Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

22. Tổ Ma-Noa-La (Đầu thế kỷ thứ IX sau Phật Niết-bàn)



(Manorhita)

Ngài dòng Sát-đế-lợi ở nước Na-đề, cha là Thường Tự Tại vua nước này. Ngài là con thứ của vua, khi sanh ra có nhiều điềm lạ, nên vua không dám lấy việc thế tục ràng buộc. Khi gặp tổ Bà-tu- bàn-đầu, ngài được ba mươi tuổi, vua cha cho phép xuất gia theo Tổ. Sau ngài được Tổ truyền tâm pháp. 

Ngài sang Tây Ấn giáo hóa. Vua nước này họ Cù-đàm tên Đắc Độ hằng sùng Phật pháp tinh tấn tu hành. Bảy năm hành đạo ở trong cung, một hôm bỗng hiện một bảo tháp xanh huyền, bề cao một thước tư, ngay chỗ vua tu hành. Vua đích thân lại bưng lên để thờ, nhưng bưng không nổi, lính hộ vệ hợp lực nhắc lên cũng không lay chuyển. Sau cùng vua phải mở đại hội triệu tập tất cả lực sĩ, tăng sĩ, Phạm chí, chú thuật… để hỏi nguyên nhân bảo tháp xuất hiện và dời lên thờ. Trong cuộc hội này, ngài cũng đến dự. 

Trước tiên những lực sĩ ra sức nhắc tháp lên không lay động. Kế các nhà chú thuật dùng thần chú cũng bất lực. Sau cùng ngài Ma-noa-la bước ra giải thích: 

– Tháp này do vua A-dục tạo ra để thờ xá lợi của Phật. Bốn mặt đều có chạm hình tiền thân Phật Thích-ca khi còn làm hạnh Bồ-tát. Ngày nay do Đại vương có duyên phước lớn nên tháp này mới hiện. 

Nói xong, ngài lại nhắc bảo tháp để trên bàn thờ. Vua và toàn chúng hết lòng kính phục. 

Vua thưa: 

– Xin Tôn giả dạy cho chúng tôi những Phật pháp gì cần học? 

Ngài bảo: 

 Muốn học Phật pháp phải bỏ ba vật và đủ bảy việc. 

Vua thưa: 

– Ba vật gì phải bỏ và đủ bảy việc gì? 

Ngài đáp: 

– Tham, sân, si là ba vật phải bỏ. Đủ bảy việc là: 1- Đại từ, 2- Hoan hỷ, 3- Vô ngã, 4- Dõng mãnh, 5- Nhiêu ích, 6- Hàng ma, 7- Vô chứng. 

Vua Đắc Độ nghe xong cảm ngộ, rất tiếc mình được hiểu quá muộn. Tự than: “Bậc chí thánh khó gặp, sự vui trong đời có gì lâu dài!” 

Vua cho đòi Thái tử đến giao hết việc nước, xin theo ngài xuất gia học đạo. Ngài triệu tập các vị thánh chúng đến hoàng cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho vua. 

Xuất gia tu không bao lâu, vua Đắc Độ chứng được quả thánh. Ngài dạy Đắc Độ ở lại trong nước giáo hóa, còn ngài sang nước Nguyệt Chi tìm người kế truyền. 

Tổ thứ hai mươi hai là Ma-noa-la, vị Tổ này có công lớn trong việc giáo hóa nhà vua và sau đó nhiếp thâu được một vị là Hạc-lặc-na ở một xứ khác.

Ngài dòng Sát-đế-lợi ở nước Na-đề, con thứ của vua Thường Tự Tại, khi sanh ra có nhiều điềm lạ nên vua không dám lấy việc thế tục để ràng buộc. Khi gặp tổ Bà-tu-bàn-đầu, ngài được ba mươi tuổi, vua cha cho phép xuất gia theo Tổ. Sau đó được Tổ truyền tâm ấn.

Sau khi đắc pháp, ngài sang Tây An giáo hóa. Vua nước này sùng mộ Phật pháp tinh tấn tu hành. Một hôm bỗng hiện một bảo tháp màu xanh huyền, bề cao một thước tư, ngay chỗ vua tu hành. Vua đích thân bưng lên để thờ, nhưng không nổi, lính hộ vệ hợp lực nhắc lên cũng không lay chuyển. Sau cùng vua phải mở đại hội triệu tập tất cả lực sĩ, tăng sĩ, Phạm chí, chú thuật… để hỏi nguyên nhân. Ngài cũng đến dự hội này.

Những lực sĩ, nhà chú thuật dùng thần chú ra sức nhấc tháp lên cũng không lay động. Sau cùng ngài bước ra giải thích và nhấc bảo tháp lên để nhà vua thờ, làm mọi người đều kính phục. Điều này chúng ta thấy có vẻ huyền bí, nhưng không có gì phải học. Điều đáng học là câu hỏi của nhà vua: Xin Tôn giả dạy cho chúng tôi Phật pháp gì cần học? Ngài bảo: Muốn học Phật pháp phải bỏ ba vật và đủ bảy việc. Điều này mới nghe qua đơn giản nhưng đạo lý rất thâm sâu. Bỏ ba vật là tham sân si. Người nào muốn học Phật pháp trước hết phải bỏ ba vật đó thì học Phật pháp mới được.

Chúng ta đang học Phật pháp mà bỏ tham sân si chưa? Nếu còn chứa nó trong lòng thì học Phật pháp bị chướng ngại. Vậy mà có nhiều người chưa chịu bỏ. Kế đến phải đủ bảy việc:

1- Lòng đại từ: Là thương xót tất cả chúng sanh. Đại từ là do dứt tâm sân giận nên có tâm thương tất cả chúng sanh. Người tu bỏ được tâm sân thì phát triển tâm đại từ.

2- Hoan hỷ: Hoan hỷ là do dứt tâm tật đố. Khi bớt được tâm sân, nhưng tâm tật đố chưa chắc bớt được. Như khi nghe người khác được điều may mắn thì lòng mình không vui, vì phần nhiều là thích mình được hoặc những người thân của mình được, chứ không thích người khác được. Nhất là kẻ thù mình mà được thì tức tối khó chịu vô cùng. Người có tâm hoan hỷ thì không cho phép mình sống như thế, vì nếu còn tâm tật đố thì không có tâm hoan hỷ. Cho nên đối với bất cứ người nào họ được điều may mắn tốt đẹp, thì chúng ta đều vui vẻ như mình được, đó gọi là tâm hoan hỷ. Như vậy phải tu khá lắm mới có tâm hoan hỷ.

3- Vô ngã: Thấy thân này không thật, không chủ tể do duyên hợp tạm có, đủ duyên thì thành thân, thiếu duyên thì tan hoại. Người tu phải phá được ngã chấp thì mới phá được si mê. Mỗi đêm chúng ta tụng kinh Bát-nhã có câu Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, soi thấy năm uẩn đều không thật, không thật tức là vô ngã, luôn luôn thấy được như vậy.

4- Dõng mãnh: Là luôn luôn tinh tấn không lui sụt. Bởi vì chúng ta thương thân mình nhiều lắm, nên nghe tụng kinh ngồi thiền cũng muốn tu, nhưng bữa nào khỏe thì tụng kinh ngồi thiền, bữa nào hơi mệt thì nghỉ, vì thương mình sợ nó đau nên lo bảo vệ. Thế gian thường nói cưng như trứng hứng như hoa. Nghĩa là những cái mỏng manh tạm bợ thì phải cẩn thận tối đa để gìn giữ. Nhưng gìn giữ cho đáo để rồi bảy tám chục năm nó cũng hoại. Do vậy người tu lúc nào cũng phải dõng mãnh tinh tấn, dù thân có mệt nhọc cũng không quan trọng, chỉ làm sao đạt được đạo mới là trên hết.

5- Nhiêu ích: Luôn luôn nghĩ tới làm lợi ích cho mọi người, đó là điều quan trọng.

6- Hàng ma: Hàng ma không phải học bùa học chú để trị ma, mà phải dẹp sạch tất cả vọng tưởng điên đảo phiền não trong lòng mình. Đó là ma tham ma sân ma si, người tu phải hàng phục cho được mấy con ma này. Hàng ma đây là điều phục những con ma từ trong nội tâm dấy khởi, chúng ta chịu khó ngồi lại sẽ thấy.

7- Vô chứng: Là không có năng chứng sở chứng. Người tu phải nhận ra cái chân thật sẵn có ở nơi mình. Vì si mê chúng ta chạy theo tâm hư vọng mà quên tâm chân thật nên mới làm chúng sanh, chìm đắm trong luân hồi sanh tử. Nếu nhớ lại nhận ra mình có tâm chân thật thì hết đi trong sanh tử. Cái sẵn có của mình, bây giờ nhớ lại sống với nó không phải do tu mới được, không phải từ đâu đến, cho nên gọi là vô chứng.

Tổ dạy người học Phật pháp phải đầy đủ bảy việc và bỏ ba vật như trên. Bây giờ chưa nói đầy đủ bảy việc, chỉ nói bỏ ba vật chúng ta đã bỏ được chưa? Bởi vì còn chứa ba vật tham sân si trong lòng nên nghe kinh học đạo không thấm mà bị dội ra. Cũng như cái bình chứa đầy nước thì đổ cái khác vô không được. Trong tâm mình còn chứa tham sân si nên không thể thấm nhuần đạo lý.

Biết rồi khi bắt đầu tu ráng buông xả tham sân si thì bảy việc kia khả dĩ mới có đủ. Nhà vua đã buông xả được ba vật trước, nên khi nghe nói tới bảy việc thì ngài liền tự than: Bậc chí thánh khó gặp, sự vui trong đời có gì lâu dài! Làm vua mà cảm thấy như vậy thì thật là hiếm có! Vua liền giao việc nước cho Thái tử rồi theo Tổ xuất gia học đạo.

Tổ triệu tập những vị thánh chúng đến hoàng cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho nhà vua. Xuất gia không bao lâu nhà vua đắc thánh quả. Tổ dạy vua ở lại trong nước để giáo hóa, còn ngài thì sang nước Nguyệt Chi tìm người kế thừa.

Ngài Ma-noa-la và tăng chúng đến nước Nguyệt Chi. Vua nước này là Bảo Ấn và Tỳ-kheo Hạc-lặc-na đồng đón tiếp, thỉnh về nội cung. 

 Hạc-lặc-na đem việc Long Tử hỏi trước: 

Thưa Tôn giả! Tôi có một đứa đệ tử tên Long Tử tuổi tuy còn nhỏ mà thông minh tuyệt vời. Tôi thường nhập định tìm nguyên nhân đời trước mà không thấy manh mối, hôm nay gặp đây xin Tôn giả chỉ dạy cho? 

Ngài hỏi: 

– Ông nhập định quán thấy được mấy kiếp? 

Hạc-lặc-na thưa: 

– Tôi chỉ thấy được ba đời. 

Ngài bảo: 

– Đệ tử của ông trong kiếp thứ năm đã sanh trong nhà Bà-la-môn giàu có tại nước Diệu Hỷ. Khi ấy, trong nước có ngôi chùa mới khánh thành đại hồng chung. Con ông Bà-la-môn này dùng gỗ chiên-đàn tiện cái chày giọng chuông cúng chùa. Nhờ chày này giúp cho người được nghe chuông thức tỉnh. Bởi quả báo ấy, nên nay nó sanh ra được thông minh. 

Hạc-lặc-na lại hỏi: 

– Riêng tôi không biết duyên gì mà cảm được bầy hạc thường theo, xin Tôn giả chỉ dạy? 

Ngài bảo: 

 Xưa ông trong kiếp thứ tư làm vị Tỳ-kheo đạo đức được đầy đủ, có đến năm trăm đệ tử. Mỗi khi Long cung thỉnh ông cúng dường, ông xét trong hàng đệ tử không có người nào đủ phước đức thọ Long cung cúng, nên ông chỉ đi một mình. Nhóm đệ tử bất mãn nói: “Thầy thường thuyết pháp nói, đối sự ăn uống bình đẳng, đối với pháp cũng bình đẳng, mà nay Thầy đi thọ trai một mình!” Sau Long Cung thỉnh, ông đều cho chúng đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống, nên sau khi tịch diệt, chúng ấy lần lượt chết sanh trong loài có cánh. Đã trải qua năm kiếp, nay họ lại làm thân hạc. Do nhân duyên thầy trò kiếp trước nên nay chúng cảm mến ông. 

Hạc-lặc-na cảm động, lại hỏi: 

– Nay phải tu pháp gì để giúp chúng trở lại làm người? 

Ngài bảo: 

 Ta có pháp bảo vô thượng, là kho tàng Như Lai, Thế Tôn xưa trao cho tổ Ca-diếp lần lượt đến ta, nay ta trao cho ông, ông nên truyền bá chớ nên để dứt mất. Nghe ta nói kệ: 

Tâm tùy vạn cảnh chuyển, 

Chuyển xứ thật năng u.

Tùy lưu nhận đắc tánh, 

Vô hỷ diệc vô ưu. 

Dịch: 

Tâm theo muôn cảnh chuyển,

Chỗ chuyển thật kín sâu. 

Theo dòng nhận được tánh, 

Không mừng cũng không lo. 

Hạc-lặc-na vui vẻ kính vâng phụng hành. 

Ngài truyền pháp xong, ngay chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch. Chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp phụng thờ. 

Tổ và tăng chúng đến nước Nguyệt Chi, vua Bảo Ấn và Tỳ-kheo Hạc-lặc-na cung kính đón tiếp và thỉnh ngài về nội cung. Trước hết Hạc-lặc-na đem việc Long Tử hỏi Tổ.

Tổ hỏi Hạc-lặc-na: Ông nhập định quán thấy được mấy kiếp? Hạc-lặc-na trả lời: Tôi chỉ thấy được ba đời. Hạc-lặc-na tu thiền đã được Túc mạng thông, nên biết được nhân đời trước, nhưng thiền định còn cạn, thành ra chỉ biết có ba đời. Còn Tổ có thể biết trước được nhiều kiếp, cho nên khi Hạc-lặc-na hỏi Tổ mới giải thích rành rẽ. Lúc nhập định, nếu tâm lặng càng sâu thì trí nhớ càng xa, những điều này người mới tu nghe không hiểu nổi. Chỉ khi nào chúng ta có công phu sâu mới tin được điều đó.

Ở đây chúng tôi dạy tu theo thiền Tổ sư là đi đứng nằm ngồi đều biết vọng tưởng không theo. Bao giờ trong bốn oai nghi vọng tưởng không còn dấy khởi, đó là đại định. Nhiều người không biết, ngồi tu lại mong có thần thông, mong biết quá khứ vị lai, nhưng vọng tưởng tràn trề làm sao biết được, càng mong càng vọng tưởng. Chúng ta tu không mong gì hết, chỉ sạch vọng tưởng thì tâm Phật hiện tiền khỏi tìm kiếm. Đó là một sự thật!

Tổ bảo: Đệ tử của ông trong kiếp thứ năm, sanh trong nhà Bà-la-môn giàu tại nước Diệu Hỷ. Trong nước ngôi chùa khánh thành đại hồng chung. Con ông Bà-la-môn này dùng gỗ chiên-đàn tiện chày giọng chuông cúng chùa, nhờ đó giúp cho nhiều người nghe chuông được thức tỉnh. Bởi phước báo ấy nên nay sanh ra được thông minh.

Cúng chùa cái chày giộng chuông đơn giản quá mà được quả báo thông minh. Trước hết chúng ta phải hiểu ý nghĩa chuông trống nhà chùa, nếu không thì thắc mắc khuya nào chùa cũng giộng chuông chi vậy? Bởi vì tiếng chuông là để cảnh tỉnh người khi đang mê ngủ, nghe chuông giật mình thức dậy. Nếu người ở ngoài làm ăn thì lo chuẩn bị làm ăn, người tu thức dậy chuẩn bị đi tụng kinh niệm Phật tọa thiền. Đó là nhờ tiếng chuông đánh thức được cơn mê để mình tỉnh táo tu hành.

Có câu: “Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách.” Nghĩa là buổi tối đánh trống buổi sáng đánh chuông, để cảnh tỉnh khách danh lợi đang chìm trong biển ái. Bởi vậy tiếng chuông có ý nghĩa cảnh tỉnh, không chỉ đánh thức người tỉnh cơn mê ngủ, mà còn đánh thức cho người nhớ lại cuộc đời đang chìm trong mê tối, phải tỉnh thức giác ngộ chứ đừng chìm nữa. Do tiếng chuông có hiệu nghiệm gieo nhân tỉnh thức, nên người cúng dường cái chày giọng chuông được quả báo trí tuệ thông minh.

Hạc-lặc-na lại hỏi: Riêng tôi không biết duyên gì mà cảm được bầy hạc thường theo, xin Tôn giả chỉ dạy? 

Tổ bảo: Xưa trong kiếp thứ tư ông làm vị Tỳkheo đạo đức đầy đủ, có đến năm trăm đệ tử. Mỗi khi Long cung thỉnh ông cúng dường, ông xét trong hàng đệ tử không có người nào đủ phước đức thọ Long cung cúng, nên chỉ đi một mình, không cho chúng đi theo. Nhóm đệ tử bất mãn nói: Thầy thường thuyết pháp đối sự ăn uống bình đẳng, đối với pháp cũng bình đẳng, mà nay Thầy đi thọ trai một mình!” Sau Long cung thỉnh, ông đều cho chúng đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống, nên sau khi tịch diệt, lần lượt sanh trong loài có cánh. Đã trải qua năm kiếp nay họ lại làm thân hạc. Do nhân duyên thầy trò kiếp trước nên nay chúng cảm mến ông.

Trong đoạn này có một điểm quan trọng. Mỗi khi Long cung thỉnh Hạc-lặc-na cúng dường, ngài xét trong hàng đệ tử không có người đủ phước đức thọ Long cung cúng nên chỉ đi một mình. Đó là vị thầy đã đạt đạo nên biết trình độ đệ tử tới đâu. Theo trong kinh nói những thức ăn dưới Long cung rất ngon, quý hơn ở trần gian nhiều. Bởi vậy người đạo đức kém gặp thì thích, nên ngài không cho đệ tử đi theo, nhưng đệ tử thì không biết, sanh lòng bất mãn. Đó là cái nhìn nông nổi! Cho nên lần sau Long cung thỉnh nữa ngài cho đệ tử đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống nên không được giải thoát. Sau khi chết lần lượt sanh trong loài có cánh trải qua năm kiếp, kiếp này làm thân hạc. Do nhân duyên thầy trò kiếp trước nên tìm đến và cảm mến ngài.

Bởi vậy nhiều khi trong chùa có những con vật cũng dính dáng đến chúng ta trong kiếp quá khứ.

Hạc-lặc-na cảm động, lại hỏi: Nay phải tu pháp gì để giúp chúng trở lại làm người?

Ngài bảo: Ta có pháp bảo thượng, là kho tàng Như Lai, Thế Tôn xưa trao cho tổ Ca-diếp lần lượt đến ta, nay ta trao cho ông, ông nên truyền bá chớ nên để dứt mất. Nghe ta nói kệ: 

Tâm theo muôn cảnh chuyển, 

Chỗ chuyển thật kín sâu.

Theo dòng nhận được tánh,

Không mừng cũng không lo.

Tâm theo muôn cảnh chuyển, chỗ chuyển thật là quá sâu kín, khó nhận ra được. Nếu theo dòng lưu chuyển nhận được bản tánh bất sanh bất diệt, thì không mừng cũng không lo. Nghĩa là ngay trong tâm thức sanh diệt mà nhận ra được bản tánh không sanh diệt, thì vượt ra ngoài sự đối đãi vui mừng buồn lo, đó gọi là giải thoát.

Hạc-lặc-na vui vẻ phụng hành.

Truyền pháp xong, Tổ ngồi lặng lẽ thị tịch. Chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.