Thiền Quan Sách Tấn được xem như quyển Thiền sách gối đầu nằm của hành giả chuyên tu thiền. Hành giả khi giải đãi thối chí, mở ra đọc sẽ thấy một nguồn sức mạnh thúc đẩy chúng ta tiến tới, vượt qua những chướng ngại về thân tâm. Thiền Quan Sách Tấn vốn là quyển sách bất ly thân của ngài Châu Hoàng. Ngài đi đến đâu, trụ nơi nào cũng không rời, đủ thấy sự thiết yếu và giá trị tinh thần của quyển sách đối với chư thiền giả ngày xưa và người học đạo hôm nay.
Nội dung bao gồm ba phần:
– Phần đầu trích dẫn những lời dạy thiết thực của chư tổ, các vị thiền sư.
– Phần hai, gương hạnh của chư thiền đức tiến đạo nghiêm thân.
– Phần ba, lời Phật dạy và các tích truyện trong kinh, mục đích thúc liễm thân tâm người tu đạo.
Ngài Châu Hoàng ở đời Minh chịu ảnh hưởng chủ yếu từ dòng thiền Lâm Tế, nhất là khán thoại đầu. Do vậy, hai phần đầu ngài trích dẫn lời chỉ dạy và công hạnh các thiền sư chuyên khán thoại đầu.
Tuy vậy, dù khán thoại đầu, niệm Phật, trì chú hay tu thiền bằng cách dứt trừ vọng tưởng như chúng ta, cũng phải công phu đầy đủ viên mãn. Nếu nói tu không cần dụng công là sai lầm. Bất cứ một pháp môn nào cũng phải hết sức cố gắng, nỗ lực, miên mật thì sự tu mới đến nơi đến chốn. “Không có Di-lặc trời sanh cũng không có Thích-ca tự nhiên thành.”
Dụng công có hai lối: Hướng nội nghĩa là gạn lọc bên trong và hướng ngoại tức là dùng trí tuệ nhìn ra ngoài nhưng đừng cho nhiễm trước. Hai phương pháp đều đòi hỏi phải khéo léo khi dụng công. Ngài Lâm Tế từng dạy: “Có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Có khi nhân cảnh đều đoạt. Có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt.” Hướng ngoại để phá tất cả những vọng chấp. Bên ngoài không chấp thì nội tâm cũng tự lặng. Xoay vào trong dừng bặt mọi vọng tưởng, lúc đó bên ngoài cũng tự lặng. Dù phóng ra ngoài hay hướng vào trong đều là một không khác.
Hành giả thường mắc phải lỗi, do không có thiện tri thức hướng dẫn cặn kẽ, nên vừa được một chút sáng liền tưởng đã đạt đạo, không biết đó chỉ là một giai đoạn gia tầm, chưa phải cứu cánh. Nếu không thâm hiểu sẽ hài lòng, thỏa mãn với chỗ sở đắc. Nhà thiền có câu “gia tầm ngộ thiết”, cần phải nhiều phen nghiên tầm mới có được chỗ ngộ chân thiết. Ở đây, ngài Châu Hoàng thu thập những chỉ dạy, chứng nghiệm của chư vị thiền đức để chúng ta lấy làm bản đồ dẫn đường cho từng giai đoạn tu hành. Đó là điểm thiết yếu của quyển sách này.
Tuyển giả Sa-môn Châu Hoằng họ Trầm, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì, quê ở Hàng Châu, huyện Nhân Hòa nay thuộc Triết Giang. Ngài sanh vào ngày 14 tháng 7 niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh năm thứ 14 (1535 TL). Thuở nhỏ Sư theo Nho học, đến mười bảy tuổi được đi tham học. Với bản tính điềm đạm, không thích danh lợi, tư cách siêu quần bạt tụy, đức độ của ngài được mọi người tôn kính.
Đến niên hiệu Gia Tĩnh thứ 45, ngài về quê giở phần mộ mẹ. Khi lấy cốt, ngài cảm động nói: “Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng. Con nhớ ơn cha mẹ thì cha mẹ đã mất.” Ngài quyết định bỏ việc học hành, danh lợi thế gian, lên núi Ngũ Đài Sơn lễ hòa thượng Tánh Thiên Thiên Lý xin xuất gia. Năm đó ngài ba mươi mốt tuổi.
Sau khi thọ giới Cụ túc tại chùa Chiều Khánh, Sư phát tâm đến Linh Sơn và các ngôi cổ tự đảnh lễ. Khi đến kinh sư, yết kiến hai vị đại lão hòa thượng Biện Dung và Tiểu Nham, Sư được đại ngộ làm bài kệ:
Nhị thập niên tiền sự khả nghi, Tam thiên lý ngoại ngộ hà kỳ,
Phần hương trịch kích hồn như mộng,
Ma Phật không tranh thị dữ phi.
Bài kệ mô tả lại sự kiện ngài ngộ đạo nơi hai vị trưởng lão. Nhị thập niên tiền sự khả nghi, nghĩa là hai mươi năm về trước việc đó đáng nghi. Tam thiên lý ngoại ngộ hà kỳ, nghĩa là ngoài ba ngàn dặm chợt gặp thật là việc lạ kỳ. Phần hương trịch kích hồn như mộng, thắp hương khấn nguyện hay phóng kích giữa trận đều như trong giấc mộng. Tới đây ma Phật không tranh thị dữ phi, không còn phân biệt ma hay Phật, quấy hay phải.
Niên hiệu Long Khánh thứ 5 (1571 TL) Sư trở về Hàng Châu ở tại núi Vân Thê, sáng lập thiền lâm. Người học các nơi tìm đến tham học khiến tông phong ngày càng thịnh hành, trở thành một đại tùng lâm.
Sa-môn Châu Hoằng chủ trương gìn giữ giới luật cẩn mật. Ngài trước tác bộ kinh A-di-đà Sở Sao, ý chỉ đem Tịnh độ về Thiền, chủ trương Thiền Tịnh dung hợp. Ngài trích tuyển bộ Thiền Quan Sách Tấn để chỉ dạy những diệu quyết thật tham, thật cứu cho người học. Ngoài ra còn trích tuyển ba bộ: Sa-di Yếu Lược, Cụ Giới Tiệm Mông, Kinh Phạm Võng Giới Sở Phát Ấn v.v… đều là các quy phạm về luật.
Đạo phong của ngài rất được triều đình kính trọng. Hoàng thái hậu Từ Thánh đã thỉnh Sư vào cung truyền giới. Vua Minh Thần Tông lại ban tặng tử y và kim quan tức là áo ca-sa màu tía và mão vàng.
Đến tháng 6 niên hiệu Vạn Lịch thứ 43, tức năm 1615, ngài có chút ít bệnh nên di chúc cho môn đồ. Đến ngày 4 tháng 7 ngài viên tịch, thọ 80 tuổi, hạ lạp 49 năm. Những trước tác của hòa thượng Châu Hoàng được kết tập thành Văn Thể Pháp Vựng trong đó có Vãng Sanh Tập, Lăng-nghiêm Kinh Mô Tượng Ký, Hoa Nghiêm Kinh Cảm Ứng Lược Ký, Thủy Lục Nghi Văn, Du-già Diệm Khẩu Pháp, Giới Sát Phóng Sanh Văn, v.v… tất cả là 34 bộ, hơn 40 quyển.
Ngài Châu Hoàng về sau chủ trương Thiền Tịnh dung hợp, vì quán thoại đầu của tông Lâm Tế cũng gần với câu niệm Phật của Tịnh độ nên hai bên dễ dung hợp thành một. Đây là một vài nét sơ lược tiểu sử tuyển giả.
THÍCH THANH TỪ