Tọa Thiền Tam Muội giảng giải

Chương III - Tùy Bệnh Đối Trị



Chánh văn:

Nếu người đa dục dùng pháp môn Bất tịnh trị. Nếu người nhiều nóng giận dùng pháp môn Từ bi trị. Nếu người nhiều ngu si lấy pháp môn quán Nhân duyên trị. Nếu người nhiều lo nghĩ lấy pháp môn Niệm hơi thở trị. Nếu người đẳng phần (tham sân si đồng nhau) lấy pháp môn Niệm Phật trị. Bao nhiêu thứ bệnh có bấy nhiêu thứ pháp môn để trị.

I- PHÁP MÔN TRỊ THAM DỤC

Người dâm dục nhiều nên tu quán Bất tịnh. Từ chân đến đầu đầy dẫy bất tịnh: tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, máu, mủ, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi, tim, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phẩn, nước tiểu, nước mũi, nước miếng, mồ hôi, nước mắt, cứt ráy, đất, óc, bong bóng, mật đàm, bầy nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc. Đó là ba mươi sáu vật bất tịnh trong thân.

Lại quán bất tịnh có chín thứ theo thứ tự:

1- Quán thây mới chết bầm xanh, 2- Lần lần sình trương, 3- Nứt nẻ, 4- Máu chảy ra, 5- Rục rã, 6- Lầy thối, 7- Giòi, thú đục ăn, 8- Xương mục, 9- Thiêu rụi. Đó là Cửu tưởng bất tịnh.

Người đa dục có bảy thứ yêu: 1- Yêu sắc đẹp, 2- Yêu dáng điệu, 3- Yêu dung mạo, 4- Yêu âm thanh, 5- Yêu láng mịn, 6- Yêu con người, 7- Tổng yêu.

Nếu yêu sắc đẹp nên tập quán thây chết bầm xanh, những sắc bất tịnh vàng, đỏ… cũng như vậy. Nếu yêu dáng điệu nên tập quán thây sình trương và nứt nẻ. Nếu yêu dung mạo nên tập quán thây máu chảy và rục rã. Nếu yêu âm thanh, tập quán người khi sắp chết, nấc lên và tắt thở. Nếu yêu láng mịn nên tập quán bộ xương và người bệnh khô gầy. Nếu yêu con người nên tập quán cả sáu thứ trong chín thứ bất tịnh. Nếu tổng yêu nên quán cả chín thứ. Hoặc khi quán các thứ này, lại khi quán các thứ khác, đều gọi là quán Bất tịnh.

– Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu? Nếu yêu thân trong sạch thì thân thối lầy cũng vẫn yêu? Nếu không yêu thân thối lấy thì thân trong sạch cũng không yêu, vì hai thân là một vậy.

– Nếu tìm hai cái thật tịnh thì không thể có. Tâm người mê lầm bị sự điên đảo che đậy nên không phải tịnh chấp là tịnh, nếu phá dẹp tâm điên đảo thì được pháp quán thật tướng, liền biết bất tịnh là hư dối không thật.

Lại nữa, thây chết không có hơi ấm, mạng sống, thần thức, và các căn bế tắc, người nhận kỹ thì tâm không sanh yêu mến. Thân sống có hơi ấm, mạng sống, thần thức, các căn sáng sủa, nên tâm điên đảo mê lầm sanh yêu mến.

Khi tâm yêu sắc cho đó là tịnh, tâm yêu sắc dứt liền biết là bất tịnh. Nếu là thật tịnh thì phải thường tịnh, mà đây không phải thế. Như chó ăn phẩn cho là sạch, lấy con mắt người xem thì thấy rất dơ. Thân này toàn cả trong ngoài không có chỗ nào là sạch. Nếu yêu dáng ngoài của thân, toàn thân da mỏng bao bọc, nếu nắm cắt một miếng bằng ngón tay ta sẽ thấy bày tướng bất tịnh, huống là cả ba mươi sáu vật nhơ nhớp trong thân.

Hơn nữa, xét ra nhân duyên tạo thành thân có bao nhiêu thứ bất tịnh. Trước tiên do tinh huyết cha mẹ hợp thành là bất tịnh, thành thân rồi thường chảy ra các thứ bất tịnh, cho đến quần áo, mền chiếu cũng là bất tịnh, nếu đến khi chết thì sự bất tịnh không thể kể xiết. Do đó nên biết sống, chết, trong, ngoài đều là bất tịnh.

Sau khi quán Bất tịnh thành công chuyển lên quán Tịnh.

Người tu Tịnh quán có ba hạng: mới tập, đang tập, tập đã lâu.

– Nếu người mới tập (người trước chưa phát tâm kiên cố), phải dạy rằng: Tưởng lột toát da ra trừ dẹp hết máu, thịt v.v… các thứ bất tịnh, quán bộ xương người đỏ. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về.

– Nếu người đang tập (người tập hành vài ba năm), nên dạy: Tưởng toát da thịt quán xương đầu, không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về.

– Nếu người tập hành đã lâu (người đã tập hành trải hàng chục năm), nên dạy: Tưởng dẹp hết da, thịt, buộc ý năm chỗ: đỉnh đầu, trán, giữa chân mày, chót mũi, ngay quả tim. Trụ ý năm chỗ ấy, quán xương không cho nghĩ gì ngoài, có nghĩ ngoài phải thu nhiếp trở về.

Thường xem xét tâm nó chạy đi phải lôi lại. Nếu tâm mệt mỏi sẽ dừng lại chỗ buộc duyên, không chạy ra ngoài nữa, như con khỉ bị xiềng bên cây cột, nhảy nhót mệt rồi sẽ nằm lại bên cây cột. Chỗ buộc tâm duyên như cây cột, ý niệm chăm chú như sợi dây, tâm như con khỉ. Lại như bà mẹ chăm giữ đứa con còn bú, không để nó rơi té. Hành giả quán tâm cũng như thế, lần lần chế phục được tâm, bắt nó ở một chỗ. Nếu tâm trụ được lâu đó là hợp pháp thiền. Nếu được thiền định thì phát ba tướng:

1- Thân thể an hòa vui vẻ nhẹ nhàng mềm dịu.

2- Xương trắng phát ra ánh sáng trắng trong như ngọc.

3- Tâm dừng lặng.

Đó là tướng Tịnh quán.

Khi ấy, được tâm hợp với Sắc giới. Ấy là người mới học pháp thiền được tâm khế hợp Sắc giới. Tâm hợp với pháp thiền tức pháp Sắc giới. Tâm được pháp này mà thân còn ở Dục giới vẫn được ba tướng:

1- Tuy tứ đại thô mà được vui vẻ mềm dịu, hình chất trong sạch, tươi nhuần bóng mịn, điều hòa. Ấy gọi là tướng vui vẻ.

2- Hành giả nội quán thấy tướng xương trắng phát ánh sáng khắp chiếu, sắc nó trắng trong.

3- Tâm trụ một chỗ.

Như thế gọi là Tịnh quán. Trừ thịt quán xương gọi là Tịnh quán. Ba tướng như trên đều tự biết đó, không thấy gì khác.

II- PHÁP MÔN TRỊ NÓNG GIẬN

Nếu người nhiều nóng giận, phải học pháp môn ba thứ Từ tâm. Hoặc người mới tập hành, hoặc đang tập hành, hoặc tập hành đã lâu.

Người mới tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người thân mến. Thế nào tâm Từ đến những người thân, nguyện làm cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, như khi lạnh được mặc ấm, khi nóng được mát, đói khát được ăn uống, nghèo túng được của cải, làm nhọc nhằn được nghỉ ngơi v.v… những thứ vui ấy nguyện cho người thân mến cùng được hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở lại.

Người đang tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người không thân không sơ. Thế nào tâm Từ đến những người không thân không sơ, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện cho những người không thân không sơ đồng cùng chung hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về.

Người tập hành đã lâu nên dạy: Tâm Từ đến những người thù ghét. Thế nào tâm Từ đến những người ấy, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện những kẻ thù ghét đồng cùng chung hưởng, sự hưởng này đồng với người thân mến. Được bình đẳng nhất tâm, tâm rộng lớn thanh tịnh, người thân, người không thân không sơ, và kẻ thù ghét đều xem như nhau. Rộng đến cả thế giới vô lượng chúng sanh đều khiến được an vui, khắp cả mười phương cùng đồng một tâm bình đẳng rộng lớn thanh tịnh. Xem chúng sanh cả mười phương như xem thân mình, thấy họ rõ ràng trước mắt đồng được thọ hưởng khoái lạc. Khi ấy được Từ tam-muội.

– Người thân mến và người không thân không sơ nguyện cho vui là được, còn kẻ thù ghét hung ác tại sao lại thương xót nguyện được vui?

– Nên ban vui cho những người ấy. Vì sao? Người ấy còn bao nhiêu việc tốt là nhân của pháp thanh tịnh, tại sao ta nay lại do một cái thù nhỏ mà bỏ quên những cái tốt kia! Lại suy nghĩ: Người kia thời quá khứ biết đâu không phải là thân quyến của ta, nay không thể do một chút sân mà sanh thù ghét. Ta phải nhịn họ, đó là thiện lợi của ta. Hoặc nghĩ: Ta thực hành pháp nhân đức, hàm chứa hoằng truyền sức từ bi vô lượng không thể để cho nó tiêu mất. Lại nghĩ: Nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao thành tựu nhân Sanh nhẫn. Sanh nhẫn là do kẻ oán thù ban cho, như vậy kẻ oán thù là người thân thiện của ta. Hơn nữa, quả báo của sân là tối trọng, trong các thứ ác nó là bậc trên hết, do sân mới tàn hại người vật, nó là cái độc khó kìm chế được, tuy muốn đốt người mà kỳ thật là thiêu mình. Nên tự suy nghĩ: Bên ngoài mặc chiếc áo pháp, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục gọi là Sa-môn, thì đâu có thể nghe tiếng nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác. Lại nghĩ: Thân ngũ ấm này là cái rừng đau khổ, là mục tiêu chịu đựng những điều tai ác, thì những cái khổ não tai ác đến làm gì tránh khỏi. Như gai nhọn đâm vào thân, khổ não vô lượng, các thứ thù oán rất nhiều không thể diệt hết, phải tự bảo vệ bằng cách mang đôi giày nhẫn nhục. Như Phật dạy:

Lấy sân trả sân,

Sân trở hại đó,

Sân mà không trả, 

Hay phá quân to.

Hay không sân hận, 

Là pháp Đại nhân, 

Tiểu nhân sân hận, 

Khó động như núi.

Sân là độc dữ, 

Tàn hại rất nhiều, 

Không thể hại người, 

Trở về tự hại.

Sân là tối lớn, 

Có mắt không thấy, 

Sân là bụi nhớp, 

Ô uế tịnh tâm.

Sân độc như thế, 

Phải mau trừ diệt, 

Rắn độc trong nhà, 

Không đuổi hại người.

Sân hận như thế, 

Rất nhiều vô lượng.

Thường tập Từ tâm, 

Trừ diệt sân hận.

Như trên là môn Từ tam-muội.

III- PHÁP MÔN TRỊ NGU SI

Nếu người nhiều ngu si phải học pháp môn ba thứ suy nghĩ.

Nếu người mới tập hành phải dạy: Sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành. Chỉ như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về.

Nếu người đang tập hành phải dạy: Hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì ngoài, nếu có nghĩ việc ngoài liền thu nhiếp trở về.

Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về.

– Tất cả người trí là minh, tất cả người ngu là vô minh, trong ấy thế nào là vô minh?

– Vô minh là tất cả không biết. Ở trong đây vô minh hay tạo có đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có, bỏ các điều thiện, lấy các thứ ác, phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối. Như trong phẩm Vô Minh Tướng nói:

Pháp mờ mịt không sáng, 

Không biết nghiệp đạo đức, 

Mà tạo nhân kiết sử, 

Như lửa do cọ xát.

Pháp ác mà tâm thích, 

Xa bỏ các pháp lành, 

Giặc cướp sáng chúng sanh, 

Xưa nay thường bị cướp.

Tướng thường lạc ngã tịnh 

Chấp trong thân ngũ ấm, 

Pháp khổ tập diệt đạo 

Cũng lại không thể biết.

Đường hiểm các thứ não,

Người mù đi vào trong,

Phiền não nên nghiệp tập, 

Nghiệp nên khổ xoay vòng.

Không nên lấy mà lấy, 

Nên lấy trở lại bỏ, 

Theo đuổi tối, sai lầm, 

Giẫm phải gốc té nhào.

Có mắt mà không tuệ, 

Ví dụ cũng như thế, 

Bởi nhân duyên ấy diệt, 

Trí sáng như mặt trời.

Như thế lược nói vô minh cho đến lão tử cũng vậy.

– Trong Phật pháp lý nhân duyên rất cao sâu, tại sao người nhiều ngu si lại hay quán nhân duyên?

– Có hai hạng người ngu si: Hạng người mê muội như trâu dê. Hạng người ôm các thứ tà kiến mê lầm đen tối, là người ngu si tà kiến. Phật vì hạng người sau bảo phải quán nhân duyên tập chánh định.

IV- PHÁP MÔN TRỊ LO NGHĨ

Người nhiều lo nghĩ phải tập pháp môn A-na-ban-na tam-muội.

Nếu người mới tập hành phải dạy: Nhất tâm đếm hơi thở vào ra, hoặc dài hoặc ngắn, đếm từ một đến mười.

Nếu người đang tập hành phải dạy: Đếm hơi thở từ một đến mười và theo hơi thở vào ra, niệm cùng hơi thở, đồng dừng tâm ở một chỗ.

Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Đếm hơi thở, theo hơi thở, chỉ, quán, hoàn và tịnh.

A-na-ban-na tam-muội có sáu môn, chia làm mười sáu phần. Sáu môn là:

  1. Sổ tức: Hành giả nhất tâm nhớ hơi thở vào đến cùng, đếm một, hơi thở ra đến cùng, đếm hai. Nếu hơi thở chưa cùng mà đếm là sai. Nếu đếm từ hai đến chín mà quên phải đếm lại một. Ví như nhà toán học tính một với một là hai, hai với hai là bốn v.v… không sai một mảy.

– Tại sao phải đếm?

– Nhân đếm hơi thở quán vô thường, dễ được dứt các lo nghĩ và được nhất tâm. Thân tâm sanh diệt vô thường liên tục tương tự khó thấy, nhân thở vào ra sanh diệt vô thường mà dễ biết dễ thấy được nó. Tâm buộc tại số, dứt các lo nghĩ.

Lo nghĩ gồm sáu thứ: 1- Lo nghĩ tham dục, 2- Lo nghĩ giận hờn, 3- Lo nghĩ não hại, 4- Lo nghĩ quê hương thân thuộc, 5- Lo nghĩ cõi nước, 6- Lo nghĩ không chết.

Người muốn cầu tịnh tâm vào chánh đạo, trước phải diệt ba thứ lo nghĩ thô, kế trừ ba thứ tế. Trừ hết sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp Nhất thiết thanh tịnh. Ví như người luyện vàng, trước bỏ những đá sỏi thô, sau mới bỏ bợn cát tế, lần lượt được vàng ròng.

– Thế nào là bệnh thô? Thế nào là bệnh tế?

– Nghĩ tham dục, nóng giận, não hại là ba thứ bệnh thô. Nghĩ quê hương thân thuộc, cõi nước, không chết là ba thứ bệnh tế. Trừ được sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp tất cả thanh tịnh.

– Người chưa được đạo, kiết sử chưa đoạn, sáu cái lo nghĩ này từ tâm khởi loạn, làm sao trừ được?

– Tâm chán thế gian và tu chánh quán thì hay ngăn mà chưa nhổ được gốc nó, sau khi được đạo vô lậu mới nhổ hết gốc rễ của nó.

– Thế nào là chánh quán?

– Như bài tụng:

Thấy người đa dục cầu đã khổ, 

Được nó giữ gìn càng thêm khổ, 

Mất đi buồn thảm khổ lại hơn, 

Khi tâm được dục không mãn khổ.

Dục nhân vô thường, không, sầu thảm, 

Các thứ chung hợp nên bỏ đi, 

Ví như rắn độc vào nhà người 

Không gấp đuổi đi hại ắt đến.

Không định, không thật, không quý trọng, 

Những thứ dục cầu vui điên đảo, 

Như A-la-hán lục thần thông 

Cảnh tỉnh đệ tử giác dục rằng: 

Ngươi không phá giới, giới thanh tịnh, 

Không cùng người nữ chung nhà ngủ, 

Rắn độc kiết dục đầy nhà tâm 

Ràng buộc vui ái không xa lìa.

Đã biết giới thân không thể phá, 

Mà tâm thường cùng lửa dục chung, 

Ngươi vốn xuất gia cầu đạo pháp, 

Bởi đâu buông lung đến thế này?

Cha mẹ sanh thành nuôi nấng ngươi, 

Bà con quyến thuộc thương yêu lắm,

Thảy đều rơi lệ quyến luyến ngươi, 

Ngươi đành xa bỏ không đoái tưởng.

Mà nay sao lại ôm lòng dục, 

Cùng dục vui vầy không chán nhàm, 

Thường cùng lửa dục chung một chỗ 

Vui vẻ thích thú không tạm lìa!

Như thế các thứ quở trách tham dục và những thứ chánh quán trừ tâm tham dục.

– Thế nào diệt tâm giận hờn?

– Như bài tụng:

Từ bào thai ra thường chịu khổ, 

Chúng sanh như thế chớ giận hại, 

Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, 

Từ bi nóng giận không chung cùng.

Người nhờ từ bi nóng giận dứt, 

Ví như sáng tối không chung chỗ, 

Nếu giữ tịnh giới mà nóng giận,

Người ấy tự phá pháp lợi mình.

Ví như dẫn voi xuống nước tắm 

Lại lấy bùn đất trét đầy mình, 

Tất cả đều phải già, bệnh, chết, 

Mọi thứ đánh đập trăm ngàn khổ.

Tại sao người lành thương chúng sanh 

Mà lại gia tăng giận não hại?

Nếu khởi nóng giận muốn hại người,

Chưa đến người kia trước đốt mình.

Thế nên thường nghĩ hành từ bi, 

Nóng giận, nghĩ ác tâm không sanh, 

Nếu người thường nghĩ hành pháp lành, 

Thường nghĩ pháp lành tâm vui vẻ.

Đời nay được vui, sau cũng thế, 

Được đạo thường vui, ấy Niết-bàn, 

Nếu tâm dồn chứa điều bất thiện 

Tự mất lợi mình lại hại người.

Đã tự trong tâm mất thiện pháp, 

Người có tịnh tâm cũng trầm một, 

Ví như đạo nhân ở chỗ vắng 

Đưa tay kêu to: “Giặc cướp tôi!” 

Có người hỏi rằng: “Ai cướp ngươi?” 

Đáp rằng: “Giặc Của tôi chẳng sợ, 

Tôi không giữ của cầu thế lợi, 

Làm gì giặc Của hại được tôi.

Tôi tập căn lành các pháp bảo,

Giặc giác quán (xét nghĩ) phá tôi thiện lợi,

Giặc Của đã lánh chỗ chứa nhiều,

Giặc cướp thiện đến không thể tránh.”

Như thế các thứ trách nóng giận và các thứ chánh quán trừ tâm nóng giận.

– Thế nào trừ cái nghĩ não hại?

– Như bài tụng:

Chúng sanh luống chịu trăm ngàn thứ: 

Các bệnh luôn luôn đến não hại, 

Giặc chết rình chụp thường muốn giết, 

Vô lượng chúng khổ tự vây quanh.

Tại sao người lành thêm não hại, 

Chê bai mưu hại không nhân từ?

Hại người chưa được tự mang họa,

Người tục mưu hại còn thể tha.

Đó là nghiệp ác của thế gian, 

Cũng không tự nói ta tu thiện, 

Cầu đạo thanh tịnh người xuất gia 

Mà sanh nóng giận tâm tật đố.

Trời tạnh trong mây xẹt lửa độc,

Phải biết ác này tội rất nặng,

Người ưa vắng vẻ khởi tật đố,

Có bậc La-hán được tha tâm

Răn dạy quở rầy: “Ngươi sao dại?

Tật đố tự phá cội công đức, 

Muốn được cúng dường phải tự tập

Bao nhiêu công đức trang nghiêm thân.

Nếu không trì giới, thiền, đa văn, 

Dối mặc áo nhuộm hoại pháp thân,

Thật kẻ ăn xin, người tệ ác, 

Tại sao mong lợi được cúng dường?”

Đói, khát, lạnh, nóng trăm ngàn khổ, 

Chúng sanh thường bởi các khổ này, 

Thân tâm khổ ách không cùng tận, 

Tại sao người lành thêm não hại?

Ví như ghẻ lớn dùng dao mổ, 

Cũng tợ tù nhân khảo chưa xong,

Khổ ách quanh mình các khổ nhóm, 

Tại sao từ bi lại muốn tăng?

Như thế các thứ quở trách cái nghĩ não hại, các thứ chánh quán để trừ nghĩ não hại.

– Thế nào trừ cái nghĩ quê hương thân thuộc?

– Nên nghĩ thế này: Trong thế giới sanh tử tự nghiệp duyên ràng buộc thì đâu là thân đâu là sơ? Chỉ do ngu si khởi tâm mến bừa, chấp cho là thân thuộc. Đời quá khứ đời vị lai không phải thân mà nay là thân. Đời này là thân mà quá khứ không phải thân. Ví như đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Quê hương thân thuộc cũng như vậy. Sanh trong thế giới mỗi người tự có tâm khác, duyên hợp nên thân, duyên tan thành sơ, không thể có nhân duyên quả báo quyết định mãi cùng nhau thân cận. Ví như cát khô tay nắm chắc thành khối, do nắm nên hiệp, buông ra thành tan. Cha mẹ nuôi con đến khi già con đền đáp lại. Con nhờ sự bồng ẵm nuôi nấng nên phải báo đáp lại. Nếu thuận ý cha mẹ là thân, nghịch ý là sơ. Có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích. Người do nhân duyên nên sanh ra ái, bởi nhân duyên ái nên trở lại hại người. Ví như họa sĩ họa tượng người nữ, trở lại yêu thích tượng ấy. Người yêu quê hương thân thuộc cũng thế. Tự sanh nhiễm trước, nhiễm trước những cái bên ngoài, trong đời quá khứ ngươi vẫn có quê hương thân thuộc, đời này ngươi đã làm gì? Ngươi không thể làm lợi ích cho người thân đời quá khứ, người thân đời quá khứ cũng không thể làm lợi ích cho ngươi, hai bên đều không thể làm lợi ích cho nhau. Trong cõi thế giới không định vô biên này, có nghĩ đến người thân hay không thân cũng chỉ là nghĩ suông mà thôi. Như vị A-la-hán dạy đệ tử mới xuất gia còn luyến ái người thân rằng:

“Như kẻ hư hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy. Ngươi đã được xuất gia tại sao trở lại ái trước? Cạo tóc, mặc áo hoại sắc là tướng giải thoát, ngươi còn yêu mến người thân quê hương không được giải thoát, trở lại bị cái yêu mến buộc ràng. Ba cõi vô thường lưu chuyển không định, hoặc thân không thân, tuy nay thân nhưng lâu xa cũng hết. Như thế, mười phương chúng sanh luân hồi, quê hương thân thuộc không định thì đâu không phải là quê hương thân thuộc của ta. Người khi sắp chết tâm thức không có, đứng tròng mắt tắt thở, mạng sống dứt, như rơi vào hầm tối. Khi ấy quê hương thân thuộc còn đâu? Nếu khi mới sanh, đời trước không phải thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân; khi sắp chết, người thân trở lại không phải thân. Như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc.”

Như thế các thứ chánh quán trừ lo nghĩ quê hương thân thuộc.

– Thế nào trừ cái nghĩ cõi nước?

– Hành giả nếu nghĩ nước ấy giàu có vui vẻ an ổn, nhiều người tốt, thường bị sợi dây đất nước trói buộc. Phải bỏ đi cái nghĩ sai lầm như thế! Nếu người có trí không nên mến trước. Vì sao? Vì bao nhiêu cõi nước do tội lỗi thiêu đốt và thời tiết biến chuyển nên có đói khát khổ nhọc, tất cả cõi nước đều là vô thường không an ổn. Lại nữa, già bệnh chết không nước nào mà chẳng có. Từ chỗ này thân khổ đến chỗ kia thân cũng khổ, đi khắp tất cả nước không đâu chẳng khổ. Giả sử có nước an ổn giàu có vui vẻ mà còn có kiết sử tâm sanh đau khổ thì nước ấy cũng chưa phải tốt. Nếu hay dẹp được những cái xấu xa trong nước, làm tiêu mòn kiết sử cho tâm khỏi khổ, ấy là nước tốt. Tất cả chúng sanh có hai thứ khổ, thân khổ và tâm khổ. Do hai thứ khổ này mà thường khổ não. Không có nước nào mà không có hai cái khổ này. Lại có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước đói khát, có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc cướp, có nước pháp nước bất công v.v… Các nước như thế, tâm chán không nên đắm mến. Đó là chánh quán trừ nghĩ cõi nước.

– Thế nào trừ cái nghĩ không chết?

– Nên dạy hành giả, hoặc sanh trong nhà khá giả, hoặc con dòng quý phái, người có tài nghề thế lực…, tất cả đều không nên nghĩ nhớ. Tại sao? Vì khi chết đến không lựa già trẻ sang hèn, tài nghề thế lực… Thân này là chỗ tụ hợp của các nhân duyên sầu khổ. Nếu tự thấy mình ít tuổi còn sống lâu, được an ổn, đó là người ngu si. Vì cớ sao? Chỗ nương tựa của sầu khổ là tứ đại, tứ đại gây nên hình thể cũng như bốn con rắn độc, tuy chung mà không hợp thì làm sao được an ổn? Hơi thở ra chưa trở vào là không thể tin được. Khi ngủ chưa ắt có thức, việc ấy cũng khó tin. Từ khi vào thai cho đến lúc già, cái chết lúc nào cũng rình rập bên mình, thế mà vì mong sống lâu nói rằng không chết, làm sao tin được? Giặc chết rút đao, nắm tên tìm người giết, không có chút lòng thương xót. Người sanh trên đời cái chết là sức mạnh bậc nhất, tất cả không có cái gì thắng được sức mạnh của cái chết. Người anh hùng bậc nhất của đời quá khứ không thoát được cái chết, bậc đại trí trong đời hiện tại cũng không thắng được cái chết, không thể dùng lời nhỏ nhẹ van xin được nó, không thể dùng lời khéo léo lừa gạt được nó, cũng không thể giữ giới tinh tấn mà đuổi được nó. Do đó nên biết, mạng người tạm bợ không thể trông cậy. Chớ có tin chắc rằng ta sẽ sống lâu. Bọn giặc chết thường dẫn người đi, không đợi già rồi mới giết. Như A-la-hán dạy đệ tử bị cái nghĩ không chết não hại rằng:

“Ngươi đã biết chán đời vào đạo, sao lại khởi nghĩ như thế? Này! Có người chưa sanh đã chết, có người chết trong khi sanh, có người chết trong lúc còn bú, có người chết sau khi dứt sữa, có người chết lúc còn bé, có người chết trong thời trai tráng, có người chết lúc tuổi già. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Ví như cây trổ hoa liền rụng hoặc thành trái mới rụng, có khi chưa chín lại rụng. Thế nên, phải gắng sức tinh tấn cầu đạo an ổn; chung ở với bọn giặc dữ không thể tin được, bọn giặc này như cọp khéo giấu hình khó thấy. Giặc chết thường tìm giết người, mọi vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Ai có thể bảo chứng rằng người già ắt được hành đạo? Ví như cây to đứng dựa vực thẳm, trên bị gió lớn, dưới bị nước xoi bày rễ, ai có thể tin được cây này lâu bền? Mạng người cũng vậy, tuy tuổi nhỏ vẫn khó tin. Cha như hạt giống, mẹ như khoảnh ruộng, nhân duyên tội phước đời trước như mưa sương, con người như cây lúa, chết sống như cắt gặt. Những vị thiên tử nhân vương trí đức hưởng những thứ vui sướng cao sang, nhưng sau rồi lại rơi vào chỗ tối tăm. Bởi thế nên chớ tin mạng sống mà nói rằng: Ta ngày nay làm việc này, ngày mai cũng làm việc này.”

Các thứ chánh quán như thế trừ quan niệm không chết.

Trước trừ lo nghĩ thô, sau trừ lo nghĩ tế, tâm thanh tịnh liền được chánh đạo, tất cả kiết sử dứt, từ đây được chỗ an ổn, ấy là quả của người xuất gia. Tâm tự tại, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, không phải trở lại thọ sanh, học rộng, đọc nhiều kinh, khi ấy được quả báo tốt. Khi được như vậy, không nhọc công phá quân ma vương mà được khen ngợi là người dũng sĩ bậc nhất, bọn giặc phiền não tự lui; tuy không gọi là mạnh mà hay trừ giặc phiền não, diệt được lửa tam độc, mát mẻ vui vẻ trong sạch, gối tay nằm an ổn trong rừng Niết-bàn. Ngọn gió mát thiền định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi bốn phía thổi đến, đoái nhìn thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong biển tam độc. Cái diệu lực như thế mới gọi là kiện toàn. Thế nên, những người tán tâm phải niệm A-na-ban-na, học sáu pháp đoạn các thứ lo nghĩ. Do đó trước phải học Sổ tức.

– Nếu trong bốn pháp – quán bất tịnh, niệm Phật v.v… – cũng trừ được lo nghĩ, vì sao chỉ nói riêng Sổ tức?

– Vì các pháp quán kia chậm rãi nên khó mất, pháp Sổ tức mau chóng nên dễ chuyển. Ví như người thả trâu, do trâu khó mất nên sự coi giữ lơ là, nếu thả vượn khỉ, do khỉ dễ mất nên sự coi giữ khít khao. Pháp này cũng như thế. Sổ tức chăm chú tâm và số, không được một chốc nghĩ việc khác, nếu có một chốc nghĩ việc khác là số đã lộn mất. Bởi thế nên, lúc ban đầu muốn đoạn sự lo nghĩ phải Sổ tức.

Được pháp Sổ tức rồi phải thực hành pháp Tùy tức để đoạn các lo nghĩ.

  1. Tùy tức: Hít hơi vào tới cùng, tâm chỉ duyên theo không đếm một, thở hơi ra đến cùng, tâm duyên theo chớ đếm hai. Ví như người thiếu nợ, chủ nợ đến đòi theo mãi bên lưng không rời. Như thế, suy xét hơi thở vào, trở ra có khác, hơi thở ra, trở vào có khác. Khi ấy biết hơi thở vào khác hơi thở ra. Vì hơi thở ra ấm, hơi thở vào lạnh.

– Hơi thở vào, ra chỉ là một. Vì sao? Vì ra rồi trở lại vào. Ví như nước ngậm vào miệng thì ấm, nhổ ra thì lạnh, lạnh trở ra ấm, ấm trở lại lạnh cũng chỉ là một.

– Không phải như vậy. Do nội tâm động nên có thở ra, ra rồi liền mất, mũi và miệng hít bên ngoài thì có hơi thở vào, vào rồi diệt, cũng không có sắp ra, không có sắp vào. Lại nữa, trẻ nhỏ hơi thở vào dài, người tráng niên hơi thở vào ra bằng nhau, người già hơi thở ra dài, thế nên chẳng phải một loại hơi thở. Nơi rốn phát ra hơi thở hình như liên tục, thở ra đến mũi và miệng, ra rồi liền diệt. Ví như hơi trong quả bóng khi mở dây cột ra liền xẹp, nếu dùng nhân duyên mũi miệng thổi hơi thở vào, ấy là nhân duyên mới mà sanh. Ví như cái quạt, do các duyên hợp lại nên có gió. Khi ấy, biết do nhân duyên nên có hơi thở ra vào, nó hư dối không thật, sanh diệt vô thường.

Suy xét do nhân duyên mũi miệng hít có hơi thở vào, do nhân duyên tâm động có hơi thở ra, mà mê lầm không biết, chấp là hơi thở của ta. Hơi thở là gió, cùng với gió bên ngoài không khác. Đất, nước, lửa, không, cũng như thế. Bởi nhân duyên ngũ đại hợp nên có thức sanh. Thức cũng như vậy, không phải là của ta. Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới cũng như thế. Biết như vậy, theo hơi thở ra vào gọi là Tùy tức.

Đã được pháp Tùy tức phải thực hành pháp Chỉ.

  1. Pháp Chỉ: Sổ, Tùy tâm rất an trụ, ý dừng bên cửa hơi thở để xem nó ra vào. Vì sao phải Chỉ? Vì dứt các lo nghĩ, dừng tâm tán động. Khi Sổ tức, Tùy tức tâm không định vì rất nhiều việc. Chỉ thì tâm nhàn rỗi ít việc, tâm trụ một chỗ xem hơi thở ra vào. Ví như người gác cửa đứng bên cửa xem người ra vào. Tâm Chỉ cũng như vậy, biết hơi thở khi ra từ rốn đến hông, ngực, cổ, miệng, mũi, khi vào từ miệng, mũi đến cổ, ngực, hông, rốn. Như vậy, buộc tâm một chỗ gọi là Chỉ.
  2. Pháp Quán: Trong pháp Chỉ, tâm dừng lại để quan sát, khi hơi thở vào ngũ ấm sanh diệt khác, khi hơi thở ra ngũ ấm sanh diệt khác. Như thế, trừ dẹp loạn tâm, nhất tâm suy xét cho pháp quán được tăng trưởng gọi là Quán.
  3. Pháp Hoàn: Bỏ chỗ đứng bên cửa, rời pháp quán thô. Rời pháp quán thô là nhận biết hơi thở vô thường, ấy gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào, sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu, do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không, đó là chuyển quán.
  4. Pháp Tịnh: Trừ diệt ngũ cái và các phiền não, tuy trước được Chỉ, Quán mà phiền não chưa sạch, tâm còn tạp loạn, nay pháp Tịnh là tâm được thanh tịnh. Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi Thanh tịnh.

Pháp quán trước là một phần thân niệm Chỉ, dần dần toàn thân niệm Chỉ, kế thọ và tâm niệm Chỉ, trong đó chưa phải thanh tịnh còn xa đạo vô lậu. Ở đây, trong pháp niệm Chỉ, quán mười sáu phần niệm hơi thở ra vào, được pháp noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, khổ pháp nhẫn cho đến vô học tận trí nên gọi là thanh tịnh.

Trong mười sáu phần là:

1/ Phần hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na.

2/ Phần hơi thở ra cũng có sáu hạnh A-na-ban-na.

3/ Hơi thở dài ngắn: Nhất tâm niệm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn. Ví như người có việc kinh sợ, mang đồ nặng leo núi thì hơi thở lên, là hơi thở ngắn. Như người khi làm nhọc được nghỉ thì vui vẻ và như người bị giam trong khám được thả ra, thế đều là hơi thở dài. Tất cả hơi thở đều nằm hai nơi dài ngắn, thế nên nói hơi thở dài ngắn. Trong phần hơi thở dài ngắn cũng niệm sáu hạnh A-na-ban-na.

4/ Hơi thở khắp thân: Tưởng hơi thở khắp thân cũng nương hơi thở vào ra. Phải quán hơi thở vào, hơi thở ra khắp các lỗ chân lông trong thân cho đến ngón tay ngón chân đều thở, ví như nước đổ xuống cát. Hơi thở ra cảm biết từ chân đến tóc đều thở ra, như nước đổ xuống cát. Như quả bóng hơi vô hoặc ra đều khắp, mũi miệng hít hơi vào cũng như thế.

5/ Trừ các thân hành: Quán hơi thở khắp thân không ngại, như cọng sen dẫn nước, như lưới đánh cá. Lại không riêng mũi, miệng quán hơi thở ra vào mà tất cả lỗ chân lông và trong chín lỗ (hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt, miệng, tiểu, đại) cũng thấy hơi thở ra vào. Thế nên, biết hơi thở khắp thân trừ các thân hành cũng niệm hơi thở ra vào.

6/ Tâm thọ Hỷ: Người mới học quán hơi thở, nếu thân nặng nề lười biếng ưa ngủ phải dẹp bỏ đi. Dùng pháp quán hơi thở ra vào thân nhẹ nhàng hòa dịu, được thiền định tâm thọ hỷ và trừ tâm nặng nề lười biếng ưa ngủ, được tâm nhẹ nhàng hòa dịu tùy thiền định tâm thọ hỷ. Hơi thở vào thân niệm Chỉ xong, hơi thở lưu hành thọ niệm Chỉ rồi, là được thân niệm Chỉ. Thật nay lại được thọ niệm Chỉ thật thọ Hỷ.

7/ Tâm thọ Lạc: Đã biết thật tướng của thân, muốn biết thật tướng của tâm và tâm số. Thế nên thọ hỷ niệm hơi thở ra vào, thọ lạc cũng niệm hơi thở ra vào, vì cái hỷ được tăng trưởng gọi là lạc Tâm mới sanh mừng gọi là hỷ, toàn thân đều mừng là lạc. Lại nữa, cái thọ lạc của Sơ thiền Nhị thiền gọi là Hỷ, cái thọ lạc của Tam thiền gọi là Lạc.

8/ Thọ các tâm hành: Thọ các tâm hành cũng niệm hơi thở ra vào. Các tâm pháp sanh diệt, tâm nhiễm, tâm không nhiễm, tâm tán loạn, tâm thu nhiếp, tâm chánh, tâm tà, các tâm tướng như thế gọi là tâm hành.

9/ Tâm khởi mừng: Tâm khởi mừng cũng niệm hơi thở ra vào. Cái thọ hỷ trước là tự sanh không phải do cố tâm phát khởi, cái này là cố tâm khởi mừng. Vì sao cố tâm khởi mừng? Vì muốn trị hai thứ tâm – tán động và thu nhiếp – nên khởi tâm mới được ra khỏi phiền não. Thế nên niệm pháp cho tâm khởi mừng. Nếu tâm không mừng gắng kích động cho nó mừng.

10/ Tâm khởi nhiếp: Tâm khởi nhiếp cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu tâm không định gắng nhiếp phục cho nó định. Như trong kinh nói “Tâm định là đạo, tâm tán loạn không phải đạo”.

11/ Tâm khởi giải thoát: Tâm khởi giải thoát cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu ý không giải thoát gắng huân tập cho nó giải thoát. Ví như con dê vào lùm cỏ gai bị gai móc, người vì nó gỡ lần lần, tâm khởi giải thoát các phiền não cột trói cũng như thế. Ấy gọi là tâm niệm Chỉ khởi giải thoát.

12/ Quán vô thường: Quán vô thường cũng niệm hơi thở ra vào. Quán sự sanh diệt vô thường của các pháp rỗng không, không có người và ta. Khi sanh các pháp giả sanh, khi diệt các pháp tạm diệt. Trong ấy không thật có nam nữ, người, kẻ tạo, người thọ… ấy gọi là pháp quán Tùy vô thường.

13/ Quán tan hoại: Quán pháp hữu vi tan hoại cũng niệm hơi thở ra vào. Các pháp hữu vi có trong hiện tại là do nhân duyên của quá khứ, nhân duyên hòa hợp thì tụ, nhân duyên tan hoại thì tán. Tùy quán như thế gọi là quán tan hoại.

14/ Quán ly dục: Quán ly dục cũng niệm hơi thở ra vào. Tâm rời các thứ ràng buộc của tham dục, đó là pháp đệ nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán ly dục.

15/ Quán diệt tận: Quán diệt tận cũng niệm hơi thở ra vào. Các khổ kiết sử nơi nơi đều dứt, chỗ này được an ổn, ấy là Tùy quán diệt tận.

16/ Quán buông bỏ: Quán buông bỏ cũng niệm hơi thở ra vào. Các thứ nhiễm ái, phiền não, thân, tâm, ngũ ấm, các pháp hữu vi đều buông bỏ, chỗ này là an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán buông bỏ.

V- PHÁP MÔN TRỊ ĐẲNG PHẦN

Phần thứ năm này là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng mong cầu làm Phật. Những người như thế phải dạy họ nhất tâm niệm Phật tam-muội.

  1. Quán tượng Phật: Nếu người mới tập hành nên dẫn đến trước tượng Phật, hoặc dạy họ tự đến trước tượng Phật xem cho kỹ những tướng tốt, mỗi tướng rõ ràng, nhất tâm nhớ giữ trở về chỗ yên tịnh, tâm nhãn quán tượng Phật không cho ý chuyển động, buộc niệm tại tượng Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ phải thu nhiếp về tượng Phật. Nếu hành giả tâm không trụ, thầy phải dạy rằng:

“Ông phải tự trách tâm: Do ngươi mà ta mang tội không thể tính kể, chết sống không cùng bao nhiêu sự khổ não đều trải qua. Hoặc ở địa ngục uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng; hoặc trong súc sanh ăn cỏ, phẩn, đồ nhơ nhớp; hoặc sanh ngạ quỷ chịu khổ đói khát; hoặc được làm người nghèo cùng nguy khốn; hoặc sanh lên cõi trời mất ngũ dục sầu khổ. Bởi theo ngươi, ta chịu bao nhiêu sự đau đớn nơi thân tâm và vô lượng khổ não. Nay quyết kìm ngươi, ngươi phải theo ta, ta buộc ngươi một chỗ. Ta quyết định không bị ngươi làm khổ mà trở lại chịu mọi sự khổ độc. Xưa ngươi làm khổ ta, nay ta phải làm khổ lại ngươi.”

Quở trách như vậy mãi thì tâm không tán loạn. Khi ấy liền được tâm nhãn thấy tượng Phật sáng suốt, như hiện mắt thấy không khác. Như thế tâm được trụ, ấy gọi là hành giả mới tập tư duy.

  1. Quán sanh thân Phật: Người đang tập hành, sau khi quán tượng Phật thành công, lại phải nghĩ rằng: Tướng tượng này là ai? Là tướng tượng Phật Thích-ca-mâu-ni thời quá khứ. Như ta nay thấy hình tượng Phật, tượng không lại, ta cũng không đến, Tâm tưởng như thế liền thấy đức Phật thời quá khứ, khi mới giáng thần rung động trời đất, có ba mươi hai tướng đại nhân:

1- Lòng bàn chân bằng phẳng. 2- Dưới bàn chân có một ngàn khu ốc. 3- Ngón chân dài. 4- Gót chân rộng. 5- Kẽ ngón tay, kẽ chân đều có màng lưới mỏng. 6- Mu bàn chân cao, bằng, đẹp. 7- Đùi tròn vót như đùi nai quý. 8- Đứng thẳng hai tay quá gối. 9- Tướng mã âm tàng. 10- Thân tròn thẳng như cây Ni-câu-lô-đà. 11- Mỗi lỗ chân lông đều có một sợi lông. 12- Lông hướng lên và xoay bên phải. 13- Sắc thân hơn vàng ròng. 14- Hào quang tỏa chung quanh thân một trượng. 15- Da mỏng đẹp. 16- Bảy chỗ no đầy. 17- Dưới hai nách bằng đẹp. 18- Phần trên của thân như hình sư tử. 19- Thân rất đẹp ngay thẳng. 20- Vai tròn đẹp. 21- Bốn mươi cái răng. 22- Răng trắng, bằng khít và chân sâu. 23- Bốn răng cửa trắng và lớn. 24- Má vuông như má sư tử. 25- Trong cổ có vị rất ngọt. 26- Lưỡi lớn, rộng, dài và mỏng. 27- Giọng trong, ấm, nghe rất xa. 28- Tiếng thanh như tiếng chim Ca-lăng-tần-già. 29- Con mắt trong xanh. 30- Lông mi cứng xanh như lông mi trâu quý. 31- Trên đảnh có nhục kế. 32- Giữa chặng mày có lông trắng đẹp xoay bên phải.

Lại có tám mươi tướng đẹp:

1- Vô kiến đảnh. 2- Mũi cao, thẳng, đẹp, lỗ mũi không bày ra. 3- Chân mày như trăng lưỡi liềm, xanh như sắc lưu ly. 4- Lỗ tai đẹp. 5- Thân dẻo chắc như Na-la-diên. 6- Xương mắc nhau như dây xích. 7- Thân khi xoay như tượng vương. 8- Khi đi chân cách đất bốn tấc mà vẫn có dấu. 9- Móng tay như sắc đồng đỏ, mỏng và bóng. 10- Đầu gối tròn đẹp. 11- Thân thanh tịnh. 12- Thân mềm dịu. 13- Thân không cong. 14- Ngón tay dài, tròn, vót. 15- Những nét răn của bàn tay đẹp như bức họa nhiều màu. 16- Mạch sâu không bày. 17- Mắt cá chân sâu không lồi. 18- Thân bóng mịn. 19- Thân tự giữ không xiêu vẹo. 20- Thân đầy đủ. 21- Dung nghi đầy đủ. 22- Khi đứng vững vàng. 23- Uy dũng khắp cả. 24- Tất cả thích xem. 25- Mặt không dài. 26- Dung mạo một mực không có sắc xen tạp. 27- Môi đỏ như quả Tần-bà. 28- Mặt tròn đầy. 29- Giọng nói hùng hậu. 30- Rốn tròn sâu. 31- Lông mọi chỗ đều xoay bên phải. 32- Tay chân đều no tròn. 33- Tay chân được như ý. 34- Những nét vân của tay và chân đều sáng và thẳng. 35- Chỉ tay dài. 36- Chỉ tay liên tục. 37- Tất cả chúng sanh có ác tâm trông thấy đều lộ vẻ hòa vui. 38- Mặt rộng, đặc biệt. 39- Mặt tròn đầy như trăng rằm. 40- Chúng sanh thấy không kinh sợ. 41- Lỗ chân lông bay mùi thơm. 42- Miệng bay mùi thơm. 43- Dung nghi như sư tử. 44- Tiến hay dừng như tượng vương. 45- Pháp đi như ngỗng chúa. 46- Đầu không tròn không dài giống trái Ma-đà-la. 47- Phần của tiếng đầy đủ (tiếng có sáu chục thứ, Phật đầy đủ). 48- Răng trắng bén. 49- Lông mềm và sạch. 50- Lưỡi lớn và đỏ. 51- Lưỡi mỏng. 52- Lông toàn màu hồng. 53- Con mắt rộng dài. 54- Các lỗ đầy đủ. 55- Tay chân trắng hồng như sắc hoa sen. 56- Bụng không bày ra. 57- Bụng không lồi lên. 58- Thân không động. 59- Thân nặng. 60- Thân lớn. 61- Thân cao, 62- Tay chân mềm bóng láng. 63- Khi đi chung quanh hào quang sáng ra một trượng. 64- Bình đẳng xem chúng sanh. 65- Không vì sự giáo hóa, không ham đệ tử. 66- Tùy thuận tiếng của chúng sanh không kém thiếu. 67- Tùy tiếng nói của chúng sanh vì thuyết pháp. 68- Ngôn ngữ không ngăn ngại. 69- Phát ra lời thích hợp chúng sanh. 70- Thuyết pháp thứ tự liên tục. 71- Tất cả chúng sanh mắt nhìn kỹ cũng không thể biết hết tướng tốt. 72- Xem không biết nhàm. 73- Tóc dài đẹp. 74- Tóc xoăn đẹp. 75- Tóc không rối. 76- Tóc không trổ. 77- Tóc mềm mại. 78- Tóc xanh như sắc lưu ly. 79- Tóc không ít. 80- Ngực có chữ Vạn, tay chân có chữ Cát.

Hào quang của Phật sáng suốt chiếu soi vô lượng thế giới, từ khi mới sanh bước đi bảy bước thốt ra một câu quan trọng. Khi ngài xuất gia siêng năng khổ hạnh, ngồi dưới cội bồ-đề hàng phục ma quân, đến gần sáng thành bậc Đẳng chánh giác, tướng sáng khắp soi cả mười phương, chư thiên trên không đàn ca, tán hoa, mưa hương cúng dường, tất cả chúng sanh đều cung kính không cùng. Ngài riêng đi trong tam giới chuyển mình nhìn lại như tượng vương xoay, xem xét cây Đạo, lần chuyển bánh xe pháp ban đầu, trời người đều ngộ, lấy đạo tự chứng tiến đến Niết-bàn. Thân Phật như thế cảm phát vô lượng. Chuyên tâm niệm Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Như thế, tâm không loạn động. Khi ấy, được thấy sắc thân một đức Phật, hai đức Phật cho đến vô lượng thế giới chư Phật ở mười phương. Do tâm tưởng nên được thấy Phật. Đã thấy Phật cần được nghe thuyết pháp, hoặc tự thưa hỏi. Phật vì thuyết pháp, giải quyết các nghi vấn.

  1. Quán pháp thân Phật: Người tập hành đã lâu, đã được Phật nghĩ tưởng, lại phải tưởng nghĩ công đức pháp thân của Phật. Tuệ không lường sâu thẳm, trí rộng không bờ mé, công đức không thể tính kể. Như Lai, bậc đáng cho nhân thiên cúng dường, khắp biết tất cả, đầy đủ tam minh, khéo vượt qua, thấu hiểu tất cả thế gian, bậc vô thượng, đại trượng phu điều phục tất cả, thầy của trời người, đấng hoàn toàn giác ngộ.

Khi ấy lại niệm thần đức của hai đức Phật, ba bốn năm cho đến vô lượng cùng tận cả hư không chư Phật. Trở lại thấy một đức Phật, hay thấy một đức Phật hóa mười phương chư Phật, mười phương chư Phật hiện thành một đức Phật. Hay thấy một sắc biến thành các sắc – vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly… tùy ý người thích thảy được thấy.

Bấy giờ chỉ quán hai việc, thân Phật trong hư không và công đức của Phật, không cho nghĩ gì khác. Tâm được tự tại, ý không lăng xăng, đó là thành tựu niệm Phật tam-muội. Hành giả nếu tâm chạy theo ngũ trần, hoặc nhớ sáu việc lo nghĩ thì phải cố gắng kìm hãm điều phục nó. Phải suy nghĩ thế này:

“Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cho nên nói: Các thứ sáng, mặt trời là bậc nhất; các bậc trí tuệ, Phật là bậc nhất. Vì sao? Phật thường vì tất cả khởi lòng đại bi, hy sinh đầu mắt tủy não… để cứu chúng sanh. Tại sao ta lại phóng tâm không chuyên niệm Phật mà cô phụ ơn nặng của ngài? Nếu Phật không ra đời thì ai mở lối đến cõi người, cõi trời và Niết-bàn? Nếu có người đem hương hoa cúng dường, hoặc lấy xương thịt máu tủy… xây tháp cúng dường, cũng không bằng người tu hành dùng chánh pháp cúng dường được đến Niết-bàn. Tuy nhiên, người cô phụ ơn Phật dù có niệm Phật cũng không được gì. Bởi vậy, ta phải chuyên tâm niệm Phật không quên để báo ơn Phật. Huống nữa, niệm Phật sẽ được các thứ tam-muội, trí tuệ và thành Phật mà không chuyên tâm niệm Phật sao?”

Thế nên, hành giả thường phải chuyên tâm giữ ý không cho tán loạn. Đã được thấy Phật, thưa hỏi giải nghi, ấy gọi là “Niệm Phật tam-muội trừ diệt đẳng phần và các tội trọng”.

Giảng:

Nếu người đa dục dùng pháp môn Bất tịnh trị. Nếu người nhiều nóng giận dùng pháp môn Từ bi trị. Nếu người nhiều ngu si lấy pháp môn quán Nhân duyên trị. Nếu người nhiều lo nghĩ lấy pháp môn Niệm hơi thở trị. Nếu người đẳng phần (tham sân si đồng nhau) lấy pháp môn Niệm Phật trị. Bao nhiêu thứ bệnh có bấy nhiêu thứ pháp môn để trị.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói: “Phật dạy tất cả pháp để trị tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu cần tất cả pháp.” Mỗi pháp của Phật dạy là để trị một tâm bệnh cho chúng sanh, chúng ta có bệnh nào thì dùng pháp đó để trị, khi bệnh lành thì không cần dùng pháp nào để trị. Pháp Phật dạy như chiếc bè qua sông, qua sông rồi bước lên bờ chúng ta có vác chiếc bè theo không? Kinh Kim Cang nói “Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp”. Pháp chánh khi không cần cũng phải xả, huống chi những pháp tà.

Chúng ta phải học Phật pháp để biết đúng bệnh đúng thuốc, nếu không học không biết làm sao trị lành bệnh cho mình? Người tu Phật không chịu học hiểu kinh như người bệnh không hiểu thuốc, tu không có hiệu quả. Phải hiểu rõ rằng chúng ta tu là trị những tâm bệnh xấu dở của mình để trở thành thanh tịnh sáng suốt. Nắm cho vững pháp trị bệnh để ứng dụng tu.

Người đời nếu có thân bệnh, bác sĩ dùng thuốc trị lành. Phương pháp trị của bác sĩ là một pháp thực tế, khoa học. Pháp Phật dạy cũng vậy, bệnh tham, sân, si… của chúng ta dùng đúng pháp, trị đúng bệnh thì lành. Pháp ấy rất thực tế, rất khoa học không có gì huyền bí. Phật dạy pháp để trị bệnh mà đệ tử Phật lại làm biếng không dùng pháp trị, cứ lạy lục cầu xin, đó là điều sai lầm, không hiểu đạo Phật. Phiền não do tham sân si mà không chịu tìm bệnh của mình, không chịu tìm pháp tu, cứ xin Phật cho con được nhẹ nhàng mát mẻ, hết phiền não. Như vậy có trung thành với lời Phật dạy không? Chúng ta nên hiểu thật chín chắn để ứng dụng tu cho có kết quả. Hiểu sai lầm thì dù có tu mười năm, hai mươi năm vẫn không có kết quả gì, rồi buồn trách nói Phật không cứu mình, mình vẫn khổ.

I- PHÁP MÔN TRỊ THAM DỤC

Người dâm dục nhiều nên tu quán Bất tịnh. Từ chân đến đầu đầy dẫy bất tịnh: tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, máu, mủ, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi, tim, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, phẩn, nước tiểu, nước mũi, nước miếng, mồ hôi, nước mắt, cứt ráy, đất, óc, bong bóng, mật đàm, bầy nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc. Đó là ba mươi sáu vật bất tịnh trong thân.

Người nặng về ái dục, đầu tiên là thích sắc đẹp. Phải thức tỉnh họ, cho biết thân này không có gì đẹp đẽ, quán bất tịnh là thuốc trị bệnh này. Nhiều người không hiểu, quán đối tượng mình đem lòng thương mến, quán họ bất tịnh, quán tới quán lui thành tịnh. Như thế là sai lầm. Quán bất tịnh là quán ngay thân mình có ba mươi sáu vật nhơ nhớp. Thấy thân mình nhơ nhớp rồi thì biết thân người khác cũng nhơ nhớp. Tự chán thân mình sẽ chán thân người. Chán thân mình, chán thân người thì ái dục không còn.

Khi ngồi thiền chúng ta suy xét ngay trong thân mình từ đầu cho tới chân, các thứ lông, móng, răng, da dày, da mỏng… tất cả những thứ này đều không sạch. Tóc trên đầu được xem như quý báu, ai cũng chải chuốt trang điểm, nhưng khi thấy sợi tóc trong tô canh có gớm không? Nếu nó sạch thì không ai gớm, mà gớm thì hết sạch rồi. Quán sát lông, móng tay, móng chân, răng, da mỏng, da dày… có cái nào sạch không? Kiểm tới đâu thì thấy nhớp tới đó. Bình thường chúng ta không nhổ răng thì thấy răng mình cũng dễ coi, khi nhổ răng ra, quý vị cầm răng ngửi xem có dễ chịu không? Như vậy thân này có gì sạch? Chỉ vì mình lầm tưởng nó là sạch nên sanh tâm quý mến, quý mến rồi mới có bệnh ái dục. Quán tất cả đều nhơ nhớp hết, thấy thân mình là một cái bô đậy kỹ. Mang cái bô đậy kỹ này đã là mệt là gớm rồi, có thêm cái bô nào khác để gần mình chịu nổi không? Tự bản thân đã nhớp rồi mà còn kiếm một cái nhớp vào nữa thì càng gớm hơn. Xét kỹ như vậy, mình tự gớm mình, rồi sẽ gớm người, lúc đó tự nhiên hết bệnh ái dục.

Ngày xưa lúc Phật dạy các thầy Tỳ-kheo trẻ quán bất tịnh. Quán đến mức các thầy thấy nhớp quá chịu hết nổi, năn nỉ huynh đệ làm ơn cắt cổ giùm. Khi Phật nhóm chúng thấy vắng mặt nhiều quá, hỏi lý do. Biết nguyên nhân, Phật quở trách, ta dạy các ông quán bất tịnh để trị bệnh tham dục, khi quán thành tựu rồi phải ngừng, trở qua quán tịnh. Thuốc là để trị bệnh, lành bệnh rồi phải bỏ thuốc, bệnh lành rồi mà còn dùng thuốc hoài thì chết.

Trên đây là một lối quán bất tịnh về thân mình có ba mươi sáu vật, còn lối quán khác mạnh hơn. Xưa ở Ấn Độ có thi lâm, khi có người chết đem thây bỏ vào đó khỏi chôn cất. Phật dạy các thầy Tỳ-kheo đến thi lâm quán thây chết để dứt trừ tâm ái dục.

Lại quán bất tịnh có chín thứ theo thứ tự:

1- Quán thây mới chết bầm xanh, 2- Lần lần sình trương, 3- Nứt nẻ, 4- Máu chảy ra, 5- Rục rã, 6- Lầy thối, 7- Giòi, thú đục ăn, 8- Xương mục, 9- Thiêu rụi. Đó là Cửu tưởng bất tịnh.

Lối quán này rất mạnh, không quán thân sống mà quán thân chết. Thân chúng ta khi sống còn hơi ấm, còn thở còn hoạt động, mềm mại thấy dễ thương. Đến khi chết, nếu không để vô quan tài liệm kỹ, một hai ngày sau nó bầm xanh, nhìn thấy rất ngán. Nếu để hai ba ngày nữa bụng trương sình lên, thây chết nứt ra, máu chảy, thịt da rục rã lầy thối, giòi tửa đục, chim kên kên, quạ, chuột, chó sói… đến moi móc. Lâu ngày xương mục, lượm xương đem đốt thiêu rụi hết trơn. Thân thể như vậy quý chỗ nào? Không quý gì hết. Thân mình không quý, lẽ thật là như vậy nhưng ai xúc phạm tới nó thì biết! Chúng ta sống trong tưởng tượng nên cho là thân này đẹp đẽ đáng yêu, luôn chấp chặt bản ngã.

Thử so sánh một người có phước, thường ngày ăn món ngon vật lạ, mặc đồ sang trọng, muốn gì có nấy. Tất cả đều đúng như ý muốn, thỏa mãn hết, nhưng người đó có khỏi chết không? Khi chết rồi, một người ăn mày nằm chết và một người sung túc nằm chết, hai cái thây đó cái nào dễ gớm hơn? Thân người ăn mày khô cằn ít máu mủ, ít sình ít thối; còn thân người sung túc bổ dưỡng quá nên sình thối nhiều, ghê gớm nhiều hơn. Như vậy chúng ta nuôi dưỡng cái thân rồi đến cuối cùng là đống thây thối, không có gì quý báu. Biết quán sát thì không chấp thân, không đam mê ngũ dục, ăn vừa đủ sống để tu tập, cố gắng làm điều lợi ích cho xã hội, cho chúng sanh.

Pháp quán cửu tưởng này trị bệnh đa dục. Người có bệnh nhìn cái thây chết một lúc liền chán gớm. Phương thuốc này hiện giờ không có phương tiện quán được, vì tất cả người chết đều được gói kín, tẩm liệm cẩn thận nên khó thấy. Phép quán ba mươi sáu vật bất tịnh dễ thấy hơn, chúng ta có thể tập tu được. Người đa dục có bảy thứ yêu:

1- Yêu sắc đẹp, 2- Yêu dáng điệu, 3- Yêu dung mạo, 4- Yêu âm thanh, 5- Yêu láng mịn, 6- Yêu con người, 7- Tổng yêu.

Nếu yêu sắc đẹp nên tập quán thây chết bầm xanh, những sắc bất tịnh vàng, đỏ… cũng như vậy.

Nếu người yêu sắc đẹp thì quán ngay thây chết để hai ba ngày nó bầm xanh, riết rồi gớm hết ưa sắc đẹp.

Nếu yêu dáng điệu nên tập quán thây sình trương và nứt nẻ.

Người yêu thích dáng đi yểu điệu dễ thương thì nên quán thây chết sình trướng, nứt nẻ. Đó là một lối trị.

Nếu yêu dung mạo nên tập quán thây máu chảy và rục rã.

Người yêu dung mạo khả ái tập quán tử thi mới chết, máu trong thân chảy ra, xương cốt rệu rã, không còn gì đáng yêu.

Nếu yêu âm thanh, tập quán người khi sắp chết, nấc lên và tắt thở.

Nếu yêu âm thanh của người nào đó mà mình thương, thì tập quán khi họ sắp chết có tiếng nấc lên rồi tắt thở.

Nếu yêu láng mịn nên tập quán bộ xương và người bệnh khô gầy.

Nếu yêu sự bóng bẩy láng mịn của người thì tập quán xương khô và người bệnh khô gầy trơ xương, rất đáng sợ.

Nếu yêu con người nên tập quán cả sáu thứ trong chín thứ bất tịnh. Nếu tổng yêu nên quán cả chín thứ. Hoặc khi quán các thứ này, lại khi quán các thứ khác, đều gọi là quán Bất tịnh.

Nếu người đa dục yêu thích tất cả thì quán cả chín đề mục bất tịnh. Chúng ta có thể quán đề mục này một lúc rồi quán đề mục kia trong chín thứ, dời đổi để quán. Đó là quán chung.

Pháp tu ở đây Phật dạy chúng ta quán ba mươi sáu vật bất tịnh trong bản thân mình để chán gớm thân, chán gớm thân thì không yêu thích thân người khác. Đề mục mạnh hơn là quán thây chết, thấy rõ thân mình không tốt đẹp gì cả. Người quán có kết quả liền thấy chán, thấy gớm thấy sợ. Hai pháp quán này đối trị bệnh tham dục.

– Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu? Nếu yêu thân trong sạch thì thân thối lầy cũng vẫn yêu? Nếu không yêu thân thối lấy thì thân trong sạch cũng không yêu, vì hai thân là một vậy.

Như chúng ta thấy người có dáng vẻ mạnh khỏe dễ thương, đến khi chết thân họ thối lầy mình còn thương hay không? Chắc là không. Khi người ta còn trẻ trung mạnh khỏe thì thương, khi chết rồi thì gớm. Chúng ta ai cũng bội bạc như vậy. Cuộc sống này hết sức tạm bợ, kể cả tình thương cũng tạm bợ. Đúng với sở thích của mình thì ưa mến, khi không còn gì thích thú thì hết thương. Đừng nói đợi tới chết, giả sử hai vợ chồng thương nhau, rất thành thật nhưng nửa chừng người chồng hoặc người vợ đi khám bác sĩ nói bệnh lao phổi nặng, khi ấy tự nhiên không còn thân thiết như xưa vì sợ lây. Vì cái ngã, mình sợ lây cho mình. Như thế chúng ta thương người ta qua mình nhiều hơn chứ không phải thương thật.

Ở đây nói Nếu thân bất tịnh như thây thối lầy thì do đâu mà yêu. Thân bất tịnh đáng nhờm gớm, sự yêu thương của chúng ta tùy thời, không phải thủy chung. Tâm trạng của con người luôn đổi thay, tham dục cũng đổi thay. Biết như vậy có thể tự sửa mình.

– Nếu tìm hai cái thật tịnh thì không thể có. Tâm người mê lầm bị sự điên đảo che đậy nên không phải tịnh chấp là tịnh, nếu phá dẹp tâm điên đảo thì được pháp quán thật tướng, liền biết bất tịnh là hư dối không thật.

Thân trong sạch thân thối lầy, cả hai đều không thật sự là tịnh. Gốc của thân là nhớp, ai cũng biết rõ như vậy. Thời văn minh khá một chút, biết miệng mình hôi thì sáng có kem đánh răng cho đỡ hôi, thân mình ra nhiều mồ hôi khó chịu, khi mặc áo xức chút dầu thơm cho bớt mùi hôi. Nếu trong người chúng ta toàn là mùi hoa sen thì chắc khỏi xài những thứ dầu thơm! Biết mình không sạch, khéo che đậy để đánh lừa thiên hạ, tỏ ra mình là tốt là sạch là đàng hoàng; thân chỉ là cái bô đậy kín, không có gì tốt đẹp. Xét mình rồi xét người, ngẫm tới ngẫm lui thì tự nhiên tâm chạy theo ái dục cạn hết. Nếu không quán xét, bị bóng dáng bên ngoài che khuất, chúng ta không thấy được lẽ thật.

Như vậy tất cả những gì chúng ta cho là sạch, là đẹp đều không thật. Cái sạch đẹp không thật thì cái không sạch không đẹp cũng không thật. Cả hai tịnh và bất tịnh đều không chấp, lúc đó chúng ta mới thấy biết chân thật.

Lại nữa, thây chết không có hơi ấm, mạng sống, thần thức, và các căn bế tắc, người nhận kỹ thì tâm không sanh yêu mến. Thân sống có hơi ấm, mạng sống, thần thức, các căn sáng sủa, nên tâm điên đảo mê lầm sanh yêu mến.

Xét kỹ thân chúng ta, ngày nay thấy nó còn tốt đẹp, vì có hơi ấm có mạng sống. Khi thân còn thần thức, có các căn sáng sủa, chúng ta sanh điên đảo mê lầm yêu mến, nếu những phần đó mất đi thì không có gì để đáng yêu.

Khi tâm yêu sắc cho đó là tịnh, tâm yêu sắc dứt liền biết là bất tịnh. Nếu là thật tịnh thì phải thường tịnh, mà đây không phải thế. Như chó ăn phẩn cho là sạch, lấy con mắt người xem thì thấy rất dơ. Thân này toàn cả trong ngoài không có chỗ nào là sạch. Nếu yêu dáng ngoài của thân, toàn thân da mỏng bao bọc, nếu nắm cắt một miếng bằng ngón tay ta sẽ thấy bày tướng bất tịnh, huống là cả ba mươi sáu vật nhơ nhớp trong thân.

Đoạn này răn nhắc chúng ta biết rõ thân không sạch. Khi có tâm yêu mến thì dù bất tịnh cũng cho là tịnh, tâm yêu mến dứt mới thấy bất tịnh. Dùng các pháp quán, xét kỹ nơi thân để dứt tâm yêu mến.

Hơn nữa, xét ra nhân duyên tạo thành thân có bao nhiêu thứ bất tịnh. Trước tiên do tinh huyết cha mẹ hợp thành là bất tịnh, thành thân rồi thường chảy ra các thứ bất tịnh, cho đến quần áo, mền chiếu cũng là bất tịnh, nếu đến khi chết thì sự bất tịnh không thể kể xiết. Do đó nên biết sống, chết, trong, ngoài đều là bất tịnh.

Sau khi quán Bất tịnh thành công chuyển lên quán Tịnh.

Pháp quán thân bất tịnh hoặc quán thây chết… khi ngồi thiền chỉ xét tới xét lui những vấn đề đó thôi. Ví dụ ngồi quán tóc không sạch, quán da, máu mủ… mỗi cái đều thấy không sạch. Đến khi nhìn lại thân mình thấy ghê gớm không chịu nổi, sợ rởn óc, không muốn thấy thân nữa, đó là hiện tượng quán bất tịnh thành công. Lúc này phải nhanh chóng chuyển qua quán tịnh, không nên để gớm quá rồi muốn tự tử, đó là dùng thuốc trị bệnh mà để thuốc trở thành bệnh, không có lợi.

Người tu Tịnh quán có ba hạng: mới tập, đang tập, tập đã lâu.

Nếu người mới tập (người trước chưa phát tâm kiên cố), phải dạy rằng: Tưởng lột toát da ra trừ dẹp hết máu, thịt v.v… các thứ bất tịnh, quán bộ xương người đỏ. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về.

Đây là quán tịnh, nếu là người mới tập thì dạy quán tưởng trừ bỏ da, máu thịt… các thứ bất tịnh, quán bộ xương người màu đỏ. Trừ bỏ da là ý chỉ nhớ bộ xương màu đỏ, không nghĩ tới da thịt. Buộc ý quán tưởng không cho nghĩ gì khác, vừa có nghĩ khác thì phải kéo về một điểm bộ xương đỏ.

Nếu người đang tập (người tập hành vài ba năm), nên dạy: Tưởng toát da thịt quán xương đầu, không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác phải lôi trở về.

Với người đã tập đôi ba năm, dạy bảo quán xương trên đầu, thấy xương của mình rõ ràng, chỉ nhớ xương đầu thôi, không nghĩ nhớ gì khác.

Nếu người tập hành đã lâu (người đã tập hành trải hàng chục năm), nên dạy: Tưởng dẹp hết da, thịt, buộc ý năm chỗ: đỉnh đầu, trán, giữa chân mày, chót mũi, ngay quả tim. Trụ ý năm chỗ ấy, quán xương không cho nghĩ gì ngoài, có nghĩ ngoài phải thu nhiếp trở về.

Thường xem xét tâm nó chạy đi phải lôi lại. Nếu tâm mệt mỏi sẽ dừng lại chỗ buộc duyên, không chạy ra ngoài nữa, như con khỉ bị xiềng bên cây cột, nhảy nhót mệt rồi sẽ nằm lại bên cây cột. Chỗ buộc tâm duyên như cây cột, ý niệm chăm chú như sợi dây, tâm như con khỉ. Lại như bà mẹ chăm giữ đứa con còn bú, không để nó rơi té. Hành giả quán tâm cũng như thế, lần lần chế phục được tâm, bắt nó ở một chỗ. Nếu tâm trụ được lâu đó là hợp pháp thiền. Nếu được thiền định thì phát ba tướng:

1- Thân thể an hòa vui vẻ nhẹ nhàng mềm dịu.

2- Xương trắng phát ra ánh sáng trắng trong như ngọc.

3- Tâm dừng lặng.

Đó là tướng Tịnh quán.

Phật dạy chúng ta tu quán để trị bệnh. Nhờ quán bất tịnh thấy chán gớm thân này, thu nhiếp tâm không cho rong chạy. Lâu ngày sức quán thuần thục, trụ được thiền định sẽ có ba tướng. Một là cảm giác thân thể an ổn vui vẻ, nhẹ nhàng mềm mại, đó là tướng tốt. Hai là thấy những xương trắng phát ra ánh sáng trong như ngọc. Ba là tâm dừng lặng không còn nghĩ nhớ lăng xăng. Đây là tướng quán tịnh thành tựu.

Khi ấy, được tâm hợp với Sắc giới. Ấy là người mới học pháp thiền được tâm khế hợp Sắc giới. Tâm hợp với pháp thiền tức pháp Sắc giới. Tâm được pháp này mà thân còn ở Dục giới vẫn được ba tướng.

Người mới học pháp thiền, tâm trụ thiền định được tâm hợp Sắc giới. Cõi trời Sắc giới là nơi của các vị chứng bốn tầng thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Người có được ba tướng tốt đẹp này, buổi ban đầu là tâm hợp với cõi trời Sắc giới, thân chưa đến Sắc giới, vẫn còn ở Dục giới. Tuy vậy, do dứt tham dục nên cảm giác rất hoan hỷ.

1- Tuy tứ đại thô mà được vui vẻ mềm dịu, hình chất trong sạch, tươi nhuần bóng mịn, điều hòa. Ấy gọi là tướng vui vẻ.

2- Hành giả nội quán thấy tướng xương trắng phát ánh sáng khắp chiếu, sắc nó trắng trong.

3- Tâm trụ một chỗ.

Như thế gọi là Tịnh quán. Trừ thịt quán xương gọi là Tịnh quán. Ba tướng như trên đều tự biết đó, không thấy gì khác.

Như vậy, do quán thành tựu nên tâm được định Sơ thiền là Ly sanh hỷ lạc, tức là lìa ngũ dục được vui vẻ. Từ Sơ thiền tiến dần lên được Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Đây là pháp tu theo thứ bậc, kết quả dễ dàng dễ hiểu.

II- PHÁP MÔN TRỊ NÓNG GIẬN

Nếu người nhiều nóng giận, phải học pháp môn ba thứ Từ tâm. Hoặc người mới tập hành, hoặc đang tập hành, hoặc tập hành đã lâu.

Người mới tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người thân mến. Thế nào tâm Từ đến những người thân, nguyện làm cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, như khi lạnh được mặc ấm, khi nóng được mát, đói khát được ăn uống, nghèo túng được của cải, làm nhọc nhằn được nghỉ ngơi v.v… những thứ vui ấy nguyện cho người thân mến cùng được hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở lại.

Muốn trị bệnh nóng giận, dùng pháp từ bi. Từ bi là thương người, đem niềm vui của mình chia cho người khác. Trước tiên đem những điều vui thích ban phát cho những người thân, đó là từ bi. Ở đây dạy quán chứ không phải hành. Quán là tập tưởng nhớ việc từ bi bằng tâm tưởng, tâm tưởng thành công rồi thì hành động sẽ đến. Bắt đầu tu quán từ bi là quán với người thân. Khi chúng ta thương ai nhiều, dù họ sai lầm cũng không giận, nếu ghét ai nhiều thì cử chỉ nào của họ cũng đáng giận. Muốn không nóng giận hay bớt nóng giận, phải tập thương người. Thương bằng cách nào? Cái gì mình cho là an vui là sung sướng đều đem chia sớt cho người. Từ bi là ban vui để người hết khổ. Ví dụ mùa đông trời lạnh, mình có cái áo ấm mặc vào rất khỏe. Thực hành tâm từ như thế nào? Nhớ lại cha mẹ anh em hoặc những người thân, mùa đông không có áo lạnh, quán tưởng đem cái ấm áp đến cho những người thân. Đây là khởi tâm quán tưởng, đem niềm vui sự an lạc cho người thân trước nhất. Tâm khởi trước rồi hành động theo sau, không khởi tâm từ bi thương người thì chưa có hành động.

Đây là giai đoạn thứ nhất mới tập quán từ bi, nghĩ tưởng đến người thân dễ hơn, nên tập dần để tâm khởi niệm lành.

Người đang tập hành nên dạy: Tâm Từ đến những người không thân không sơ. Thế nào tâm Từ đến những người không thân không sơ, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện cho những người không thân không sơ đồng cùng chung hưởng. Chuyên tâm nhớ Từ không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về.

Giai đoạn thứ hai, nghĩ nhớ quán tưởng đem tình thương đến người thân đã thành tựu rồi, nghĩ nhớ quán tưởng đến những người bình thường không phải thân quyến. Ví dụ láng giềng không phải bà con thân thuộc, nhưng mình được điều gì vui thích cũng nguyện cho những người đó cùng được vui thích như mình. Chuyên tâm nghĩ nhớ những người chung quanh, khởi lòng từ đến họ, luôn mong mọi người hoan hỷ an ổn. Chỉ nghĩ như thế không khởi niệm khác, lâu dần thì tâm sân của mình không phát khởi.

Người tập hành đã lâu nên dạy: Tâm Từ đến những người thù ghét. Thế nào tâm Từ đến những người ấy, nguyện cho họ được vui? Hành giả nếu được các thứ thân tâm vui thích, nguyện những kẻ thù ghét đồng cùng chung hưởng, sự hưởng này đồng với người thân mến. Được bình đẳng nhất tâm, tâm rộng lớn thanh tịnh, người thân, người không thân không sơ, và kẻ thù ghét đều xem như nhau. Rộng đến cả thế giới vô lượng chúng sanh đều khiến được an vui, khắp cả mười phương cùng đồng một tâm bình đẳng rộng lớn thanh tịnh. Xem chúng sanh cả mười phương như xem thân mình, thấy họ rõ ràng trước mắt đồng được thọ hưởng khoái lạc. Khi ấy được Từ tam-muội.

Từ tam-muội tức là lòng từ thành tựu, được chánh định. Pháp quán này chia ra ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, hướng tâm từ đến người thân. Giai đoạn thứ hai, hướng tâm từ tất cả người không quen không thân. Giai đoạn thứ ba, hướng tâm từ đến những người oán ghét. Với những người này cũng nguyện mong được an vui như mình. Tu như vậy dễ hay khó? Thường chúng ta thù ghét ai, khi nghe họ khổ thì mình cho là đáng kiếp, không bao giờ tội nghiệp họ. Ở đây dạy chúng ta phải ban rải tâm từ đến những người thù nghịch, mình có điều gì vui cũng nghĩ đến họ, muốn họ hưởng như mình, đó là lòng từ bủa khắp. Quán được như vậy tâm từ mới được bình đẳng, nếu không thì tâm chúng ta thiên lệch, thường nghiêng nhiều về người thân, tốt hơn một chút là nhớ nghĩ những người không thân không sơ; với người thù oán thì để qua một bên không nghĩ tới. Tu tập lòng từ không cho phép chúng ta có tâm riêng tư, ngay cả với kẻ thù cũng phải khởi tâm chia sẻ như với người thân. Đó là tâm từ rộng lớn, là tâm Phật.

Giai đoạn thứ ba rất khó quán. Với người thân hay người bình thường, dù sao cũng dễ khởi niệm chia sẻ an lạc. Với kẻ thù, chúng ta không bao giờ muốn cho họ vui. Nhưng phải tu tập như vậy, tất cả sự nóng giận mới dẹp sạch, không còn oán hờn. Tu tập rất khó, như người bệnh nặng phải uống thuốc đắng, chúng ta đã quen thói ích kỷ, muốn mở rộng lòng từ thật là gian nan. Nhưng đã tu thì không nên giới hạn, phải để tâm từ bủa khắp. Khi quán sát tất cả chúng sanh mười phương như thân mình, thấy họ rõ ràng đồng hưởng niềm vui, đó là được Từ tâm tam-muội.

– Người thân mến và người không thân không sơ nguyện cho vui là được, còn kẻ thù ghét hung ác tại sao lại thương xót nguyện được vui?

– Nên ban vui cho những người ấy. Vì sao? Người ấy còn bao nhiêu việc tốt là nhân của pháp thanh tịnh, tại sao ta nay lại do một cái thù nhỏ mà bỏ quên những cái tốt kia! Lại suy nghĩ: Người kia thời quá khứ biết đâu không phải là thân quyến của ta, nay không thể do một chút sân mà sanh thù ghét. Ta phải nhịn họ, đó là thiện lợi của ta. Hoặc nghĩ: Ta thực hành pháp nhân đức, hàm chứa hoằng truyền sức từ bi vô lượng không thể để cho nó tiêu mất. Lại nghĩ: Nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao thành tựu nhân Sanh nhẫn. Sanh nhẫn là do kẻ oán thù ban cho, như vậy kẻ oán thù là người thân thiện của ta.

Muốn ban vui cho kẻ thù oán cần khởi nghĩ những điều như sau:

Thứ nhất, mình thù oán người vì họ làm điều gì trái ý, gây thiệt thòi cho mình nên phát sanh oán giận, nhưng có thể họ còn những đức tính tốt khác mà mình không thấy, cũng như mình chỉ thấy cái tốt của mình mà quên những điều xấu dở. Người xấu đến đâu cũng có cái tốt, chúng ta dù tốt nhưng cũng có những cái xấu. Khi thù ghét ai phải nghĩ rằng họ còn có những cái tốt, không nên chấp lỗi lầm họ đối với mình mà sanh oán thù.

Thứ hai, người oán thù đó biết đâu đời trước là cha mẹ, anh em quyến thuộc của mình. Thù ghét người đó cũng là thù ghét thân nhân mình. Đời trước là bà con với nhau, bây giờ gặp lại có khi vui có khi buồn, tất cả đều tha thứ, đều thương yêu không giận hờn.

Thứ ba, chúng ta đang làm việc nhân đức và nguyện từ bi vô lượng thì không có oán thù. Còn oán thù người này người nọ thì chưa phải nhân đức, chưa phải từ bi. Vô tình chúng ta ôm lòng oán thù làm tiêu mất lòng từ bi và nhân đức của mình, vì vậy nên bỏ qua đừng giận ghét bất cứ ai.

Thứ tư, nếu không có kẻ thù ghét thì làm sao chúng ta được thành tựu nhân Sanh nhẫn. Nếu không nhẫn nhịn thì không thành tựu pháp nhẫn nhục. Bị người chửi mắng hành hạ, chúng ta đều nhẫn nhịn được, lúc đó thành tựu đức Sanh nhẫn. Nhờ người oán ghét như thế mà mình tiến lên, vậy phải mang ơn họ không nên sân giận. Người thật tu phải nhớ điều này. Đừng nghĩ rằng người hại mình là kẻ thù của mình, suốt đời không thèm ngó đến họ. Nếu suy nghĩ theo cách thường tình thì không bao giờ dứt được sân hận.

Nhẫn nhục là một trong sáu pháp ba-la-mật của Bồ-tát, thành tựu một pháp nhẫn nhục thì các pháp kia cũng thành tựu dễ dàng. Nhẫn nhục rốt ráo thì không thấy có người nhẫn, người gây oán… Như thế đối với lời chửi mắng, thái độ mạ nhục độc hại của người, chúng ta càng thấy đây là cơ hội tốt để tập tu. Muốn tu có kết quả phải trải qua những cảnh bị chửi mắng, đánh đập, khinh bỉ, biết đâu đó là Bồ-tát thử mình. Nhờ người thử mà mình thành tựu đức nhẫn nhục thì người đó đáng cho mình kính phục, thương quý chứ không giận. Pháp tu này thực hành được không? Phải được, tu mà không được thì đó là giậm chân tại chỗ. Phải vươn lên để vượt qua, để thành tựu Sanh nhẫn.

Hơn nữa, quả báo của sân là tối trọng, trong các thứ ác nó là bậc trên hết, do sân mới tàn hại người vật, nó là cái độc khó kìm chế được, tuy muốn đốt người mà kỳ thật là thiêu mình. Nên tự suy nghĩ: Bên ngoài mặc chiếc áo pháp, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục gọi là Sa-môn, thì đâu có thể nghe tiếng nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác.

Đoạn này dạy rất chí lý. Chúng ta tu mà ôm ấp nóng giận thì không thể kìm chế được lỗi lầm. Đem nóng giận hại người, đó chính là hại mình. Ví dụ một Phật tử đi chùa mười năm, hai mươi năm, ăn chay trường, tu cũng kha khá, lại bị người hàng xóm hung dữ chửi mắng nhục mạ, nói xấu đủ thứ. Người đó nhịn không nổi, chửi mắng lại, rốt cuộc ra sao? Chửi mắng người thì sẽ bị đánh giá, ăn chay mười năm, hai mươi năm mà cũng nóng giận không kém người không tu. Bao nhiêu công đức của mình tiêu hết. Nhẫn nhịn tha thứ cho người là tốt nhất. Phải biết cư xử trên một bậc, đừng đứng ngang với họ, vậy mới là sáng suốt.

Đây nhắc nhở người tu, bên ngoài mặc pháp phục, bên trong thực hành hạnh nhẫn nhục được gọi là Sa-môn. Đã là Sa-môn thì không thể nghe người nói xấu liền thay đổi sắc diện, buông lung tâm tệ ác. Chúng ta tu nên tập kìm chế tập khí sân si nóng giận, kiên nhẫn thực hành lòng từ, thương tất cả chúng sanh. Càng thương người nhiều thì càng bớt đi tật xấu, tăng trưởng đạo đức, xứng đáng công hạnh Sa-môn.

Lại nghĩ: Thân ngũ ấm này là cái rừng đau khổ, là mục tiêu chịu đựng những điều tai ác, thì những cái khổ não tai ác đến làm gì tránh khỏi. Như gai nhọn đâm vào thân, khổ não vô lượng, các thứ thù oán rất nhiều không thể diệt hết, phải tự bảo vệ bằng cách mang đôi giày nhẫn nhục.

Chung quanh chúng ta biết bao điều khổ não châm chỉa vào mình, bệnh tật, tai nạn, ngôn luận thị phi… vì có thân nên phải gánh chịu. Muốn thắng lướt vượt qua những khổ nạn này chỉ có cách là đi đôi giày nhẫn nhục. Đi giày nhẫn nhục thì gai không đâm được, nhẫn nhục là cách tự bảo vệ mình tốt nhất.

Như Phật dạy:

Lấy sân trả sân,

Sân trở hại đó,

Sân mà không trả, 

Hay phá quân to.

Người ta sân giận chửi mắng mình, mình cũng sân hận chửi mắng lại họ, đó là sân trả sân, không có ai hơn ai. Nếu lấy không sân trả sân, đó là phá được quân giặc lớn.

Hay không sân hận, 

Là pháp Đại nhân, 

Tiểu nhân sân hận, 

Khó động như núi.

Người không sân hận là người tu pháp đại nhân, còn người nào hay sân hận không dẹp bỏ được, chấp chặt kiên cố như núi, đó là hạng tiểu nhân.

Sân là độc dữ, 

Tàn hại rất nhiều, 

Không thể hại người, 

Trở về tự hại.

Sân là thứ độc dữ như rắn độc. Nọc của rắn độc hại chết nhiều người, nhưng nọc độc sân hận không thể hại được người, chính nó trở lại hại mình trước hết. Người bị sân đốt cháy, cơ thể họ bức bách khó chịu, đó gọi là tự hại mình.

Sân là tối lớn, 

Có mắt không thấy, 

Sân là bụi nhớp, 

Ô uế tịnh tâm.

Sân là tối lớn , khi người nổi sân thì không biết phải quấy gì hết nên có mắt mà không thấy như bị mù tối. Sân là bụi nhớp , sân như lớp bụi nhơ, làm tâm chúng ta bị ô uế.

Sân độc như thế, 

Phải mau trừ diệt, 

Rắn độc trong nhà, 

Không đuổi hại người.

Sân là thứ độc nguy hiểm, chúng ta phải diệt trừ cho mau. Như có rắn độc ở trong nhà, chúng ta phải đuổi nó ra, nếu không nó sẽ cắn mình không nghi ngờ.

Sân hận như thế, 

Rất nhiều vô lượng.

Thường tập Từ tâm, 

Trừ diệt sân hận.

Như trên là môn Từ tam-muội.

Sân hận nhiều vô lượng nên chúng ta phải tu tập tâm từ bi, thương tất cả mọi người để trừ diệt nó.

Quán sát môn Từ tam-muội như trên được chánh định từ bi. Đây là lối tu cụ thể tập cho tâm mình hòa dịu mát mẻ, không còn ôm lòng thù ghét ai. Nếu còn ôm lòng thù ghét người nào, khi đi ngủ lại sực nhớ đến người đó thì có ngủ ngon không? Cứ lăn qua trở lại ôn tới ôn lui những gì người ta đã làm khổ mình, ôm lòng thù ghét người, chưa hại được người mà mình đã bị hại rồi. Chúng ta tu, quán tâm từ mở rộng lòng thương đến tất cả mọi người, bản thân mình trừ diệt sân hận không bị khổ đau, cũng được mọi người thương mến. Đó là lợi ích lớn.

III- PHÁP MÔN TRỊ NGU SI

Nếu người nhiều ngu si phải học pháp môn ba thứ suy nghĩ.

Nếu người mới tập hành phải dạy: Sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành. Chỉ như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về.

Người nhiều ngu si phải học pháp môn quán chiếu mười hai nhân duyên. Phật thương chúng ta vì không thấy biết đúng như thật nên gọi là ngu si, muốn phá ngu si phải dùng trí tuệ quán chiếu thấy đúng như thật, ngu si từ từ dứt hết. Trong đây chia ra ba hạng người, hạng người mới tập tu, hạng người đang tập tu và hạng người đã tu tập lâu.

Hạng người mới tập tu, dạy quán sanh duyên lão tử, vô minh duyên hành, chỉ suy nghĩ như thế không cho suy nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Tức là dạy chúng ta trong khi ngồi thiền quán xét thân này có sanh ra thì có già chết. Có người nào sanh ra mà không bao giờ già chết? Đó là một lẽ thật, chỉ vì chúng ta không nghĩ đến hay lãng quên. Vì thế Phật dạy chúng ta quán xét, biết rõ có thân này là sanh, sanh là duyên cho già chết. Quán chiếu tường tận như vậy là có một phần trí tuệ.

Kế đến là quán vô minh duyên hành. Vô minh là mê lầm, từ mê lầm chúng ta tạo nghiệp, nghiệp là hành. Nghiệp dẫn chúng ta đi trong sanh tử. Trong mười hai nhân duyên, người mới tập tu nên quán sanh duyên lão tử và vô minh duyên hành. Điều quan trọng trong mười hai nhân duyên là vô minh, nguyên nhân đầu tiên của sanh tử. Vô minh là không sáng, vì vô minh nên chúng ta làm việc không suy nghĩ, không có trí tuệ. Như vừa nghe người nói một câu trái tai, chúng ta liền nổi giận, lúc đó tâm trí mờ mịt không còn bình tĩnh sáng suốt. Vì bị vô minh che lấp nên hành động sân si, miệng chửi tay đánh người. Miệng chửi tay đánh đó là hành, từ chỗ thô ác lại dẫn theo bao nhiêu thứ tiếp nối. Như vậy, khi nào còn vô minh thì còn tạo nghiệp sanh tử. Vô minh là gốc của luân hồi sanh tử. Quán chiếu sâu để dứt trừ dần dần gốc vô minh, trí tuệ tỉnh sáng, gọi là tu thiền trị bệnh si mê.

Nếu người đang tập hành phải dạy: Hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì ngoài, nếu có nghĩ việc ngoài liền thu nhiếp trở về.

Hạng người đang tập tu, dạy quán hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Đó là một mạch trong cuộc sống hiện tại. Nhân nơi hành tức là nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh. Thức đi thọ sanh có đầy đủ hai mặt: danh và sắc, danh là tinh thần, sắc là sắc chất, còn gọi là tâm và sắc. Hai phần này không rời nhau. Trong bào thai có đủ danh và sắc làm duyên sanh lục nhập, tức là thân người có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Từ lục nhập duyên xúc, tức sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Xúc duyên thọ, khi căn tiếp xúc với trần phát sanh cảm nhận khổ, vui, không khổ không vui. Thọ duyên ái, khi có cảm nhận khổ vui liền có ái phát sanh. Ái duyên thủ, vì có ái nên bảo vệ gìn giữ, đó là thủ. Thủ duyên hữu, từ chấp giữ nên luôn mong muốn có thêm. Hữu duyên sanh, vì muốn có nên khi mất đi lại tiếp tục tìm kiếm, mất thân này tìm thân sau, sanh tử tiếp nối.

Pháp quán này dành cho người đang tu tập, sau khi quán phần đầu gồm có bốn chi, phần này có tám chi. Quán sát dòng sanh tử của thân này từ nguyên nhân ban đầu là vô minh, vô minh ngay đời này và vô minh từ những đời trước lâu xa. Do vô minh nên tạo hành nghiệp rồi nối tiếp các chi sau. Cứ quán sát sâu như thế, vừa có khởi nghĩ khác liền kéo trở về không cho suy nghĩ gì ngoài mười hai nhân duyên. Nhờ quán chiếu như vậy lâu ngày chúng ta được trí tuệ sáng suốt thấy biết đúng như thật.

Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như thế suy nghĩ không cho nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về.

Hạng người tu tập đã lâu nên dạy quán vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập… quán đủ mười hai nhân duyên. Khi quán hết mười hai nhân duyên thì trí tuệ chúng ta đầy đủ. Người tu quán sát rõ cuộc sống của mình từ đời này đến đời sau, những nhân duyên ràng buộc liên hệ với nhau dẫn dắt sanh tử tiếp nối. Sanh tử không phải do ngẫu nhiên mà có hay do một vị thần nào tạo ra. Vì vậy, xét kỹ từ mê lầm ban đầu là vô minh rồi tạo nghiệp là hành, nghiệp dẫn thức đi thọ sanh. Khi thọ sanh vào thai mẹ có đủ hai phần, thức là tinh thần, sắc chất là máu huyết của cha mẹ. Từ danh có sắc nên có sáu căn. Từ sáu căn có xúc chạm sáu trần. Từ xúc chạm sáu trần có cảm thọ. Từ cảm thọ có yêu thích. Từ yêu thích có bảo thủ gìn giữ. Từ bảo thủ gìn giữ nên có tái sanh đời sau. Có thân tái sanh đời sau nên có sanh già bệnh chết. Cứ như thế, suy nghĩ quán chiếu kỹ càng không cho nghĩ cái gì khác trong giờ ngồi tu của mình. Đó gọi là quán mười hai nhân duyên. Nếu quán mười hai nhân duyên thấu đáo thì bệnh si mê sẽ hết.

– Tất cả người trí là minh, tất cả người ngu là vô minh, trong ấy thế nào là vô minh?

– Vô minh là tất cả không biết. Ở trong đây vô minh hay tạo có đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có, bỏ các điều thiện, lấy các thứ ác, phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối.

Vô minh là tất cả không biết , vì không biết đúng như thật nên tạo nghiệp dẫn đi thọ sanh các đời sau. Cái đáng có thì không, cái đáng không lại có. Cái gì đáng có lại không, cái gì đáng không lại có? Như hiện giờ, chúng ta đối với thân tạm bợ này, duyên hợp rồi tan, có đó rồi hoại diệt, lại cho nó là thật, đối với tâm chân thật sáng suốt không sanh không diệt, lại bỏ quên không biết. Cái đáng có là tâm chân thật thì không nhận không biết, thân tạm bợ không đáng có thì lại cho nó là thật, như vậy là vô minh. Bỏ các điều thiện lấy các thứ ác , các điều lành không làm, các việc ác cứ gây tạo, đó là hiện tượng vô minh. Phá tướng chân thật, chấp các thứ giả dối , cái thật thì không nghe không làm, cái giả dối lại bảo vệ gìn giữ, đó là hiện tượng vô minh.

Như trong phẩm Vô Minh Tướng nói:

Pháp mờ mịt không sáng, 

Không biết nghiệp đạo đức, 

Mà tạo nhân kiết sử, 

Như lửa do cọ xát.

Vô minh là pháp mờ mịt không sáng, không biết nghiệp đạo đức , không biết nghiệp lành nghiệp dữ, gây tạo các kiết sử tức là tạo các nghiệp ác, giống như lửa do cọ xát mới có. Chúng ta bị lôi dẫn đi trong đường khổ là do vô minh.

Pháp ác mà tâm thích, 

Xa bỏ các pháp lành, 

Giặc cướp sáng chúng sanh, 

Xưa nay thường bị cướp.

Đối với pháp ác tâm lại ưa thích, còn pháp lành thì xa bỏ. Đó là giặc cướp ánh sáng của chúng ta. Người thích điều ác bỏ điều lành, người đó bị vô minh che mờ. Làm như thế là tạo đau khổ nguy khốn cho chính bản thân mình, chẳng khác nào bị cướp hết ánh sáng trí tuệ. Xưa nay chúng sanh luôn bị cướp như vậy mà lại không biết.

Tướng thường lạc ngã tịnh 

Chấp trong thân ngũ ấm, 

Pháp khổ tập diệt đạo 

Cũng lại không thể biết.

Thân chúng ta vốn vô thường nhưng không ai dám nói nó là vô thường. Nghe ai nói anh hay chị không sống lâu, chúng ta cảm thấy giận. Tại sao? Nói mình không sống lâu tức là trù rủa mình mau chết. Như đức Phật nói mạng sống trong hơi thở, ngài có trù rủa mình không? Chúng ta không chấp nhận những lời nói ấy vì cứ nghĩ mình sống hoài, sống lâu, nghe ai nói tới cái chết thì sợ lắm, không muốn nghe. Vì vô thường cho là thường nên chúng ta bị các thầy coi tay coi tướng đánh lừa. Họ chỉ nói những điều có lợi, nói những điều mọi người ưa thích, như thế mới được trả tiền. Chúng ta muốn xem để tìm cái tốt, ngay thân vô thường cứ muốn là thường còn nên bị gạt mà không hay biết.

Thân này là vui hay khổ? Con người sanh ra lớn lên không ai nghĩ cuộc đời mình đau khổ, chỉ nghĩ đến mai kia mình hạnh phúc. Lúc nào cũng mơ ước sự vui sướng hạnh phúc chờ chực mình. Nhưng kiểm điểm lại, mấy mươi năm sống khổ nhiều hơn vui, đôi khi cái vui của người này là cái khổ của người kia. Chúng ta bị cái tưởng vui đánh lừa nên không thấy được sự thật. Phật gọi đó là vô minh.

Chúng ta có làm chủ thân này được không? Như khi ăn uống, chúng ta chỉ làm chủ lựa chọn thức ăn bên ngoài, nuốt vào trong bụng rồi những món không tiêu sanh ra đau bệnh. Nếu làm chủ được thì cái gì mình đem vô phải tiêu hóa đàng hoàng, nhưng có cái không tiêu, rồi có khi thân đau bệnh mình không tìm ra nguyên nhân, không trị được bệnh. Như vậy ai làm chủ ai? Xa hơn, ai có thân cũng muốn vui, muốn an lạc, nhưng không phải muốn là được. Thân này không có chủ thể nhất định, nó là tướng duyên hợp, theo nghiệp lôi dẫn nên có thọ mạng dài hay ngắn, sống khổ hay sống vui. Nếu nghiệp lành thì thân tốt, nghiệp dữ thì thân xấu, không ai muốn, không ai chọn lựa được. Vì thế nói thân này vô ngã. Vô ngã mà cho là có ngã, có cái ta làm chủ thể thật, đó là vô minh mê lầm.

Ai cũng nghĩ thân mình là sạch, thân mình là đẹp, tức là chấp tịnh. Xét cho kỹ từ đầu tới chân không có gì gọi là sạch là quý. Máu huyết trong người là quý đối với sự sống, nhưng khi đem nó ra khỏi thân thể chúng ta cũng rất nhờm gớm. Không sạch mà tưởng sạch, đó là mê lầm.

Vì vô minh nên chúng ta chấp thân năm ấm này là thường lạc ngã tịnh. Ngay trong thân này có chân tâm tánh giác là thường lạc ngã tịnh thì chúng ta bỏ quên. Chính tánh giác không sanh diệt nên là thường. Tánh giác đó không bị duyên bên ngoài áp bức làm cho khổ sở, luôn an ổn vui tươi nên là lạc. Nó mới thật là chủ, nên là ngã. Nó không bị nhiễm nhơ, nên là tịnh. Vì không nhận được tánh chân thật nên chúng ta chấp thân giả dối cho nó là thường lạc ngã tịnh. Đây là vô minh căn bản.

Pháp khổ tập diệt đạo cũng lại như thế, Phật dạy khổ tập diệt đạo là chân lý là lẽ thật, chúng ta cũng si mê không hiểu, không nhận biết.

Đường hiểm các thứ não,

Người mù đi vào trong,

Phiền não nên nghiệp tập, 

Nghiệp nên khổ xoay vòng.

Đường hiểm là chỗ khổ, chỗ xấu xa, mà người mù tức là người vô minh cứ chấp nhận đi vào con đường đó. Phiền não nên nghiệp tập , từ phiền não buồn thương giận ghét nên tạo các thứ nghiệp rồi phải bị xoay vòng trong đường khổ sanh tử không dừng được.

Không nên lấy mà lấy, 

Nên lấy trở lại bỏ, 

Theo đuổi tối, sai lầm, 

Giẫm phải gốc té nhào.

Những thứ tạm bợ của thế gian không có gì quan trọng, chúng ta lại tìm kiếm, cho là quý là trên hết, đó là không nên lấy mà lấy. Nên lấy trở lại bỏ , với điều chân chánh lương thiện là điều tốt mà không chịu giữ, bỏ nó để tạo những cái xấu xa. Như vậy, theo đuổi tối tăm si mê sai lầm, giống như người mù vấp phải gốc cây té nhào không biết hướng đi.

Người vô minh là người làm những điều không đáng làm, điều đáng làm lại không làm, vì thế bị khổ não dồn dập. Đó là việc đáng trách.

Có mắt mà không tuệ, 

Ví dụ cũng như thế, 

Bởi nhân duyên ấy diệt, 

Trí sáng như mặt trời.

Như thế lược nói vô minh cho đến lão tử cũng vậy.

Người có mắt mà không có trí tuệ thì cũng giống như kẻ mù ở trên. Nếu các nhân duyên mê lầm đó diệt hết, chúng ta được trí sáng như mặt trời, soi tỏ tâm ý hành động theo nẻo chân chánh.

– Trong Phật pháp lý nhân duyên rất cao sâu, tại sao người nhiều ngu si lại hay quán nhân duyên?

Đây là câu hỏi, lý nhân duyên của Phật dạy rất sâu xa siêu thoát, tại sao người ngu si phải quán pháp này?

– Có hai hạng người ngu si: Hạng người mê muội như trâu dê. Hạng người ôm các thứ tà kiến mê lầm đen tối, là người ngu si tà kiến. Phật vì hạng người sau bảo phải quán nhân duyên tập chánh định.

Có hai hạng người ngu si, một là hạng người không biết phải quấy, không biết tốt xấu, nên nói mê muội như trâu dê . Hạng người này khó mà dạy tu được. Còn một hạng người ôm ấp tà kiến mê lầm đen tối. Hạng người này cũng biết suy nghĩ xét nét nhưng hiểu lầm biết sai. Với hạng người này Phật dạy quán nhân duyên để được trí tuệ. Quán nhân duyên là phương thuốc trị bệnh ngu si tà kiến. Như vậy, người cố chấp sai lầm thì nên quán mười hai nhân duyên.

IV- PHÁP MÔN TRỊ LO NGHĨ

Người nhiều lo nghĩ phải tập pháp môn A-na-ban-na tam-muội.

Nếu người mới tập hành phải dạy: Nhất tâm đếm hơi thở vào ra, hoặc dài hoặc ngắn, đếm từ một đến mười.

Nếu người đang tập hành phải dạy: Đếm hơi thở từ một đến mười và theo hơi thở vào ra, niệm cùng hơi thở, đồng dừng tâm ở một chỗ.

Nếu người tập hành đã lâu nên dạy: Đếm hơi thở, theo hơi thở, chỉ, quán, hoàn và tịnh.

A-na-ban-na là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là sổ tức quán , pháp môn quán hơi thở.

Quán hơi thở là pháp môn thông dụng để trị bệnh nhiều lo nghĩ. Người mới tập tu theo pháp môn này phải nhất tâm đếm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn, từ một tới mười. Lúc ngồi thiền hít hơi vô thật sâu rồi thở ra, hít vô đầy đếm một, thở ra sạch đếm hai. Đếm tới mười bỏ đếm lại từ một đến mười. Tâm duyên theo hơi thở vô tới đâu thì biết, hơi thở ra tới đâu cũng biết. Nếu đang đếm, đến bảy, tám chợt quên thì đếm lại từ đầu. Vì tâm chúng ta quen lo nghĩ việc này việc kia lăng xăng, bảo dừng lo nghĩ rất khó, nên bắt nó làm hai việc. Một là theo hơi thở, thở vô biết đến tận cùng đếm một, thở ra nghe hết đếm hai. Nhớ hơi thở vô, hơi thở ra là một việc, rồi nhớ số từ một đến mười là hai việc, đồng thời làm hai việc nhớ hơi thở, nhớ số thì không còn nghĩ nhớ gì khác.

Như vậy, cứ ngồi thiền đếm hơi thở từ một tới mười không lộn không quên là được. Có nhiều người lại thêm một việc nữa là đếm xuôi rồi đếm ngược, phiền phức không cần thiết. Chỉ cần hơi thở vô ra và nhớ số đếm, tất cả các việc khác không nhớ là đủ quá rồi, nếu mình còn đếm thêm ngược xuôi nữa thì nó rối, không có lợi. Khi tu sổ tức thuần thục đếm từ một tới mười trong lúc ngồi thiền không lộn không nhớ chuyện gì khác, đó là tiến bộ, thành công.

Bước qua giai đoạn thứ hai, với người đang tập hành, dạy bỏ số đếm chỉ nhớ theo hơi thở. Hít vô cùng, thở ra sạch theo dõi sát không quên, không bao giờ rời. Chú tâm nhớ hơi thở vô, hơi thở ra, nhớ luôn như vậy không nhớ chuyện gì khác. Vừa nhớ nghĩ chuyện gì khác thì kéo lại nhớ hơi thở. Đây là phương tiện tùy tức.

Nếu người tập hành đã lâu nên dạy đếm hơi thở, theo hơi thở, tập chỉ, quán, hoàn, tịnh. Nghĩa là người đã lâu thì từ đếm hơi thở, theo hơi thở rồi tập chỉ, tập quán, tập hoàn, tập tịnh. Phần sau sẽ chỉ dạy rõ ràng hơn.

A-na-ban-na tam-muội có sáu môn, chia làm mười sáu phần. Sáu môn là:

  1. Sổ tức: Hành giả nhất tâm nhớ hơi thở vào đến cùng, đếm một, hơi thở ra đến cùng, đếm hai. Nếu hơi thở chưa cùng mà đếm là sai. Nếu đếm từ hai đến chín mà quên phải đếm lại một. Ví như nhà toán học tính một với một là hai, hai với hai là bốn v.v… không sai một mảy.

Nhớ rõ hơi thở không nghi ngờ, không quên, không đếm lộn, đó là pháp đếm hơi thở.

– Tại sao phải đếm?

– Nhân đếm hơi thở quán vô thường, dễ được dứt các lo nghĩ và được nhất tâm.

Khi chúng ta quán hơi thở, hít vô thở ra đều đều như vậy, chú tâm vào hơi thở, chú tâm vào số mà quên tất cả những cái nghĩ ở ngoài. Nhờ quên tất cả những cái nghĩ ở ngoài rồi chúng ta thuần thục. Thấy hơi thở vô thở ra luôn luôn, hơi thở là mạng sống của chúng ta. Thở ra mà không hít vào là chết, như lời Phật dạy, mạng sống chỉ trong hơi thở. Mạng sống rất ngắn, biết rõ như vậy, nhờ quán hơi thở sau này chúng ta quán vô thường rất dễ.

Thân tâm sanh diệt vô thường liên tục tương tự khó thấy, nhân thở vào ra sanh diệt vô thường mà dễ biết dễ thấy được nó.

Con người chúng ta là một dòng sanh diệt, lúc nào cũng sanh diệt, chỉ vì mình không thấy không biết. Tu tập pháp quán sổ tức, theo dõi đếm hơi thở hít vô thở ra, biết rõ nó luôn luôn là dòng sanh diệt vào ra vào ra không dừng. Hơi thở là mạng sống, mạng sống này là một dòng vô thường sanh diệt không có thật, không lâu dài.

Tâm buộc tại số, dứt các lo nghĩ.

Lo nghĩ gồm sáu thứ: 1- Lo nghĩ tham dục, 2- Lo nghĩ giận hờn, 3- Lo nghĩ não hại, 4- Lo nghĩ quê hương thân thuộc, 5- Lo nghĩ cõi nước, 6- Lo nghĩ không chết.

Người muốn cầu tịnh tâm vào chánh đạo, trước phải diệt ba thứ lo nghĩ thô, kế trừ ba thứ tế. Trừ hết sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp Nhất thiết thanh tịnh. Ví như người luyện vàng, trước bỏ những đá sỏi thô, sau mới bỏ bợn cát tế, lần lượt được vàng ròng.

Chú tâm vào số đếm một hơi thở, không còn lo nghĩ gì khác. Chúng ta lo nghĩ những gì? Những lo nghĩ này chia ra làm hai phần thô và tế. Thô là lo nghĩ tham dục, lo nghĩ giận hờn, lo nghĩ não hại. Kế là lo nghĩ về thân quyến, quê hương đất nước, lo nghĩ mong làm sao cho đừng chết. Đây giải thích những cái thô trước.

– Thế nào là bệnh thô? Thế nào là bệnh tế?

– Nghĩ tham dục, nóng giận, não hại là ba thứ bệnh thô. Nghĩ quê hương thân thuộc, cõi nước, không chết là ba thứ bệnh tế. Trừ được sáu cái lo nghĩ này sẽ được pháp tất cả thanh tịnh.

– Người chưa được đạo, kiết sử chưa đoạn, sáu cái lo nghĩ này từ tâm khởi loạn, làm sao trừ được?

– Tâm chán thế gian và tu chánh quán thì hay ngăn mà chưa nhổ được gốc nó, sau khi được đạo vô lậu mới nhổ hết gốc rễ của nó.

– Thế nào là chánh quán?

– Như bài tụng:

Thấy người đa dục cầu đã khổ, 

Được nó giữ gìn càng thêm khổ, 

Mất đi buồn thảm khổ lại hơn, 

Khi tâm được dục không mãn khổ.

Người nhiều tham dục thì khổ, khổ chia ra nhiều giai đoạn. Thấy người đa dục cầu đã khổ, khi tham muốn chưa được, mong cầu cho được đã khổ, là giai đoạn bắt đầu. Được nó gìn giữ càng thêm khổ , mong cầu được rồi lại bận tâm gìn giữ nó cũng khổ, là giai đoạn thứ hai. Mất đi buồn thảm khổ lại hơn , có rồi bị mất càng khổ hơn, là giai đoạn thứ ba. Khi tâm được dục không mãn khổ , đây là nói tổng kết, khi có tham dục đầy đủ rồi, cái khổ cũng chưa chấm dứt, lúc nào cũng bị khổ đeo đuổi. Chưa được là tham dục vị lai, nó là khổ. Được tham dục hiện tại, gìn giữ càng khổ. Mất đi là tham dục thuộc quá khứ càng khổ hơn. Ví như có người thấy người khác mang chiếc đồng hồ vàng rất đẹp. Muốn được đồng hồ vàng mà không có tiền thì ước mơ tìm cách này cách nọ, xin người này cầu người kia, lúc đó khổ không? Trong khi đang mong cầu thì hết sức khổ, mất ăn mất ngủ. Khi đủ điều kiện mua được chiếc đồng hồ đẹp quý giá lại sợ mất, giữ gìn không dám để hở. Được rồi cũng khổ. Hôm nào bỏ quên bị người ta lượm mất thì sao? Lại càng khổ nữa. Nên Phật dạy chúng sanh, do tham ái mà sanh khổ, khổ suốt kiếp này sang kiếp khác.

Dục nhân vô thường, không, sầu thảm, 

Các thứ chung hợp nên bỏ đi, 

Ví như rắn độc vào nhà người 

Không gấp đuổi đi hại ắt đến.

Dục là vô thường, trống không, là gốc của lo sợ sầu thảm. Khi các thứ tạm bợ chung hợp như thế chúng ta không nên quý tiếc chiều chuộng nhiều, phải bỏ đi. Giống như rắn độc vào nhà, nếu không gấp đuổi nó đi thì ắt hại đến thân. Tham dục là nhân đau khổ, người ôm lòng tham giống nuôi rắn độc trong nhà. Phải gấp đuổi tham dục ra, đừng lưu giữ nó.

Không định, không thật, không quý trọng, 

Những thứ dục cầu vui điên đảo, 

Như A-la-hán lục thần thông 

Cảnh tỉnh đệ tử giác dục rằng: 

Ngươi không phá giới, giới thanh tịnh, 

Không cùng người nữ chung nhà ngủ, 

Rắn độc kiết dục đầy nhà tâm 

Ràng buộc vui ái không xa lìa.

Tham dục không nhất định, không chân thật, không đáng quý trọng. Càng cầu tìm tham dục nhiều càng thêm điên đảo. Các vị A-la-hán đầy đủ lục thông cảnh tỉnh đệ tử tránh xa tham dục.

Người đệ tử xuất gia không phá giới thì được thanh tịnh. Muốn được thanh tịnh trọn vẹn thì cẩn thận không cùng người nữ ngủ chung nhà. Rắn độc kiết sử tham ái đầy dẫy trong tâm ông, ràng buộc tâm trong cái vui ái dục không bỏ được.

Đã biết giới thân không thể phá, 

Mà tâm thường cùng lửa dục chung, 

Ngươi vốn xuất gia cầu đạo pháp, 

Bởi đâu buông lung đến thế này?

Giới thân tuệ mạng là giá trị quý báu của người tu, không thể phá bỏ. Biết vậy mà trong tâm thường cùng lửa dục ở chung thì như ở chung với rắn độc. Đã là người xuất gia cầu đạo giải thoát, tại sao còn nuôi dưỡng tâm ái dục phóng túng buông lung? Như thế không xứng đáng là người tu.

Cha mẹ sanh thành nuôi nấng ngươi, 

Bà con quyến thuộc thương yêu lắm,

Thảy đều rơi lệ quyến luyến ngươi, 

Ngươi đành xa bỏ không đoái tưởng.

Đây là quở rầy những người xuất gia. Khi phát tâm xin đi tu, cha mẹ thương không nỡ cho, chẳng những cha mẹ mà bà con anh em cũng không muốn cho mình ra khỏi nhà. Khi ra đi ai nấy đều rơi lệ thương xót. Vậy mà đành bỏ cha mẹ anh em một cách mạnh mẽ cương quyết, tại sao vào trong đạo lại cột trói với người khác? Đó là tai họa, làm việc trái đạo lý.

Mà nay sao lại ôm lòng dục, 

Cùng dục vui vầy không chán nhàm, 

Thường cùng lửa dục chung một chỗ 

Vui vẻ thích thú không tạm lìa!

Người đã xả bỏ sự ràng buộc của gia đình, xả ly tình thương mến của cha mẹ anh em, tại sao vào đạo rồi lại còn ôm ấp lòng dục? Thật là không biết tu, không có đạo đức chút nào hết.

Như thế các thứ quở trách tham dục và những thứ chánh quán trừ tâm tham dục.

Phải quán xét như vậy để dẹp trừ tâm nghĩ về tham dục.

– Thế nào diệt tâm giận hờn?

– Như bài tụng:

Từ bào thai ra thường chịu khổ, 

Chúng sanh như thế chớ giận hại, 

Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, 

Từ bi nóng giận không chung cùng.

Nếu chúng ta hay nóng giận, giận người này giận người kia thì nên quán xét con người đã khổ từ khi lọt lòng mẹ. Chúng sanh vừa sanh ra là khóc rồi, từ lúc đó cho đến lớn còn chịu biết bao nhiêu điều khổ. Vậy thì mình nên thương yêu bảo bọc họ, chớ ghét giận chi nữa. Vừa khởi tâm nóng giận, chúng ta nên dùng lòng từ bi mà diệt nó. Nên biết khi nóng giận thì không có thương, có thương yêu thì không nóng giận. Vì thế Phật dạy dùng tâm từ bi để trừ diệt sân hận. Khi có ai làm gì trái ý, chúng ta vừa nổi giận lên thì phải nghĩ thương xót họ. Như khi người trong gia đình khờ dại làm những điều không đáng làm, nói những câu không đáng nói. Nghe thấy điều sai trái chúng ta nổi giận ghét, lúc đó nên nghĩ rằng vì người ấy khù khờ nên nói bậy, nếu sáng suốt thì không làm như thế. Người đó đáng thương không nên giận. Vừa nghĩ nó ngu khờ đáng thương thì cơn giận bớt liền, khỏi cần uống nước lạnh. Người ta thường bảo khi nào giận nhiều, nên uống ly nước lạnh cho mát hết giận. Nhưng không chắc gì lắm, uống nước rồi lát sau nhớ lại liền nổi giận. Chẳng lẽ ngày uống mấy chục ly sao? Tốt nhất là khởi lòng từ quán xét, thương xót sự ngu dại của người. Xét rồi thấy đáng thương thì hết giận. Đó là dùng từ bi diệt nóng giận, chứ còn mình dùng cái gì cũng không diệt được hết.

Hiện nay nhiều người ghiền á phiện, xì-ke ma túy. Những người đó là dại hay khôn? Nên nghĩ người dại khờ phải giáo dục cho họ sáng suốt. Nếu khôn ngoan không ai tự làm hại mình như vậy. Hại đủ trăm phần mà vẫn làm, tức là người dại, kể cả sinh viên cũng dại như thường. Hiểu thấu sự ngu khờ đáng thương, chúng ta không giận mà tìm đủ cách cứu người. Từ bi là phương pháp trừ nóng giận rất tốt.

Bồ-tát Quan Âm tay cầm tịnh bình, tay cầm nhành dương, nếu có chúng sanh đau khổ kêu cầu, ngài rưới nước cam lồ thì phiền não tiêu trừ. Đó là tượng trưng lòng từ bi dập tắt lửa nóng giận. Phiền não là nóng giận, khổ sở. Bồ-tát Quan Âm tu hạnh từ bi cứu khổ, chỉ có từ bi mới diệt được nóng giận. Người nào hay nóng giận ráng tập quán từ bi, thấy mọi người đều đáng thương như nhau. Mới tập thì thương người thân trước rồi người sơ sau, không thấy có người nào đáng ghét. Vì thế nói Nóng giận khởi lên dùng Từ diệt, từ bi nóng giận không chung cùng.

Người nhờ từ bi nóng giận dứt, 

Ví như sáng tối không chung chỗ, 

Nếu giữ tịnh giới mà nóng giận,

Người ấy tự phá pháp lợi mình.

Lòng từ bi và tính nóng giận không cùng chung nhau, có từ bi thì hết nóng giận. Ví như sáng và tối, có sáng thì không tối, có tối thì không sáng. Nếu người tu biết giữ giới trong sạch mà còn nóng giận, đó là tự phá pháp lợi, tức là tự phá pháp lành giới luật mà mình đã thọ. Vì vậy người tu phải tập tâm từ bi.

Ví như dẫn voi xuống nước tắm 

Lại lấy bùn đất trét đầy mình, 

Tất cả đều phải già, bệnh, chết, 

Mọi thứ đánh đập trăm ngàn khổ.

Đây dùng ví dụ dẫn con voi, con ngựa, con bò con trâu… xuống sông tắm, dùng nước tắm sạch, chẳng lẽ lấy bùn đất đắp cho nó dơ thêm? Người tu là tập hạnh từ bi mà nổi nóng giận thì cũng như người dẫn con bò con ngựa tới bờ hồ bờ ao để tắm, không dội nước tắm mà lấy đất bùn trét lên mình nó. Người tu giữ tâm thanh tịnh, từ chỗ thanh tịnh khởi lòng thương xót thì sẽ dập tắt nóng giận. Tất cả người sanh ra trên đời đều phải già, bệnh, chết. Không ai còn sống mãi để giận hờn. Giận hờn đánh đập người lại gây thêm muôn ngàn cái khổ. Vì thế không nên nóng giận, không nên đánh đập người.

Tại sao người lành thương chúng sanh 

Mà lại gia tăng giận não hại?

Tất cả người biết tu đều gọi là người lành. Người lành là người biết thương chúng sanh sao lại nổi giận, muốn hại, muốn đánh đập người?

Nếu khởi nóng giận muốn hại người,

Chưa đến người kia trước đốt mình.

Khi khởi nóng giận muốn hại người, chưa hại được thì sự nóng giận đã hại mình trước. Người xưa có câu “Hàm huyết phún nhân tiên ô tự khẩu” nghĩa là ngậm máu phun người trước nhơ miệng mình. Hình ảnh rất rõ ràng. Khi chúng ta nổi giận muốn hại người thì chính mình đã bị hại trước, như người bị bệnh huyết áp cao mỗi khi giận tức muốn đánh muốn chửi người khác, lúc đó đã bị nhức đầu trước rồi, nhiều khi giận quá đứt gân máu chết luôn. Người bệnh tim thì sân giận làm tim đập mạnh, nghẹt thở… Sân giận có hại như thế, nên chúng ta phải tập tự kìm chế và tập hạnh từ bi đem an lạc cho mình cho người.

Thế nên thường nghĩ hành từ bi, 

Nóng giận, nghĩ ác tâm không sanh, 

Nếu người thường nghĩ hành pháp lành, 

Thường nghĩ pháp lành tâm vui vẻ.

Đây là lời dạy thật chí thiết, khuyên chúng ta nên tập hạnh từ bi, phát khởi tâm từ bi, không nên phát khởi tâm nóng giận, nghĩ ác. Người luôn luôn nghĩ pháp lành tức là từ bi đó. Thường nghĩ pháp lành thì tâm vui vẻ, khi nghĩ giúp người này, nâng đỡ người kia, khi nghĩ dạy bảo khuyên răn người làm việc tốt. Ngay lúc đó lòng đã an vui, còn nghĩ điều xấu ác hại người thì trong lòng đã nóng nảy bực bội rồi.

Đời nay được vui, sau cũng thế, 

Được đạo thường vui, ấy Niết-bàn, 

Nếu tâm dồn chứa điều bất thiện 

Tự mất lợi mình lại hại người.

Người nghĩ lành nghĩ phải, nghĩ đạo đức thì tâm vui. Hiện tại tạo nhân vui, vị lai được quả vui. Đời nay được vui, sau cũng thế, được đạo thường vui, ấy Niết-bàn. Sống trong đạo mà tâm hằng vui, hằng tươi sáng, đó là hiện tượng của Niết-bàn. Ngược lại, nếu tâm mình chứa điều bất thiện thì tự mất lợi mình mà lại hại người.

Đã tự trong tâm mất thiện pháp, 

Người có tịnh tâm cũng trầm một.

Nếu trong tâm chúng ta mất pháp lành thì dù ngồi thiền muốn cho tâm an tịnh cũng không thể an tịnh. Như hôm nào chúng ta giận tức ai, khi ngồi thiền chỉ nhớ giận tức, suốt một giờ thiền toàn sự bực bội không an ổn. Còn ôm lòng tức giận thì tu không có kết quả. Nếu ngồi thiền với lòng từ bi, với tâm yên ổn vui tươi thì suốt giờ thiền rất thanh tịnh. Sân vừa hại mình vừa hại sự tu hành, người tu cần quán xét kỹ.

Ví như đạo nhân ở chỗ vắng 

Đưa tay kêu to: “Giặc cướp tôi!” 

Có người hỏi rằng: “Ai cướp ngươi?” 

Đáp rằng: “Giặc Của tôi chẳng sợ, 

Tôi không giữ của cầu thế lợi, 

Làm gì giặc Của hại được tôi.

Tôi tập căn lành các pháp bảo,

Giặc giác quán (xét nghĩ) phá tôi thiện lợi,

Giặc Của đã lánh chỗ chứa nhiều,

Giặc cướp thiện đến không thể tránh.”

Như có đạo nhân đang tu mà chợt la lên: “Giặc cướp nó hại tôi!” Có người hỏi: “Ai hại ngươi?” Ông đáp rằng: “Giặc tiền của tôi không sợ, vì tôi không giữ tiền của cầu thế lợi. Nhưng tôi tập tu các căn lành, các pháp bảo, giặc suy nghĩ tính toán đến cướp phá lợi lành của tôi.” Giặc suy nghĩ đây là suy tính nóng giận não hại người, phá hỏng tâm lành của đạo nhân. Giặc cướp tiền của đến có thể tránh được, cứ để nó lấy tiền thì mình được yên tâm. Giặc cướp điều lành là tâm nóng giận là suy nghĩ lăng xăng, giặc này khó tránh.

Như thế các thứ trách nóng giận và các thứ chánh quán trừ tâm nóng giận.

Chúng ta tu phải biết điều gì lợi điều gì hại, muốn trừ diệt nóng giận phải dùng pháp gì, muốn trừ diệt tham lam phải dùng pháp gì. Biết rõ, thấy tường tận thì vượt qua chướng ngại dễ dàng.

– Thế nào trừ cái nghĩ não hại?

– Như bài tụng:

Chúng sanh luống chịu trăm ngàn thứ: 

Các bệnh luôn luôn đến não hại, 

Giặc chết rình chụp thường muốn giết, 

Vô lượng chúng khổ tự vây quanh.

Muốn diệt tâm não hại người, chúng ta phải nghĩ rằng, chúng sanh ở trên cõi đời này chịu trăm ngàn thứ khổ, nào là bệnh tật cướp đi sức khỏe, nào là cái chết rình rập giết người, vô lượng thứ khổ vây quanh.

Tại sao người lành thêm não hại, 

Chê bai mưu hại không nhân từ?

Hại người chưa được tự mang họa,

Người tục mưu hại còn thể tha.

Đó là nghiệp ác của thế gian, 

Cũng không tự nói ta tu thiện.

Người ta đã chịu bao nhiêu khổ sở cay đắng trong cuộc đời rồi, tại sao mình lại muốn hại họ nữa? Người hay chê bai hay mưu đồ hại kẻ khác là người không nhân từ. Hại người chưa được mà mình đã mang họa trước. Người thế tục não hại nhau còn có thể tha thứ, vì họ chưa phải là người tu, vì đó là nghiệp của thế gian.

Cầu đạo thanh tịnh người xuất gia 

Mà sanh nóng giận tâm tật đố.

Trời tạnh trong mây xẹt lửa độc,

Phải biết ác này tội rất nặng.

Người thế gian, người chưa biết tu, ác tâm mưu hại nhau, sanh tâm giận hờn tật đố thì còn tha thứ được. Người xuất gia, hoặc tại gia đã biết tu rồi mà tâm còn nóng giận còn tật đố thì giống như giữa trời quang mây tạnh mà lại xẹt ra sấm chớp. Người đời vì lòng tham muốn nhiều, tích lũy gom góp mọi thứ về mình, khi không đạt được chỗ mong cầu thì nổi giận tức tối. Người biết tu đã dẹp bớt lòng tham, không có gì đòi hỏi mong cầu, dứt sự toan tính, như một bầu trời trong. Trời trong mà có sấm là phi lý. Người biết tu mà có tâm tham, não hại người cũng là điều vô lý.

Người ưa vắng vẻ khởi tật đố,

Có bậc La-hán được tha tâm

Răn dạy quở rầy: “Ngươi sao dại?

Tật đố tự phá cội công đức, 

Muốn được cúng dường phải tự tập

Bao nhiêu công đức trang nghiêm thân.

Người tu ở chỗ yên tịnh vắng vẻ mà khởi tâm tật đố nên bị bậc A-la-hán có tha tâm thông biết được quở trách: Người tu mà còn tật đố là người dại. Tật đố phá hoại các cội gốc công đức của mình. Muốn được cúng dường phải tự trang nghiêm công đức nơi thân.

Nếu không trì giới, thiền, đa văn, 

Dối mặc áo nhuộm hoại pháp thân,

Thật kẻ ăn xin, người tệ ác, 

Tại sao mong lợi được cúng dường?

Công đức của người tu là trì giới, thiền định, học rộng hiểu nhiều. Nếu không như thế thì chỉ là người dối mặc áo nhuộm tự phá hoại pháp thân, thật là kẻ ăn xin, là người tệ ác. Như vậy người tu không có tâm từ bi thương người mà muốn hại người, đó là kẻ ăn xin mà có tâm tệ ác. Mình đã xấu ác mà muốn được cúng dường, thật là đáng hổ thẹn.

Đói, khát, lạnh, nóng trăm ngàn khổ, 

Chúng sanh thường bởi các khổ này, 

Thân tâm khổ ách không cùng tận, 

Tại sao người lành thêm não hại?

Người thế gian đã chịu bao nhiêu thứ khổ, đói khát lạnh nóng… thân tâm đều nhọc nhằn đau đớn. Chúng ta là người tu, người hiền lành, phải thương xót tìm cách cứu giúp.

Ví như ghẻ lớn dùng dao mổ, 

Cũng tợ tù nhân khảo chưa xong,

Khổ ách quanh mình các khổ nhóm, 

Tại sao từ bi lại muốn tăng?

Những khổ sở của thế gian như mụt ghẻ lớn bị mổ xẻ, như tù nhân bị tra khảo. Đối với các thứ khổ nhóm họp, nếu chúng ta lại tăng thêm giận hờn phiền hà, khiến họ khổ càng thêm khổ. Như vậy đạo đức tu hành ở chỗ nào?

Tất cả chúng ta dù xuất gia tại gia đều là đệ tử Phật. Đạo Phật là đạo trí tuệ, đạo từ bi, nên Phật dạy chúng ta tu để phá si mê, tham lam, nóng giận. Si mê dứt là trí tuệ, tham lam nóng giận dứt là đầy đủ từ bi. Như vậy chúng ta tu theo Phật dù ít dù nhiều cũng phải lóe sáng trí tuệ nơi mình, mở tâm rộng để phát khởi lòng từ bi thương người thương vật. Trí tuệ tăng trưởng, từ bi tăng trưởng đó là sự tu tiến của chúng ta, chẳng phải có thần thông, biết bay, biết quá khứ, vị lai… là tu tiến. Mong cầu những gì lạ lùng huyền bí không phải là tu theo Phật. Phật dạy chúng ta có trí tuệ thấy đúng như thật, thương tất cả mọi người như thương chính thân mình. Tình thương đó bủa khắp không hạn hẹp. Có tăng trưởng từ bi mới là đệ tử Phật. Vì thế ở đây nói người từ bi thì không làm tăng khổ não cho người khác.

Như thế các thứ quở trách cái nghĩ não hại, các thứ chánh quán để trừ nghĩ não hại.

– Thế nào trừ cái nghĩ quê hương thân thuộc?

– Nên nghĩ thế này: Trong thế giới sanh tử tự nghiệp duyên ràng buộc thì đâu là thân đâu là sơ? Chỉ do ngu si khởi tâm mến bừa, chấp cho là thân thuộc. Đời quá khứ đời vị lai không phải thân mà nay là thân. Đời này là thân mà quá khứ không phải thân. Ví như đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Quê hương thân thuộc cũng như vậy.

Người xuất gia nên có quan niệm rõ ràng về quê hương về thân thuộc không nên lầm lẫn. Đã xuất gia rồi mà còn nặng tình quê hương, nặng tình thân thuộc thì sự tu hành khó đến nơi đến chốn. Phải thấy tất cả nơi chốn đều là quê hương, tất cả chúng sanh đều là thân quyến của mình.

Trong đây có ví dụ đàn chim chiều về chung đậu một cây, sáng ra tùy duyên mỗi con bay mỗi chỗ. Điều này hết sức rõ ràng. Như chùa Ấn Quang những năm về trước chúng tôi quy tụ về đông đảo, ba mươi bốn mươi tăng sinh ở học. Nhưng bây giờ về Ấn Quang tìm lại những người cùng ở với chúng tôi ngày xưa thì không còn mấy người. Như thế, nơi chốn chúng ta ăn ở chỉ là chỗ tạm, mỗi người phải đi mỗi nơi sinh sống, hoặc làm Phật sự. Chư tổ nhắc thêm, tất cả người thân của chúng ta đời này thấy là thân, nhưng ở đời trước chưa chắc là thân, đến đời sau thì cái thân thuộc hiện nay cũng không còn.

Sanh trong thế giới mỗi người tự có tâm khác, duyên hợp nên thân, duyên tan thành sơ, không thể có nhân duyên quả báo quyết định mãi cùng nhau thân cận. Ví như cát khô tay nắm chắc thành khối, do nắm nên hiệp, buông ra thành tan. Cha mẹ nuôi con đến khi già con đền đáp lại. Con nhờ sự bồng ẵm nuôi nấng nên phải báo đáp lại. Nếu thuận ý cha mẹ là thân, nghịch ý là sơ. Có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích.

Tại sao trong đây nói có khi thân không có ích mà trở lại hại, có khi sơ không hại mà có ích? Thông thường tình thân giữa con cái đối với cha mẹ hoặc cha mẹ đối với con cái rất nặng. Nếu cha mẹ biết đạo đức, con sống hòa hợp tùy thuận theo đạo đức của cha mẹ thì đồng có lợi. Ngược lại nếu cha mẹ thiếu đạo đức, con cũng bắt chước làm theo thì mai sau nó sẽ tổn thương, sẽ đau khổ. Ví dụ một ông cha không biết tu nên mỗi ngày uống rượu hết chai này qua chai khác. Nếu con mua đủ rượu mỗi ngày, làm cha vui lòng gọi là thân. Nếu ông cha tới cữ mà không có rượu thì chửi mắng, chửi thì thành sơ. Có rượu thì ông vui, càng nhiều thì càng vui. Nhưng uống nhiều ông sẽ mang bệnh chai gan, chính cái vui đó trở thành bệnh. Vì vậy có khi thân mà trở thành tai hại. Nếu thấy cha uống rượu nhiều con không dám mua, mua chút chút thôi thì sẽ bị rầy là con bất hiếu. Chịu bị rầy để cha uống ít, uống ít thì không bệnh, không bị say sưa. Như vậy có lợi hay có hại? Sơ mà có lợi.

Người do nhân duyên nên sanh ra ái, bởi nhân duyên ái nên trở lại hại người. Ví như họa sĩ họa tượng người nữ, trở lại yêu thích tượng ấy. Người yêu quê hương thân thuộc cũng thế.

Dây ái ràng buộc mọi người, vì nó làm cho vòng tái sanh luân hồi không dứt. Tình thân quyến tưởng như tốt đẹp nhưng khiến chúng ta không thể giải thoát. Tâm ái, tâm mến thương sâu đậm sẽ làm hại chúng ta. Ví dụ một họa sĩ vẽ người con gái đẹp, khi vẽ xong thấy cô gái trong tranh đẹp quá, ông lại yêu thích cô gái đó. Chính mình tạo ra rồi mình lại yêu thương nó, không có nghĩa lý gì hết. Đối với người thân chúng ta thương quý cũng rất tốt, nhưng đừng để bị trói buộc bởi tình thương đó, như vậy mới hay.

Tự sanh nhiễm trước, nhiễm trước những cái bên ngoài, trong đời quá khứ ngươi vẫn có quê hương thân thuộc, đời này ngươi đã làm gì? Ngươi không thể làm lợi ích cho người thân đời quá khứ, người thân đời quá khứ cũng không thể làm lợi ích cho ngươi, hai bên đều không thể làm lợi ích cho nhau. Trong cõi thế giới không định vô biên này, có nghĩ đến người thân hay không thân cũng chỉ là nghĩ suông mà thôi.

Đạo Phật quan niệm con người không chỉ có một đời hiện tại, không phải chỉ một lần này mà đã trải qua vô số kiếp. Mỗi đời đều có cha mẹ, anh em. Trải qua vô số kiếp thì số lượng cha mẹ anh em nhiều không thể tính kể. Lý nhân quả luân hồi dạy chúng ta phải mở rộng tâm mình tiếp nhận mọi người trên thế gian đều xem như thân thuộc. Kinh Báo Hiếu nói, khi đức Phật đi trên đường thấy một núi xương khô, ngài bèn quỳ xuống đảnh lễ. Lúc ấy A-nan hỏi vì sao Phật lạy xương khô, Phật nói: “Trong đống xương khô này có xương của ông bà, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp, có thể là thân của ta, hoặc thân của người do ta sanh ra. Ta đảnh lễ vì kính trọng những người thân thuộc ở vô số kiếp quá khứ…” Qua lời Phật dạy chúng ta thấy tất cả chúng sanh đều có liên hệ với nhau. Mọi người trên thế gian nếu không phải là thân thuộc gần gũi thì cũng bà con nhiều đời, không ai là người chưa từng quen biết. Nếu chúng ta chỉ ràng buộc trong cha mẹ, anh em, quyến thuộc của mình, còn người ngoài ai đau khổ mặc ai, mình không nghĩ đến cứu giúp, đó là tình thương hạn cuộc.

Chúng ta có thể nghiệm thấy tất cả mọi người đều đã từng gặp nhau. Ví dụ có những người chúng ta chưa từng quen biết nhưng vừa thấy mặt họ là có cảm tình liền. Ngược lại có những người chưa từng quen biết, chưa từng làm mình khổ đau trong đời này, nhưng vừa thấy mặt, chúng ta đã không ưa. Hai trường hợp này cho thấy, có những người thân thuộc của mình từ nhiều đời trước nên vừa gặp tự nhiên có cảm tình; lại có người xưa kia làm hại làm khổ mình, bây giờ ra đời quên rồi, nhưng gặp lại tự nhiên không có cảm tình.

Nhiều khi chúng ta oán trách xã hội bất công, có người đi tới đâu xin cái gì cũng được cho, nhờ cái gì cũng được giúp đỡ, còn mình vô duyên xấu số đi đâu ai cũng ghét. Trách như vậy đúng hay sai? Sở dĩ, người ta thấy mình không muốn ngó là vì không phải mới đời này mà đời trước mình đã tung hoành làm cho người ta khổ lắm rồi, bây giờ gặp lại quá ngán nên muốn cái gì, nhờ cái gì họ cũng lánh xa không muốn giúp. Với người khác họ vui lòng giúp, vui lòng lo lắng cho, đó là đời trước người đó đã tạo duyên tốt có cảm tình rồi, nên cần là giúp. Đó là ý nghĩa vay trả trong luân hồi. Mỗi lần trở lại chúng ta quên mà không quên hẳn, còn có cái gì thầm ở bên trong. Biết rõ trong luân hồi mình đã có mặt nhiều kiếp nhiều đời thì mọi người trên thế gian này đều là thân thuộc của mình. Ai cũng là người đáng thương, ai cũng là người đáng quý, không buồn không giận, không ghét bỏ ai, nhờ đó đạo đức tăng trưởng. Chúng ta nhớ ơn nhiều người trong nhiều kiếp đã giúp đỡ mình, ai cũng là ân nhân. Hiểu như vậy sự tu hành của chúng ta dần dần mở rộng, đạo đức và từ bi lan tỏa khắp chúng sanh, không bị hạn chế trong phạm vi riêng tư.

Như vị A-la-hán dạy đệ tử mới xuất gia còn luyến ái người thân rằng:

Như kẻ hư hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy. Ngươi đã được xuất gia tại sao trở lại ái trước? Cạo tóc, mặc áo hoại sắc là tướng giải thoát, ngươi còn yêu mến người thân quê hương không được giải thoát, trở lại bị cái yêu mến buộc ràng.

Vị A-la-hán rầy đệ tử, lời quở rất nặng nề: Như kẻ hèn đã mửa ra rồi lại ăn vào, ngươi cũng như vậy, đã xuất gia tại sao lại ái trước? Nói như vậy để nhắc nhở bổn phận người xuất gia. Xuất gia là ra khỏi nhà thế tục, đi vào nhà thánh hiền. Đã vào nhà chư Phật thì phải mở rộng lòng thương tất cả chúng sanh, nếu chỉ biết thương cha mẹ anh em ở nhà, đó là bị cột trói trong gia đình. Chúng ta tu là để làm lợi ích chúng sanh, không chỉ hạn cuộc trong phạm vi gia đình, như vậy mới đúng ý nghĩa xuất gia. Đã đi tu mà còn ái trước gia đình, như người đã mửa ra rồi mà ăn trở lại, rất gớm ghê. Đó là lời quở của bậc A-la-hán.

Người tu cạo tóc, mặc áo nhuộm là hình tướng giải thoát, thế mà lại yêu mến gia đình, thân thuộc của mình, không lo tu để cứu độ chúng sanh. Lẽ ra được giải thoát lại bị ràng buộc, không xứng đáng với chí nguyện ban đầu

Ba cõi vô thường lưu chuyển không định, hoặc thân không thân, tuy nay thân nhưng lâu xa cũng hết. Như thế, mười phương chúng sanh luân hồi, quê hương thân thuộc không định thì đâu không phải là quê hương thân thuộc của ta. Người khi sắp chết tâm thức không có, đứng tròng mắt tắt thở, mạng sống dứt, như rơi vào hầm tối. Khi ấy quê hương thân thuộc còn đâu? Nếu khi mới sanh, đời trước không phải thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân; khi sắp chết, người thân trở lại không phải thân. Như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc.

Lời dạy này chúng ta phải nhìn trên thực tế mới thấy rõ giá trị của nó, không phải là lời nói gượng, nói tạm để cho dễ nghe.

Khi chúng ta mới sanh, đời trước không phải là người thân mà nay gắng gượng hòa hợp làm thân. Trước khi đứa con sanh ra, cha mẹ không biết nó ở đâu. Khi nó ra khỏi lòng mẹ rồi thì nhận làm con, rồi cưng, rồi thương. Như vậy, trước không biết ở đâu mà bây giờ có mặt là thương, anh chị em đều dồn tình thương cho nó. Đó là khi mới sanh, không thân trở thành thân. Đến khi chết, người thân trở lại không thân . Như cha mẹ hết sức thân, nhưng chết rồi chưa tẩn liệm, chúng ta có dám nằm gần bên cạnh không? Không dám. Thêm một điều nữa, nếu người thân chết êm ái thì ít sợ, còn chết bất đắc kỳ tử thì sợ quá chừng. Như vậy là trước thân sau thành sơ. Lẽ thật của tình đời không có thân sơ thật, chỉ tùy trường hợp, thậm chí còn có lỗi lớn. Nếu cha mẹ chết gặp ngày trùng, con cái thân quyến tìm thầy giỏi ếm không cho về, như thế thành kẻ thù mất rồi. Chúng ta thật có tình thương thân quyến không? Nếu thật thì khi sống thương, khi chết cũng thương. Còn sống thì thương mà chết rồi lại nghĩ những chuyện tàn nhẫn, như thế không đúng đạo lý.

Người xuất gia lìa bỏ gia đình thân quyến xem như vô tình, nhưng thật ra vì muốn mở rộng tâm từ bi thương tất cả mọi người nên hy sinh tình thương nhỏ hẹp. Vì thấy rõ lẽ luân hồi sanh tử không phải một lần mà vô số kiếp, ai cũng là thân, không phải chỉ có người thân đời này. Tình nghĩa lâu xa vô số kiếp nên người xuất gia phát tâm rộng lớn lo cho tất cả chúng sanh, không bị hạn cuộc bởi tâm nhỏ hẹp. Phật, A-la-hán dạy chúng ta đi tu thì phải thương tất cả chúng sanh, không phải chỉ thương một hai người. Cũng không nên cột trói trong tình thầy trò, chỉ thương quý thầy mình xem thường các vị thầy khác. Bỏ sự ràng buộc ở gia đình, vào đạo rốt cuộc cũng bị ràng buộc.

Người xuất gia phải xem mình là người của tất cả chúng sanh, không phải là người của riêng ai. Cũng có người nghĩ rằng, mình đi tu thì phải trung thành với thầy tổ của mình, nếu lơ là quá e rằng có tội. Trong kinh A-hàm Phật dạy, người xuất gia ở chỗ nào dù thiếu ăn thiếu mặc mà có Pháp, tức là có Thầy dạy đạo đức, tu hành đầy đủ thì khó nhọc mấy cũng phải ở. Ngược lại, nếu ở chỗ nào Thầy lo sung túc, ăn mặc thừa thãi nhưng không có Pháp thì cũng phải từ giã ra đi. Chúng ta trung thành với thầy, chết sống với thầy là hợp đạo hay trung thành với pháp, chết sống với pháp là hợp đạo? Đừng nghĩ thầy của mình không dạy không tu nhưng thầy nuôi mình cực khổ nên phải ráng chết sống với thầy. Như vậy, rốt cuộc là một gia đình, không có gì khác. Người tu phải quý trọng Phật pháp, vì Phật pháp mà tu, không phải vì tình cảm mà tu. Đó là ý nghĩa hết sức rõ ràng.

Đây dẫn câu chuyện như một đứa trẻ một ngày chết ba chỗ, cha mẹ ba nơi đều khóc. Một vị trời ở Dục giới hết phước, đi chơi với các tiên nữ, trèo lên cây hái hoa, sẩy tay rớt chết, liền đó sanh ở Long cung. Rồng con sanh ra rồi chết, rồng mẹ rồng cha bu nhau khóc. Khi đó rồng con trở lại sanh trên nhân gian làm con trưởng giả. Trưởng giả sanh được đứa con trai rất mừng nhưng nó lại chết, ông đang buồn khóc, thần thức nó lại sanh ra chỗ khác. Ba nơi đều khóc mà chú đó còn lang thang đi kiếm chỗ sanh. Khi một người sanh ra chúng ta thấy có mặt liền thương, rồi hết duyên người ta đi chỗ khác mà ngồi đó khóc hoài. Người ta sanh ra ở đâu, làm gì mình không biết nhưng cứ ôm lòng nghĩ nhớ tiếc thương. Thế gian là như vậy, không sáng suốt.

Như thế các thứ chánh quán trừ lo nghĩ quê hương thân thuộc.

Tất cả các quán tưởng như thế để trị bệnh lo nghĩ cột trói trong tình quê hương thân thuộc. Người xuất gia có cái nhìn rộng rãi, nơi nào cũng là nhà, người nào cũng là thân thuộc, như vậy mới hợp đạo lý.

– Thế nào trừ cái nghĩ cõi nước?

– Hành giả nếu nghĩ nước ấy giàu có vui vẻ an ổn, nhiều người tốt, thường bị sợi dây đất nước trói buộc. Phải bỏ đi cái nghĩ sai lầm như thế! Nếu người có trí không nên mến trước. Vì sao? Vì bao nhiêu cõi nước do tội lỗi thiêu đốt và thời tiết biến chuyển nên có đói khát khổ nhọc, tất cả cõi nước đều là vô thường không an ổn. Lại nữa, già bệnh chết không nước nào mà chẳng có. Từ chỗ này thân khổ đến chỗ kia thân cũng khổ, đi khắp tất cả nước không đâu chẳng khổ. Giả sử có nước an ổn giàu có vui vẻ mà còn có kiết sử tâm sanh đau khổ thì nước ấy cũng chưa phải tốt. Nếu hay dẹp được những cái xấu xa trong nước, làm tiêu mòn kiết sử cho tâm khỏi khổ, ấy là nước tốt.

Chúng ta thường có bệnh nghĩ chỗ này sung sướng, chỗ kia nghèo khổ… Chỗ nào sung sướng thì quý trọng, chỗ nào nghèo khổ thì cho là tầm thường, không ưa. Người tu nếu kiết sử trong tâm chưa dẹp thì không nơi nào là không khổ. Như người nhiều tham, nhiều nóng giận, nhiều si mê ở chỗ nào cũng khổ cũng phiền não. Chỉ có người dẹp được tâm tham lam nóng giận si mê, người ấy ở đâu cũng là chỗ tốt. Cảnh tùy theo tâm, tâm tốt thì chuyển cảnh xấu thành tốt, nếu tâm xấu còn đầy thì cảnh tốt cũng thành xấu. Vì thế chư tổ dạy chúng ta phải làm tiêu mòn tâm kiết sử, chuyển hết những cái hư dở thì cõi nước trở nên tốt đẹp.

Tất cả chúng sanh có hai thứ khổ, thân khổ và tâm khổ. Do hai thứ khổ này mà thường khổ não. Không có nước nào mà không có hai cái khổ này. Lại có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước đói khát, có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc cướp, có nước pháp nước bất công v.v… Các nước như thế, tâm chán không nên đắm mến. Đó là chánh quán trừ nghĩ cõi nước.

Chúng sanh có hai thứ khổ là thân khổ và tâm khổ. Chúng ta có mặt ở đây không ai hoàn toàn không bệnh. Không bệnh này thì bệnh nọ, không bệnh nặng thì bệnh nhẹ. Có bệnh là có khổ. Đó là nói về thân. Trong tâm chúng ta luôn có buồn thương giận ghét, đó là tâm khổ. Thân khổ, tâm khổ, không có gì an ổn.

Chúng ta thường quan niệm nước này nghèo, nước kia giàu, nước này lạc hậu, nước kia văn minh. Ai cũng thích ở chỗ nước giàu, văn minh, không thích ở nước nghèo, lạc hậu. Nhưng có những nơi tưởng là giàu đẹp, khi chưa đến thì khao khát ước mơ, khi đến rồi thì quá chán. Năm tôi sang Canada gặp một Phật tử được con cháu bảo lãnh, lúc nói chuyện bà than rằng: “Không biết con mắc cái tội gì mà bị đày về địa ngục hàn băng này. Không đi đâu được hết, cứ ở lẩn quẩn trong nhà hoài, khổ quá!” Xét kỹ thì ở đâu cũng có cái khổ riêng của nó, không nơi nào hoàn toàn vui, vừa ý, thích thú. Chúng ta thường cho rằng ở các nước Âu Mỹ văn minh, tiện nghi, nhưng có đi rồi mới biết. Ở các nước đó khi thì quá nóng khi thì quá lạnh, phải có đủ điều kiện mới ở được. Thấy như rất sung sướng nhưng cũng như ở trong cái hộp, không tự do ra vào thong thả như ở nước mình. Người dân xứ đó phải làm việc gắt gao, không được bê trễ, lúc nào cũng vội vã. Nhiều người già cả con cháu không có thời giờ săn sóc, sáng sớm đi làm tối mịt mới về, ở nhà một mình buồn và lạnh lẽo. Vì thế nói trên đời không có chỗ nào đáng cho mình mơ ước, ở đâu cũng có hai cái khổ về thân và tâm. Chỉ làm sao cho tâm bớt tham lam, nóng giận, si mê, ở nơi nào cũng được. Đây là dạy các pháp quán về cõi nước, kể đủ những tai nạn bất an để chúng ta không đắm mến, trừ lo nghĩ trói buộc về cõi nước.

– Thế nào trừ cái nghĩ không chết?

– Nên dạy hành giả, hoặc sanh trong nhà khá giả, hoặc con dòng quý phái, người có tài nghề thế lực…, tất cả đều không nên nghĩ nhớ. Tại sao? Vì khi chết đến không lựa già trẻ sang hèn, tài nghề thế lực… Thân này là chỗ tụ hợp của các nhân duyên sầu khổ. Nếu tự thấy mình ít tuổi còn sống lâu, được an ổn, đó là người ngu si. Vì cớ sao? Chỗ nương tựa của sầu khổ là tứ đại, tứ đại gây nên hình thể cũng như bốn con rắn độc, tuy chung mà không hợp thì làm sao được an ổn? Hơi thở ra chưa trở vào là không thể tin được. Khi ngủ chưa ắt có thức, việc ấy cũng khó tin. Từ khi vào thai cho đến lúc già, cái chết lúc nào cũng rình rập bên mình, thế mà vì mong sống lâu nói rằng không chết, làm sao tin được?

Chúng ta lúc nào cũng bị cái chết rình rập. Không ai bảo đảm mình sẽ sống bao lâu, không ai bảo đảm được đời mình đến tuổi nào mới chết. Thân này rất mong manh tạm bợ, dù sanh trong nhà giàu có quý phái thế lực đều không bảo đảm được thân này khỏi chết. Nếu cho rằng mình còn trẻ chắc sống lâu, đó là người ngu. Thân là gốc của khổ, do bốn con rắn độc tụ họp mà thành, bốn con rắn này không thuận nhau nên thân chúng ta không có gì bảo đảm bền chắc. Chỗ nào cũng có cái chết chực sẵn, trong thân thì tim gân mạch máu… bị tắc nghẽn, bên ngoài thì tai nạn do đi lại di chuyển, do chiến tranh hoặc thời tiết khí hậu bất hòa… Người ngủ yên trên giường có khi sáng mai không thấy trở dậy, từ khi thành hình đến khi già, cái chết luôn luôn theo đuổi chúng ta. Vì thế không thể mong sống lâu ở đời.

Giặc chết rút đao, nắm tên tìm người giết, không có chút lòng thương xót. Người sanh trên đời cái chết là sức mạnh bậc nhất, tất cả không có cái gì thắng được sức mạnh của cái chết. Người anh hùng bậc nhất của đời quá khứ không thoát được cái chết, bậc đại trí trong đời hiện tại cũng không thắng được cái chết, không thể dùng lời nhỏ nhẹ van xin được nó, không thể dùng lời khéo léo lừa gạt được nó, cũng không thể giữ giới tinh tấn mà đuổi được nó. Do đó nên biết, mạng người tạm bợ không thể trông cậy. Chớ có tin chắc rằng ta sẽ sống lâu. Bọn giặc chết thường dẫn người đi, không đợi già rồi mới giết.

Kinh A-hàm nói, một hôm vua Ba-tư-nặc đi dẹp loạn thắng trận trở về ngang qua Tinh xá, ông vào đảnh lễ Phật. Phật hỏi: “Đại vương đi đâu về mà thấy nhọc nhằn vậy?” Ông thưa: “Đi dẹp loạn thắng trận trở về.” Đức Phật nói: “Như có người đến báo với Đại vương, phương đông có một quả núi từ xa lăn đến, lăn tới đâu thì nhà cửa sập, người bị chết. Phương nam, phương tây, phương bắc cũng như thế. Nếu nhà vua nghe bốn phía núi lăn dồn lại, tới đâu người chết nhà cửa hư sập, thì lúc đó lấy gì để chống cự với nó?” Nhà vua lắc đầu nói: “Nếu là giặc thì con còn đánh dẹp được, chứ núi lăn thì chịu thua, không làm gì được.” Phật nói: “Cũng vậy, bốn quả núi đó là sanh già bệnh chết. Sanh già bệnh chết đến ép ngặt thân ta, lấy sức mạnh nào để ngừa đón, để chặn nó lại?” Dù có sức mạnh đến đâu cũng không ngăn đón được, phải chấp nhận bốn núi đó. Chỉ có Phật thấy được chỗ thoát khỏi bốn núi đó, nên chỉ dạy chúng ta tu để giải thoát sanh tử.

Như vậy, bốn núi sanh già bệnh chết là sức mạnh, chúng ta không thể coi thường. Cái chết đến bất cứ lúc nào, đừng lầm tưởng rằng mình sẽ sống dai; ngày nay còn sống chưa chắc ngày mai còn. Ngày nay phải lo tu, lo làm lợi ích chúng sanh, không thể nói chờ đến ngày mai. Vì thấy cái chết đuổi gấp nên chúng ta cố gắng làm được gì thì làm. Như lúc ngồi thiền mà tâm nhớ nghĩ chuyện hơn thua phải quấy, làm sao trị nó? Nên tự hỏi ngồi thiền đây là để tính chuyện hơn thua phải quấy, để chờ chết phải không? Nếu muốn chờ chết thì ngồi chờ, nếu muốn giải quyết vấn đề sanh tử thì ngồi đây không có quyền nghĩ tưởng một việc gì hết. Chỉ cốt làm sao làm chủ được mình, tâm thanh tịnh, trí sáng suốt để vượt khỏi cái chết, đó mới là tu. Biết rõ cái chết không tha không chừa một ai, chúng ta phải cố gắng giờ nào ráng tu giờ đó, làm việc gì thì ráng làm cho tròn, không chần chừ không lôi thôi.

Như A-la-hán dạy đệ tử bị cái nghĩ không chết não hại rằng:

“Ngươi đã biết chán đời vào đạo, sao lại khởi nghĩ như thế? Này! Có người chưa sanh đã chết, có người chết trong khi sanh, có người chết trong lúc còn bú, có người chết sau khi dứt sữa, có người chết lúc còn bé, có người chết trong thời trai tráng, có người chết lúc tuổi già. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Ví như cây trổ hoa liền rụng hoặc thành trái mới rụng, có khi chưa chín lại rụng. Thế nên, phải gắng sức tinh tấn cầu đạo an ổn; chung ở với bọn giặc dữ không thể tin được, bọn giặc này như cọp khéo giấu hình khó thấy. Giặc chết thường tìm giết người, mọi vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Ai có thể bảo chứng rằng người già ắt được hành đạo? Ví như cây to đứng dựa vực thẳm, trên bị gió lớn, dưới bị nước xoi bày rễ, ai có thể tin được cây này lâu bền? Mạng người cũng vậy, tuy tuổi nhỏ vẫn khó tin. Cha như hạt giống, mẹ như khoảnh ruộng, nhân duyên tội phước đời trước như mưa sương, con người như cây lúa, chết sống như cắt gặt. Những vị thiên tử nhân vương trí đức hưởng những thứ vui sướng cao sang, nhưng sau rồi lại rơi vào chỗ tối tăm. Bởi thế nên chớ tin mạng sống mà nói rằng: Ta ngày nay làm việc này, ngày mai cũng làm việc này.”

Các thứ chánh quán như thế trừ quan niệm không chết.

Đây là lời răn dạy của vị A-la-hán quở trách đệ tử cần mau chóng tỉnh giác tu tập. Bởi cái chết không chọn người, không hẹn giờ phút chết. Trong tất cả thời đều là cảnh của chết. Có một thiền sư viết câu chúc cho đệ tử tại gia: “Cha chết, con chết, cháu chết.” Đệ tử sợ hãi lo lắng trước câu chúc không tốt đẹp này. Nhưng thật ra thầy chúc rất có lý. Trong gia đình, người giả lớn chết trước rồi đến con cháu. Chết thứ tự như vậy là có phước. Có những cái chết bất thường là vô phước. Người già còn mà người nhỏ chết trước, tre già khóc măng rất khổ đau.

Chết là một sự thật không thể tránh, không thể tin cậy vào vô thường, nên vị A-la-hán cảnh giác đệ tử: Giặc chết thường tìm giết người, mọ vật trên thế giới không thật như bọt nước, tại sao đợi già mới lo tu? Chúng ta thường mắc phải một lỗi là hay hẹn. Người tu mà đến giờ tụng kinh hay tọa thiền thấy hơi nhọc một chút thì nói, nay mệt rồi ngủ để ngày mai tu. Mai mốt mệt rồi cũng hẹn nữa, rốt cuộc việc tu bê trễ không tới nơi tới chốn. Hẹn được một lần, lần khác cũng hẹn nữa, hẹn hoài, mất bao nhiêu công phu. Phật tử cư sĩ thì hôm nay lỡ đi đâu về mệt, ngủ một bữa cho khỏe để ngày mai tu. Năm nay bận bịu công việc quá thì hẹn năm tới sắp đặt tu tốt hơn. Việc tu còn hẹn được, cái chết có hẹn được không? Những bậc giàu sang phước đức cũng phải chết, lại rơi vào chỗ tối tăm. Vì thế khi còn khỏe, còn sống ngày nào phải cố gắng tu, để chết đến tu không kịp. Một cái không hẹn được mà mình vẫn phải chịu, thì cái hẹn được mà hẹn đó, chắc gì có làm. Vì vậy lúc nào thực hành được thì cố gắng thực hành, đừng để chết rồi hối hận.

Trước trừ lo nghĩ thô, sau trừ lo nghĩ tế, tâm thanh tịnh liền được chánh đạo, tất cả kiết sử dứt, từ đây được chỗ an ổn, ấy là quả của người xuất gia.

Đây là pháp quán để trừ các thứ lo nghĩ ràng buộc. Chúng ta quán chân chánh, áp dụng các pháp tu đạt kết quả, nếu không thì công phu cứ lẩn quẩn trong các thứ trói buộc, tu không ra gì.

Tâm tự tại, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, không phải trở lại thọ sanh, học rộng, đọc nhiều kinh, khi ấy được quả báo tốt. Khi được như vậy, không nhọc công phá quân ma vương mà được khen ngợi là người dũng sĩ bậc nhất, bọn giặc phiền não tự lui; tuy không gọi là mạnh mà hay trừ giặc phiền não, diệt được lửa tam độc, mát mẻ vui vẻ trong sạch, gối tay nằm an ổn trong rừng Niết-bàn. Ngọn gió mát thiền định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi bốn phía thổi đến, đoái nhìn thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong biển tam độc. Cái diệu lực như thế mới gọi là kiện toàn. Thế nên, những người tán tâm phải niệm A-na-ban-na, học sáu pháp đoạn các thứ lo nghĩ. Do đó trước phải học Sổ tức.

Sau khi nhắc nhở người tu nỗ lực dùng các pháp quán, ngài kết luận nếu khéo tu, khéo trừ những lo nghĩ sai lầm thì trên đường tu chúng ta sẽ có kết quả tốt. Tâm tự tại, ba nghiệp thanh tịnh, có sức mạnh dẹp sạch phiền não, an vui ở trong rừng Niết-bàn. Các pháp ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi… pháp nào cũng mát mẻ từ bốn phía thổi đến. Từ bi thương xót chúng sanh còn đắm chìm trong biển khổ, phát tâm cứu giúp. Được vậy, người tu phải đạt kết quả vẹn toàn tốt đẹp, không phải tu lơ mơ, tu cho có chừng. Cuối cùng, muốn tâm bớt tán loạn thì nên quán hơi thở tức là niệm A-na-ban-na, dùng hơi thở quán chiếu để dẹp trừ tất cả loạn tưởng.

Giáo lý nhà Phật mới nghe dường như bi quan, chỉ nói về những cái khổ của cuộc đời, của bản thân. Nhưng nói như thế không phải để chúng ta chấp nhận cam chịu mãi mãi. Chỉ dạy khổ để khéo tu vươn lên, chuyển hóa khổ thành vui. Như ba độc tham sân si nếu chúng ta khéo chuyển đổi thì tham trở thành vô tham, sân trở thành từ bi, si trở thành trí tuệ. Đó là lợi ích của việc tu. Khi chúng ta biết tu, mỗi năm nhìn lại thấy tham sân si tiêu mòn, tu năm năm thì tiêu mòn năm mươi phần trăm, tu mười năm thì phải tiêu mòn hết, tu hai mươi năm thì biến tham sân si thành từ bi trí tuệ, chúng ta và chúng sanh đều được an lành. Nếu tu lâu mà tham sân si không giảm bớt thì khi nhắm mắt chắc rằng sẽ bị nghiệp lôi dẫn. Không làm chủ được nghiệp của mình thật đáng buồn đáng lo. Người biết tu phải luôn dẹp bỏ các phiền não tai hại, chuyển hóa nó thành phương tiện lợi ích, không nên giậm chân tại chỗ.

– Nếu trong bốn pháp – quán bất tịnh, niệm Phật v.v… – cũng trừ được lo nghĩ, vì sao chỉ nói riêng Sổ tức?

– Vì các pháp quán kia chậm rãi nên khó mất, pháp Sổ tức mau chóng nên dễ chuyển. Ví như người thả trâu, do trâu khó mất nên sự coi giữ lơ là, nếu thả vượn khỉ, do khỉ dễ mất nên sự coi giữ khít khao. Pháp này cũng như thế. Sổ tức chăm chú tâm và số, không được một chốc nghĩ việc khác, nếu có một chốc nghĩ việc khác là số đã lộn mất. Bởi thế nên, lúc ban đầu muốn đoạn sự lo nghĩ phải Sổ tức.

Có nhiều pháp quán trừ lo nghĩ, vì sao ở đây chỉ đặt nặng A-na-ban-na? Vì pháp sổ tức rất khít khao cẩn mật nên mau có kết quả, các pháp kia chậm rãi nhẹ nhàng hơn nên lâu có kết quả. Ví dụ thả trâu ra đồng ăn cỏ, vì trâu hiền không chạy nhảy nên không cần kìm giữ, nếu thả khỉ thì nó nhảy nhót lăng xăng nên phải nhìn chừng chăm chăm. Cũng vậy, tâm lăng xăng của chúng ta dùng pháp quán sổ tức kìm giữ hiệu quả hơn các pháp khác. Sổ tức là đếm hơi thở. Hít vô cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai; hít vô cùng đếm ba, thở ra sạch đếm bốn; đến mười thì ngưng bắt đầu đếm lại. Cứ như vậy, vừa theo hơi thở, vừa đếm số. Chú ý vào hơi thở, chú ý vào số đếm, nên sự kìm chế mạnh, không cho tư tưởng chen lẫn việc khác. Vừa nghĩ khác quên số đếm thì phải đếm lại. Tâm được kìm chế trong hơi thở, trong số, nhắc tới nhắc lui nên pháp tu rất mạnh, dễ trụ tâm một chỗ.

Được pháp Sổ tức rồi phải thực hành pháp Tùy tức để đoạn các lo nghĩ.

  1. Tùy tức: Hít hơi vào tới cùng, tâm chỉ duyên theo không đếm một, thở hơi ra đến cùng, tâm duyên theo chớ đếm hai. Ví như người thiếu nợ, chủ nợ đến đòi theo mãi bên lưng không rời. Như thế, suy xét hơi thở vào, trở ra có khác, hơi thở ra, trở vào có khác. Khi ấy biết hơi thở vào khác hơi thở ra. Vì hơi thở ra ấm, hơi thở vào lạnh.

Người tu thiền, tu tập dần từ thô đến tế, không dừng ở một mực cố định. Ban đầu quán sổ tức đếm hơi thở, nhớ hơi thở vô ra, nhớ số đếm từ một tới mười. Nhờ chú tâm, kìm tâm vào hai việc nên không nghĩ lăng xăng, dần dần tâm thuần thục yên định. Khi nào trong nửa tiếng, một tiếng ngồi thiền đếm không lầm lộn, lúc đó quán sổ tức thành tựu, nên bỏ sổ tức chuyển qua tùy tức.

Tùy tức là duyên theo hơi thở, hít vô tâm theo vô, thở ra tâm theo ra. Theo sát hơi thở, hơi thở đến đâu biết đến đó, vô tới đâu thì biết, ra tới đâu cũng biết. Như gặp kẻ thiếu nợ mình, muốn đòi cho được nợ thì phải lôi áo họ, không lôi áo thì phải đi theo sát họ về tới nhà, không lơ mơ. Cũng vậy, chúng ta chú ý theo sát hơi thở, vô ra đều đặn, từ chỗ đó đến tế nhị hơn biết hơi thở vô lạnh, hơi thở ra ấm. Hơi thở vô nghe lạnh vì không khí ở ngoài mát, thở ra ấm vì không khí ở trong người ấm. Sở dĩ đây nói ấm mát để thấy tâm chúng ta lúc này rất tế nhị, chỉ theo dõi hơi thở biết rõ ràng những cảm giác nhỏ, nếu tâm thô thì không phân biệt được sự khác nhau giữa hơi thở ra vô.

– Hơi thở vào, ra chỉ là một. Vì sao? Vì ra rồi trở lại vào. Ví như nước ngậm vào miệng thì ấm, nhổ ra thì lạnh, lạnh trở ra ấm, ấm trở lại lạnh cũng chỉ là một.

– Không phải như vậy. Do nội tâm động nên có thở ra, ra rồi liền mất, mũi và miệng hít bên ngoài thì có hơi thở vào, vào rồi diệt, cũng không có sắp ra, không có sắp vào. Lại nữa, trẻ nhỏ hơi thở vào dài, người tráng niên hơi thở vào ra bằng nhau, người già hơi thở ra dài, thế nên chẳng phải một loại hơi thở. Nơi rốn phát ra hơi thở hình như liên tục, thở ra đến mũi và miệng, ra rồi liền diệt. Ví như hơi trong quả bóng khi mở dây cột ra liền xẹp, nếu dùng nhân duyên mũi miệng thổi hơi thở vào, ấy là nhân duyên mới mà sanh. Ví như cái quạt, do các duyên hợp lại nên có gió. Khi ấy, biết do nhân duyên nên có hơi thở ra vào, nó hư dối không thật, sanh diệt vô thường.

Pháp quán tùy tức này tế nhị hơn sổ tức. Chỉ theo hơi thở vô ra, biết rõ hơi thở đến đâu, biết hít vào mát thở ra ấm, trong ngoài như vậy. Khi chúng ta quán xét hơi thở vi tế rồi thì tâm an định rất lâu không còn nghĩ việc gì khác.

Khi hiểu được hơi thở ra vô đến nơi đến chốn rồi chúng ta liền thấy thêm một việc: Mạng sống của chúng ta là do hơi thở. Thở ra mà không hít vào thì chết. Do hơi thở nên chúng ta thấy thân này vô thường, không có gì chắc thật. Người tu quán sát hơi thở lâu ngày thuần thục, sẽ thấy hơi thở hít vô thở ra mất, hít hơi khác vào thở ra mất. Hơi thở do nhân duyên mũi, miệng, từ rốn tủa ra, ra ngoài rồi mất. Nhân quán hơi thở thấu rõ lý nhân duyên, đủ duyên thì sanh, thiếu duyên thì diệt. Nhân duyên sanh diệt hòa hợp tạo nên hơi thở, hơi thở sanh diệt vô thường vì thế mạng sống cũng sanh diệt vô thường. Tâm chú ý suy xét như vậy thì đâu còn bị tham dục phiền não chi phối.

Suy xét do nhân duyên mũi miệng hít có hơi thở vào, do nhân duyên tâm động có hơi thở ra, mà mê lầm không biết, chấp là hơi thở của ta. Hơi thở là gió, cùng với gió bên ngoài không khác. Đất, nước, lửa, không, cũng như thế. Bởi nhân duyên ngũ đại hợp nên có thức sanh. Thức cũng như vậy, không phải là của ta. Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới cũng như thế. Biết như vậy, theo hơi thở ra vào gọi là Tùy tức.

Chúng ta nhờ theo hơi thở mà xét biết tất cả pháp nhân duyên sanh không một pháp nào là thật. Lâu nay chúng ta mê lầm chấp hơi thở hít vô trả ra, khi trả ra nói hơi thở của mình nhưng thật không cái gì là của ta. Đây nói hơi thở là gió, cùng gió bên ngoài không khác. Khi ta hít vô là mượn gió và không khí vô rồi trả ra, có gì thật của ta đâu? Thân chúng ta do tứ đại đất nước gió lửa hợp thành. Thêm không đại cũng rất quan trọng, trong thân chúng ta có cái trống không nhưng ít ai để ý. Như lỗ mũi hít thở được là nhờ trống không, nếu nó bít ngay thì khỏi hít thở. Lỗ tai mình nghe được cũng nhờ trống không. Cổ họng nuốt đồ ăn thức uống được cũng nhờ trống không. Như vậy, thân này gồm đất nước lửa gió không, là ngũ đại, thêm thức đại luôn ẩn bên trong là lục đại. Tất cả đều là duyên hợp không thật, lâu nay chúng ta lầm chấp cho thân này là thật.

Suy gẫm kỹ quán xét rộng, chúng ta thấy thân năm ấm này là duyên hợp tạm bợ. Từ năm ấm có sáu căn, từ sáu căn tiếp xúc sáu trần gọi là thập nhị nhập. Lỗ tai nghe tiếng, lỗ mũi ngửi mùi, con mắt thấy cảnh… Trong là căn, ngoài là cảnh, tất cả đều tạm bợ giả dối. Căn cảnh duyên hợp tiếp xúc sanh ra sáu thứ phân biệt, cộng chung căn trần thức là thập bát giới cũng tướng duyên hợp không thật. Do tu tùy tức theo hơi thở, biết hơi thở không thật thì biết đất nước lửa gió cũng không thật. Đất nước lửa gió không thật thì hư không trong người mình, thức trong người mình cũng không thật. Thấy rõ như vậy chúng ta phá được lầm chấp lục căn, lục trần, thập nhị nhập, thập bát giới, biết nó là không thật. Thấy thân mình thật là mê, biết thân không thật là giác. Mê và giác ngay nơi thân này, nhờ tu pháp theo dõi hơi thở ra vô, theo dõi đều đặn mà chúng ta giác ngộ biết thân này giả tạm không còn tranh giành hơn thua tốt xấu. Từ trí tuệ thấy lẽ thật này chúng ta dẹp hết các phiền não, sức tu càng tăng trưởng.

Đã được pháp Tùy tức phải thực hành pháp Chỉ.

Sáu pháp đoạn lo nghĩ, tu tập dần từ thô đến tế. Trước hết là Sổ tức, thứ hai là Tùy tức, thứ ba là Chỉ, thứ tư là Quán, thứ năm là Hoàn, thứ sáu là Tịnh. Tu tập Sổ tức, ban đầu vừa hít hơi thở vô ra, vừa đếm từ một đến mười, như thế rất thô. Thô về hơi thở, thô về số đếm. Đến tùy tức, bỏ việc đếm số chỉ còn theo dõi hơi thở, chúng ta thấy rõ thân này tế nhị hơn. Biết rõ tướng duyên hợp của nó để chúng ta không còn chấp nữa. Đến phần thứ ba là Chỉ lại khác hơn.

  1. Pháp Chỉ: Sổ, Tùy tâm rất an trụ, ý dừng bên cửa hơi thở để xem nó ra vào. Vì sao phải Chỉ? Vì dứt các lo nghĩ, dừng tâm tán động. Khi Sổ tức, Tùy tức tâm không định vì rất nhiều việc. Chỉ thì tâm nhàn rỗi ít việc, tâm trụ một chỗ xem hơi thở ra vào. Ví như người gác cửa đứng bên cửa xem người ra vào. Tâm Chỉ cũng như vậy, biết hơi thở khi ra từ rốn đến hông, ngực, cổ, miệng, mũi, khi vào từ miệng, mũi đến cổ, ngực, hông, rốn. Như vậy, buộc tâm một chỗ gọi là Chỉ.

Chỉ là dừng, tâm không còn theo dõi hơi thở, dừng trụ một chỗ để nhìn hơi thở, như khi ngồi thiền tâm tạm ổn, chúng ta chỉ nhìn thấy hơi thở vô hơi thở ra đều đặn mà không theo nó. Pháp Sổ tức và Tùy tức thì khi hít vô tâm chúng ta theo hơi thở từ mũi đến rún, khi thở ra cũng theo ra từ rốn đến mũi. Tâm cứ chạy tới chạy lui nên còn động. Đến pháp Chỉ, tâm nhàn rỗi ít việc, không theo hơi thở, không nghĩ gì khác. Như người gác cửa thấy người đi vô đi ra, đó là bớt cái động chỉ dừng một chỗ. Pháp tu thứ tự khiến chúng ta dễ biết, dễ tiến từ thô đến tế, từ tâm xao động đến chỗ yên định.

  1. Pháp Quán: Trong pháp Chỉ, tâm dừng lại để quan sát, khi hơi thở vào ngũ ấm sanh diệt khác, khi hơi thở ra ngũ ấm sanh diệt khác. Như thế, trừ dẹp loạn tâm, nhất tâm suy xét cho pháp quán được tăng trưởng gọi là Quán.

Khi tu pháp Chỉ tâm dừng một chỗ, thấy hơi thở vô hơi thở ra, thấy rõ biết rõ là định. Nhưng nếu giữ tâm định mãi thì trở thành si định, vì vậy tu tiến đến pháp Quán. Quán bằng cách nào? Khi hơi thở hít vào quán biết thân năm ấm của mình, nhờ hơi thở vào nên có tăng trưởng, khi hơi thở ra thì có sanh diệt. Năm ấm nương hơi thở ra vào mà sanh trưởng hoặc tiêu diệt, chính hơi thở nuôi dưỡng năm ấm. Nương hơi thở mà quán thấy thân năm ấm luôn luôn sanh diệt không dừng, vì sanh diệt không dừng nên thân này là tạm bợ hư dối.

Như vậy nương hơi thở tu tập từ thô đến tế, đến đây cũng do hơi thở mà quán thân không thật, dẹp trừ chấp thân. Người tu khi dùng phương tiện để tâm yên định, tâm yên định rồi thấy nhẹ nhàng rất khỏe, nhưng định lâu thì trở thành si nên phải dùng pháp quán để nhận rõ sự thật về thân người. Người tu thiền không để tâm dừng lặng ở một chỗ, được định rồi phát sanh trí tuệ, thấy đúng như thật về thân tâm mình. Tu như thế mới có kết quả, nếu không thì cứ một bề tu yên lặng rồi trở thành ngơ ngơ không biết gì, như thế không tốt.

  1. Pháp Hoàn: Bỏ chỗ đứng bên cửa, rời pháp quán thô. Rời pháp quán thô là nhận biết hơi thở vô thường, ấy gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào, sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu, do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không, đó là chuyển quán.

Hoàn là xoay lại. Phần trên quán hơi thở vào ra, ngũ ấm sanh diệt, đến đây phải biết rõ hơi thở cũng vô thường không thật. Rời pháp quán thô, nhận biết hơi thở là pháp vô thường, ấy là chuyển quán. Từ ban đầu nương hơi thở quán thân ngũ ấm, thấy thân ngũ ấm sanh diệt vô thường rồi trở lại quán thấy ngay hơi thở này hư dối. Như vậy, trước nhờ hơi thở thấy rõ thân mình, như chúng ta vào trong nhà tối, không biết có gì trong nhà nên phải đốt đèn. Nhờ có đèn soi sáng biết rõ sự vật xung quanh là tướng vô thường sanh diệt. Lúc đó chúng ta tưởng cây đèn là thường, phải quay lại không quán những vật xung quanh mà nhìn thẳng cây đèn, thấy nó cũng vô thường. Trước nhờ hơi thở mình quán thấy thân năm uẩn, cho đến thập nhị nhập, thập bát giới đều là vô thường không thật. Nhờ hơi thở mà biết thì hơi thở tưởng như thật. Cho nên ở đây phải quay lại nhìn vào hơi thở, gọi là chuyển quán.

Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm sự vô thường ra vào sanh diệt của hơi thở. Thấy hơi thở vào không từ đâu đến, xem hơi thở ra không biết về đâu. Hơi thở mà chúng ta đang hít vô từ đâu mà vô và khi thở ra nó đi về đâu? Nó không có nơi chốn. Cái vào ra không có chỗ nơi, cái đó không có thật. Phá hết các pháp nương vào hơi thở để tu buổi đầu, không còn cố chấp nó. Các pháp do nhân duyên, hơi thở cũng do nhân duyên. Do nhân duyên hòa hợp nên có, nhân duyên ly tán nên không.

Tóm lại phần thứ năm, pháp Hoàn là xoay lại chỗ trọng tâm, chỗ để nương. Ở trước thì mình nương hơi thở để quán các pháp khác, khi biết các pháp khác đều duyên hợp hư giả thì xoay lại quán chỗ mình nương xem nó có thật không. Xoay lại rồi biết nó cũng không thật luôn, đến chỗ này tâm không còn nương tựa dính mắc, buông tất cả mới được thanh tịnh hoàn toàn.

  1. Pháp Tịnh: Trừ diệt ngũ cái và các phiền não, tuy trước được Chỉ, Quán mà phiền não chưa sạch, tâm còn tạp loạn, nay pháp Tịnh là tâm được thanh tịnh. Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi Thanh tịnh.

Chúng ta tu từ thô động đến tế tịnh. Các pháp trước đếm hơi thở, theo hơi thở, Chỉ, Quán, Hoàn, đến đây là Tịnh. Tinh là lặng dứt ngũ cái. Ngũ cái là năm món che đậy tâm. Một là tham, hai là sân, ba là si (hay là mê ngủ), bốn là dao động, năm là nghi ngờ. Muốn tâm trong sáng thì phải dẹp sạch năm món ngăn che này. Hai thứ tham sân nếu chưa dẹp được thì si cũng không dẹp được. Si không dẹp được thì lăng xăng lo nghĩ không dẹp được, lăng xăng lo nghĩ không dẹp được thì nghi ngờ nổi lên. Vì thế phải tuần tự tu tập để dẹp năm món ngăn che đó. Các pháp sổ tức, tùy tức cho đến chỉ, quán tuy dần dần vi tế, nhưng vẫn còn nằm trong tạp loạn, chưa dứt hết phiền não. Đến pháp cuối là Tịnh mới trừ diệt ngũ cái.

Pháp quán trước là dị học, tương tự hành đạo, niệm hơi thở ra vào, nay là vô lậu đạo, tương tự hành thiện hữu lậu đạo, nên gọi thanh tịnh. Các pháp trước như các pháp quán sổ tức, tùy tức… là dị học, nghĩa là các pháp này chưa đến chỗ chân thật, chỉ là phương tiện để tâm tạm yên ổn, nên gọi là dị học. Tương tự hành đạo , tức là hành đạo gần giống, chưa phải chân thật, chưa phải là chánh. Mượn hơi thở ra vào để tâm an định, để trí tuệ sáng biết thân này giả hợp như huyễn, đó là lối hành đạo tương tự. Hơi thở là động, mượn cái động của hơi thở để cho tâm tịnh nên gọi đó là dị học. Muốn tâm yên định mà mượn pháp động thì học tu và kết quả khác nhau.

Đến pháp Tịnh này là đạo vô lậu, tức là đạo giải thoát. Tương tự hành thiện hữu lậu , tức là mượn thiện tương tự hữu lậu để thực hành, thực hành rồi đưa đến kết quả thanh tịnh. Đó là chỗ kết quả hợp với đạo giải thoát, đạo vô lậu.

Pháp quán trước là một phần thân niệm Chỉ, dần dần toàn thân niệm Chỉ, kế thọ và tâm niệm Chỉ, trong đó chưa phải thanh tịnh còn xa đạo vô lậu.

Các pháp trước từ Sổ tức… đến Quán và Hoàn là một phần thân niệm chỉ , tức là nhờ nương các pháp này mà thân được dừng. Nhờ nhớ hơi thở mà vọng tưởng lặng dừng gọi là thân niệm chỉ. Dần dần toàn thân niệm chỉ , nhờ pháp quán xét theo hơi thở mà dần dần toàn thân dừng lặng. Kế thọ và tâm niệm chỉ , khi động của thân dừng rồi, kế đó thọ tức là cảm giác cũng được lặng, thân thọ dừng rồi, tâm niệm đến chỗ yên tịnh nên gọi là tâm niệm chỉ. Những phương tiện đi thứ tự như vậy nhưng chưa phải là pháp thanh tịnh, còn xa với đạo vô lậu, đạo giải thoát.

Ở đây, trong pháp niệm Chỉ, quán mười sáu phần niệm hơi thở ra vào, được pháp noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, khổ pháp nhẫn cho đến vô học tận trí nên gọi là thanh tịnh.

Trong pháp chỉ, tu tập mười sáu pháp quán hơi thở ra vào được kết quả thù thắng. Mười sáu pháp này từ chuyên môn trong chữ Hán là “thập lục đặc thắng”, là mười sáu pháp đặc biệt thù thắng đưa đến thanh tịnh hoàn toàn, giúp người tu tập được kết quả đến vô học tận trí. Vô học tận trí là trí tột cùng dứt các hữu học.

Trong mười sáu phần là:

1/ Phần hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na.

2/ Phần hơi thở ra cũng có sáu hạnh A-na-ban-na.

A-na-ban-na là quán hơi thở, gồm đủ cả sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh, vì thế nói hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na, hơi thở ra cũng có sáu hạnh. Ngay hơi thở vào ra hợp nhất các phương tiện từ sổ tức cho đến tịnh thành một khối, không quán riêng từng phần. Như thế, thứ nhất và thứ hai nói về hơi thở có đầy đủ sáu hạnh.

3/ Hơi thở dài ngắn: Nhất tâm niệm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn. Ví như người có việc kinh sợ, mang đồ nặng leo núi thì hơi thở lên, là hơi thở ngắn. Như người khi làm nhọc được nghỉ thì vui vẻ và như người bị giam trong khám được thả ra, thế đều là hơi thở dài. Tất cả hơi thở đều nằm hai nơi dài ngắn, thế nên nói hơi thở dài ngắn. Trong phần hơi thở dài ngắn cũng niệm sáu hạnh A-na-ban-na.

Thứ ba, chúng ta nhớ hơi thở dài hơi thở ngắn có đủ sáu hạnh. Tại sao có hơi thở dài, hơi thở ngắn? Khi có việc hoảng sợ hoặc khi leo núi, leo dốc từ thấp lên cao, hơi thở chúng ta dồn dập liên tục, thở mau và ngắn. Khi đi trên đất bằng, khi được nghỉ ngơi thì hơi thở dài và nhẹ. Hơi thở dài hay ngắn là do hoạt động của thân và tâm. Trong hơi thở dài ngắn chúng ta đều nhớ đủ sáu hạnh là sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh.

4/ Hơi thở khắp thân: Tưởng hơi thở khắp thân cũng nương hơi thở vào ra. Phải quán hơi thở vào, hơi thở ra khắp các lỗ chân lông trong thân cho đến ngón tay ngón chân đều thở, ví như nước đổ xuống cát. Hơi thở ra cảm biết từ chân đến tóc đều thở ra, như nước đổ xuống cát. Như quả bóng hơi vô hoặc ra đều khắp, mũi miệng hít hơi vào cũng như thế.

Thứ tư, chúng ta theo hơi thở thấy được hơi thở vô, hơi thở ra không phải ở nơi mũi mà khắp lỗ chân lông đều thở. Bình thường chúng ta chỉ thấy hơi thở có khi nặng, có khi nhẹ, chưa thấy toàn thân đều thở. Người ngồi thiền lâu quán hơi thở khắp hết các lỗ chân lông, toàn thân đều thở. Lúc ấy, dường như lỗ mũi không thở, thân tâm rất nhẹ nhàng thanh tịnh. Nhất là những người nhập Diệt tận định, như không còn hơi thở, chỉ còn hơi ấm, không thở ở mũi mà thở toàn thân. Chúng ta thì chỉ thở nơi lỗ mũi nên khi lỗ mũi nghẹt thì khổ lắm, lúng túng không biết làm sao. Vì thế khi ứng dụng được hơi thở khắp tất cả chỗ thì sẽ khỏe nhẹ.

Đây nói khi thở khắp lỗ chân lông thì giống như nước đổ xuống cát. Hơi thở chúng ta cũng vậy, đi khắp các lỗ chân lông. Vì chúng ta không biết, chỉ chú ý hơi thở ở lỗ mũi, nếu ngồi thiền lâu tâm yên định thì có cảm giác hơi thở không còn ở lỗ mũi mà ở khắp lỗ chân lông. Hiểu vậy mới không lấy làm lạ, không sợ khi tại sao không thấy mình thở. Đó là cái đặc thắng thứ tư của mười sáu pháp đặc thắng.

5/ Trừ các thân hành: Quán hơi thở khắp thân không ngại, như cọng sen dẫn nước, như lưới đánh cá. Lại không riêng mũi, miệng quán hơi thở ra vào mà tất cả lỗ chân lông và trong chín lỗ (hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt, miệng, tiểu, đại) cũng thấy hơi thở ra vào. Thế nên, biết hơi thở khắp thân trừ các thân hành cũng niệm hơi thở ra vào.

Thứ năm, trừ các thân hành . Thân hành tức là những hành động của thân. Đến đây thân hành không bị trở ngại, toàn thân đều mang hơi thở khắp hết, không chỉ có ở mũi. Đây ví dụ như cọng sen dẫn nước , cọng sen có rất nhiều khoảng trống dẫn nước khắp từ dưới lên trên. Như lưới đánh cá , thả xuống nước thì chỗ nào nước cũng tràn đầy, không phải một chỗ. Chúng ta tu đến giai đoạn thứ năm này thì tất cả lỗ chân lông và tai mũi mắt miệng đều thở, ở đâu cũng thở. Hơi thở vào ra một cách tự tại không còn bị hạn chế, không còn bị bắt buộc. Gọi là trừ các thân hành tức là các hành động của thân không còn chướng ngại.

6/ Tâm thọ Hỷ: Người mới học quán hơi thở, nếu thân nặng nề lười biếng ưa ngủ phải dẹp bỏ đi. Dùng pháp quán hơi thở ra vào thân nhẹ nhàng hòa dịu, được thiền định tâm thọ hỷ và trừ tâm nặng nề lười biếng ưa ngủ, được tâm nhẹ nhàng hòa dịu tùy thiền định tâm thọ hỷ. Hơi thở vào thân niệm Chỉ xong, hơi thở lưu hành thọ niệm Chỉ rồi, là được thân niệm Chỉ. Thật nay lại được thọ niệm Chỉ thật thọ Hỷ.

Thứ sáu, tâm thọ Hỷ . Thọ hỷ là nhận được sự vui vẻ trong thân. Chỗ này nếu có tu tập sẽ thấy rõ ràng. Khi chúng ta ngồi thiền hơi thở đều và nhẹ, tâm tỉnh sáng yên ổn, lúc đó thân không thấy nặng nề, lười biếng, buồn ngủ. Hôm nào ngồi thiền mà hơi thở không ổn, thân đau nhức chỗ này chỗ kia muốn xả hoặc buồn ngủ ngáp dài, thân nặng nề không khỏe. Còn chúng ta khi ngồi an ổn thì thân nhẹ nhàng, hơi thở như có như không, không còn dính bận gì hết, lúc đó tự nhiên tâm vui gọi là tâm thọ hỷ.

7/ Tâm thọ Lạc: Đã biết thật tướng của thân, muốn biết thật tướng của tâm và tâm số. Thế nên thọ hỷ niệm hơi thở ra vào, thọ lạc cũng niệm hơi thở ra vào, vì cái hỷ được tăng trưởng gọi là lạc Tâm mới sanh mừng gọi là hỷ, toàn thân đều mừng là lạc. Lại nữa, cái thọ lạc của Sơ thiền Nhị thiền gọi là Hỷ, cái thọ lạc của Tam thiền gọi là Lạc.

Thứ bảy, tâm thọ Lạc . Đã biết thật tướng của thân nghĩa là biết thân tạm bợ duyên hợp hư dối, nay lại muốn biết thật tướng của tâm vương và tâm sở, là phần sâu bên trong của mình. Thế nên thọ hỷ niệm hơi thở ra vào, thọ lạc cũng niệm hơi thở ra vào, vì cái hỷ được tăng trưởng gọi là lạc. Trạng thái tâm chúng ta đi dần từ thô đến tế, hiện tượng này thấy rõ. Ai có người thân đi đâu xa về gặp mừng rỡ, vỗ tay vui cười, đó là hỷ. Về nhà nghỉ ngơi xong hàn huyên bàn chuyện này chuyện kia, cứ vui nhẹ nhẹ đó là lạc.

Người tu thiền Nhị thừa hay thiền Nguyên thủy đều qua những trạng thái này. Khi tu, lúc đầu thấy tâm mình an ổn thanh tịnh, có niềm vui hết sức mạnh, vui này là hỷ. Người chứng Sơ thiền và Nhị thiền được chỗ này. Sơ thiền gọi là Ly sanh hỷ lạc, do tu lìa được tất cả bệnh tham sân si nên tâm sanh vui mừng. Nói cách khác là đối với ngũ dục, ngay đó không còn bị lôi kéo nữa, nhớ tới đó mừng quá vui quá. Vui mừng do ly dục gọi là hỷ chưa phải lạc. Nhị thiền Định sanh hỷ lạc, từ chỗ vui đó dần dần tâm mình thanh tịnh yên ổn, không dấy động, lúc đó được niềm vui nhẹ nhàng hơn. Vui mừng do tâm an định, đó là định của Nhị thiền, hỷ và lạc là niềm vui còn thô. Đến Tam thiền Ly hỷ diệu lạc, lìa hai cái vui thô trước được cái vui tế nhị thâm trầm ở trong, gọi là ly hỷ diệu lạc. Diệu lạc là cái vui nhẹ nhàng, thanh thản, vi tế của Tam thiền.

Người tu khi trải qua những hiện tượng hỷ lạc, diệu lạc thì biết mình đã được tầng thiền nào. Biết và tin tưởng mình đi đúng đường để tiến thêm.

8/ Thọ các tâm hành: Thọ các tâm hành cũng niệm hơi thở ra vào. Các tâm pháp sanh diệt, tâm nhiễm, tâm không nhiễm, tâm tán loạn, tâm thu nhiếp, tâm chánh, tâm tà, các tâm tướng như thế gọi là tâm hành.

Pháp thứ tám này khác với pháp thứ năm ở trước. Thứ năm là trừ các thân hành , đây là thọ các tâm hành . Thân hành là mọi hoạt động của thân, tâm hành là mọi suy nghĩ của tâm. Khi tu tập đến chỗ này, thọ các tâm hành cũng niệm hơi thở ra vào . Tất cả tâm sanh, diệt, nhiễm, không nhiễm… đều thu nhiếp an ổn, đó là thọ tâm hành. Nương hơi thở mà tâm chúng ta hoàn toàn dừng được nhơ nhiễm, dừng sanh diệt, dừng tán loạn lăng xăng. Đây là đặc biệt thù thắng thứ tám.

9/ Tâm khởi mừng: Tâm khởi mừng cũng niệm hơi thở ra vào. Cái thọ hỷ trước là tự sanh không phải do cố tâm phát khởi, cái này là cố tâm khởi mừng. Vì sao cố tâm khởi mừng? Vì muốn trị hai thứ tâm – tán động và thu nhiếp – nên khởi tâm mới được ra khỏi phiền não. Thế nên niệm pháp cho tâm khởi mừng. Nếu tâm không mừng gắng kích động cho nó mừng.

Thứ chín, tâm khởi mừng . Đây là điều cần phải hiểu rõ. Lẽ ra ở trước đã có mừng vui rồi, tại sao ở đây lại khởi tâm mừng nữa? Tâm thọ hỷ ở trước là tự sanh, đây là cố tâm khởi mừng vì muốn tránh hai thứ bệnh, tâm tán động và tâm thu nhiếp. Có khi chúng ta để tâm lăng xăng, hoặc có khi kìm giữ một cách khắt khe, hai cái đó đều là bệnh. Khởi tâm mừng không kìm cũng không tán động, chỉ là vui nhè nhẹ. Chỗ này cũng vui mà là vui trị bệnh, không phải vui tự có như đoạn trước.

10/ Tâm khởi nhiếp: Tâm khởi nhiếp cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu tâm không định gắng nhiếp phục cho nó định. Như trong kinh nói “Tâm định là đạo, tâm tán loạn không phải đạo”.

Thứ mười, tâm khởi nhiếp . Nếu tâm không định phải gắng nhiếp phục cho định. Nhiếp phục một cách nhẹ nhàng, theo hơi thở ra vào không để tâm lăng xăng. Tôi dạy tăng ni tu, khi vọng tưởng dấy lên, biết vọng không theo là đủ, không đè nén cũng không kìm giữ. Nhiều người không biết, thấy vọng tưởng dấy lên nhiều quá nên kìm sanh ra đau đầu, nói tu thiền nhức đầu quá muốn điên. Chúng ta thấy biết niệm khởi là vọng tưởng hư dối không thật. Cái hư dối không thật thì đè nó làm gì? Như chúng ta thấy một cụm khói đen, khói trắng ở trước làm mờ đoạn đường đi của mình, phải làm sao đối với cụm khói đó? Nếu có người vác gậy đập khói thì gọi người đó là gì? Người điên. Biết nó là khói thì tránh đi, nó không thật dùng sức đánh nó chỉ thêm uổng phí vô ích. Cũng vậy, vọng tâm là cái bóng không thật, mình ra sức đè nén nó chẳng khác nào vác cây đập khói, khói không hết mà trở lại thành bệnh. Khi vọng dấy lên, chúng ta thấy biết rồi nhẹ nhàng buông đi không tiếp tục theo, từ từ rồi nó sẽ yên. Nếu cố đập cố đánh, cố dẹp thì càng loạn thêm. Phải thấy rõ chỗ này.

11/ Tâm khởi giải thoát: Tâm khởi giải thoát cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu ý không giải thoát gắng huân tập cho nó giải thoát. Ví như con dê vào lùm cỏ gai bị gai móc, người vì nó gỡ lần lần, tâm khởi giải thoát các phiền não cột trói cũng như thế. Ấy gọi là tâm niệm Chỉ khởi giải thoát.

Thứ mười một tâm khởi giải thoát . Đây là điều rất quan trọng, khi chúng ta tu, tâm được an định liền thấy những tập khí của mình. Như trước kia tham tài tham sắc…, bây giờ thấy rõ những tâm niệm xấu dở như vậy liền gỡ bỏ, không nuôi dưỡng nữa đó gọi là giải thoát. Đây dùng ví dụ như con dê vào lùm cỏ gai bị quào móc, người chủ chỉ gỡ dần dần mấy cái móc gai đâm vào nó, gỡ hết thì thoát khỏi bụi gai, không làm gì khác hơn. Chúng ta cũng vậy, khi tu ít không có sức định nên không thấy được những tập khí dở xấu lâu đời. Khi tu thuần thục tâm lặng sáng rồi, nhìn lại thấy những cái xấu dở có từ thuở nào, bây giờ mình gỡ bỏ sạch hết thì gọi đó là giải thoát. Khởi tâm buông xả những cái hư xấu của mình lâu nay, dần dần chúng ta được an ổn, thảnh thơi.

12/ Quán vô thường: Quán vô thường cũng niệm hơi thở ra vào. Quán sự sanh diệt vô thường của các pháp rỗng không, không có người và ta. Khi sanh các pháp giả sanh, khi diệt các pháp tạm diệt. Trong ấy không thật có nam nữ, người, kẻ tạo, người thọ… ấy gọi là pháp quán Tùy vô thường.

Thứ mười hai, quán vô thường này không phải lối quán vô thường của người mới tu. Quán các pháp sanh diệt vô thường rỗng không, không có gì là ta, không có gì là người, không có gì là người tạo tác, không có gì là người thọ. Thấy tường tận các pháp hư giả không thật như vậy, dần dần chúng ta sẽ không chấp ngã, không còn tình chấp nặng nề nữa.

13/ Quán tan hoại: Quán pháp hữu vi tan hoại cũng niệm hơi thở ra vào. Các pháp hữu vi có trong hiện tại là do nhân duyên của quá khứ, nhân duyên hòa hợp thì tụ, nhân duyên tan hoại thì tán. Tùy quán như thế gọi là quán tan hoại.

Thứ mười ba, quán tan hoại . Cũng nương hơi thở mà chúng ta thấy các pháp do nhân duyên hợp cũng do nhân duyên tan. Các pháp tu tan là chuyện của nhân duyên, không có cái gì thật. Khi quán các pháp tan hoại, tâm chúng ta không vướng bận, không khởi tâm tham tiếc phiền não.

14/ Quán ly dục: Quán ly dục cũng niệm hơi thở ra vào. Tâm rời các thứ ràng buộc của tham dục, đó là pháp đệ nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán ly dục.

Thứ mười bốn, quán ly dục . Cũng do niệm hơi thở ra vào, chúng ta quán tất cả những gì tham đắm, những gì ái trước đều không thật, đều tạm bợ, giả dối. Nhờ quán ly dục lâu ngày, bệnh tham dục sẽ khô cạn.

15/ Quán diệt tận: Quán diệt tận cũng niệm hơi thở ra vào. Các khổ kiết sử nơi nơi đều dứt, chỗ này được an ổn, ấy là Tùy quán diệt tận.

Thứ mười lăm, quán diệt tận . Đây không phải quán các pháp bên ngoài diệt hết, mà nương hơi thở ra vào thấy rõ các kiết sử, phiền não ràng buộc, nghiệp hoặc kết tập kéo lôi chúng ta đi trong sanh tử, tất cả những cái đó đều là không thật, như trò chơi, như ảo mộng. Nhờ quán rõ như vậy thân tâm an ổn, ràng buộc dứt sạch. Đó gọi là tùy quán diệt tận.

16/ Quán buông bỏ: Quán buông bỏ cũng niệm hơi thở ra vào. Các thứ nhiễm ái, phiền não, thân, tâm, ngũ ấm, các pháp hữu vi đều buông bỏ, chỗ này là an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là Tùy quán buông bỏ.

Pháp đặc thắng thứ mười sáu là quán buông bỏ . Nương hơi thở ra vào chúng ta thấy rõ tất cả nhiễm ái, phiền não nơi thân nơi tâm. Chúng đều là pháp hữu vi sanh diệt không thật, người có trí phải biết buông bỏ không cố chấp. Được như vậy là đến chỗ an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là tùy quán buông bỏ . Tùy là theo những gì nơi tâm mình còn vướng mắc, đều buông bỏ hết, đều xả hết. Chỗ xả hết này tương tự Tứ thiền. Người tu thiền theo thứ bậc đạt được từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Sơ thiền là Ly sanh hỷ lạc, được vui mừng do lìa dục. Nhị thiền là Định sanh hỷ lạc. Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc. Tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh, tất cả niệm trói buộc đều buông hết, được an ổn thanh tịnh. Người tu pháp niệm hơi thở ra vào, đến giai đoạn cuối này, được chỗ buông bỏ tất cả nhiễm trước phiền não…, đạt đến an ổn bậc nhất, cũng như người tu thiền đạt được Xả niệm thanh tịnh của Tứ thiền.

Trên đây là mười sáu pháp đặc thắng nhiệm mầu, ứng dụng từ hơi thở để đi đến kết quả.

V- PHÁP MÔN TRỊ ĐẲNG PHẦN

Phần trên đã nói rõ, người tham dục nhiều phải quán bất tịnh, người nóng giận nhiều phải quán từ bi, người loạn tưởng nhiều phải quán sổ tức. Với người có bệnh tham sân si bằng nhau gọi là bệnh đẳng phần, người như thế tu pháp gì?

Phần thứ năm này là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng mong cầu làm Phật. Những người như thế phải dạy họ nhất tâm niệm Phật tam-muội.

Đây là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng , những người này muốn tu có kết quả phải quán niệm Phật tam-muội . Niệm Phật tam-muội có ba:

  1. Quán tượng Phật: Nếu người mới tập hành nên dẫn đến trước tượng Phật, hoặc dạy họ tự đến trước tượng Phật xem cho kỹ những tướng tốt, mỗi tướng rõ ràng, nhất tâm nhớ giữ trở về chỗ yên tịnh, tâm nhãn quán tượng Phật không cho ý chuyển động, buộc niệm tại tượng Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ phải thu nhiếp về tượng Phật. Nếu hành giả tâm không trụ, thầy phải dạy rằng:

“Ông phải tự trách tâm: Do ngươi mà ta mang tội không thể tính kể, chết sống không cùng bao nhiêu sự khổ não đều trải qua. Hoặc ở địa ngục uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng; hoặc trong súc sanh ăn cỏ, phẩn, đồ nhơ nhớp; hoặc sanh ngạ quỷ chịu khổ đói khát; hoặc được làm người nghèo cùng nguy khốn; hoặc sanh lên cõi trời mất ngũ dục sầu khổ. Bởi theo ngươi, ta chịu bao nhiêu sự đau đớn nơi thân tâm và vô lượng khổ não. Nay quyết kìm ngươi, ngươi phải theo ta, ta buộc ngươi một chỗ. Ta quyết định không bị ngươi làm khổ mà trở lại chịu mọi sự khổ độc. Xưa ngươi làm khổ ta, nay ta phải làm khổ lại ngươi.”

Quở trách như vậy mãi thì tâm không tán loạn. Khi ấy liền được tâm nhãn thấy tượng Phật sáng suốt, như hiện mắt thấy không khác. Như thế tâm được trụ, ấy gọi là hành giả mới tập tư duy.

Thứ nhất Quán tượng Phật . Người mới tập tu bắt đầu đến trước tượng Phật, nhìn kỹ từng phần tướng hảo của ngài, rồi về phòng quán tưởng nhớ lại từng tướng tốt, nhớ một cách rõ ràng không sai chạy để tâm yên trụ, buộc niệm nơi tượng Phật. Nếu tâm tán loạn lăng xăng kìm không nổi, phải tự rầy trách: “Ngươi đã hại ta khiến phải đi lên đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không biết bao nhiêu lần, chịu bao nhiêu đau đớn khổ sở. Bây giờ ta quyết làm chủ không để ngươi lôi kéo dẫn dắt nữa.” Nói như vậy trong tâm để nhắc rầy nó, rồi dần dần làm chủ được. Khi tâm không tán loạn, trong tâm thấy tượng Phật sáng rỡ như hiện trước mắt, đó là thành tựu pháp quán tượng Phật.

  1. Quán sanh thân Phật: Người đang tập hành, sau khi quán tượng Phật thành công, lại phải nghĩ rằng: Tướng tượng này là ai? Là tướng tượng Phật Thích-ca-mâu-ni thời quá khứ. Như ta nay thấy hình tượng Phật, tượng không lại, ta cũng không đến, Tâm tưởng như thế liền thấy đức Phật thời quá khứ, khi mới giáng thần rung động trời đất, có ba mươi hai tướng đại nhân:

1- Lòng bàn chân bằng phẳng. 2- Dưới bàn chân có một ngàn khu ốc. 3- Ngón chân dài. 4- Gót chân rộng. 5- Kẽ ngón tay, kẽ chân đều có màng lưới mỏng. 6- Mu bàn chân cao, bằng, đẹp. 7- Đùi tròn vót như đùi nai quý. 8- Đứng thẳng hai tay quá gối. 9- Tướng mã âm tàng. 10- Thân tròn thẳng như cây Ni-câu-lô-đà. 11- Mỗi lỗ chân lông đều có một sợi lông. 12- Lông hướng lên và xoay bên phải. 13- Sắc thân hơn vàng ròng. 14- Hào quang tỏa chung quanh thân một trượng. 15- Da mỏng đẹp. 16- Bảy chỗ no đầy. 17- Dưới hai nách bằng đẹp. 18- Phần trên của thân như hình sư tử. 19- Thân rất đẹp ngay thẳng. 20- Vai tròn đẹp. 21- Bốn mươi cái răng. 22- Răng trắng, bằng khít và chân sâu. 23- Bốn răng cửa trắng và lớn. 24- Má vuông như má sư tử. 25- Trong cổ có vị rất ngọt. 26- Lưỡi lớn, rộng, dài và mỏng. 27- Giọng trong, ấm, nghe rất xa. 28- Tiếng thanh như tiếng chim Ca-lăng-tần-già. 29- Con mắt trong xanh. 30- Lông mi cứng xanh như lông mi trâu quý. 31- Trên đảnh có nhục kế. 32- Giữa chặng mày có lông trắng đẹp xoay bên phải.

Lại có tám mươi tướng đẹp:

1- Vô kiến đảnh. 2- Mũi cao, thẳng, đẹp, lỗ mũi không bày ra. 3- Chân mày như trăng lưỡi liềm, xanh như sắc lưu ly. 4- Lỗ tai đẹp. 5- Thân dẻo chắc như Na-la-diên. 6- Xương mắc nhau như dây xích. 7- Thân khi xoay như tượng vương. 8- Khi đi chân cách đất bốn tấc mà vẫn có dấu. 9- Móng tay như sắc đồng đỏ, mỏng và bóng. 10- Đầu gối tròn đẹp. 11- Thân thanh tịnh. 12- Thân mềm dịu. 13- Thân không cong. 14- Ngón tay dài, tròn, vót. 15- Những nét răn của bàn tay đẹp như bức họa nhiều màu. 16- Mạch sâu không bày. 17- Mắt cá chân sâu không lồi. 18- Thân bóng mịn. 19- Thân tự giữ không xiêu vẹo. 20- Thân đầy đủ. 21- Dung nghi đầy đủ. 22- Khi đứng vững vàng. 23- Uy dũng khắp cả. 24- Tất cả thích xem. 25- Mặt không dài. 26- Dung mạo một mực không có sắc xen tạp. 27- Môi đỏ như quả Tần-bà. 28- Mặt tròn đầy. 29- Giọng nói hùng hậu. 30- Rốn tròn sâu. 31- Lông mọi chỗ đều xoay bên phải. 32- Tay chân đều no tròn. 33- Tay chân được như ý. 34- Những nét vân của tay và chân đều sáng và thẳng. 35- Chỉ tay dài. 36- Chỉ tay liên tục. 37- Tất cả chúng sanh có ác tâm trông thấy đều lộ vẻ hòa vui. 38- Mặt rộng, đặc biệt. 39- Mặt tròn đầy như trăng rằm. 40- Chúng sanh thấy không kinh sợ. 41- Lỗ chân lông bay mùi thơm. 42- Miệng bay mùi thơm. 43- Dung nghi như sư tử. 44- Tiến hay dừng như tượng vương. 45- Pháp đi như ngỗng chúa. 46- Đầu không tròn không dài giống trái Ma-đà-la. 47- Phần của tiếng đầy đủ (tiếng có sáu chục thứ, Phật đầy đủ). 48- Răng trắng bén. 49- Lông mềm và sạch. 50- Lưỡi lớn và đỏ. 51- Lưỡi mỏng. 52- Lông toàn màu hồng. 53- Con mắt rộng dài. 54- Các lỗ đầy đủ. 55- Tay chân trắng hồng như sắc hoa sen. 56- Bụng không bày ra. 57- Bụng không lồi lên. 58- Thân không động. 59- Thân nặng. 60- Thân lớn. 61- Thân cao, 62- Tay chân mềm bóng láng. 63- Khi đi chung quanh hào quang sáng ra một trượng. 64- Bình đẳng xem chúng sanh. 65- Không vì sự giáo hóa, không ham đệ tử. 66- Tùy thuận tiếng của chúng sanh không kém thiếu. 67- Tùy tiếng nói của chúng sanh vì thuyết pháp. 68- Ngôn ngữ không ngăn ngại. 69- Phát ra lời thích hợp chúng sanh. 70- Thuyết pháp thứ tự liên tục. 71- Tất cả chúng sanh mắt nhìn kỹ cũng không thể biết hết tướng tốt. 72- Xem không biết nhàm. 73- Tóc dài đẹp. 74- Tóc xoăn đẹp. 75- Tóc không rối. 76- Tóc không trổ. 77- Tóc mềm mại. 78- Tóc xanh như sắc lưu ly. 79- Tóc không ít. 80- Ngực có chữ Vạn, tay chân có chữ Cát.

Hào quang của Phật sáng suốt chiếu soi vô lượng thế giới, từ khi mới sanh bước đi bảy bước thốt ra một câu quan trọng. Khi ngài xuất gia siêng năng khổ hạnh, ngồi dưới cội bồ-đề hàng phục ma quân, đến gần sáng thành bậc Đẳng chánh giác, tướng sáng khắp soi cả mười phương, chư thiên trên không đàn ca, tán hoa, mưa hương cúng dường, tất cả chúng sanh đều cung kính không cùng. Ngài riêng đi trong tam giới chuyển mình nhìn lại như tượng vương xoay, xem xét cây Đạo (cây Đạo tức là cây bồ-đề) , lần chuyển bánh xe pháp ban đầu, trời người đều ngộ, lấy đạo tự chứng tiến đến Niết-bàn. Thân Phật như thế cảm phát vô lượng. Chuyên tâm niệm Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Như thế, tâm không loạn động. Khi ấy, được thấy sắc thân một đức Phật, hai đức Phật cho đến vô lượng thế giới chư Phật ở mười phương. Do tâm tưởng nên được thấy Phật. Đã thấy Phật cần được nghe thuyết pháp, hoặc tự thưa hỏi. Phật vì thuyết pháp, giải quyết các nghi vấn.

Thứ hai Quán sanh thân Phật . Người đã tập thực hành quán tượng Phật thành tựu rồi, kế đến quán thân Phật khi còn tại thế. Nghĩ nhớ đến đức Bổn sư Thích-ca, thân có ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. Tu pháp này phải thuộc kỹ các tướng đó. Ngồi quán cho thuần thục, Phật đản sanh đến xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo, chuyển pháp luân… những hình ảnh cuộc đời ngài như sống động trước mắt. Tưởng như mình gặp Phật thưa hỏi, được Phật giải quyết chỗ nghi. Tâm niệm chuyên nhất thấy sắc thân của chư Phật không nghĩ gì khác, đó là thành tựu pháp thứ hai.

  1. Quán pháp thân Phật: Người tập hành đã lâu, đã được Phật nghĩ tưởng, lại phải tưởng nghĩ công đức pháp thân của Phật. Tuệ không lường sâu thẳm, trí rộng không bờ mé, công đức không thể tính kể. Như Lai, bậc đáng cho nhân thiên cúng dường, khắp biết tất cả, đầy đủ tam minh, khéo vượt qua, thấu hiểu tất cả thế gian, bậc vô thượng, đại trượng phu điều phục tất cả, thầy của trời người, đấng hoàn toàn giác ngộ.

Thứ ba Quán pháp thân Phật . Người thực hành pháp niệm Phật tam-muội đã lâu, đến đây nghĩ tưởng về công đức pháp thân của Phật, quán mười hiệu của Phật.

Khi ấy lại niệm thần đức của hai đức Phật, ba bốn năm cho đến vô lượng cùng tận cả hư không chư Phật. Trở lại thấy một đức Phật, hay thấy một đức Phật hóa mười phương chư Phật, mười phương chư Phật hiện thành một đức Phật. Hay thấy một sắc biến thành các sắc – vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly… tùy ý người thích thảy được thấy.

Bấy giờ chỉ quán hai việc, thân Phật trong hư không và công đức của Phật, không cho nghĩ gì khác. Tâm được tự tại, ý không lăng xăng, đó là thành tựu niệm Phật tam-muội. Hành giả nếu tâm chạy theo ngũ trần, hoặc nhớ sáu việc lo nghĩ thì phải cố gắng kìm hãm điều phục nó. Phải suy nghĩ thế này:

“Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cho nên nói: Các thứ sáng, mặt trời là bậc nhất; các bậc trí tuệ, Phật là bậc nhất. Vì sao? Phật thường vì tất cả khởi lòng đại bi, hy sinh đầu mắt tủy não… để cứu chúng sanh. Tại sao ta lại phóng tâm không chuyên niệm Phật mà cô phụ ơn nặng của ngài? Nếu Phật không ra đời thì ai mở lối đến cõi người, cõi trời và Niết-bàn? Nếu có người đem hương hoa cúng dường, hoặc lấy xương thịt máu tủy… xây tháp cúng dường, cũng không bằng người tu hành dùng chánh pháp cúng dường được đến Niết-bàn. Tuy nhiên, người cô phụ ơn Phật dù có niệm Phật cũng không được gì. Bởi vậy, ta phải chuyên tâm niệm Phật không quên để báo ơn Phật. Huống nữa, niệm Phật sẽ được các thứ tam-muội, trí tuệ và thành Phật mà không chuyên tâm niệm Phật sao?”

Thế nên, hành giả thường phải chuyên tâm giữ ý không cho tán loạn. Đã được thấy Phật, thưa hỏi giải nghi, ấy gọi là “Niệm Phật tam-muội trừ diệt đẳng phần và các tội trọng”.

Pháp niệm Phật tam-muội này, thành tựu đến nhất tâm, chỉ thấy thân Phật và công đức của Phật. Chỉ nhớ tưởng Phật không nghĩ gì khác, kìm hãm loạn tâm và trừ được ba độc. Pháp này không đơn giản, nếu không phải căn lành thuần thục rất khó thực hành.

Như vậy phần đầu dạy tu, trước tiên chư tổ dạy cách đối trị bệnh, như người lành bệnh mới có thể đi đứng hoạt động thảnh thơi. Chúng ta nên luôn cố gắng tu, tự nhớ vô thường, nhớ thân mình giả dối để thúc đẩy mình làm hai việc. Một là tu cho bản thân, hai là làm lợi ích cho mọi người. Được như vậy thì hiện tại tăng trưởng phước điền, làm chủ được thân tâm phần nào không bị nghiệp lôi. Ai sống trên đời cũng phải lo nghĩ đến ngày sau, khi mọi người nhớ đến mình thì mình chỉ là cái bóng, không còn lợi ích gì nữa. Hiện tại nỗ lực tu, điều phục ba nghiệp để khi vô thường đến cũng có cách chống cự. Nhân cái chết của một vị thầy quen, tôi cảm niệm sự vô thường, tự cảnh tỉnh mình và cảnh tỉnh đại chúng. Chúng ta phải cùng nhau hết sức cố gắng tu tập, đừng chần chừ để trễ nãi, uổng đi một đời.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.