I. Khái quát
Long An, một vùng quê hương trù phú với một thành phố, một thị xã và 13 huyện, tuy không có nhiều di tích danh lam thắng cảnh, nhưng là một tỉnh tuyến mạch nối liền thành phố và các tỉnh miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều dấu ấn lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, Phật giáo Long An luôn đồng hành, góp phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất về an sinh xã hội. Phật giáo Long An có nhiều hệ phái, tông phái cùng hòa hợp tu tập. Như nước trăm sông xuôi dòng về biển cả, tuy khác nhau trên hình thức nhưng đều hướng đến mục tiêu giác ngộ, giải thoát. Ngoài các tông phái như Mật tông, Thiền tông, Tịnh độ tông v.v…, Thiên Thai Giáo Quán tông du nhập đến Long An vào năm 1933, góp phần tích cực để phát triển Phật giáo tỉnh nhà.
II. Sự hình thành và phát triển Thiên Thai Giáo Quán tông ở Trung Quốc
Thiên Thai Giáo Quán tông là một tông phái được hình thành từ rất sớm ở Trung Quốc, được xem do Trí Khải đại sư, tu tập tại núi Thiên Thai (Triết Giang) sáng lập, vì thế đặt tên là Thiên Thai tông (575). Tông này lấy kinh Pháp Hoa làm tông chỉ, lấy luận Đại Trí Độ làm kim chỉ nam. Giáo nghĩa của Tông y cứ vào kinh Pháp Hoa nên còn có tên gọi là Pháp Hoa tông. Sự nghiệp truyền thừa của Tông này gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Theo Phật Tổ Thống ký, Sơ tổ của Thiên Thai Tông là Đại sư Huệ Văn, người Bắc Tề, truyền yếu chỉ cho ngài Huệ Tư, rồi truyền đến Đại sư Trí Khải… đến ngài Bá Tòng Chơn Giác, tổng cộng được 29 đời.
Giai đoạn 2: Theo Phật Tổ Tâm Đăng, từ ngài Bá Tòng Chơn Giác truyền đến đại sư Đế Nhàn (1858-1932), và sau cùng là đại sư Nhiên Công Hiển Kỳ (1883-1936), người Việt Nam, tổng cộng có 20 đời.
Về Sơ tổ Thiên Thai Tông có rất nhiều sử liệu khác nhau, có thuyết cho rằng ngài Long Thọ ở Ấn Độ là Sơ tổ; có thuyết ghi ngài Huệ Văn là Sơ tổ. Trong đó, công xiển dương tông phái nổi bật nhất ở Trung Quốc là ngài Trí Khải (538-597).
Đại sư Trí Khải người Kinh Châu, 17 tuổi xuất gia (555), học đạo cầu pháp với ngài Huệ Tư ở núi Đại Tô, nhận lãnh yếu chỉ “Nhất tâm tam quán”, chứng đắc Pháp Hoa tam muội.
Trên phương diện hoằng dương chánh pháp, Đại sư không chỉ là bậc hiền tài, đạo cao đức trọng mà còn là nhà học thuật lỗi lạc, khiến đạo tục đều quy hướng học đạo rất đông. Vua Tùy Dạng Đế (Dương Quảng) đã ban cho ngài danh hiệu Trí Giả đại sư (591), bậc Thầy sáng lập giáo nghĩa của Tông Thiên Thai, là nhà triết học vĩ đại có công hệ thống lại kinh điển Phật giáo. Quá trình hành đạo, Ngài đã xây 36 ngôi chùa, đúc nhiều ngàn pho tượng Phật bằng đồng, đệ tử nối pháp có 32 vị. Các đời vua ở Trung Quốc đều ủng hộ Ngài. Nhờ đó, tông Thiên Thai không chỉ phát triển mạnh ở Trung Quốc mà còn mở rộng qua các nước Mông Cổ, Nhật Bản và truyền đến Việt Nam.
III. Pháp môn tu hành
Thiên Thai Giáo Quán Tông tu tập theo tông chỉ “Nhất tâm tam quán –Không Giả Trung” làm chủ đạo, hằng ngày trì tụng kinh Pháp Hoa. Tuy nhiên, các bậc khởi xướng Tông phái đều có sự vận dụng linh hoạt “tùy duyên hóa đạo”. Với tự thân, các ngài thường chuyên niệm thực hành theo tông chỉ. Với hội chúng Phật tử, các ngài khuyến khích mọi người tụng kinh Di Đà, niệm danh hiệu Phật.
Cụ thể là, Trí Khải đại sư (Trí Giả) dù thông suốt các kinh điển (kinh Pháp Hoa, kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Phổ Hiền Quán, kinh Đại thừa Phương Đẳng…), nhưng vẫn khích lệ người phóng sanh, niệm Phật, đề xướng kinh Quán Vô Lượng Thọ (trích Cao Tăng dị truyện, Truyện Vãng sanh của Thiên Thai Trí Giả Đai sư). Đến cuối đời, ngài Trí Khải dự báo với mọi người là sẽ được sanh vào hàng Ngũ phẩm, rồi an nhiên niệm Phật ra đi.
IV. Quá trình hình thành và phát triển Thiên Thai Giáo Quán Tông tại Việt Nam và tỉnh Long An
Thiên Giáo Giáo Quán Tông truyền sang Việt Nam chính thức vào năm 1928. Khởi nguồn của tông phái này tại Việt Nam là do Đại sư Nhiên Công Hiển Kỳ (1883-1936), tục danh Trần Quốc Lượng, người ở thôn Rạch Quau, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định, nay là tỉnh Long An. Ngài xuất thân từ đạo Minh Sư, sau đó phát tâm quy y Phật, giác ngộ Phật lý, lên đường xuất ngoại sang Trung Quốc (1922), cầu pháp với Đại sư Đế Nhàn tại Quán Tông Giảng tự (Triết Giang), được truyền thừa ý chỉ, trở thành Tổ nối truyền đời thứ 20 của tông Thiên Thai và được tôn là Sơ tổ ở Việt Nam.
Đầu thế kỷ 20, Đạo Minh Sư ở Long An phát triển khá mạnh nhưng thiên về hình thức tu tiên, khó thể xiển dương chánh pháp, hóa độ chúng sanh phát tâm Bồ-đề, hướng đến cứu cánh giải thoát. Vì thế sau khi chuyển đổi lộ trình tu học và đắc pháp, Tổ Hiển Kỳ đã gởi tâm thư về Việt Nam, khuyến khích các vị tu sĩ theo đạo Minh Sư sang Trung Quốc cầu học. Tổng cộng có 7 vị, chia làm 2 đợt:
Đợt 1 (1928) có 3 vị chính thức học đạo và được Tổ Hiển Kỳ đích thân thế phát, đặt pháp hiệu, mở Đại giới đàn, làm Hòa thượng đàn đầu truyền trao giới pháp: 1. Hoà thượng Tu Tất – Liễu Đàn (chùa Pháp Hoa, tỉnh Vĩnh Long); 2. Hoà thượng Tu Thành – Liễu Học (Phú Xuân, Nhà Bè); 3. Ni trưởng Tu Hảo – Liễu Tướng (Phú Xuân, Nhà Bè).
Đợt 2 (1933) có 4 vị sang Trung Quốc cầu giới pháp và được Tổ Hiển Kỳ làm Hòa thượng Đàn Đầu truyền giới: 1. Hoà thượng Tu Trì – Liễu Thiền (Chợ Trạm, Cần Đước); 2. Hòa thượng Tu Tịnh – Liễu Lạc (Đức Hòa, Long An); 3. Hòa thượng Tu Quán – Liễu Chứng (Cần Giuộc); 4. Hòa thượng Tu Nhiên – Liễu Tức (Cần Giuộc).
Từ đấy, Thiên Thai tông phát triển tại Việt Nam, khắp các miền đều lưu dấu, đặc biệt là miền Nam, đạo Bồ-đề rộng mở xứ Long An, một cây bảy nhánh lợi ích đời. Trong số đó, Hòa thượng Liễu Thiền (1885-1956) nối pháp tông Thiên Thai đời thứ 21 (quê quán xã Mỹ Lệ, Chợ Trạm, Cần Đước), là vị Hòa thượng có nhiều cơ duyên độ chúng sanh, phát triển tông Thiên Thai mạnh mẽ tại xứ Cần Giuộc, Long An.
Về sau, hàng đệ tử của Hòa thượng Liễu Thiền xuất thân từ Thiên Thai Tông, cội nguồn Cần Giuộc đã đi khắp các vùng miền Nam, Trung, Bắc truyền đạo, khơi mạch nguồn Phật pháp ngày càng sâu rộng. Hiện tại, Phật giáo Long An có đến 40 ngôi tự viện thuộc Thiên Thai Giáo Quán Tông và có nhiều Chư Tôn đức Tăng Ni đóng góp tích cực trong sự nghiệp phụng sự cho Đạo pháp và Dân tộc.
V. Thiên Thai Giáo Quán, thành viên sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Khi “Bắc Nam sum họp một nhà”, “non sông liền một dải”, ước nguyện thống nhất Phật giáo nhằm gắn kết với nhau thành khối đoàn kết chặt chẽ trong khối đại đoàn kết dân tộc để chung lo Phật sự, thực hiện lý tưởng giác ngộ, giải thoát. Với tinh thần đoàn kết, hòa hợp, sự đồng thuận của Đảng, Nhà nước, Phật giáo Việt Nam đã thống nhất 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo:
1. Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất
3. Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
4. Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam
5. Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh
6. Giáo hội Thiên thai giáo Quán Tông
7. Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam
8. Hội đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ
9. Hội Phật học Nam Việt.
Trở thành một tổ chức duy nhất là Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội.
Đoàn Đại biểu Thiên Thai Giáo Quán Tông do Thượng tọa Thích Đạt Pháp làm trưởng đoàn, Thượng tọa Thích Huệ Hiền, Phó đoàn; Đại đức Thích Huệ Văn, Thư ký đoàn; Hòa thượng Thích Tắc Châu, Đại đức Thích Tắc Trụ, đồng uỷ viên. Phát biểu tham luận tại Hội nghị thống nhất Phật giáo, Thượng tọa Thích Đạt Pháp nhấn mạnh: “Đất nước đã được thống nhất, vận hội tốt lành cho Phật giáo Việt Nam, thống nhất ý chí, thống nhất hành động, vừa để đóng góp tốt đẹp hơn nữa cho sứ mạng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, vừa để phát huy Đạo pháp sáng chói hơn nữa cho Tăng Ni Phật tử…”, “Hệ phái Thiên Thai Giáo Quán Tông, hiểu được chủ trương đường lối thống nhất Phật giáo cả nước kỳ này là cùng đi với dân tộc đến mục đích lý tưởng chung, nên chúng tôi hết sức tán thành, đồng tình và nhất trí việc thống nhất Phật giáo cả nước, sẵn sàng thực hiện các Nghị quyết của hội nghị…”
Tại hội nghị, danh tăng Thiên Thai Giáo Quán tông được thỉnh cử vào thành phần Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam là Hòa thượng Thích Đạt Hảo (Viện chủ chùa Pháp Quang, quận 8, Tp. HCM), Thượng tọa Thích Đạt Pháp (Trụ trì chùa Bồ Đề, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An) được suy cử vào thành phần Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
VI. Danh tăng Phật giáo Long An thuộc Thiên Thai Giáo Quán
1. Hòa thượng Thích Liễu Thiền (1885-1956)
Hòa thượng pháp hiệu Tu Trì, thuộc tông Thiên Thai Giáo Quán đời thứ 21, sinh năm 1885 tại làng Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Hòa thượng xuất thân trong gia đình theo đạo Minh sư, rất mực nhân nghĩa, đạo đức. Bản tánh vốn thông minh, siêng năng cho nên năm lên 11 tuổi, ngài đã học thông các bộ kinh như Tứ Thư, Ngũ Kinh… của Nho giáo. Tuy thông minh, học giỏi nhưng ngài lúc nào cũng khiêm cung, lễ độ, kính trên, nhường dưới, hài hòa với mọi người, hết lòng hiếu thảo với cha mẹ.
Năm 1904, sau trận bão kinh hoàng, gây đau thương tang tóc khắp nơi, ngài giác ngộ vô thường, kiếp nhân sinh tạm bờ nên đến chùa Vĩnh Nguyên (đạo Minh sư) xuất gia với ông Lão Tiễn. Sau một thời gian được Thầy hướng dẫn tu tập, ngài được điểm đạo và tôn xưng lên ngôi vị ông Lão.
Tháng Giêng năm 1933 (Quý Dậu), Ngài cùng với bảy người trong đạo Minh Sư sang Trung Quốc cầu học và lãnh thọ giới pháp với tổ Hiển Kỳ tại tổ đình Thanh Sơn và được ban pháp hiệu Liễu Thiền, nối dòng Thiên Thai Giáo Quán đời thứ 21. Sau khi trở về nước, Ngài chuyển phương pháp tu tập từ đạo Minh Sư sang Phật giáo, lấy kinh Pháp Hoa làm căn bản, mượn pháp Tam Quán làm phương tiện tu tập.
Tháng Tư năm 1933, nhận lời thỉnh cầu của ông Cả Tiệm, Ngài về trụ trì chùa Tôn Thạnh (xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An) do tổ Viên Ngộ sáng lập năm 1807. Ngài cho trùng tu lại chùa Tôn Thạnh. Năm 1934, Ngài mở đại trai đàn cầu quốc thới dân an, siêu độ cho thập loại cô hồn và cũng trong năm này, Ngài mở Đại giới đàn, cung thỉnh Giới sư, truyền thọ giới pháp cho hơn 300 Tăng Ni, Phật tử. Đây là giới đàn trang nghiêm long trọng nhất tại Long An từ trước đến nay. Ngài còn mở nhiều khóa an cư kiết hạ tại chùa Tôn Thạnh.
Mến mộ giới đức tu hành của ngài, nơi nào khai Hương, mở Hạ đều cung thỉnh ngài Chứng minh hoặc làm Thiền chủ. Đàn giới nào cũng thỉnh ngài ở ngôi vị Tam sư để truyền trao giới pháp cho đàn hậu tấn.
Khi phong trào chấn hưng Phật giáo phát động mạnh ở miền Nam, các Trường Phật học liên tiếp ra đời, ngài luôn được cung thỉnh Chứng minh đạo sư các Trường: Liên Hải Phật Học Đường, Hội Phật Học Nam Việt, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Việt Nam, Phật Học Đường Nam Việt.
Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Hòa thượng Thích Thiện Hòa hằng năm đều về tịnh tu một thời gian, hoặc để tham vấn kinh, luật và trợ giúp Phật sự với ngài.
Năm 1950, Ngài trùng tu lại ngôi chùa khai tâm đầu tiên Vĩnh Nguyên Tự. Năm 1955, khởi công kiến tạo chùa Bồ Đề (huyện Cần Giuộc).
Suốt đời Hòa thượng tận tụy hoằng pháp độ sanh, xiển dương tông phong, tiếp Tăng độ chúng. Trong đó có nhiều vị đệ tử trở thành rường cột của Phật giáo như Hòa thượng Thích Đạt Hương (chùa Linh Phong, Tiền Giang), Hòa thượng Thích Đạt Pháp (chùa Bồ Đề, Long An), Hòa thượng Thích Đạt Đồng (chùa Tôn Thạnh, Long An). Về Ni giới, có Ni trưởng Thích nữ Đạt Lý (chùa Long Nhiễu, Tp.HCM), Ni trưởng Thích nữ Đạt Cung (chùa Pháp Tánh, Long An), Ni trưởng Thích nữ Đạt Thuận (chùa Linh Sơn, Tp.HCM).
Ngày 21 tháng 4 năm Bính Thân (1956), hóa duyên đã mãn, ngài an nhiên thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi, 23 hạ lạp. Nhục thân của ngài được nhập tháp tại tổ đình Bồ Đề (huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).
Năm 1999, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Long An thỉnh tôn hiệu của ngài định danh cho Đại giới đàn và được tổ chức tại chùa Tôn Thạnh.
2. Hòa thượng Thích Đạt Pháp (1922-2014)
Hòa Thượng Thích Đạt Pháp, thế danh là Võ Văn Thượng, sinh năm Quí Hợi (1922) tại xã Thuận Thành, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, trong gia đình có truyền thống nhiều đời kính tin Tam Bảo. Ngài xuất gia với Hòa thượng Liễu Thiền, trụ trì Chùa Tôn Thạnh, được ban pháp danh là Tánh Vân, pháp hiệu là Đạt Pháp. Sau khi xuất gia, Ngài được Hòa thượng Bổn Sư ân cần dạy dỗ, sau đó lần lượt tham dự Phật học đường Lục Hòa Tăng tại chùa Thiên Phước (quận 1, Tp.HCM), lớp Giáo lý tại chùa Ấn Quang, khóa Như Lai sứ giả, và thông thạo tiếng Hoa, tiếng Anh.
Giữa năm 1957, tròn 35 tuổi, ngài cùng Ban Quản Trị Hội Phật Học Nam Việt xây dựng chùa Xá Lợi (quận 3, Tp.HCM) và là vị trụ trì chùa Xá Lợi đầu tiên từ năm 1957 đến 1967, kiêm cố vấn giáo hạnh Gia đình Phật tử Chánh Đạo do cư sĩ Tống Hồ Cầm làm huynh trưởng. Tại đây, Ngài thường xuyên cùng chư tôn đức tiếp các phái đoàn Phật giáo quốc tế sang thăm Việt Nam. Nhất là, ngài trực tiếp đưa đón Đại đức Narada cùng phái đoàn Phật giáo Tích Lan đến thăm Việt Nam.
Năm 1967, ngài được Hội Phật Học Nam Việt ủng hộ đã xuất dương du học tại các nước Thái Lan, Ấn Độ, Tích Lan. Ngài học thêm cổ ngữ Sanskrit và Pali. Nhờ vậy, kiến thức về nội điển Ngài càng thêm uyên bác. Cuối năm 1970, Ngài trở về Việt Nam.
Năm 1971, ngài là thành viên Ban sáng lập Giáo Hội Phật giáo Thiên Thai Giáo quán, giữ chức vụ Trị sự phó Kiêm trưởng Ban Hoằng Pháp và ủy viên Tăng sự. Văn phòng đặt tại chùa Pháp Hội (Quận 10, Tp.HCM). Ngài được mời giảng dạy giáo lý và Anh văn, Hoa văn cho rất nhiều Tăng Ni, Phật tử xa gần về tham học.
Năm 1971-1972, Ngài trụ trì chùa Thiên Ân, huyện Phú giáo, tỉnh Bình Dương.
Năm 1974, Ngài được Chư Tôn đức trong Thiên Thai Giáo Quán Tông mời về trụ trì Tổ đình Bồ Đề cho đến ngày viên tịch.
Khi đất nước hòa bình, độc lập, ngài nhận lời mời của Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ, tham gia nhập Ban Vận động thống nhất Phật giáo toàn quốc.
Tháng 11 năm 1981, với cương vị là Tông trưởng Thiên Thai Giáo Quán Tông, Ngài làm trưởng đoàn tham dự Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội. Ngài đại diện Thiên Thai Giáo Quán Tông ký vào văn kiện thống nhất Phật giáo, thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam và được suy cử vào thành phần Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Năm 1983, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Long An được thành lập, Ngài là Phó Ban Trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp tỉnh. Từ nhiệm kỳ III đến nhiệm kỳ V, Hòa thượng được thỉnh cử Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Long An và là thành viên Mặt Trận Tổ quốc tỉnh Long An.
Năm 2002, Hòa thượng được thỉnh cử vào Hội đồng Chứng minh GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Long An cho đến ngày viên tịch, và ngài còn được cung thỉnh vào hàng Tam sư cho nhiều Đại giới đàn trong và ngoài tỉnh.
Suốt 70 năm xuất gia tu học, hành đạo, Ngài đã dành trọn đời mình phụng sự cho Đạo Pháp – Dân Tộc.
Duyên hóa độ viên mãn, vì niên cao lạp trưởng, ngài đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 17 giờ ngày 26/7/Giáp Ngọ (21/8/2014), trụ thế 92 năm, hạ lạp 62 năm. Nhục thân của ngài được nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Bồ Đề, huyện Cần Giuộc.
3. Hòa thượng Thích Đạt Đồng (1923-2015)
Hòa thượng húy Tánh Đại, hiệu Đạt Đồng, thế danh Nguyễn Văn Hay, sinh năm Quý Hợi (1923), tại xã Mỹ Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ngài là đệ tử nối pháp của Hòa thượng Liễu Thiền (1885-1956), thuộc đời thứ 22 tông Thiên Thai Giáo Quán và cũng là pháp đệ của Hòa thượng Thích Đạt Pháp.
Từ năm 1953-1957, Hòa thượng theo học các khóa học tại Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang, khóa Như Lai Sứ Giả, tại chùa Pháp Hội (Quận 10, Tp.HCM). Mùa đông năm này, Hòa thượng nhận nhiệm vụ Trụ trì ở Phân hội Phật học tỉnh Sóc Trăng.
Sau khi tốt nghiệp khóa Như Lai Sứ Giả, Hòa thượng được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt bổ nhiệm làm Trụ trì tổ đình Tôn Thạnh (Mậu Ngọ – 1958).
Năm 1971, tại Đại hội Khoáng đại Phật giáo Việt Nam Thiên Thai Giáo Quán Tông nhiệm kỳ I, tổ chức tại chùa Pháp Hội, quận 10, Chợ Lớn, Hòa thượng được Đại hội suy cử đảm nhiệm chức vụ Ủy viên Thủ quỹ (1971-1982).
Từ năm 1996-2015, Hòa thượng luôn được suy cử chức vụ Thiền chủ trường hạ Tổ đình Kim Cang, do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An tổ chức.
Năm 1997, Hòa thượng đảm nhiệm chức vụ Phó ban Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự Tỉnh hội Phật giáo Long An nhiệm kỳ V (1997-2002).
Năm 2002, Hòa thượng được suy tôn lên ngôi vị Cố vấn Chứng minh Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An. Mùa Đông năm này, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, Hòa thượng được Đại hội suy cử vào Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 2012, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc lần thứ VII, Hòa thượng được Đại hội suy tôn lên ngôi vị Ủy viên Ban thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Giới đức trang nghiêm,Tòng lâm mô phạm, Hòa thượng được Giáo hội, Đàn chủ các Đại giới đàn cung thỉnh vào hàng Tam sư, Thất chứng nhiều giới đàn trong và ngoài tỉnh.
Hóa duyên ký tất, hạnh mãn Ta-bà, do niên cao lạp trưởng, Hòa thượng an nhiên thâu thần viên tịch vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 23 tháng 10 năm 2015 (nhằm ngày 11 tháng 9 năm Ất Mùi); trụ thế 93 năm, 63 mùa hạ lạp.
Phật giáo Long An kính ghi công đức vô lượng của Hòa thượng. Trân trọng kính thỉnh Tôn danh kiến lập Đại Giới Đàn Đạt Đồng PL.2564 – DL.2020 tại tổ đình Tôn Thạnh.
Hòa thượng còn có ba vị đệ tử là Hòa thượng Thích Tắc Ngộ (1953-2015), Thượng tọa Thích Tắc Tựu (1953-2006) và Hòa thượng Thích Tắc Phi đã và đang tích cực xiển dương tông Thiên Thai Giáo Quán và góp phần phát triển Phật giáo tỉnh nhà.
VII. Tóm kết:
Thiên Thai Giáo Quán Tông được hình thành và phát triển tại Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ VI. Năm 1928, tông này được truyền vào Việt Nam và năm 1933, Hòa thượng Thích Liễu Thiền truyền bá và xiển dương Thiên Thai Giáo Quán Tông tại huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Từ khi hình thành và phát triển tại Việt Nam nói chung, tỉnh Long An nói riêng, Thiên Thai Giáo Quán Tông đã góp phần phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cũng là một trong chín thành viên sáng lập Giáo hội. Hiện nay, Tông này đã phát triển ở nhiều tỉnh thành, như Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bình Dương, các tỉnh miền Trung và miền Bắc…
Tài liệu tham khảo:
1. Phật Tổ Thống ký, Tàng thư Phật học.
2. Đuốc Tuệ (1939), Phật Tổ Tâm Đăng, số 118-119-120.
3. Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang (2012), Phật Tổ Đạo Ảnh, quyển 2, Nxb. Hồng Đức.
4. Cao Tăng Dị truyện, Truyện Vãng sanh của Thiên Thai Trí Giả Đại sư.
5. Thích Đồng Bổn (chủ biên), (1995), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, Tập 1, Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành.
6. Tài liệu Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo năm 1981.
7. Tiểu sử Hòa thượng Thích Đạt Pháp, Hòa thượng Thích Đạt Đồng do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Long An biên soạn.