Trước Không kiếp, bên mé Oai Âm, Phật và chúng sanh đều không có tên gọi, nhưng mỗi mỗi đều có đủ một gương tròn sáng.
Chúng sanh vô cớ, từ trong ánh sáng tịnh bạch, chợt khởi động tâm, nên mê mất bản minh mà biến sanh thế giới chúng sanh nghiệp quả. Sanh tử tử sanh tiếp nối không dừng, mê chìm trong ba cõi, mò mẫm trong chín loài, từ ấy đến nay mê mờ không một ngày ngộ. Nếu chẳng chặt đứt dòng lưu lãng mà trở về nguồn thì lúc nào mới có thể giải thoát?
Phải ngộ muôn pháp trở về nhất tâm, là chuyển thế trí để thành Phật trí. Có thể gọi là gom trăm dòng làm một tánh ướt, nhồi bụi bặm lại làm một khối, nấu chảy vòng xuyến làm một chất vàng, biến tô lạc làm thành một vị. Pháp nhất tâm này lý sự đều tròn đủ. Mười phương chư Phật, tất cả chúng sanh đều đồng tâm này, không thiếu mà cũng không thừa. Chư Phật đã giác ngộ, chúng sanh chẳng biết, nên có tên phàm thánh mê ngộ.
Tôi chẳng chịu rũ tay đứng nhìn, nên chỉ ra một con đường chánh trở về tâm. Người xưa nói: “Trên đỉnh núi Diệu Cao, từ xưa đến nay chẳng cho bàn bạc. Đầu non thứ hai, chư tổ tóm lược dung hòa nói cho hiểu.” Cho nên tôi mượn văn vấn đáp, để nói mười điều danh tướng, hầu chứng minh nhất tâm và cũng để bố thí cho tất cả hàm linh.
Mười điều danh tướng gồm có: Một là cảnh tỉnh kẻ thế tục, để bỏ ác về thiện. Hai là cùng nhà Nho nghị luận, để quét trừ sự bài báng khác lạ. Ba là cùng đạo gia biện biệt chỗ tà ngụy, để chẳng hướng ngoài tìm cầu. Bốn là đốn ngộ tu chứng, vượt thẳng vào cảnh Phật. Năm là nói sự sai biệt của giáo và thừa, nhỏ nhiệm chỉ bày nhất tâm. Sáu là “duy tâm Tịnh độ”, để nói Phật chẳng từ ngoài lại. Bảy là thiền phân năm tông mà lý không hai. Tám là mười loại ma sự làm loạn chánh định, để dự phòng và nuôi dưỡng đạo nghiệp. Chín là dẫn chứng lời kinh, hầu đoạn trừ nghi ngờ và nương vào đó mà sanh lòng tin. Mười là khuyên nên in mà bố thí, hầu báo đáp ân Phật.
Tôi thừa hưởng căn lành rất ít, chợt thấy được một góc chỗ chí đạo, cho nên trình bày cái thấy hẹp hòi của tôi. Xin các bậc cao minh phủ chính cho, thật tôi chẳng phải ức kiến, mà chỉ thuận theo Phật thừa. Nếu như có người học đời sau, xem quyển lục này có sai, tôi xin tha thiết sám hối những lỗi lầm về pháp của tôi. Nếu hợp với thánh tâm, nên y lời dạy mà vâng làm, ngày kia sẽ đồng đến hội Long Hoa, thọ ký thành Phật có phần.
Ngày Phật thành đạo, tháng chạp
Đời vua Khang Hy năm thứ mười lăm
nhà Đại Thanh (TL 1676)
Thiền sư Tổ Nguyên Siêu Minh
Giảng:
Trước Không kiếp, lúc đó là có hay chưa? Kinh nói thế giới có bốn thời kỳ: thành, trụ, hoại, không. Không là khi thế giới tan nát không còn tí bụi bặm nào, qua giai đoạn không đó thì trở lại thành, trụ, hoại rồi không tiếp. Như vậy thế giới trước không kiếp là chưa có, chưa có thì làm gì có tên gọi thế giới.
Bên mé Oai Âm, Phật và chúng sanh đều không có tên gọi. Oai Âm Vương là vị Phật ra đời trước nhất, trước đó không có Phật. Không có Phật thì làm sao có tên gọi Phật, cho nên lúc ấy không có tên Phật và tên chúng sanh đối đãi. Nhưng mỗi mỗi đều có đủ một gương tròn sáng. Trước Không kiếp, trước Phật Oai Âm Vương, tuy chưa có phân biệt tên Phật và tên chúng sanh, phàm thánh… mà ai ai cũng có gương tròn sáng. Đây chỉ cho trước khi có mê ngộ, chúng ta đã sẵn có chân tâm bất sanh bất diệt, chưa từng thiếu thốn bao giờ.
Chúng sanh vô cớ, từ trong ánh sáng tịnh bạch, chợt khởi động tâm, nên mê mất bản minh mà biến sanh thế giới chúng sanh nghiệp quả. Chúng sanh đã sẵn có chân tâm sáng suốt từ trước, nhưng vô cớ dấy động nên quên mất gốc sáng, sanh ra mê lầm. Bởi mê lầm nên biến sanh nghiệp quả chúng sanh và thế giới.
Sanh tử tử sanh tiếp nối không dừng, mê chìm trong ba cõi, mò mẫm trong chín loài, từ ấy đến nay mê mờ không một ngày ngộ. Bởi mê lầm tạo ra nghiệp quả, rồi cứ thế mà nối tiếp chìm đắm trong sanh tử không bao giờ hết, nên nói mê không có ngày ngộ là vậy.
Nếu chẳng chặt đứt dòng lưu lãng mà trở về nguồn thì lúc nào mới có thể giải thoát? Như đám lục bình ở giữa dòng sông, nước lên trôi lên, nước xuống trôi xuống, xoay bên này tấp bên kia, cứ như vậy mà trôi mãi không biết lúc nào trở về nguồn. Chúng ta cũng vậy, nếu không chặn đứng được dòng lưu lãng lôi cuốn mình trôi lăn thì làm sao giải thoát! Phải ngộ muôn pháp trở về nhất tâm, là chuyển thế trí để thành Phật trí. Ở trên nói có một gương tròn sáng, tức đây nói nhất tâm. Bởi quên nhất tâm nên mới lăn lộn trong sanh tử, nay muốn quay lại nguồn gốc của mình, chấm dứt sanh tử thì phải ngộ muôn pháp trở về nhất tâm, tức quay về tâm ban đầu của mình, đó là chuyển trí thế gian trở thành trí Phật.
Có thể gọi là gom trăm dòng làm một tánh ướt, nhồi bụi bặm lại làm một khối, nấu chảy vòng xuyến làm một chất vàng, biến tô lạc làm thành một vị. Nếu trở về được nhất tâm thì chẳng khác nào như trăm dòng sông, chỗ trong chỗ đục, hình dáng nước tuy có sai biệt nhưng chỉ đồng một tánh ướt. Đất bụi có bao thứ, nhồi lại cũng đồng một khối. Vòng xuyến, hoa tai, cà rá v.v… hình tướng có khác, nhưng đem bỏ vào lò nấu thì chỉ thuần một chất vàng. Tô và lạc khác nhau, nếu đổ vô chung một nồi khuấy đều thì nó biến thành một vị, không còn khác biệt nữa.
Trên đây đưa ra những thứ thí dụ sai biệt, để chỉ cho muôn pháp đều đồng một tánh. Một tánh ướt là dụ cho nhất tâm, trăm dòng là muôn pháp. Một khối là dụ cho nhất tâm, bụi bặm là muôn pháp. Vàng là nhất tâm, nấu chảy vòng xuyến… là muôn pháp. Một vị là nhất tâm, tô lạc… là muôn pháp. Tóm lại, muôn pháp về hình tướng có sai biệt, về bản thể thì không hai. Trở về bản thể, đó là thành Phật.
Pháp nhất tâm này lý sự đều tròn đủ. Mười phương chư Phật, tất cả chúng sanh đều đồng tâm này, không thiếu mà cũng không thừa. Chư Phật đã giác ngộ, chúng sanh chẳng biết, nên có tên phàm thánh mê ngộ. Chư Phật giác ngộ là giác ngộ nhất tâm, chúng sanh mê là mê nhất tâm. Mê là quên. Quên nhất tâm là mê, ngộ nhất tâm là giác. Nhận ra nhất tâm là chuyển mê thành giác. Đó là diệu dụng mà ngài Tổ Nguyên muốn chỉ cho chúng ta thấy.
Tôi chẳng chịu rũ tay đứng nhìn, nên chỉ ra một con đường chánh trở về tâm. Không thể khoanh tay đứng nhìn để mặc người trôi lăn trong sanh tử, nên ngài cố gắng chỉ ra một con đường trở về nhất tâm. Trở về nhất tâm tức là thành Phật. Người xưa nói: “Trên đỉnh núi Diệu Cao, từ xưa đến nay chẳng cho bàn bạc. Đầu non thứ hai, chư tổ tóm lược dung hòa nói cho hiểu.” Núi Diệu Cao còn gọi là núi Diệu Phong. Kinh Hoa Nghiêm nói, lên núi Diệu Phong tìm Tỳ-kheo Đức Vân mà không gặp, muốn gặp bàn bạc phải qua ngọn núi thứ hai mới gặp. Trong nhà thiền lấy ý này để chỉ, núi Diệu Cao tức là Nhất tâm chân như, ngọn núi thứ hai là chỉ cho phương tiện. Nhất tâm chân như là chỗ cứu cánh không có luận bàn, cho nên khi hỏi tới chỗ này, các ngài ngồi làm thinh không trả lời, vì có luận bàn đều là phương tiện.
Cho nên tôi mượn văn vấn đáp để nói mười điều danh tướng, hầu chứng minh nhất tâm và cũng để bố thí cho tất cả hàm linh… Mười điều danh tướng chúng ta đọc qua phần chánh văn thì hiểu, không có gì cần phải giải thích.
Tôi thừa hưởng căn lành rất ít, chợt thấy được một góc chỗ chí đạo, cho nên trình bày cái thấy hẹp hòi của tôi… Đây là lời nói khiêm nhường, ngài cho rằng mình còn kém, nhưng đối với chỗ chí đạo thấy được một khía cạnh, cho nên chỉ trình bày theo cái thấy cạn hẹp của mình mà thôi. Người sau xem quyển lục này nếu có sai, ngài xin chịu tội sám hối. Nếu thấy hợp với thánh tâm thì nên y lời dạy mà vâng làm, ngày kia sẽ đồng đến hội Long Hoa gặp đức Phật Di-lặc, cùng được thọ ký thành Phật.