân ắt đồng phi nhân. 

Bốn câu trước đề ra, bốn câu sau giải thích. Nếu nhân quả là một thì hay sanh và bị sanh là một, vậy đâu thành nhân quả. Nếu nhân quả là khác tức không liên hệ nhau thì giống như phi nhân.

Nếu quả định có tánh,

Nhân làm sao được sanh?

Nếu quả định không tánh, 

Nhân làm sao được sanh? 

Nếu quả nhất định có tánh cố định thì nhân không thể sanh quả. Nếu không tánh tức là không thì không sanh được.

Nhân chẳng sanh ra quả, 

Thì không có tướng nhân. 

Nếu nhân không sanh được quả thì không gọi là nhân

Nếu không có tướng nhân, 

Cái gì hay có quả? 

Nhân đã không có thì làm gì có quả?

Nếu từ các nhân duyên, 

Mà có pháp hòa hợp, 

Hòa hợp tự chẳng sanh,

Làm sao hay sanh quả? 

Hòa hợp không tự có, phải đợi các duyên mới có nên không thể sanh được quả.

Thế nên quả chẳng từ 

Duyên hợp, chẳng hợp sanh. 

Nếu không có quả thì 

Chỗ nào có pháp hợp? 

Pháp các duyên hòa hợp ấy không thể sanh ra tự thể, vì tự thể không thì làm sao hay sanh ra quả? Thế nên quả chẳng từ duyên hợp sanh, cũng chẳng từ chẳng hợp sanh. Nếu không có quả thì chỗ nào có pháp hợp? 

Đây phá nhân quả, không phải phá lý nhân quả mà phá chấp nhân quả để cho thấy nhân quả không cố định nên không thật, không thật chứ không phải không có. Như đã nói làm mười điều lành lẽ ra sanh cõi trời, làm mười điều ác lẽ ra đọa địa ngục, nhưng quyết định có quả liền thì không được. Nhân quả không cố định mà chúng ta chấp là cố định, đó là cái nhìn thiển cận, sai lầm. Như mình lỡ chửi người, người đánh lại thì nhân quả đâu phải là không có. Nhưng nếu mình xin lỗi thì người có đánh mình không? Như vậy nhân quả không phải thật có, tùy lúc mà chuyển biến, đổi thay.

Vậy phải hiểu nhân quả là chuyển biến, không cố định, không thật thể. Nếu có thật thể tức có tự tánh thì không đợi duyên hợp. Khi chúng ta còn mê lầm thấy thân thật thì nhân quả cũng thật. Trái lại nếu thấy thân này chuyển biến, hư dối không thật thì nhân quả cũng không thật. Như vậy câu Liễu tức nghiệp chướng bản lai không trong Chứng Đạo Ca thật chí lý. Liễu là liễu cả thân mình chứ không phải chỉ ngoại cảnh. Còn nếu Vị liễu ưng tu hoàn túc trái. Vay nợ bao nhiêu phải trả quả bấy nhiêu, không thể tránh được, điều đó hết sức rõ ràng. Đối với thân này nếu liễu được thì quả kia trở thành không, nếu chưa liễu, thấy nó thật thì tất cả quả đều có, tạo nhân gì gặt quả đó, hoặc tăng lên, hoặc giảm xuống tùy duyên chứ không cố định.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.