Tâm Kinh Tụng giảng giải

Thị Cố Không Trung



tổ tụng:

Bồ-đề không ở ngoài,

Cũng chẳng ở trung gian,

Chẳng tướng chẳng chẳng tướng,

Lượng xét mất cơ quan.

Thế giới chẳng thế giới,

Tam thân chiếu tứ thiên,

Xưa nay không chướng ngại,

Chỗ nào có ngăn che.

Giảng:

“Bồ-đề không ở ngoài,

Cũng chẳng ở trung gian.”

“Thị cố không trung” – nghĩa là thế nên ở trong pháp không này. Tuy nhiên, khi nói đến chữ “trung” (ở giữa, ở trong), Tổ sợ chúng ta sẽ lầm tưởng rồi chấp vào “trong”, “ngoài”, hay một khoảng giữa nào đó. Vì vậy, Tổ phải lập tức phá ngay: Bồ-đề không ở ngoài, cũng chẳng ở trung gian.

Bồ-đề chính là tánh thanh tịnh của chính ta. Nếu ta đặt nó ở trong, ở ngoài hay ở khoảng giữa, thì đâu còn gọi là trùm khắp? Đã trùm khắp thì làm gì có trong, có ngoài hay có giữa? Nó cũng như hư không vậy, bao la vô tận, không có chỗ nơi. Vì vậy, chúng ta chớ nên vì nghe chữ “trung” trong câu kinh mà khởi tâm chấp thủ. Chúng ta phải nhớ, tánh thanh tịnh ấy vốn không có chỗ trụ, không có trong ngoài, không có trung gian, chỉ cần chúng ta buông bỏ mọi sự chấp trước về vị trí, chúng ta sẽ nhận ra cái tánh thanh tịnh trùm khắp của chính mình.

“Chẳng tướng chẳng chẳng tướng,

Lượng xét mất cơ quan.”

Ta phải nhớ kỹ điều này: tánh thanh tịnh của mình vốn vượt ngoài hai bên đối đãi. Nếu nói nó “chẳng phải tướng”, thì sao nó lại biết tướng? Nếu nói nó “là tướng”, thì nó lại trở thành cố định, bị đối đãi triệt tiêu. Chúng ta thấy pháp có hình tướng đều là pháp đối đãi; nếu là tướng nữ thì không thể là tướng nam, tướng nam thì không thể là tướng nữ. Mà nếu rơi vào đối đãi, thì làm sao có thể trùm khắp? Cho nên, nó phải là “chẳng phải tướng”. Nhưng, nếu nói “không phải là tướng”, thì làm sao nó nhận biết được tướng? Thế nên Tổ mới nói: “Chẳng tướng mà cũng chẳng phải không tướng”. Nó không là tâm mình, nhưng do tâm mình sanh ra, nên nói là “chẳng phải” cũng đúng, mà nói “chẳng phải không phải” cũng chẳng sai.

Để dễ hiểu, hãy so sánh tâm với điện. Tâm mình giống như điện, có năng lượng, có công năng, nhưng nếu không có vật dụng (tướng) thì điện ấy cũng vô dụng. Điện qua quạt mà tạo gió, qua tủ lạnh mà tạo nhiệt lạnh v.v… Tướng tuy khác nhau, nhưng công năng điện bên trong là một. Tâm ta cũng thế, tạo ra muôn hình vạn trạng các pháp tướng để phục vụ sự hiển dụng của chính mình. Những chúng sanh khác cũng tạo ra các pháp tướng khác, rồi cùng đối đãi với nhau. Tướng thì khác, nhưng người sanh tướng, kẻ biết tướng thì không khác. Đó là chỗ ta và chúng sanh bình đẳng.

“Lượng xét mất cơ quan” nghĩa là khi tâm chúng ta bắt đầu phân biệt, tính toán – ấy là lúc chúng ta đánh mất cái chỗ thanh tịnh của mình. Khi chúng ta lo phân tích sự khác biệt giữa cái quạt, cái đèn, cái tủ lạnh v.v… mà quên mất công năng điện giống nhau bên trong, thì chính là lúc chúng ta đánh mất cái “chủ nhân ông”. Chúng ta hãy nhìn xem: nếu cúp điện, mọi vật dụng kia chỉ là đống vật vô tình nằm im. Nếu không có cái “tôi” bên trong, thì thế giới này cũng chỉ là vật vô tri.

Chúng ta phải biết rõ: Pháp thân thanh tịnh, Báo thân viên mãn, Ứng hóa thân vô lượng. Hóa thân ngàn muôn ức đều không ngoài Pháp thân này. Nếu chúng ta cứ lo chạy theo ứng hóa thân mà quên đi cái gốc Pháp thân thanh tịnh, thì chỉ chuốc lấy khổ não. Phải biết cái nào là hóa, cái nào là báo, cái nào là pháp, đó mới là người làm chủ. Nếu còn phân biệt, chạy theo sắc tướng, thì chính là “lượng xét mất cơ quan”, đánh mất đi nguồn năng lượng chân thật của chính mình.

“Thế giới chẳng thế giới,

Tam thân chiếu tứ thiên.”

“Thế giới” bao hàm cả thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai) và không gian (vũ trụ mênh mông), là tổng thể của mọi pháp hiện hữu. Nhưng tại sao Tổ nói “thế giới chẳng thế giới”? Vì đó chỉ là pháp nhân duyên hòa hợp, vốn không có thực thể. Thế nhưng, chúng ta chớ hiểu lầm mà cho rằng không cần thế giới. Thế giới vẫn có, nhưng đó là thế giới ở trong hư không. Nếu không có thế giới, chỉ còn hư không vắng lặng thì buồn chán lắm! Chính nhờ sự biến dịch, thành hoại, vui buồn, thiện ác v.v… mà thế giới này mới sinh động, hấp dẫn như một bộ phim hay. Nếu thế giới chỉ có một màu, con người sẽ rơi vào trầm uất, chán chường.

Chúng ta hãy nhìn cuộc đời như đang xem một vở diễn. Khi xem phim, ta thưởng thức cái vui, cái buồn của nhân vật nhưng bản thân ta đâu có bị đau khổ theo. Tu hành cũng vậy, khi chúng ta thấu rõ mọi pháp thế gian chỉ là hiện tướng, là sự diễn tuồng của nhân duyên, chúng ta sẽ không còn bám víu vào sự biến dịch đó để khởi tâm vui buồn, sợ hãi.

“Tam thân chiếu tứ thiên” nghĩa là gì? Đó là nhờ Pháp thân thanh tịnh, Báo thân viên mãn và Ứng hóa thân vô lượng mà ta nhận biết, soi chiếu khắp bốn phương tám hướng (tứ thiên). Đừng bao giờ nghĩ rằng khi nhập Niết-bàn là ta mất đi, là ta chết. Niết-bàn chính là trở về với tự tánh thanh tịnh, nơi đó Tam thân luôn đầy đủ. Người chưa đạt đạo mới lo sợ sự biến dịch, còn bậc đã giác ngộ thì tự tại giữa thế gian. Họ có thể ứng hóa thân vào bất cứ đâu để giáo hóa chúng sanh, mà không hề bị nghiệp dẫn như kẻ phàm phu phải trôi nổi trong sáu đường.

Khi chúng ta đã nhận ra cái thật bên trong, chúng ta sẽ thấy thế giới này thật vi diệu. Đó không phải là sự tuyệt vọng của vòng lẩn quẩn, mà là sự tự tại của người làm chủ. Hãy như người xem phim, tay cầm bịch đậu phộng, tâm hồn thong dong, thưởng thức vở kịch cuộc đời mà không hề bị vở kịch ấy làm cho bận lòng, đau khổ. Đó mới là ý nghĩa của việc “Tam thân chiếu tứ thiên”.

“Xưa nay không chướng ngại,

Chỗ nào có ngăn che.”

Tâm thanh tịnh của chính mình vốn xưa nay chưa từng bị chướng ngại, thì làm sao có ai hay vật gì ngăn che được? Cho dù chúng ta có bị bịt mắt, bịt tai, trói tay chân, thì cái “tánh biết” bên trong vẫn sáng tỏ, vẫn đang thở, đang suy nghĩ và nhận biết rõ ràng. Người ta chỉ có thể trói buộc cái thân tứ đại bên ngoài, chứ làm sao trói buộc được cái dụng chiếu soi của tâm?

Có một vị thiền sư nhập định rồi xuất thần thức đi chơi, đến khi trở về thấy đệ tử đã thiêu mất xác thân sắc uẩn. Ngài đã dùng lực của thần thức để hiện tiếng đòi thân, khiến cả chùa sợ hãi. Nhưng cuối cùng, chính nhờ việc không tìm thấy xác thân trong các vật dụng hữu hình mà ngài bừng tỉnh, nhận ra rằng: xác thân vốn không phải là mình, mà là cái thể tự tại có thể ra vào nước, lửa, đất, hư không v.v… mới chính là mình. Khi cái xác thân sắc uẩn hư hoại, ngài vẫn còn đó, tự tại giữa cõi đời.

Việc làm chủ cái tâm thanh tịnh cũng giống như thế. Đừng chấp vào cái thân ngũ uẩn hữu hạn này. Nếu chúng ta chấp nó là mình, chúng ta sẽ mãi là kẻ nô lệ cho nhân quả, trôi nổi trong ba cõi. Còn nếu nhận ra chân tâm, chúng ta sẽ thấy mình như vị diễn viên, dù đóng vai vui, vai buồn, vai hiền, vai ác v.v…, trong tâm vẫn luôn bất động, thong dong tự tại.

Sở dĩ chúng ta thấy bị “ngăn che” là do chúng ta tự làm chướng ngại mình, do bám víu vào các pháp bên ngoài. Người ta chỉ không sân khi mọi việc thuận ý, nhưng khi nghịch cảnh ập đến thì sân hận nổi lên ngay. Đó là vì chưa thật sự làm chủ. Trâu ở trong núi đủ cỏ thì hiền, nhưng ra ngoài không đủ cỏ là chạy Đông chạy Tây. Tu hành cũng vậy, phải đối diện với gió bụi cuộc đời mà tâm không động, không bám víu vào các pháp là thật, lúc đó mới là chân giải thoát.

Hãy thấu suốt rằng: các pháp hiện hữu chỉ như trăng trong nước, như gió bên tai. Tâm thanh tịnh của chúng ta vốn xưa nay không ngăn che, không chướng ngại. Đừng lo chạy theo ứng hóa thân mà quên đi cái gốc Pháp thân thanh tịnh, viên mãn. Khi thấu được điều này, mọi cảnh giới dù khổ đau cũng chỉ là vở kịch để chúng ta “du hí” tự tại.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.