Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

17.Tổ Tăng Già Nan Đề (Giữa thế kỷ thứ VII sau Phật Niết-bàn)



Sanghānandi

Ngài là hoàng tử con vua Bảo Trang Nghiêm ở thành Thất-la-phiệt. Ngài sanh chưa bao lâu đã biết nói, mà thường nói việc Phật pháp. Năm bảy tuổi, ngài chán thú vui ở đời, cầu xin xuất gia. Ngài nói kệ xin cha mẹ: 

Khể thủ đại từ phụ, 

Hòa-nam cốt huyết mẫu. 

Ngã kim dục xuất gia, 

Hạnh nguyện ai mẫn cố. 

Dịch: 

Cúi đầu lễ cha lành, 

Nép mình lạy mẹ hiền. 

Nay con muốn xuất gia, 

Xin thương xót nhận cho. 

Cha mẹ cố khuyên giải không cho. Ngài phải nhịn ăn nài nỉ cho kỳ được. Đối cùng cha mẹ thấy chí ngài quá mạnh không sao ngăn nổi, nên cho xuất gia với điều kiện ở một ngôi nhà riêng trong hoàng cung. Vua thỉnh Sa-môn Thiền-lợi-đa về dạy Phật pháp cho ngài. Từ đây ngài được pháp danh là Tăng-già-nan-đề. Ngài ở trong hoàng cung chín năm tu hành, mới được thọ giới Cụ túc. Một hôm, ngài tự cảnh tỉnh: Ta đã thọ giới Cụ túc mà còn ở trong nhà thế tục này sao? 

Ngài Nan-đề là một vị Bồ-tát sanh trong hoàng cung, là con vua, mới bảy tuổi đã phát tâm đi tu, xin cha mẹ bằng bài kệ lời lẽ rất dễ thương:

Cúi đầu lễ cha lành,

Nép mình lạy mẹ hiền.

Nay con muốn xuất gia,

Xin thương xót nhận cho.

Mới bảy tuổi xin xuất gia, cha mẹ cố khuyên và không cho. Ngài phải dùng chiêu tuyệt thực để phản đối đến khi nào cha mẹ cho mới thôi. Cha mẹ thấy không thắng được ý chí quá mạnh của ngài, đồng ý cho xuất gia với điều kiện là cất chỗ riêng cho ngài ở tu trong hoàng cung. Từ đó ngài được Sa-môn Thiền-lợi-đa dạy Phật pháp và có pháp danh là Tăng-già-nan-đề. Khi thọ giới Cụ túc rồi ngài tự cảnh tỉnh, Ta đã thọ giới Cụ túc mà còn ở trong nhà thế tục này sao?

Nhân lời cảnh tỉnh của ngài, tôi cảnh tỉnh tăng ni thêm một chút nữa. Bây giờ có lắm người thọ giới Cụ túc rồi, cũng kiếm nhà thế tục ở. Người thì ở cốc riêng, người thì ở nhà có phòng riêng v.v… như vậy hợp đạo lý chưa? Chỉ xuất gia có phân nửa là được cạo tóc, có hình thức người xuất gia, chứ chưa ra khỏi nhà thế tục. Nếu xuất gia mà ở tại nhà thì hình thức là người xuất gia, nhưng nơi ăn chốn ở chưa phải là chùa là tinh xá, như vậy chưa có vẹn toàn. Ngài được vua cha cất cho một cái nhà riêng ở trong hoàng cung mà ngài còn cảm thấy chưa hợp đạo lý, huống nữa một Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà ở trong nhà thế tục. Vậy mà vẫn cho là hợp đạo lý, thật đáng buồn thay!

Xuất gia nghĩa là ra khỏi nhà thế tục, ra khỏi nhà phiền não, ra khỏi nhà tam giới, người tu phải biết những điều đó. Chúng ta xuất gia điều đầu tiên là ra khỏi nhà thế tục mà ra không khỏi thì hai cái nhà kia chừng nào ra! Cho nên người tỉnh ngộ nếu ở trong một hoàn cảnh không hợp đạo lý thì phải nhanh chóng thoát ra. Như vậy mới có thể giác ngộ giải thoát.

Chợt một buổi chiều trời quang mây tạnh, ngài nhìn thấy một con đường bằng phẳng, ở xa đầu kia ló dạng ngọn núi xanh. Ngài liền cất bước nhắm hòn núi thẳng tiến. Đi đến dưới núi mà trời chưa tối, tự ngài tìm được thất đá rồi ngồi thiền nơi ấy. Năm ấy ngài hai mươi sáu tuổi. 

Sáng hôm sau, vua nghe mất Thái tử, cho người tìm kiếm khắp nơi không được. Bực mình, vua đuổi Sa-môn Thiền-lợi-đa ra khỏi thành. 

Ngài tu thiền ở đây ngót mười năm, mới có cơ duyên gặp tổ La-hầu-la-đa được truyền chánh pháp. Sau khi đắc pháp, ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi làm lợi lạc quần sanh. 

Một hôm, ngài bảo đồ chúng: 

– Thầy ta La-hầu-la-đa thường nói nước Ma-đề sẽ ra đời một vị thánh tên Già-da-xá-đa nối ta truyền pháp. Nay ta và các ngươi sang nước ấy tìm. 

Ngài liền dẫn đồ chúng du hóa nước Ma-đề. Đang đi trong nước ấy, bỗng có một luồng gió mát lành từ phương tây thổi đến làm mát khỏe toàn chúng. Ngài bảo chúng: 

 Đây là đạo đức phong, ba ngàn dặm về phía tây ắt gặp thánh nhân. 

Thầy trò đi đến một hòn núi nhìn lên đánh có áng mây năm sắc. Ngài bảo chúng: 

 Trên đỉnh núi có mây tía như cái lọng ắt là chỗ thánh nhân ở. 

Lên đến đỉnh, quả nhiên thấy một mái nhà tranh nằm bên cạnh núi. Một đứa bé cầm gương tròn, đến trước bái ngài. Ngài hỏi: 

– Ngươi bao nhiêu tuổi? 

Đứa bé thưa: 

 Trăm tuổi. 

– Ngươi còn bé mà sao trăm tuổi? 

– Tôi chẳng hiểu sao, chính tôi một trăm tuổi. 

– Ngươi có căn cơ lành chăng? 

– Phật đâu không nói kệ: “Nếu người sanh trăm tuổi không hội được cơ duyên chư Phật, chẳng bằng sống một ngày mà được hiểu rành rõ.” 

– Ngươi cầm gương tròn ý muốn làm gì? 

Đứa bé nói kệ: 

Chư Phật đại viên giám, 

Nội ngoại vô hà ế. 

Lưỡng nhân đồng đắc kiến,

Tâm nhãn giai tương tự. 

Dịch: 

Chư Phật gương tròn lớn,

Trong ngoài không tỳ vết.

Hai người đồng được thấy, 

Tâm mắt đều giống nhau. 

Chợt một hôm trời quang mây tạnh, ngài thấy một con đường bằng phẳng, xa xa ló dạng ngọn núi xanh, ngài đi phăng phăng ra khỏi cung điện, trốn lên núi ở. Gặp một thất đá rồi ngồi thiền nơi ấy. Năm đó ngài hai mươi sáu tuổi. Sáng hôm sau, vua nghe mất Thái tử, cho người tìm kiếm khắp nơi không được. Bực mình, vua đuổi Sa-môn Thiền-lợi-đa ra khỏi hoàng cung.

Ngài tu thiền ở đây ngót mười năm, sau đó mới đủ cơ duyên gặp Tổ, được truyền tâm ấn. Sau khi đắc pháp, ngài cùng đồ chúng du hóa khắp nơi làm lợi lạc quần sanh. Một hôm thầy trò đi đến một hòn núi nhìn lên đảnh có áng mây năm sắc. Ngài bảo đồ chúng: Trên đỉnh núi có mây tia như cái lọng ắt là chỗ thánh nhân ở.

Ngài tìm lên đến đỉnh núi thấy một mái nhà tranh. Một đứa bé cầm gương tròn, đến trước bái ngài. Ngài hỏi: Ngươi bao nhiêu tuổi? Đứa bé thưa: Trăm tuổi. Con nít mà trăm tuổi, lạ chưa!

Ngài hỏi: Ngươi còn bé sao trăm tuổi? Hỏi đó là theo lẽ thường. Chú bé nói tôi chẳng hiểu sao chỉ biết tôi một trăm tuổi vậy thôi. Tổ bảo: Ngươi căn lành chăng? Chú bé đáp: Phật đâu không nói kệ: Nếu người sanh trăm tuổi, không hội được cơ duyên chư Phật, chẳng bằng sống một ngày, mà được hiểu rành rõ.

Chú bé này căn cứ vào đâu mà nói trăm tuổi? Chú bé chỉ có chín mười tuổi mà hiểu Phật pháp, nên mới dám xưng là một trăm tuổi. Một trăm tuổi không phải một trăm tuổi đời, mà vì hiểu được Phật pháp, nên tự xưng mình một trăm tuổi. Điều này cho chúng ta thấy người xưa quý đạo, chứ không quý sống dai. Nếu sống dai mà không biết đạo thì thua người tuổi thọ rất ngắn mà thông hiểu đạo lý. Vì một ngày hiểu được Phật pháp là một ngày tránh được tội lỗi, biết tạo duyên lành là sống có giá trị. Nếu tuổi thọ kéo dài mà không thông hiểu đạo lý thì không có lợi ích. Đó là giá trị thật. Nên nói nếu người sanh trăm tuổi không hội được cơ duyên chư Phật, chẳng bằng sống một ngày mà được hiểu rành rõ.

Thấy tay chú bé cầm cái gương tròn, Tổ hỏi: Ngươi cầm gương tròn ý muốn nói gì? Chú bé trả lời bằng bài kệ:

Chư Phật gương tròn lớn,

Trong ngoài không tỳ vết.

Hai người đồng được thấy,

Tâm mắt đều giống nhau.

Gương lớn tròn của chư Phật trong và ngoài đều không bị vết nhơ che. Hai người đồng được thấy. Tâm mắt đều giống hệt nhau. Như vậy ý chú bé muốn nói gì? Nếu căn cứ vào Phật tánh thì Phật tánh không trong không ngoài, không nhiễm ô. Người ngộ được Phật tánh thì ngài và tôi tuy hai mà không khác. Tôi thấy Phật tánh, ngài cũng thấy Phật tánh, tâm mắt tôi và tâm mắt ngài không khác nhau. Như vậy chú bé này đã hiểu đạo, mới sanh ra liền biết gọi là “sanh nhi tri chi”, chứ khỏi cần ai giáo hóa.

Cha mẹ thấy đứa bé đối đáp hợp đạo như thế, đồng ý cho theo ngài làm thị giả, ngài nhận đứa bé dẫn về tinh xá cạo tóc thọ giới, cho hiệu là Già-da-xá-da. 

Một hôm, gió thổi cái linh treo trên điện Phật khua động, ngài hỏi Xá-đa: 

– Linh kêu hay gió kêu? 

Xá-đa thưa: 

– Chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu, mà tâm con kêu. 

– Tâm ngươi là gì? 

– Đều lặng lẽ. 

Hay thay! Ngươi khéo hội lý Phật, nên nói pháp yếu, nối đạo cho ta, chẳng phải ngươi còn ai? 

Ngài liền nói kệ: 

Tâm địa bản vô sanh, 

Nhân địa tùng duyên khởi.

Duyên chủng bất tương phương,

Dịch: 

Hoa quả điệc phục nhĩ. 

Đất tâm vốn không sanh, 

Nhân đất từ duyên khởi. 

Duyên giống chẳng ngại nhau, 

Hoa trái cũng như thế. 

Nói kệ xong, ngài nắm cành cây mà hóa. 

Đồ chúng bàn nhau: “Thầy ta diệt độ ở dưới tàng cây, cũng là điềm che mát cho người sau.” Liền làm lễ hỏa táng tại đây. 

Khi thấy ngài đối đáp lanh lẹ, cha mẹ mới cho ngài theo Tổ xuất gia. Tổ đặt hiệu là Già-da-xá-đa. Một hôm, nghe gió thổi linh kêu, Tổ hỏi: Linh kêu hay gió kêu? Ngài đáp: Chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu, mà tâm con kêu. Tổ liền hỏi: Tâm ngươi là gì? Đó là câu hỏi rất thiết yếu. Ngài đáp: Đều yên lặng. Chỗ không có một niệm sanh diệt thì yên lặng. Chính chỗ hoàn toàn lặng lẽ đó là tâm. Câu đáp này cho chúng ta thấy ngài đã hiểu đạo, không còn nghi ngờ gì hết.

Tại sao ngài không nói linh kêu hay gió kêu như hai ông đạo ở chùa Pháp Tánh nói phướn động gió động, mà ngài nói là tâm con kêu? Tất cả pháp gốc từ tâm sanh. Vì từ tâm sanh nên tất cả pháp đều là tâm, không mắc kẹt ở các tướng bên ngoài. Do thấy tất cả đều là tâm nên nói tâm kêu. Thành ra chữ tâm kêu của ngài không phải là tâm phân biệt, mà chính là thấy tất cả pháp gốc từ tâm, không một pháp nào ngoài tâm mà có.

Chú bé đáp như vậy cho nên Tổ khen: Hay thay! Ngươi khéo hội lý Phật nên nói pháp yếu, nối đạo cho ta, chẳng phải ngươi còn ai?

Ngài liền nói kệ truyền tâm ấn:

Đất tâm vốn không sanh,

Nhân đất từ duyên khởi.

Duyên giống chẳng ngại nhau,

Hoa trái cũng như thế.

Bài kệ này đơn giản nhưng ý nghĩa rất thâm sâu. Đất tâm vốn không sanh, vì tâm lặng lẽ thì đâu có sanh. Nhưng đất có ra là từ duyên mà có, chứ không phải bỗng dưng. Hạt giống và duyên đất, cả hai không ngại nhau, nó tương trợ giúp đỡ cho nhau mới được kết quả thành hoa trái.

Trên phương diện cứu cánh thì đất tâm không sanh, nhưng trên tương đối thì có đất có giống, từ đó có hoa trái. Bốn câu kệ trên nói lên hai mặt. Về mặt thể thì các pháp thanh tịnh lặng lẽ. Về mặt tướng dụng thì do duyên hợp sanh ra muôn thứ. Muôn thứ từ duyên hợp nên không chướng ngại nhau. Như hạt lúa bỏ xuống đất, nhờ đất mà hạt lúa nảy mầm để có bông lúa. Cũng vậy, tất cả sự vật tương đối hỗ trợ nhau thành ra muôn sự muôn vật. Tuy muôn sự muôn vật hiện có mà thể tánh vốn Không, nên nói đất tâm vẫn lặng lẽ. Như vậy từ bản tâm bất sanh bất diệt khởi ra diệu dụng khôn lường, từ diệu dụng đó mà sanh tất cả pháp thiện ác, Bồ-đề, Niết-bàn…

Nói kệ xong, Tổ nắm cành cây thị tịch. Đồ chúng thấy Thầy mình tịch như thế bàn với nhau rằng: Thầy ta diệt độ dưới tàn cây cũng là điềm che mát cho người sau. Liền làm lễ hỏa táng tại đây.

Chúng ta thấy chư tổ ngày xưa ra đi tự tại. Vị thì ngồi kiết già ngay thẳng thị tịch, vị thì nắm cành cây thị tịch, vị thì đứng thị tịch. Trong thiền môn có nhiều cách thị tịch nhàn nhã vui vẻ. Ở đây Tổ thị tịch dưới tàn cây, đó là hình ảnh rất đẹp nói lên tinh thần từ bi cứu khổ của Tổ không dừng nghỉ, tuy chết rồi cũng tạo duyên lành để người sau được lợi ích.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.