Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải

08. Phẩm Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký



Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký là năm trăm vị đệ tử được Phật thọ ký sau sẽ thành Phật. Ở phẩm Thí Dụ, Phật đã thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất, ở phẩm Thọ Ký, Phật thọ ký cho ngài Tuệ Mạng Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên và tới đây Phật lại thọ ký cho năm trăm vị đệ tử như Phú-lâu-na, Kiều-trần-như… sau sẽ thành Phật, vì lòng tin các ngài đã thuần thục.

Chánh văn: 

1) Lúc bấy giờ, ngài Mãn Từ Tử từ nơi đức Phật nghe trí tuệ phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe thọ ký cho các vị đệ tử lớn sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe các đức Phật có sức tự tại thần thông lớn, được điều chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt không tạm rời, mà nghĩ thế này: Thế Tôn rất riêng lạ, việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời, dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, cứu vớt chúng sanh ra khỏi các chỗ tham trước, chúng con ở nơi công đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên bày được, chỉ có đức Phật Thế Tôn hay biết bản nguyện trong thâm tâm của chúng con. 

Giảng: 

Tôn giả Mãn Từ Tử nghe Phật thọ ký cho các bậc huynh trưởng, lòng Tôn giả đã thanh tịnh, vui mừng đến đảnh lễ Phật và nghĩ rằng việc làm của Phật rất ít có, Phật biết chủng tánh của chúng sanh, mà vì họ phương tiện nói pháp theo chỗ họ mong muốn. Hôm nay trong hội này, nếu Phật theo bản nguyện của Tôn giả mà thọ ký cho thì thật là sung sướng, là điều mà Tôn giả trông mong chờ đợi đã lâu. Đó là tâm khao khát được thọ ký của tôn giả Mãn Từ Tử.

Chánh văn: 

2) Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo: 

Các ông thấy Mãn Từ Tử đây chăng? Ta thường khen ông là bậc nhất trong hàng người nói pháp, cũng thường khen các món công đức của ông, ròng rặt siêng năng hộ trì giúp tuyên bày pháp của ta, có thể chỉ dạy lợi mừng cho hàng bốn chúng giải thích trọn vẹn chánh pháp của Phật, mà làm nhiều lợi ích cho những người cùng đồng hạnh thanh tịnh. Ngoài đức Như Lai, không ai có thể cùng tận chỗ biện bác ngôn luận của ông. Các ông chớ tưởng Mãn Từ Tử chỉ hay hộ trì trợ tuyên pháp của ta thôi, ông cũng đã ở nơi chín mươi ức đức Phật thuở quá khứ mà hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Phật, ở trong nhóm người nói pháp thuở đó cũng là bậc nhất. 

Ông lại ở pháp không của chư Phật nói, thông suốt rành rẽ, được bốn món trí vô ngại, thường hay suy gẫm chắc chắn nói pháp thanh tịnh không có nghi lầm, đầy đủ sức thần thông của Bồ-tát tùy số thọ mạng mà thường tu hạnh thanh tịnh. 

Người đời thuở đức Phật kia đều gọi ông thật là Thanh văn. Nhưng ông Mãn Từ Tử dùng phương tiện đó làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn chúng sanh, lại giáo hóa vô lượng vô số người khiến đứng nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông vì muốn tịnh cõi Phật mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sanh. 

Các Tỳ-kheo! Ông Mãn Từ Tử cũng được bậc nhất ở trong hàng người nói pháp thuở bảy đức Phật, nay ở nơi chỗ ta trong hàng người nói pháp cũng là bậc nhất. 

Trong hàng người nói pháp thuở các đức Phật trong Hiền kiếp về đương lai cũng lại là bậc nhất, mà đều hộ trì giúp tuyên bày pháp của Phật. Ông cũng sẽ ở trong đời vị lai hộ trì trợ tuyên chánh pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh, khiến an lập nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sanh, lần lần đầy đủ dạo Bồ-tát. 

Qua vô lượng vô số kiếp sau, ông sẽ ở nơi cõi này thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là Pháp Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. 

Đức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật. Đất bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay, không có núi gò, khe suối, rạch ngòi. Nhà, đài bằng bảy thứ báu đầy dẫy trong đó, cung điện của các trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp nhau, hai bên đều thấy được nhau, không có đường dữ cũng không có người nữ. 

Tất cả chúng sanh đều do biến hóa sanh, không có dâm dục, được pháp thần thông lớn, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại, chí niệm bền chắc, có đức tinh tấn trí tuệ, tất cả đều thân sắc vàng đủ ba mươi hai tướng tốt để tự trang nghiêm. 

Nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn: một là Pháp hỷ thực, hai là Thiền duyệt thực. Có vô lượng vô số nghìn muôn ức na-do-tha các chúng Bồ-tát được sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại, khéo hay giáo hóa loài chúng sanh. Chúng Thanh văn trong nước đó tính kể số đếm đều không thể biết được, đều được đầy đủ ba món minh, sáu pháp thần thông và tám món giải thoát. 

Cõi nước của đức Phật đó có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên Bửu Minh, nước tên Thiện Tịnh. Phật đó sống lâu vô lượng vô số kiếp, pháp trụ đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, dựng tháp bằng bảy thứ báu khắp cả nước đó. 

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

3) Các Tỳ-kheo lắng nghe 

Đạo của Phật tử làm 

Vì khéo học phương tiện

Chẳng thể nghĩ bàn được

Biết chúng ưa pháp nhỏ 

Mà sợ nơi trí lớn 

Cho nên các Bồ-tát 

Làm Thanh văn, Duyên giác 

Dùng vô số phương tiện 

Độ các loài chúng sanh,

Tự nói là Thanh văn

Cách Phật đạo rất xa

Độ thoát vô lượng chúng

Thảy đều được thành tựu

Dầu ưa nhỏ, biếng lười 

Sẽ khiến lần thành Phật.

Trong ẩn hạnh Bồ-tát

Ngoài hiện là Thanh văn

Ít muốn, nhàm sanh tử 

Thật tự tịnh cõi Phật 

Bày ba độc cho người 

Lại hiện tướng tà kiến, 

Đệ tử ta như vậy 

Phương tiện độ chúng sanh 

Nếu ta nói đủ cả 

Các món việc hiện hóa 

Chúng sanh nghe đó rồi 

Thời lòng sanh nghi lầm.

4) Nay Phú-lâu-na đây 

Ở xưa nghìn ức Phật 

Siêng tu đạo mình làm

Tuyên hộ các Phật pháp 

Vì cầu tuệ Vô thượng 

Mà ở chỗ chư Phật 

Hiện ở trên đệ tử 

Học rộng có trí tuệ 

Nói pháp không sợ sệt 

Hay khiến chúng vui mừng 

Chưa từng có mỏi mệt 

Để giúp nên việc Phật.

Đã được thần thông lớn

Đủ bốn trí vô ngại 

Biết các căn lợi độn 

Thường nói pháp thanh tịnh

Diễn xướng nghĩa như thế

Để dạy nghìn ức chúng

Khiến trụ pháp Đại thừa

Mà tự tịnh cõi Phật.

Đời sau cũng cúng dường

Vô lượng vô số Phật 

Hộ trợ tuyên chánh pháp 

Cũng tự tịnh cõi Phật 

Thường dùng các phương tiện 

Nói pháp không e sợ 

Độ chúng không kể được 

Đều thành Nhất thiết trí 

Cúng dường các Như Lai 

Hộ trì tạng Pháp bảo.

Sau đó được thành Phật

Hiệu gọi là Pháp Minh

Nước đó tên Thiện Tịnh

Bảy thứ báu hiệp thành

Kiếp tên là Bửu Minh 

Chúng Bồ-tát rất đông 

Số nhiều vô lượng ức

Đều được thần thông lớn

Sức oai đức đầy đủ 

Khắp đầy cả nước đó

Thanh văn cũng vô số 

Ba minh, tám giải thoát,

Được bốn trí vô ngại 

Dùng hạng này làm tăng.

Chúng sanh trong cõi đó

Dâm dục đều đã dứt 

Thuần một biến hóa sanh

Thân trang nghiêm đủ tướng

Pháp hỷ, Thiền duyệt thực

Không tưởng món ăn khác.

Không có hàng nữ nhân

Cũng không các đường dữ.

Phú-lâu-na Tỳ-kheo 

Khi công đức trọn đầy 

Sẽ được tịnh độ này 

Chúng hiền thánh rất đông 

Vô lượng việc như thế 

Nay ta chỉ nói lược. 

Giảng:

Phật tán dương công đức thuyết pháp của tôn giả Mãn Từ Tử trong hội chúng của Phật, ngoài Phật ra thì tôn giả Mãn Từ Tử là người thuyết pháp bậc nhất trong hàng đệ tử Phật. Phật nói chẳng những trong đời này tôn giả Mãn Từ Tử rộng nói pháp Phật mà thuở quá khứ, ở nơi chín mươi ức đức Phật, Tôn giả cũng đã từng nói pháp bậc nhất, và trong những kiếp tương lai Tôn giả cũng sẽ nói pháp bậc nhất giáo hóa chúng sanh làm thanh tịnh cõi Phật. Đó là do duyên phước nhiều đời, Tôn giả mới làm được việc đó. Cũng vậy, trong đời hiện tại chúng ta có năng khiếu gì tốt, là do nhiều đời chúng ta đã gieo trồng giống đó, chứ không phải chỉ trong một đời mà được.

Phật nói thuở đó tôn giả Mãn Từ Tử căn cứ vào “pháp Không” của chư Phật mà nói, nên thông suốt, được bốn trí vô ngại, nói pháp thanh tịnh không nghi lầm, đủ sức thần thông của Bồ-tát, thường tu hạnh thanh tịnh. Pháp không ở đây là chỉ cho pháp Bát-nhã. Do đạt được trí tuệ Bát-nhã nên Tôn giả thuyết pháp không chướng ngại, chỉ dạy cho mọi người đều được pháp thanh tịnh. Người thuở đó gọi tôn giả Mãn Từ Tử là Thanh văn, nhưng với Phật thì tôn giả Mãn Từ Tử là Bồ-tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh khiến trụ nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì vậy, nên sau khi nhắc đến tri kiến Phật, Tôn giả liền lãnh hội và được Phật thọ ký cho sau này sẽ thành Phật. Bởi Tôn giả chuyên tu hạnh tuyên dương chánh pháp khai thông trí tuệ cho người, nhờ nhiều đời nhiều kiếp tích lũy phước đức đó nên khi thành Phật hiệu là Pháp Minh.

Cõi nước thì lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà trang nghiêm, cõi này gần cung điện của chư thiên, nên hai bên giao tiếp nhau rất dễ. Nhân dân ở cõi này do tu đầy đủ hạnh thanh tịnh, nhờ nguyện lực mà được hóa sanh, nên không có tướng nam tướng nữ. Nhân dân cõi này dùng hai món ăn là pháp hỷ và thiền duyệt chứ không dùng thức ăn bằng phạn thực như chúng sanh ở cõi Ta-bà, nên có đủ ba món minh, sáu pháp thần thông, tám món giải thoát. Khi đói thì nghe pháp, tâm hoan hỷ liền được no, hoặc đói thì tọa thiền, tâm hoan hỷ liền được no. Vì nhân dân cõi này chỉ cần chánh pháp và thiền định chứ không cần cơm gạo thô phù như ở cõi Ta-bà. Chúng đệ tử toàn là hàng Thanh văn, Bồ-tát nhiều vô số không thể tính đếm, tuổi thọ thì dài vô kể.

Chánh văn: 

5) Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A-la-hán, bậc tâm tự tại, nghĩ như vầy: “Chúng ta vui mừng được điều chưa từng có, nếu đức Thế Tôn đều thọ ký cho như các đệ tử lớn khác thời sung sướng lắm.” 

Đức Phật biết tâm niệm của các vị đó nên nói với ngài Đại Ca-diếp: 

Một nghìn hai trăm vị A-la-hán đó, nay ta sẽ hiện tiền thứ tự mà thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 

Trong chúng đó, đệ tử lớn của ta là Kiều-trần-như Tỳ-kheo, sẽ cúng dường sáu muốn hai nghìn ức đức Phật, vậy sau được thành Phật, hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. 

Năm trăm vị A-la-hán: ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, ông Già-da Ca-diếp, ông Na-đề Ca-diếp, ông Ca-lưu-đà-di, ông Ưu-đà-di, ông A-nậu-lâu-đà, ông Ly-bà-đa, ông Kiếp-tân-na, ông Bạc-câu-la, ông Châu-đà-tá, ông Dà đà v.v… đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đồng một hiệu là Phổ Minh. 

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

6) Kiều-trần-như Tỳ-kheo 

Sẽ gặp vô lượng Phật 

Qua vô số kiếp sau 

Mới được thành Chánh giác 

Thường phóng quang minh lớn 

Đầy đủ các thần thông 

Danh đồn khắp mười phương 

Tất cả đều tôn kính 

Thường nói pháp Vô thượng 

Nên hiệu là Phổ Minh 

Cõi nước đó thanh tịnh 

Bồtát đều dõng mãnh 

Đều lên lầu gác đẹp 

Dạo các nước mười phương 

Đem đồ cúng vô thượng 

Hiến dâng các đức Phật,

Làm việc cúng đó xong 

Sanh lòng rất vui mừng

Giây lát về bản quốc

Có sức thần như thế.

Phật thọ sáu muôn kiếp

Chánh pháp trụ bội thọ 

Tượng pháp lại hơn chánh 

Pháp diệt trời người lo. 

7) Năm trăm Tỳ-kheo kia 

Thứ tự sẽ là Phật 

Đồng hiệu là Phổ Minh 

Theo thứ thọ ký nhau.

Sau khi ta diệt độ

Ông đó sẽ làm Phật 

Thế gian của ông độ

Cũng như ta ngày nay

Cõi nước đó nghiêm sạch

Và các sức thần thông

Chúng Thanh văn, Bồ-tát 

Chánh pháp cùng tượng pháp 

Thọ mạng kiếp nhiều ít 

Đều như trên đã nói. 

Ca-diếp! Ông đã biết 

Năm trăm vị tự tại 

Các chúng Thanh văn khác 

Cũng sẽ làm như thế 

Vị nào vắng mặt đây 

Ông nên vì tuyên nói.

Giảng:

Bấy giờ, chư vị A-la-hán là huynh đệ đồng đẳng với tôn giả Mãn Từ Tử, khi thấy Tôn giả được thọ ký rồi, các ngài mong rằng các ngài sẽ được Phật thọ ký cho mình. Phật biết tâm niệm ấy của các ngài liền thứ tự thọ ký cho các ngài được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong đó đệ tử lớn của Phật là ngài A-nhã Kiều-trần-như do công đức cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, sau sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh. Kế đến năm trăm vị A-la-hán như Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Nan-đề Ca-diếp, Ca-lưu-đà-di, Ưu-đà-di, A-nậu-lâu-đà… đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đồng hiệu là Phổ Minh.

Tại sao chư vị A-la-hán thấy tôn giả Mãn Từ Tử được thọ ký, các ngài đều vui mừng và mong được Phật thọ ký cho mình thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, còn chúng ta nghe các ngài được thọ ký chúng ta tự thấy mình là kẻ vô phần nên không vui mừng? Tôi thí dụ, các anh em cùng học chung một lớp, đến giờ trả bài, anh A trả bài thuộc được tám điểm thầy khen giỏi, anh B trả bài thuộc được tám điểm cũng được thầy khen giỏi. Mình lúc đó cũng thuộc bài chưa được gọi lên trả bài trong lòng cũng mong được thầy gọi lên trả bài. Nếu hôm đó mình không thuộc bài thì không dám mong được trả bài. Qua thí dụ này chúng ta thấy sở dĩ các ngài mong được Phật thọ ký, là vì các ngài cũng có sở ngộ như những người bạn đồng đẳng mà chưa được Phật xác chứng, nên mong chờ; nếu các ngài chưa ngộ chắc không dám mong. Do thấy được tâm mong chờ đó Phật liền thọ ký cho. Đó là ý nghĩa vui mừng chờ thọ ký là như vậy.

Chánh văn: 

8) Bấy giờ, năm trăm vị A-la-hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, ăn năn lỗi của mình mà tự trách: 

Thế Tôn! chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí tuệ Như Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ. 

Thế Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho đó rồi đi. Gã đó say nằm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ. 

Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng: “Lạ thay! Anh này, sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này? Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thọ năm món dục, ở ngày tháng năm đó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh, nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thật là khờ lắm; nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thời thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn.” 

Đức Phật cũng lại như vậy, lúc làm Bồ-tát giáo hóa chúng con khiến phát lòng cầu Nhất thiết trí, mà chúng con liền bỏ quên không hay không biết. Đã được đạo A-la-hán tự nói là diệt độ, khổ nhọc nuôi sống được chút ít cho là đủ, tất cả trí nguyện vẫn còn chẳng mất. Ngày nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con mà nói rằng: “Các Tỳ-kheo! Đạo của các ông không phải rốt ráo diệt. Ta từ lâu đã khiến các ông gieo căn lành của Phật, dùng sức phương tiện chỉ tướng Niết-bàn mà các ông cho là thật được diệt độ.” 

Thế Tôn! Chúng con nay mới biết mình thật là Bồ-tát được thọ ký sẽ thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. 

Bấy giờ, ông A-nhã Kiều-trần-như muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

9) Chúng con nghe Vô thượng 

Tiếng thọ ký an ổn 

Vui mừng chưa từng có 

Lạy Phật trí vô lượng. 

Nay ở trước Thế Tôn 

Tự hối các lỗi quấy 

Trong Phật báu vô lượng

Được chút phần Niết-bàn 

Như người ngu vô trí

Bèn tự cho là đủ.

Thí như người nghèo cùng 

Qua đến nhà thân hữu 

Nhà đó rất giàu lớn

Bày đủ các tiệc ngon

Đem châu báu vô giá

Cột dính trong vạt áo

Thầm cho rồi bỏ đi 

Gã say nằm không hay.

Sau khi gã đã dậy 

Dạo đi đến nước khác 

Cầu ăn mặc tự sống 

Nuôi sống rất khốn khổ 

Được ít cho là đủ 

Chẳng lại muốn đồ tốt 

Chẳng biết trong vạt áo 

Có châu báu vô giá.

Người thân hữu cho châu

Sau gặp gã nghèo này 

Khổ thiết trách gã rồi 

Chỉ cho châu trong áo.

Gã nghèo thấy châu đó

Lòng gã rất vui mừng 

Giàu có các của cải 

Tha hồ hưởng ngũ dục.

Chúng con cũng như vậy 

Thế Tôn từ lâu xưa 

Thường thường giáo hóa cho 

Khiến gieo nguyện Vô thượng.

Chúng con vì vô trí 

Chẳng hay cũng chẳng biết 

Được chút phần Niết-bàn 

Cho đủ chẳng cầu nữa

Nay Phật giác ngộ con

Nói chẳng phải thật diệt 

Được Phật tuệ Vô thượng 

Đó mới là thật diệt.

Con nay từ Phật nghe 

Thọ ký việc trang nghiêm 

Cùng tuần tự thọ ký 

Thân tâm khắp mừng vui.

Giảng:

Năm trăm vị A-la-hán được thọ ký vui mừng hớn hở, ăn năn lỗi mình và tự trách: Mình cũng có khả năng thành Phật và cũng được Phật thọ ký, vậy mà từ lâu chứng quả A-la-hán tự cho là đủ, nay mới biết mình là kẻ vô trí, chỉ biết lấy trí nhỏ cho là đủ. Nên các ngài mới dùng thí dụ hạt châu cột trong chéo áo của chàng say rượu. Tại sao các ngài dùng thí dụ này? Vì ở phẩm Hóa Thành Dụ, Phật có nói thuở ngài còn tu hạnh Sa-di Bồ-tát đã từng nói kinh Pháp Hoa giáo hóa đồ đệ, nay ngài thành Phật những đồ đệ này cũng có duyên theo ngài là hàng hữu học vô học chứng A-la-hán ở trong hội này. Những vị này nghe Phật nhắc lại, liền nhớ mình đã được gieo trồng hạt giống tri kiến Phật hồi xa xưa, nay lại quên, cứ theo phương tiện Phật dạy hiện thời tu theo hạnh Thanh văn. Nay Phật nhắc lại liền tin nhận, được an vui tự tại và được Phật thọ ký.

Các ngài dùng hình ảnh anh chàng nghèo say rượu tới thăm người bạn thân, được bạn đãi cơm thịnh soạn và tặng cho một hạt châu cột trong chéo áo. Do uống rượu say nên quên không nhớ mình có hạt châu quý giá, cứ đi lang thang cầu thực một cách khổ sở. Sau bạn cũ bất thần gặp lại, thì ra anh bạn nghèo say nay vẫn còn nghèo, mới trách; “Xưa tôi có cho anh một hạt châu cột trong chéo áo sao không lấy ra dùng?” Từ đó anh bạn nghèo mới lấy hạt châu ra xài và trở thành người giàu có sang trọng. Người cho châu là dụ cho đức Phật, từ thuở xa xưa ngài đã từng nói kinh Pháp Hoa giáo hóa cho đồ đệ rồi. Kẻ nghèo say rượu chỉ cho hàng đệ tử đã được Phật nói kinh Pháp Hoa rồi mà quên đi. Bấy giờ được Phật nhắc lại mới nhớ, nhận ra tri kiến Phật nơi mình và được Phật thọ ký sẽ thành Phật. Qua thí dụ này, chúng ta thấy tâm hạnh của hàng Thanh văn còn hạn cuộc chưa viên mãn, được chút ít cho là đủ. Chỗ mà hàng Thanh văn lấy làm sở chứng sở đắc đó không phải là bản hoài của Phật; Phật muốn ai tu rồi cũng thành Phật như ngài, chứ không bằng lòng cho chúng ta an trú quả vị Thanh văn, Duyên giác.

Vậy kinh Pháp Hoa dạy chúng ta phát tâm tu phải rộng lớn, là tự mình tu được giác ngộ thành Phật và giáo hóa cho người tu cũng được giác ngộ thành Phật như mình. Muốn được thế thì phải trải qua thời gian công phu tu tập lâu dài, công hạnh mới viên mãn.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.