Vạn Pháp Quy Tâm Lục giảng giải

Chương 3. Thích Đạo Biện Luận Lẽ Thiệt Hơn



Hỏi: Giáo lý của tôi và giáo lý của đạo Phật đại khái chẳng đồng nhau. 

Sư hỏi lại: Chẳng đồng chỗ nào? 

Đạo sĩ đáp: Đạo Phật tu tánh chẳng tu mạng, đạo tôi dạy tánh mạng song tu. 

Sự hỏi: Thế nào là tu tánh, thế nào là tu mạng? 

Đạo sĩ đáp: Tu tánh là “Ly cung tập định”, tu mạng là “Thủy phủ cầu huyền”.

Sự hỏi: Thế nào là Ly cung tập định? Thế nào là Thủy phủ cầu huyền? 

Đạo sĩ đáp: Ly cung tập định là ngưng tâm chẳng động để giữ thần. Thủy phủ cầu huyền là luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố. Hình và thần đều diệu thì cùng với đạo hợp lẽ chân. 

Sư nói: Đạo Phật chỉ tu một bên, chẳng luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố hầu giữ mạng. Ông lại chẳng biết Ly cung tập định và Tâm tức tương y là pháp của hàng Nhị thừa. Luyện tinh nơi thủy phủ hóa khí đi ngược trở lên, thông với huyền quan được hình thể kiên cố, đó là thuật để kéo dài tuổi thọ. 

Chương này là biện luận với các vị tu tiên, chúng ta không nghiên cứu về pháp tu tiên nhưng cũng nên biết qua đại khái để rõ pháp nào thuộc về tiên, pháp nào thuộc về Phật, thông suốt không bị lẫn lộn.

Người tu tiên nói, chánh yếu của đạo tiên là tánh mạng song tu, tức là tu tánh và tu mạng. Tu tánh là Ly cung tập định, tu mạng là Thủy phủ cầu huyền. Đạo Phật thì chỉ tu có một bên, tu tánh chẳng tu mạng. Như vậy hai bên có sự khác biệt nhau?

Ngài hỏi để xác định lại chỗ hiểu của họ và sau đó giải thích:

Đạo Phật chỉ tu một bên, nghĩa là tu tánh mà không tu mạng, chẳng luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố hầu giữ mạng, mà chỉ ngưng tâm cho an định. Ly cung tập định là dùng hơi thở để tu luyện cho tâm yên của đạo sĩ, còn Tâm tức tương y là phương pháp tu điều hòa tâm và hơi thở của hàng Nhị thừa. Cả hai lối tu này đều chưa phải là cao.

Thủy phủ cầu huyền tức là luyện tinh hóa khí đi ngược lên trên rồi thông trở xuống cho thân thể kiên cố. Đó chỉ là thuật kéo dài tuổi thọ để sống lâu mà thôi không phải giải thoát.

Phật giáo thượng thừa khi đốn ngộ tâm tánh, thấy sơn hà đại địa, vạn vật thân tâm đều là hình bóng hư huyễn ở trong tánh, nên không cớ gì nương huyễn mà tu bóng. Như vậy há chẳng lầm to ư! Người xưa nói: “Bậc tiên còn trước nơi hình thần, nên chẳng thể xả bỏ.” Hơn nữa hình thần là những vọng tưởng từ chân tánh hiển hiện ra, chẳng phải chân thật. Khá cười cho Đạo giáo, những bậc cao chân xưa nay chẳng ngộ được Chánh giác, lầm hiểu cho là chí lý, mê vọng dùng Tâm tức tương y, cho là tu tánh. Luyện tinh hóa khí để được hình thể kiên cố cho là tu mạng. Tất cả là để được hình thần đều diệu. Như vậy cùng với bản tánh quá xa vời! 

Đạo tiên cho việc ngưng tâm yên định nương theo hơi thở, gọi đó là tu tánh. Đối với Phật giáo thượng thừa thì coi đó chỉ là tu huyễn chứ không phải tu tánh. Tại sao? Bởi vì theo đạo Phật khi đốn ngộ tâm tánh rồi thì thấy sơn hà đại địa, vạn vật cho đến thân mình v.v… chỉ là hình bóng huyễn hóa mà thôi. Nếu cho cái huyễn hóa đó là tánh thì chẳng khác nào lấy huyễn mà tu bóng. Đó là lầm to!

Người xưa nói: Bậc tiên còn trước nơi hình thần, nên chẳng thể xả bỏ.” Những người tu tiên còn kẹt chấp nơi hình thần, không thể xả bỏ được, tu như vậy còn cách bản tánh rất xa. Bản tánh trùm khắp, mà cứ y trong hơi thở rồi cho là tu tánh, chuyện đó quá xa vời!

Đạo sĩ nói: Bọn môn đồ của âm ma không thể song tu, mà trở lại vọng báng đạo tôi là Nhị thừa. Ông phải biện cho rõ, tâm tôi mới phục. 

Sư nói: Người học đạo tiên, khởi đầu từ chúng sanh. Tuy biết sanh tử là việc quá khổ, nhưng chẳng ngộ được đạo lý Nhất thừa tối thượng. Lầm chấp bề trong của sắc thân, vọng lấy tâm thịt bên trong cho là có một thần tánh gọi là Chân hống, tên khác là Xá nữ, ngưng thần chẳng động, làm như vậy là “Ly cung tập định”. Tinh khí trong thận gọi là Chân công, tên khác là Anh nhi, luyện tinh hóa khí, làm như vậy gọi là Thủy phủ cầu huyền. Cái ý là Chân thổ, lại gọi là Hoàng bà, như phương pháp tập định, cần phải nghiêng về tịnh tọa, dùng ý điều tức, nhiếp thân chẳng cho động, làm như vậy gọi là Phục hổ. Ngưng thần hợp với khí, tâm định chẳng động, làm như vậy gọi là Hàng long. Thân tâm ý hợp là trở về thổ phủ, lặng yên chẳng động gọi là tu tánh. 

Người tu tiên cũng biết sống là khổ nên họ mới tu, nhưng vì khi tu không nhận được lý Nhất thừa tối thượng, nên lầm chấp bề trong của sắc thân, vọng lấy trái tim thịt, gọi là nhục đoàn. Cho rằng trong trái tim có một thần tánh gọi là Chân hống, còn gọi là Xá nữ.

Ngưng thần chẳng động, tức là làm cho thần tánh ở trong tim ngưng đọng lại gọi là Ly cung tập định. Tu luyện cho tinh ở trong thận hóa thành hơi xông trở lên, gọi là Thủy phủ cầu huyền. Dùng cái ý suy nghĩ của mình để điều hòa hơi thở cho nó thuần thục, ngưng thần hợp với khí khiến tâm không động được định, gọi là Hàng long. Điều hơi thở cho thân tâm ý hòa hợp lặng yên, cho đó là tu tánh.

Trương Tử Dương nói: “Chân thổ giữ chân công, chân công chế chân hống, công hống quy thổ phủ, thân tâm lặng yên chẳng động” Đạo gia nhận đấy là “Tâm tức tương y”, dối bảo đạo Phật là thiên tu. Há chẳng hiểu lầm về chí lý tối thượng ư? Đâu không biết rằng, mỗi người vốn có đủ một tâm tánh rộng lớn, bao trùm cả thái hư, chẳng có chẳng không, cũng chẳng bên trong bên ngoài, vốn tự bất động chẳng cần tập định. Vô cớ lại đem cái huyễn thức trong thân, rồi dùng huyễn ngưng huyễn gọi là tu tánh. Thật là kẻ nhận giặc làm con, mà cho là “Chân tánh bổn cụ”. Tóm lại, như vậy nếu tu thành công chẳng lìa Dục giới, một mai định lực hết trở lại đọa xuống hạ giới. 

Trương Tử Dương nói: “Chân thổ giữ chân công, chân công chế chân hống. Công hống quy thổ phủ, thân tâm lặng yên chẳng động.” Đạo tiên đặt ra nhiều tên nghe rất đẹp và lạ thường. Chân thổ là ý. Chân công là tinh khí trong thận. Chân hống là thần tánh trong tim. Lấy ý điều khiển khí trong thận, rồi khí đó mới chế phục máu ở tim. Máu trong tim và khí trong thận trở về hợp với ý, lúc đó thân tâm yên định. Phương pháp tu này gọi là Tâm tức tương y, tâm và hơi thở nương nhau. Họ nhận lầm về lý tối thượng như vậy, rồi trở lại chê đạo Phật là tu chỉ có một bên.

Đâu không biết rằng mỗi người vốn có đủ một tâm tánh rộng lớn, bao trùm cả thái hư. Tâm tánh mà đạo Phật nói không phải chỉ thần tánh trong tim, tâm tánh đó chẳng có chẳng không, chẳng trong chẳng ngoài, uốn tự bất động chẳng cần tập định. Định của Phật nói khác định của những người tu tiên. Định của tu tiên là điều hơi thở với tâm nương nhau cho an định, để luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần. Định của đạo Phật là dừng tâm vọng tưởng lại, để sống với chân tánh bao la trùm khắp. Vì vậy định của hai bên tu khác nhau.

Vô cớ lại đem cái huyễn thức trong thân, rồi dùng huyễn ngưng huyễn gọi là tu tánh. Thật là kẻ nhận giặc làm con, mà cho là Chân tánh bổn cụ. Nhận vọng tưởng ở trong tâm mình cho đó là chân tánh, đó là nhận giặc làm con. Cho nên, nếu tu như vậy mà thành công cũng chẳng lìa Dục giới, một mai định lực hết sẽ trở lại cõi trần, chứ không đi tới đâu. Đó là nói đại khái về lối tu Ly cung tập định.

Hỏi: Ly cung tập định Sư đã nói, xin bàn luôn về Thủy phủ cầu huyền? 

Đáp: Thủy phủ cầu huyền, tiếc giữ tinh khí, suốt mười hai giờ phản chiếu nơi rún trong một tấc ba phân, gọi là khí hải. Chỉ giữ mà chẳng cho dính mắc, chỉ chiếu mà chẳng trụ. Thân tâm định lâu, cung khảm và cung ly cùng giao nhau, tâm hỏa giáng xuống, thận thủy bay lên, tinh đầy khí tròn. 

Thủy phủ cầu huyền, tiếc giữ tinh khí, suốt mười hai giờ phản chiếu nơi rún trong một tấc ba phân, gọi là khí hải. Chữ “trong” này đúng ra là chữ ‘dưới, nhưng bản Hán ghi là chữ “nội” nên tôi phải dịch là trong. Thủy phủ cầu huyền là tiếc giữ tinh khí ở trong quả thận, suốt mười hai giờ phản chiếu nơi dưới rún một tấc ba phân Tàu, gọi là khí hải, chỗ khác gọi là đơn điền, tức là biển khí.

Chỉ giữ mà chẳng cho dính mắc, chỉ chiếu mà chẳng trụ. Phản chiếu vào khí hải, rồi để cho thân tâm yên định, chẳng cho dính mắc cũng chẳng trụ. Định lâu cung khảm và cung ly cùng giao nhau. Đây là các cung mà đạo tiên hay dùng, gồm có: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Tâm hỏa giáng xuống, thận thủy bay lên, tinh đầy khi tròn. Hơi nóng trong trái tim đẩy xuống, hơi nước trong quả thận xông lên, tinh đầy khí tròn.

Lúc ấy nội thân như lửa, cuối giờ hợi đầu giờ tý khí động nơi vĩ lư, bèn dùng ý hút đưa vào trong giáp tích, thẳng qua ngọc chẩm, trên đến thiên cốc, trở lại hóa thành kim dịch, mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống trùng lâu, rơi nơi huỳnh đình, gọi là Càn khôn giao cấu xong. Một điểm rơi vào huỳnh đình, từ đây điều hòa thông suốt, tứ chi khoan khoái, tất cả hơi thở đều chảy khắp, tươi nhuận tạng phủ, mặt trở lại tươi trẻ như bé thơ, tuổi thọ dài lâu. 

Vĩ lư, nghe nói đó là chỗ giáp với xương sống, còn các thầy Đông y thì nói là chỗ xương cùng. Giáp tích là xương sống. Ngọc chẩm là xương ót, chỗ cục gu tròn tròn ở sau đầu. Thiên cốc là đỉnh đầu. Kim dịch là nước có mùi vị thơm ngọt. Trùng lâu còn gọi là hầu lung, tức cổ họng hay yết hầu. Huỳnh đình, chỗ này chắc các thầy thuốc mới biết. Thông thường những người tu tiên ngồi thiền vào khoảng mười hai giờ đêm, để cho khí động từ dưới xương cùng dẫn lên xương sống, thẳng tới xương ót, trở lại hóa thành kim dịch mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống cổ họng, rồi rơi nơi huỳnh đình, họ luyện như vậy gọi là Càn khôn giao cấu xong. Tu luyện đến đây thành công, gọi là cải lão hoàn đồng.

Cổ tiên xưa có kệ rằng: 

Pháp thủy năng triều hữu bí quan,

Tiêu diêu nhật dạ khiển luân hoàn, 

Vu trung ủng trệ sanh chư bệnh,

Tài quyết thông lưu tiện trú nhan. 

Dịch: 

Tự cửa mầu nước pháp thường dâng,

Suốt ngày nhàn nhã khiến xoay vần, 

Bên trong ngăn trệ muôn ngàn bệnh,

Vừa khơi chảy suốt mặt mày hôn

Ngô Tiên lại nói: 

Khí quy nguyên hải thọ vô cùng, 

Thử thuật vi kim dịch luyện hình. 

Dịch: 

Khi về nguyên hải thọ cùng, 

Thuật này là kim dịch luyện hình

Đạo tiên cho rằng, con người sở dĩ bệnh hoạn là do nước kim dịch ngưng trệ, nếu khơi cho nó lưu thông không còn đảo chướng nữa, thì mặt mày liền tươi trẻ trở lại. Thuật này gọi là kim dịch luyện thân.

Tập định là Ngọc phù bảo thần, hình và thần đều diệu thì với đạo hợp lý chân. Một mai công quả đầy đủ, tùy phước sâu cạn, nếu người hành rộng rãi thì được thăng thiên cung, người công phu ít thì tạm ở nơi bồng đảo, hoặc trụ nơi động thiên, ở đó ba bốn trăm năm hay hai ba ngàn năm rồi sanh trở lại nhân gian, tích chứa công hạnh, bồi dưỡng phước tuệ, một ngày nào đó công quả sâu dày thượng đế đến gọi, tùy hàng sắp chỗ đứng, tiên quan chẳng đồng. Nếu y đây mà tu thì đồng như trong đạo Phật, đại khái như ở Trịnh Châu vọng cầu cửa Tào, xa càng xa vậy. 

Ở Trịnh Châu mà trông vào cửa Tào Châu, từ tỉnh này trông vào tỉnh kia thì xa càng xa. Tu như vậy không có gì giống với đạo Phật hết, mà nói tu giống như đạo Phật, đó là rất lầm.

Xưa tôi ở chùa Phật Quang, do mới vô chùa tu thức khuya dậy sớm không quen, cho nên bị chướng cảm hoài. Lúc đó có ông thầy giáo tu tiên, lâu lâu đi ngang qua chùa ghé vào chơi, nghỉ lại đôi ba ngày. Thấy tôi đau ông nói, tu mà đau thì tu làm chi! Tôi nghe cũng xấu hổ, nghĩ mình tu mà đau hoài, còn họ tu sao không đau sướng quá. Nhưng khi thấy ông ngồi thiền cái đầu lắc lắc, lúc ngủ cái đầu cũng lắc lắc, để luyện cho tinh khí thông suốt thì không bệnh hoạn. Nhìn ông tu kiểu đó nên tôi không học theo.

Chúng ta thấy rõ hai lối tu, Ly cung tập định và Thủy phủ cầu huyền mà người tu tiên gọi là cao, cũng chỉ là thêm sống dai rồi vẫn lẩn quẩn trong tam giới chứ không giải thoát được. Đó là nói về hai pháp tu của đạo tiên.

Hỏi: Tâm tức tương y, ngài nói đấy là pháp của Nhị thừa. Vậy do đâu mà ngài Đạt-ma từ Ấn sang lưu truyền kinh Thai Tức? 

Đáp: Tổ sư từ Ấn sang truyền tâm ấn, há lại đem “Tâm tức tương y” làm Nhất thừa tối thượng của Phật ư? Ngài Đạt-ma khi chưa đến Đông độ, phương này đều tu tập Chỉ Quán, nhọc gì từ xa đến lại truyền thai tập? Ấy là trên đầu thêm đầu, hay có thể bảo là trên mỏ thêm cái mỏ nữa. 

Bởi ở Trung Hoa này người sơ cơ học đạo chẳng ngộ tâm tánh, chỉ tập tu Chỉ Quán, Tứ thiền Bát định, chẳng chứng Phật tâm. Cho nên Sơ Tổ của ta vượt biển mà đến đây “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Chẳng biết người nào ngụy tạo Thai Tức, giả danh giáo ngoại biệt truyền của Đạt-ma, mê hoặc người sau, làm cho vàng thau không phân biện. 

Hỏi: Pháp Thai Tức là ngụy, chẳng phải là pháp thượng thừa của Phật. Ngài nghị luận như vậy có gì làm bằng cứ? 

Đáp: Phương pháp Thai Tức giống như trong thai mẹ, mờ mờ mịt mịt, thân tâm lặng yên. Định lâu được thành tựu thì thần cùng khí giao kết lại, luyện thành một hình huyễn, thức thần rong chơi bên ngoài, chớp mắt đi ngàn dặm, ngao du tự tại. Như vậy thì cùng với đạo Nhất thừa của Phật rõ ràng không can hệ. 

Người tu tiên cho rằng kinh Thai Tức là pháp tu giáo ngoại biệt truyền do tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền sang, nên họ đem ra để hỏi. Ngài đáp, khi tổ Đạt-ma sang Trung Hoa lúc đó người Trung Hoa đã biết tu Chỉ Quán, như pháp tu hơi thở của ngài Thiên Thai. Như vậy tổ Đạt-ma sang thì ngài phải dạy pháp tu cao siêu hơn, chứ chẳng lẽ chỉ truyền cái đã có sẵn rồi. Cho nên pháp tu “Thai tức tương y không phải của Tổ, mà do sau này người ta tự viết ra rồi mạo danh Tổ. Phương pháp tu của tổ Đạt-ma là chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, chứ đâu phải đem chuyện tầm thường ra dạy.

Đạo sĩ liền hỏi lại, nếu pháp Thai Tức là ngụy tạo chẳng phải pháp thượng thừa của Phật, vậy lấy gì làm bằng chứng? Ngài nói phương pháp Thai Tức giống như trong thai mẹ, mờ mờ mịt mịt, thân tâm lặng yên. Khi tu định lâu được thành tựu thì thần cùng khí, tức là hơi thở, hai thứ giao kết lại luyện thành hình huyễn, gọi đó là thức thần. Thức thần này rong chơi bên ngoài, chớp mắt đi ngàn dặm, ngao du xóm này, làng kia tự tại. Những pháp tu đó hoàn toàn không can hệ, không giống gì với pháp tu của đạo Phật.

Kinh Lăng-nghiêm nói: “Những người tu học, hiện tại tuy được chín tầng lớp thiền định, nhưng không được lậu tận thành A-la-hán. Tất cả đều do những chấp vọng tưởng sanh tử này, lầm cho là chân thật.” Đâu chẳng biết trong thân huyễn vốn không có tánh mạng, chân tánh mạng của ta không ở trong ngoài, mà bao trùm thái hư, vốn tự nó hiện thành cũng chẳng thêm tu chứng. Tánh thụ của kẻ hậu học, ngộ được tánh mạng này, nên hay hiện vô lượng diệu thân, hay độ vô lượng chúng sanh, hay thành vô lượng trang nghiêm, hay làm vô lượng Phật sự, vô cớ lại đem pháp Thai Tức, lầm nhận là tôn chỉ giáo ngoại biệt truyền. Thật đáng buồn thay! Tự mắt mình chẳng sáng, còn mê hoặc kẻ sơ học thiếu hiểu biết, rồi đi lấy nhỏ làm lớn, tội kia chẳng nhỏ. 

Ngài dẫn kinh Lăng-nghiêm làm chứng. “Những người tu học, hiện tại tuy được chứng tầng lớp thiền định, nhưng không được lậu tận thành A-la-hán. Tất cả đều do chấp những vọng tưởng sanh tử này, làm cho là chân thật.” Người tu tiên chấp thức thần là thật, đó cũng là nhận vọng tưởng sanh tử lầm cho là thật. Nếu chúng ta biết trong thân huyễn vốn không có tánh mạng, nhận được chân tánh không ở trong ngoài mà bao trùm thái hư, vốn tự hiện thành chẳng nhờ tu chứng. Kẻ hậu học nếu ngộ được chân tánh hay pháp thân trùm khắp thì mới hay hiện ra vô lượng hóa thân độ vô lượng chúng sanh, thành tựu vô lượng trang nghiêm làm vô lượng Phật sự, chứ không phải thân do tu luyện ở trong thần thức của mình mà được. Vậy mà lấy cái thần ở trong tâm mình cho đó là tánh, đây là lầm lớn.

Đạo sĩ hỏi: Ngài nói bên trong thân tâm vốn không có tánh mạng, nhưng hiện nay thần ở trong thân, khí hô hấp tới lui, đây chẳng phải là chân tánh chân mạng của ta? Nay đem cái thần khí này cộng với tướng ngưng hợp, rồi cho về khí huyệt kết thành đại đơn, tự nhiên thân nhẹ thần diệu, liền có thể du hành bát cực, trên trời cõi người đều được tự tại lớn. Đây gọi là tánh mạng song tu, là đại đạo chí nhân của thần tiên. 

Sư đáp: Thần trong thân là vọng, khí hô hấp là huyễn. Nếu cho huyễn vọng là chân tánh mạng, gom lại tu tập thành công thân hình mầu nhẹ, đi rong trên hư không chớp mắt xa ngàn dặm, sống lâu mấy ngàn vạn năm, ở sâu nơi động trời đất phước, cho là thành thánh nhưng mà chẳng ngộ Chánh giác, quả báo hết trở lại tan vào các cõi. 

Người đạo tiên cho là có thần ở trong điều khiển hơi thở ra vô, cùng tất cả các hoạt động, thần chính là chân tánh mạng. Nên nay đem thần khí này cộng với tướng ngưng hợp, cho về khí huyệt kết thành đại đơn, tự nhiên thân nhẹ thần diệu, liền có thể du hành bát cực, trên trời cõi người đều được tự tại. Đây là tánh mạng song tu, là đại đạo của thần tiên.

Sư đáp, ông cho thần ở trong thân điều khiển hơi thở ra vô, cái đó là vọng chứ không phải thần. Khí hô hấp là huyễn, lấy cái thần vọng khí huyễn mà tu làm sao được. Nếu tu tập thành công mà chẳng ngộ Chánh giác, thì có thể ở trong hư không ngao du tự tại, một khi phước hết cũng rơi trở xuống, nên nói quả báo hết trở lại tan vào các cõi.

Hỏi: Sự tu tánh của Phật giáo là thiên về âm mà không dương. Cho dù gom được tu thành kiến tánh, cũng lại là sự trong sạch của ma quỷ. 

Đáp: Âm dương quỷ thần là việc không kiếp trở về sau, còn diệu minh chân tánh là lý của không kiếp trở về trước. Nếu đem cái lý trước không kiếp, mà nhận là việc sau không kiếp, người này không những chẳng rõ về âm dương, mà lại còn mê muội điên đảo nhiều vậy. 

Sở dĩ có âm dương, có quỷ thần là sau khi trái đất đã thành, chúng sanh đã lập, nếu chưa thành lập thì lấy gì để nói, nên nói là việc không kiếp trở về sau. Còn diệu minh chân tánh là vô lượng ức kiếp trở về trước, thủy vô chung, không sanh không diệt. Trước không kiếp vẫn có diệu minh chân tánh này, chứ không phải đợi sau này mới có. Nay đem cái lý trước không kiếp, mà nhận là việc sau không kiếp đó là lầm. Hai cái khác xa nhau ngàn dặm, đâu thể đem chuyện âm dương ra mà so sánh, đó là mê muội điên đảo vậy.

Đạo sĩ nói: Phật giáo thiên tu là âm, đạo tôi song tu là dương, trong Đơn Kinh, Tử Thư đều nói, chứ chẳng phải tôi tự bày điều không căn cứ. 

Sư đáp: Chủ trương song tu của Đạo gia là ngộ nhận lẽ chân thật. Thức thần ở trong thân là âm trong dương. Tinh khí ở trong thân là dương trong âm. Gom khí hợp thần, thần ngưng khí trụ gọi là Thủ khảm điền ly (giữ quẻ khảm lấp quẻ ly), điểm hóa âm trong dương thành thể khô cứng, luyện thành kim đơn, mười tháng kết thai, chín năm bảo dưỡng, xuất ra đảnh môn ở trên gọi là Dương thần. Tan ra thì thành gió, hợp lại thì thành hình, ngao du thiên hạ, tiêu dao tự tại. Công phu nhiều thì bay lên thiên cung, công phu ít thì ẩn cư nơi bồng đảo. Nếu nương vào đây cho là phải mà chẳng cần tu tam-muội, đến khi quả báo cõi tiên hết, trở lại đọa làm quỷ cõi dưới. 

Người xưa nói: 

Học đạo chi nhân bất thức chân,

Chỉ vị tùng tiền nhận thức thần.

Vô lượng kiếp lai sanh tử bản,

Si nhân hoán tác bản lai nhân. 

Dịch:

Người học đạo chẳng hiểu lẽ chân,

Bởi do từ trước nhận thức thần.

Vô lượng kiếp nay gốc sanh tử, 

Kẻ si nhận đó bản lai nhân.

Phật giáo thượng thừa kiến tánh vô vi, trạm như thái hư, thể đồng pháp giới, chẳng phải âm dương, chẳng ra vào, dẫn nó không trước, dắt nó không sau, đưa nó không lên, đè nó không xuống, từ xưa nó thường sáng, đến nay nó chẳng mê. Tuy không hình tướng mà hay khởi báo thân, hóa thân. Không những chỉ hiện một thân mà có thể hiện trăm ngàn ức thân, độ thoát chúng sanh như hằng sa, thành tựu muôn đức trang nghiêm. Kẻ căn cơ thiển bạc ôm khối nghi ngờ nào thể tín thọ? 

Lối tu tiên với tu Phật khác nhau như vậy, tu tiên cũng có diệu dụng, hợp lại thành thần tan ra thành khí, bay đi tự tại thong thả, được sanh lên cõi trời ở động tiên, nhưng rốt cuộc hưởng hết phước rồi cũng rơi trở xuống làm quỷ, tiếp tục trôi lăn trong sanh tử. Lối tu này là luyện ở trong thân mà được, còn tu Phật là nhận ra thể của tất cả chúng sanh đồng một chân tánh. Chân tánh đó không trong không ngoài, không trước không sau, nhận được rồi thì không còn lăn lộn trong sanh tử nữa.

Hỏi: Đạo tôi có nói rằng, tu tánh chẳng tu mạng, muôn kiếp âm linh khó nhập thánh. 

Sư đáp: Lý của mạng học đại khái có sai khác, nếu chẳng tham cứu cho sâu sợ e làm lầm người hậu học. Sơn tăng chẳng tiếc lời cùng ông bàn luận chỗ vi tế của nó. 

Hai chữ tu mạng có Lý mạng và Khí mạng. Lý mạng có hai nghĩa, khí mạng cũng có hai loại. Tôi trước nói rõ về khí mạng, sau trở lại bàn về lý mạng. 

Khí mạng loại một là Cổ bổn khai quan (giữ chặt gốc, mở cửa), thường nghiêng về tịnh tọa, phản chiếu lại huyệt khí hải, giữ cho chân ý chẳng tán, trong lặng chẳng chấp trước, lâu ngày chầy tháng, tinh đầy khí tròn, nội thận như lửa, mau mau kích động, điều hòa cho quân bình hơi thở nơi mũi, mau đề lên cốc đạo, nên dùng ý dẫn nó, gọi là hái thuốc (thái dược). Tiên nói: “Khi can quý sanh phải mau hái, mong xa thường chẳng nổi” (Quý sanh tu cấp thái, vọng viễn bất kham thường). 

Đây nói về khí mạng và lý mạng của đạo tu tiên. Khí mạng và lý mạng đều có hai nghĩa. Khí mạng loại một là Cổ bổn khai quan, những vị tu tiên và chính như ngài Thiên Thai cũng có dạy tu cách này. Trụ tâm nơi đơn điền, hay còn gọi là khí hải, hơi thở của mình gốc từ chỗ đó mà ra. Trụ lâu ngày tâm yên, tinh đầy hơi thở tròn, trong thận nóng như lửa xông lên, phải tìm cách làm sao kích động đưa lên cốc đạo, rồi dùng ý dẫn nó, gọi đó là hái thuốc, phải hái gấp cho đúng thời tiết, nếu trễ thì mất đi cơ hội tốt. Lối này trước đã có nói trong Thủy phủ cầu huyền.

Chỉ khoảng một thoáng tinh khí xoay trở lên, từ trong vĩ lư có tiếng lụp bụp, ở giữa qua giáp cốt thẳng thấu ngọc chẩm, ra sức vận lên xông đến đảnh môn, khí kia cuộn xuống dùng mũi dẫn nó, tự nhiên biến thành cam lộ, mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống trùng lâu, rơi vào huỳnh phòng. Đấy gọi là Trữu hậu phi kim tinh, lại còn gọi là Bế nhâm khai đốc mạch (đóng mạch nhâm khai mạch đốc). Từ đây khí nơi đơn điền ấm, thần khí chan hòa, da thịt tươi nhuận, tứ chi sảng khoái, mặt tươi trở lại như trẻ thơ, tuổi thọ dài lâu. 

Trong một thoáng rất nhanh tinh khí trở lên, nghe tiếng động ở vĩ lư qua giáp cốt, thẳng lên ngọc chẩm, tuốt trên đảnh môn rồi xoáy trở xuống. Dùng mũi dẫn nó, lưỡi cuốn lên để nơi ổ gà, đón nước cam lồ trên rỉ xuống, nuốt xuống nóc giọng, rơi vào huỳnh phòng. Huỳnh phòng là chỗ nào thì tôi chịu thua, không biết.

Lấy đây mà xét, thuật kéo dài sanh mạng này dù cho sống lâu ngàn tuổi, rốt lại rồi cũng tan nát. Chẳng ngộ được tâm tánh trở lại đọa vào các cõi. Nếu bảo thuật này có thể thành thánh là mê hoặc người sau, thật là dối gạt to tát. 

Chúng ta bây giờ nghe nói phản lão hoàn đồng nhiều người ham lắm. Nhưng như đây nói, thuật tu này không thể thành thánh mà chỉ là kéo dài sanh mạng thôi. Đó là nói về khí mạng một.

Khí mạng loại hai là Ngưng khí quy căn. Người ở bụng mẹ theo sự hô hấp của mẹ cho đến lúc sanh ra, cắt đứt cuống rún, một điểm khí phàm nương ở đơn điền, giống như một bộ rùa, phun nuốt nguyên khí, một ngày đêm thở tới lui mười ba ngàn năm trăm hơi thở, đều từ miệng mũi tuôn ra ngoài, không thể về gốc mà quy về khí huyệt, nên tuổi thọ chẳng dài, sắc thân chẳng vững chắc. Phải ở chỗ đi đứng ngồi nằm chiếu soi trở lại, và thường nạp vào khí hải. Khi khí trụ thì hình sanh, thần ngưng thì khí trụ. Thần khí kết thành gọi là Dương thần. Lâu ngày xuất hình, rong chơi khắp thiên hạ, tùy công phu sâu cạn mà ngôi vị chẳng đồng. Quả báo hết trở lại thế gian làm người, nếu tạo nghiệp ác sẽ đọa tam đồ. Dối nói đạo này liễu thoát luân hồi, chẳng tu đạo này khó vào thánh vị, chưa khỏi người trí chê cười. 

Ngưng khí quy căn tức là ngưng hơi thở trở về cái gốc của nó. Lối tu này dạy khi hít vô nín một chút, khoảng năm ba phút hoặc đếm chừng năm tiếng, mười tiếng, hai chục tiếng… càng lâu càng tốt, để cho hơi trở xuống về nơi khí hải. Khí hải chứa hơi nhiều lần lần bụng to ra, gọi đó là được thánh thai. Người nào được như vậy thì sống lâu, bởi vì đem được hơi thở trở về gốc của nó. Hiện giờ lối tu này rất thịnh hành, người ta cho tu như vậy là liễu thoát sanh tử. Phần này chúng ta cần phải biết rõ để khỏi lầm, tưởng đó là pháp tu của tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền, mà không ngờ đó là pháp tu của ngoại đạo.

Hỏi: Hai môn học về khí mạng, ngài phân biệt quá rõ ràng. Lý mạng có hai nghĩa, xin ngài chỉ rõ luôn. 

Đáp: Lý mạng có hai nghĩa là tại triền và xuất triền. Tại triền thì lấy tình làm mạng, xuất triền lấy hư làm mạng. Tại triền khởi động là tán mạng, dứt tình là tu mạng. Xuất triền hợp với hư là chí mạng, lại gọi là phục mạng. Nhà Nho gọi là Thiên mạng, Phật gọi là Pháp giới. Đây là cái học của Đại thừa, có thể bảo là lý trung đạo, nương vào đây mà tu chứng gọi đó là lý mạng. Nếu nương vào khí mạng, chẳng ngộ lý mạng rốt lại thành không, chẳng phải đạo lớn. 

Lý mạng hai nghĩa là tại triền và xuất triền, tức Như Lai tại triền và Như Lai xuất triền. Tại triền là khi còn mê thì lấy tình thức làm mạng, xuất triền thì lấy hư làm mạng. Hư là cái rỗng suốt, là pháp thân. Như vậy phần lý mạng này phù hợp với đạo Phật.

Hỏi: Các bậc thầy trong đạo tiên có nói, người thấy tánh chẳng biết mệnh kia, nên khi cuối cùng về chỗ nào? Chưa rõ biết mệnh là lý hay là khí? 

Đáp: Người kiến tánh tự biết thiên mệnh, rốt sau rõ ràng cùng với hư hợp thể. Nho nói: “Cùng lý tận tánh là do tột ở mệnh.” Đạo Phật nói: “Tại triền gọi Như Lai tạng, ra khỏi triền gọi Pháp giới tánh.” Nếu luyện khí mạng rồi thần ngưng khí kết là chỗ về của ta, thì chưa khỏi báo hết trở lại rơi vào các cõi. Nên biết, thiên mệnh mới là lý gốc.

Nói mệnh mà không biết mệnh là thuộc về lý mệnh hay là khí mệnh? Ngài dùng lối đáp để hướng họ trở về lý mệnh.

Hỏi: Một âm một dương gọi là chánh đạo, âm dương cô lẻ vạn vật chẳng sanh, do đâu lại nói không âm không dương. Nếu không âm không dương có khác gì ngoan không? 

Đáp: Động là dương, tịnh là âm. Lưỡng nghi, tứ tượng, ngũ hành là việc sau khi phân của thái cực, tánh là lý trước vô cực. Trong thái cực âm dương còn chưa phân, huống là vô cực lại có âm dương hay sao? Ngoan không gọi là vô linh, còn hữu linh thì chẳng phải ngoan, kẻ hậu học chẳng ngộ lầm sanh đoạn kiến. Đạo Phật nói: “Như như chẳng động rõ ràng thường biết.” Đạo Nho nói: “Tịch nhiên chẳng động, có cảm liền thông.” Đạo gia nói: “Thân tâm chẳng động về sau có vô cực chân cơ.” Tam giáo dạy học trò lý kia không hai, nếu ngộ chân không thì rỗng rang mầu nhiệm chẳng mê. 

Lưỡng nghi, tứ tượng, ngũ hành là việc sau khi phân của thái cực, còn nói tánh là cái lý trước vô cực. Đạo Phật nói: Như như chẳng động ràng thường biết”, không phải là ngoan không. Chính những lời đáp này giúp cho chúng ta hiểu sâu về Phật tánh hay Như Lai hơn. Như như chẳng động mà rõ ràng thường biết thì sao nói là ngoan không được. Ngoan không thì không linh. Nếu người tu ngộ tới chỗ đó thì không còn lầm nữa.

Hỏi: Đạo tôi dạy song tu một đời bay bổng, đạo Phật tu một bên chưa khỏi thân hình suy bại. Nếu như đạo thành thì khá, nếu không được như vậy thì trở lại chưa khỏi cái khổ đầu thai dời đổi? 

Đáp: Ông chỉ thấy một đời bay bổng, chẳng biết bao kiếp khác gieo trồng bồi đắp. Ông Mã Đơn Dương, Khưu Trường Xuân của Đạo gia ba đời làm bè bạn, mười đời tu hành, một phen ra đời trở lại liền đốn ngộ chánh đạo. Nay thấy kẻ lợi căn một đời đã xong, ấy đều do những kiếp xa xưa tích chứa công hạnh, cho nên giờ đây mới được hiện đời thành chân, chớ chấp một bên mà quyết định nơi hiện đời.

Đoạn này là giải thích một vài phái tu nhỏ nữa để hướng họ về Phật giáo. Trước hết là hỏi, đạo tôi tu được bay bổng, còn như các thầy tu theo đạo Phật, nếu hiện đời thành Phật còn khá, không thành thì đầu thai lại còn chịu khổ nữa, như vậy là thua đạo tiên rồi.

Ngài trả lời, đạo Phật tu đời này chưa xong thì đời sau tiếp tục, vì đã được công đức gần tròn thì sau ra đời liền ngộ có gì phải lo, đâu có mất mà cho rằng đời sau khổ.

Hỏi: Cái học về khí mạng là ngụy không phải chân thật. Theo lời nói này thì mạng thuật kia vô dụng sao? 

Đáp: Luyện tinh hóa khí, khí ngưng tụ thì hình sanh, là thuật tu mạng kéo dài tuổi thọ. Nếu y đây để được liễu thoát thì lầm lẫn người sau chẳng nhỏ. Cần phải đốn ngộ tâm tánh mới hay siêu phàm nhập thánh. 

Nếu áp dụng lối tu khí mạng của đạo tiên thì sau này không giải thoát, nói giải thoát là dối gạt thôi, muốn giải thoát cần phải đốn ngộ tâm tánh mới được.

Hỏi:“Nê thủy kim đơn, hoàng bạch diệu thuật”, chưa biết lý kia là tà hay chánh? 

Đáp: Tiền tài, sắc dục, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ là năm điều căn bản của địa ngục. Năm dục chẳng không, sanh tử chẳng dứt. Người chân thật học đạo phải cắt ân đoạn ái, trì giới minh tâm mới có thể chứng lý. Không biết, lại dùng “mỹ nữ thái chiến”, tổn người bổ mình, không chỉ đại tán lương tâm, mà ngày kia khó thoát khỏi hỏa ngục. Phật nói: “Tham dâm chúng sanh, ác nghiệp càng nhiều, báo nhỏ thì mắc nhiều bệnh hoạn, báo lớn thì nằm giường hỏa.” 

Lại có một bọn mang nghiệp si quá lắm, tham tài thủ lợi “thiêu mao luyện hống”. Có người hỏi tại sao vậy? Đáp là học đạo. Người xưa muốn bỏ lòng tham, còn đem tiền của bỏ xuống biển. Nay trở lại dùng chì, thiếc bảo đó là tu hành. Thật là quỷ quyệt, kỳ lạ. Khá tiếc cho bọn tham tài hiếu sắc tự nhảy vào con đường khổ của tam đồ. 

Đây là lối lấy dục và lòng ham tài mà tu. Như gần đây chúng ta nghe, ở Bà Rịa có ông thầy được gọi là ông đạo vuốt vừa bị bắt, ông dạy tu lối “nê thủy kim đơn, hoàng bạch diệu thuật”, tức lấy dục làm pháp tu, giết mấy người nữ để tu luyện. “Thiêu mao luyện hống” là dùng lối tu dùng chì thiếc để luyện thành vàng, còn gọi là luyện sắt thành vàng. Họ cho đó là học đạo, là tu hành. Tu cái gì mà kỳ khôi vậy, đây là lối tu bậy bạ nhất, cho nên ngài quở những kiểu tu hành lạ lùng và dùng phương tiện nói cho hiểu chỗ sai lầm đó.

Hỏi: Đại thánh Lão Tử hóa làm người Ấn thành Phật. Há chẳng biết Thích-ca là đồ đệ của Lão Tử ư? 

Đáp: Phật đản sanh vào năm Giáp Dần đời Châu Chiêu Vương năm thứ mười bảy, tịch vào năm Nhâm Thân vào đời Mục Vương năm thứ mười ba. Trải qua vua Cung, vua Ý, vua Hiếu, vua Di, vua Lệ, vua Tuyên, vua U, vua Bình, vua Hoàn, vua Trang, vua Hy, vua Huệ, vua Nhượng, vua Hạng, vua Khuông, vua Định, cộng cả thảy mười sáu đời. Phật diệt độ sau ba trăm bốn mươi năm (340), nhằm đời vua Định Vương năm thứ mười ba mới sanh Lão Tử. Trải qua thời các cao tăng vượt lưu sa, Phật pháp trùm khắp cõi xa, mở mang khắp năm xứ Ấn Độ và những nước lân cận. Thiên hạ nghe Phật pháp đã quá hơn năm trăm năm (500), dối tạo ra Lão Tử hóa người Ấn thành Phật, đấy là vào đời Tấn Huệ Đế, do Vương Phù ngụy tạo. Ấy là hành động khi đối thánh hiền, tự vào địa ngục rút lưỡi, tội kia làm sao cứu được? 

Đạo sĩ nói: Đời vua Định Vương năm thứ ba là sanh Lão Tử hậu thiên, còn Lão Tử tiên thiên thì hóa ra người Ấn thành Phật là thật có. 

Sư đáp: Lúc hỗn độn chưa phân, nguyên khí tự nhiên mập mờ khó biết, tự nhiên nguyên khí này là tiên thiên. Khi thái cực đã chia, thiên địa mới phân, muôn vật phát sinh gọi đó là hậu thiên. Tiên thiên vốn không hình, hậu thiên mới có tượng. Phật sanh vào đời vua Chiêu Vương cách sự khai mở của trời đất quá xa, thế nào cái vô hình của tiên thiên lại đi giáo hóa cái hữu tượng của hậu thiên? Thật là lời nói không có lập trường vững, người nghe không khỏi bịt mũi.

Đoạn này là nói về việc Lão Tử hóa làm Phật, phần này ngài giải thích rõ rồi chúng ta không cần giải thích thêm nữa.

Hỏi: Ngài nói giáo lý của tôi môn khí mạng là ngoại thuật, tâm tức tương y là Nhị thừa, vậy còn có lý Đại thừa có thể tu không? 

Đáp: Có lý nên tu. 

Hỏi: Xin chỉ bày lý nên tu kia. 

Đáp: Y vào Đạo Đức kinh và Thanh Tịnh kinh mà tu thì không lỗi. 

Hỏi: Có mấy tên khác nhau làm cho kẻ hậu học lầm hội. Xin thầy từ bi chỉ cho kẻ chưa ngộ. 

Đáp: Có nghi nên đến hỏi, ta tiếc gì mà chẳng chỉ bày cho ông. 

Hỏi: Xin thầy chỉ bày cái Cốc thần bất tử đó, gọi là Huyền tẫn như thế nào? 

Đáp: Cốc là hư, thần là linh. Hư linh chẳng muội gọi là bất tử. Huyền tẫn tức là linh cơ, linh cơ tức là chân tâm. 

Hỏi: Thế nào là Huyền quang nhất khiếu? 

Đáp: Niệm chưa khởi, cửa tâm chưa nảy mầm gọi là huyền quan. Mẫu trong rỗng suốt, diệu trong lặng lẽ gọi là nhất khiếu. 

Hỏi: Thế nào là Thủ khảm điền ly? 

Đáp: Bỏ vọng là thủ khảm, trở về tâm là điền ly. 

Hỏi: Thế nào là Trừu công thiên hống? 

Đáp: Dứt tình là trừu công, vô tâm tức là thiên hống. 

Hỏi: Thế nào là an lự? 

Đáp: Chẳng ở trong chẳng ở ngoài. 

Hỏi: Thế nào là lập đảnh? 

Đáp: Chẳng tức là tâm, chẳng lìa tâm. 

Hỏi: Thế nào là kim đơn? 

Đáp: Tròn rở rở, suốt xưa thường sáng. Sáng suốt rõ ràng mà đến nay cũng chẳng mê. 

Hỏi: Thế nào là nguyên tinh? 

Đáp: Diệu minh chân tinh, ứng hiện sáu công dụng. 

Hỏi: Thế nào là nguyên khí? 

Đáp: Một tâm không vọng, hơi đức thấm nhuần nơi thân. 

Hỏi: Thế nào là nguyên thần? 

Đáp: Ấn hiện khó lường, ứng dụng không ngăn. 

Hỏi: Thế nào là hỏa hầu? 

Đáp: Một niệm muôn năm, muôn năm một niệm. 

Hỏi: Thế nào gọi là ôn dưỡng? 

Đáp: Phản chiếu xét tâm chẳng hôn trầm chẳng tán loạn. 

Hỏi: Thế nào gọi là hàng long? 

Đáp: Tâm sanh chẳng cho sanh tiếp, giả dụ là 

hàng long. 

Hỏi: Thế nào gọi phục hổ? 

Đáp: Dứt tình về tánh, tên khác là phục hổ. 

Hỏi: Thế nào gọi động tịnh? 

Đáp: Vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm. 

Hỏi: Thế nào gọi là thủy hỏa? 

Đáp: Định là thủy, tuệ là hỏa, bình đẳng không hai là thủy hỏa. 

Hỏi: Thế nào gọi là chân chủng? 

Đáp: Ứng vật linh cơ là chân chủng. 

Hỏi: Thế nào là thuần dương? 

Đáp: Một niệm chẳng sanh muôn duyên lặng lẽ. 

Hỏi: Thế nào là thuần âm? 

Đáp: Vọng tâm điên đảo sanh diệt không dừng. 

Hỏi: Thế nào là mộc dục? 

Đáp: Tâm trong sạch sảng khoái là mộc dục. 

Hỏi: Thế nào là thoát thai? 

Đáp: Linh quang độc diệu, quýnh thoát căn trần. 

Hỏi: Thế nào là hoàn hư? 

Đáp: Người và pháp đều hết, vật và ngã nhất như.

Hỏi: Thế nào gọi liễu đương? 

Đáp: Chân như ra khỏi triền, pháp giới thanh tịnh. 

Đạo hỏi: Người mới nhập môn, hạ thủ công phu như thế nào? 

Đáp: Ngộ trước rồi tu sau.

Hỏi: Thế nào ngộ trước tu sau? 

Đáp: Đem tất cả năng và sở hằng ngày, cùng tất cả những tri kiến thiện ác đều để ngoài tâm, chẳng giữ một chỗ nào cả, rồi riêng tham cứu câu “Cửa huyền ở chỗ nào?” Suốt cả mười hai giờ cứu xét cho sâu cái nghi tham này, xem một cửa khiếu này là mặt mũi gì? Khi chân nghi hiện tiền thì thân tâm chỉ còn một cái không, duy chỉ có tham cứu nhất niệm. Trở lại đem nhất niệm này phá nát ra. Lúc ấy chân tánh sáng rỡ, huyền quan hiển hiện. Về sau tùy duyên giữ gìn, trừ sạch tất cả dòng nhỏ nhiệm trôi chảy. Lúc bấy giờ tự đợi cùng hư thể nhập một, mới là trước sau rõ ràng ổn thỏa. 

Hỏi: Bậc thượng căn đốn ngộ, liền đó rõ ràng. Người căn cơ bậc trung bậc hạ, tập nghiệp từ trước quá nặng, dù được đốn ngộ, nhưng mà không thể đốn chứng được. Vậy có phương tiện gì mượn để bảo dưỡng? 

Đáp: Người ngộ lý nên tùy duyên giữ gìn. Suốt mười hai giờ trong lúc động tịnh, ngoài chẳng trụ có, trong chẳng giữ không thì một tâm bình thản lặng lẽ tự hết. Nếu chợt có niệm sanh, niệm sau chẳng tiếp tục. Bậc cổ tiên nói: “Thần một phen đi liền thu trở lại. Thần trở lại trong thân khí tự nhiên hồi về. Sớm sớm chiều chiều hành như vậy thì tự nhiên xích tử kết nơi thai mầu.” Xích tử thai mầu ở đây chẳng phải thật có thai, mà nói cái tâm thuần chân như con đỏ, lại cũng không có tưởng bên ngoài. 

Hỏi: Giữ tâm xích tử có thể gọi là đạo chăng? 

Đáp: Tâm xích tử chẳng phải là đạo, nên tự giữ chẳng phân biệt. Tâm nếu chứng được tâm xích tử, cũng chớ giữ tâm xích tử. Lại phải chuyển vị mới là phương cách lớn. 

Nếu bên đạo Lão y Đạo Đức kinh và Thanh Tịnh kinh mà tu thì không sao, còn lấy các quyển sách khác mà tu thì đó là tà. Kế tiếp là ngài chỉ về chân tâm, Phật tánh rất cặn kẽ. Tất cả những danh từ của Lão, ngài đều quy về danh từ Phật. Ngài chỉ dạy pháp tu dùng câu thoại đầu, để hướng cho họ trở về tâm tánh.

Hỏi: Thế nào phương cách lớn? 

Đáp: Tịnh như cốc thần, động như mây bay, co duỗi không dấu vết, hiện ra hay lặng xuống cũng không tung tích. Chẳng mang áo quý quyền, mặc áo nhơ, đi trong phi đạo để thành tựu chí đạo. Tùy loài dạy dỗ, cứu khắp hàm linh, tự đợi phúc và tuệ đều đủ cả hai, mới chứng Đại Giác Kim Tiên. 

Phần nhiều người tu tiên đạt đạo thì tiêu dao tự tại, vì muốn chuyển họ cho nên ngài mới nói phải chuyển vị mới là phương cách lớn. Phương cách lớn là gì? Khi tu được tâm an vui tự tại rồi thì lúc đó phải chẳng mang áo quý quyền, mặc áo nhơ, đi trong phi đạo để thành tựu chí đạo. Cởi bỏ chiếc áo quyền quý, mặc áo nhơ vào. Nghĩa là bỏ cảnh tịnh mà sống với cảnh động, đi trong phi đạo nhập thế cứu độ chúng sanh, giáo hóa mọi người biết tu đạo. Khi nào định tuệ cả hai đều đủ, lúc đó mới được gọi là Đại Giác Kim Tiên, tức là Phật. Tiên mà chuyển thành Phật, đó là điểm đặc biệt của ngài. Như vậy trong ba phần đã học qua, từ kẻ thế tục cho đến Nho đạo, ngài đều chuyển về Phật. Đây là lối nói dùng phương tiện cho nên chúng ta đừng chấp lời, mà phải hiểu được ý chỉ thâm sâu trong đó. Từ đây trở về sau thuần nói về đạo Phật.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.