Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

15. Bồ-Tát Ca-Na-Đề-Bà (Cuối thế kỷ thứ VI sau Phật Niết-bàn)



Kāṇadeva

Ngài dòng Tỳ-xá-ly ở Nam Ấn. Thuở nhỏ ngài bẩm tánh thông minh, biện tài vô ngại. Ban sơ ngài học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện. 

Khi tổ Long Thọ đến nước này, ngài tìm đến yết kiến. Tổ Long Thọ muốn thử ngài, sai đồ đệ múc một thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài đi qua lấy cây kim bỏ vào, rồi thẳng đến yết kiến Tổ. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lãnh hội. Khi tổ Long Thọ thuyết pháp hiện tướng vầng trăng tròn, ngài thầm ngộ yếu chỉ. Ngài theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn. 

Ngài Đề-bà là vị Tổ thứ mười lăm ở Ấn Độ, cũng là vị Bồ-tát thứ ba làm nổi bật Phật giáo Đại thừa trong khoảng thế kỷ thứ VI thứ VII sau Phật Niết-bàn.

Thuở nhỏ ngài bẩm tánh thông minh, biện tài vô ngại, học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện. Khi tổ Long Thọ đến nước này giáo hóa, ngài tìm tới yết kiến. Tổ muốn thử ngài, sai đồ đệ múc thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài đi qua lấy cây kim bỏ vào thau nước, rồi thẳng đến yết kiến Tổ. Lúc tổ Long Thọ thuyết pháp hiện tướng vầng trăng tròn, ngài thầm ngộ yếu chỉ, theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn.

Sau khi đắc pháp, ngài vân du khắp nơi, lần lượt sang nước Ca-tỳ-la để giáo hóa. Trong nước này có ông trưởng giả tên Tịnh Đức sanh được hai người con trai, người con cả tên La-hầu-la-diễm, người con thứ tên La-hầu-la-đa. Ông hằng ngày chỉ săn sóc vườn tược. Hôm nọ, một cây trong vườn nảy sanh thứ nấm lạ, ông nhổ về ăn thử thật ngon lành. Song chỉ ông và người con thứ hằng ngày đều nhổ được nấm ăn, ngoài ra không ai nhổ được. Ông bảo con thứ: “Nấm cây này chỉ mình ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường. Ước gì có ai thông hiểu giải thích cho việc này!” 

La-hầu-la-đa nói kệ: 

Thử mộc sanh kỳ nhĩ,

Ngã thực bất khô khao. 

Trí giả giải thử nhân,

Ngã hồi hướng Phật đạo. 

Dịch: 

Cây này sanh nấm lạ, 

Con ăn rất ngon lành. 

Người trí giải nhân này, 

Con xin theo Phật đạo. 

Chợt gặp Bồ-tát Đề-bà đến nhà, cha con ông Tịnh Đức vui mừng đem việc này ra hỏi. Ngài dạy: 

– Khi xưa, lúc ông hai mươi tuổi thường mời một vị Tỳ-kheo về nhà cúng dường. Vị Tỳ-kheo ấy tuy có chút ít giới hạnh mà con mắt pháp chưa sáng, tâm không thấu lý, luống nhận sự cúng dường của ông. Song vị Tỳ-kheo ấy có chút ít tu hành nên khỏi bị sa vào đường ác, vẫn phải sanh làm cây nấm này để trả nợ cho ông. Xưa, khi vị Tỳ-kheo ấy đến nhà ông, trong nhà ông chỉ có ông và người con thứ này thành kính cúng dường, còn bao nhiêu người đều không vui. Vì thế, nên nấm hiện nay chỉ hai cha con ông được hưởng. 

Ngài lại bảo: 

– Ông nay được bao nhiêu tuổi? Trưởng giả thưa: 

– Tôi được bảy mươi chín tuổi. 

Ngài nói kệ: 

Nhập đạo bất thông lý, 

Phục thân hoàn tín thí. 

Nhữ niên bát thập nhất,

Thử mộc điệc vô nhĩ. 

Dịch: 

Vào đạo không thông lý, 

Hoàn thân đền tín thí. 

Trưởng giả tuổi tám mốt, 

Cây này không sanh nấm. 

Ông trưởng giả nghe nói xong, biết rõ duyên trước càng thêm thán phục, thưa: 

– Tôi già yếu tuy muốn xuất gia e không kham theo Thầy. Đứa con thứ của tôi hết lòng mộ đạo, tôi xin cho nó theo làm thị giả cho Thầy, mong Thầy dung nạp. 

Ngài hoan hỷ chấp nhận La-hầu-la-đa xuất gia và triệu tập các vị thánh tăng đến truyền giới. 

Sau khi đắc pháp, ngài đi giáo hóa đến nước Ca-tỳ-la, trong nước này có ông trưởng giả tên Tịnh Đức. Ông có hai người con trai. Trong vườn của ông có cây sanh nấm lạ mà chỉ có ông và người con thứ nhổ ăn được, ngoài ra cả nhà không ai nhổ ăn được.

Ông bảo người con thứ: “Cây nấm này chỉ mình ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường. Ước gì có ai thông hiểu giải thích cho việc này!” La-hầu-la-đa bèn nói kệ:

Cây này sanh nấm lạ,

Con ăn rất ngon lành.

Người trí giải nhân này,

Con xin theo Phật đạo.

Chợt Bồ-tát Đề-bà đến nhà, ông mới đem việc đó ra thưa hỏi, ngài liền thuật lại việc xưa cho nghe:

Khi xưa, lúc ông hai mươi tuổi thường mời một vị Tỳ-kheo về nhà cúng dường. Vị Tỳ-kheo ấy tuy có chút ít giới hạnh mà con mắt pháp chưa sáng, tâm không thấu lý, luống nhận sự cúng dường của ông. Song vị Tỳkheo ấy có chút ít tu hành nên khỏi bị sa vào đường ác, vẫn phải sanh làm cây nấm này để trả nợ cho ông.

Vị Tỳ-kheo này có chút ít giới hạnh, tu hành đàng hoàng, chỉ có một điểm là con mắt pháp chưa sáng, tâm không thấu lý, nên nhận sự cúng dường suông mà không đền đáp được đạo lý cho ông trưởng giả. Do đó sau này phải đền nợ bằng cách làm nấm trong thân cây để cho ông ăn. Đây gọi là hoa báo. Tu mà làm cây sanh nấm cho người ta ăn thì buồn làm sao!

Câu chuyện này đặc biệt cảnh tỉnh chúng ta. Nếu tu mà tâm chưa sáng, thọ nhận sự cúng dường của thí chủ, cho đó là do phước báo của mình rồi vui vẻ thọ hưởng, như thế là lầm. Nếu người biết tu thì nhận sự cúng dường nhiều chừng nào, thấy nợ càng to chừng ấy. Ở đây nói nếu vị Tỳ-kheo này không chịu tu thì có thể đọa vào đường ác. Nhưng nhờ ngài có tu cho nên khỏi sa vào đường ác mà vẫn phải làm nấm để trả nợ.

Nghe qua câu chuyện chúng ta phải làm sao? Tu lơ mơ thì làm cây sanh nấm cho họ ăn. Nếu dở chút nữa thì có thể làm trâu bò kéo cày mang ách. Dở hơn nữa thì xuống địa ngục ngồi, như vậy là khổ biết chừng nào! Bây giờ chúng ta phải làm sao? Không nhận của cúng dường, lo tự túc làm ra cơm gạo ăn để khỏi nợ của thí chủ phải vậy không? Nếu nhận của thí chủ cúng dường mà tu không xong thì phải đọa.

Trong kinh A-hàm ghi: Một hôm tổ A-nan chiêm bao thấy một cái hầm lớn, chư tăng ni lao nhao dưới hầm. Trên hầm có một cây cầu bắc ngang qua, nhiều người cư sĩ đi qua đi lại thong thả trên cầu. Thức dậy ngài đem điềm mộng trình lên đức Phật. Phật dạy đó là điềm báo rằng sau này trong đời mạt pháp, đệ tử xuất gia của ta không giữ giới luật, thọ sự cúng dường của thí chủ, không chịu tu hành, nên chết rồi phải đọa địa ngục. Còn thí chủ do lòng tin chân chánh cúng dường, nên được phước báo sanh thiên. Chúng ta nghe buồn chưa?

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy có ngán sợ không? Những điều đó là sự thật. Nếu người tu không khéo thì phải bị đọa chứ không phải chơi. Vậy mà không ai nhắc lâu rồi cũng quên, bởi quên cho nên tha hồ thọ nhận của cúng dường, thọ nhiều chừng nào tốt chừng nấy, sắm cái này rồi sắm cái kia. Nhưng tiện nghi nhiều chừng nào thì bận tâm nhiều chừng nấy mà không biết an ổn một đời này rồi sau phải khổ. Cho nên chúng ta học những câu chuyện cũ, để nhớ mà tự cảnh tỉnh mình ráng tu hành. Nói vậy không phải tôi bảo tăng ni nên ra tự túc, đi dạy học hay làm ruộng làm rẫy để có cơm ăn khỏi thọ của thí chủ cúng dường.

Là người xuất gia làm Tỳ-kheo thì phải vào dòng họ Phật. Tỳ-kheo là khất sĩ, nghĩa là trên xin pháp chư Phật nuôi tâm, dưới xin thực phẩm thí chủ nuôi thân. Xin thực phẩm bằng cách trực tiếp đưa bình bát cho người ta để thức ăn vô, hoặc gián tiếp là để thùng phước sương, người ta bỏ tiền vào mình mua thực phẩm, hay thí chủ đem thực phẩm đến chùa cúng dường. Cho nên mỗi ngày thọ bát cơm của thí chủ, phải làm sao cho xứng đáng.

Nhớ mình là kẻ thọ ơn phải cố gắng tu hành, tự lợi lợi tha đầy đủ. Nếu quên bổn phận thì quên tu, mà quên tu tự lợi chẳng có, lợi tha cũng không, như vậy làm sao tránh khỏi đọa địa ngục. Phật dạy chúng ta thọ nhận của thí chủ phải nhớ nỗ lực tinh tấn tu hành mới xứng đáng công ơn khó nhọc của người. Nếu đêm nào cũng thẳng cẳng ngủ khò thì phải mắc nợ của đàn-na thí chủ.

Cho nên phải nỗ lực tu hành, làm sao hiện đời con mắt đạo được mở sáng, lý đạo được thông, tự lợi lợi tha đầy đủ, như vậy mới có thể đền ơn thí chủ. Bằng không thì đời tu của mình không biết ra sao. Tổ Quy Sơn dạy: Đường trước mịt mờ không biết về đâu! Cho nên ai đã tu thì phải cố gắng, người sửa soạn đi tu thì phải xét kỹ lại mình, xem có kham nổi đời sống tu hành không. Đừng tưởng vô chùa là sướng, được người ta cúng dường nhiều, rồi buông lung tâm ý thọ hưởng. Nếu đã quyết tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn, mới mong đền đáp công ơn thí chủ, một trong bốn ơn sâu nặng mà người tu phải nhớ cho thật kỹ. Nếu tu lơ là thì hiện tại chẳng lợi lạc, mà phải khổ về vị lai.

Tổ hỏi ông được bao nhiêu tuổi, ông già nói bảy mươi chín tuổi. Tổ bèn nói kệ:

Vào đạo không thông lý, 

Hoàn thân đền tín thí.

Trưởng giả tuổi tám mốt,

Cây này không sanh nấm. 

Vào đạo không thông lý, trở lại mang thân đền nợ tín thí, ngươi đến tuổi tám mươi mốt thì cây này sẽ hết sanh nấm. Nghĩa là hai năm nữa hết nợ, đó gọi là sanh báo hay hiện báo, nợ ít thì trả ngay trong đời này.

Trưởng giả nghe Tổ nói kệ xong, biết rõ duyên trước càng thêm kính phục, ông thưa: Tôi già yếu muốn xuất gia e không kham theo Thầy. Đứa con thứ của tôi hết lòng mộ đạo, xin cho nó theo làm thị giả mong Thầy dung nạp.

Ngài hoan hỷ chấp nhận cho La-hầu-la-đa xuất gia và triệu tập các vị thánh tăng đến truyền giới.

Ngài du hóa đến nước Ba-liên-phất gặp lúc ngoại đạo hưng thịnh, Phật pháp lu mờ. Ngài đem hết khả năng chuyển hóa ngoại đạo trở về quy y Tam bảo, khiến xứ này Phật pháp hưng thịnh lại. 

Khi già yếu, ngài gọi La-hầu-la-đa đến phó chúc pháp nhãn tạng và dặn dò đừng để đoạn diệt. Kế nói kệ:

Bản đối truyền pháp nhân, 

Vị thuyết giải thoát lý.

Ư pháp thật vô chứng,

Vô chung diệc vô thủy. 

Dịch: 

Xưa đối người truyền pháp, 

Vì nói lý giải thoát. 

Nơi pháp thật không chứng, 

Không chung cũng không thủy. 

Dặn dò xong, ngài nhập định ngồi nghiêm chỉnh thị tịch. La-hầu-la-đa và đồ chúng xây tháp cúng dường. 

Ngài là Bồ-tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại thừa. Những tác phẩm ngài trước thuật: 

  1. Bách Luận
  2. Bách Tự Luận
  3. Đại Trượng Phu Luận
  4. Đề-bà Bồ-tát Phá Lăng-già Kinh Trung Ngoại Đạo Tiểu Thừa Tứ Tông Luận
  5. Đề-bà Bồ-tát Thích Lăng-già Kinh Trung Ngoại Đạo Tiểu Thừa Niết-bàn Luận…

Những bộ luận trên nổi tiếng nhất là bộ Bách Luận và Đại Trượng Phu Luận. 

Sau đó, ngài La-hầu-la-đa được xuất gia theo Tổ làm thị giả, cùng Tổ du hóa đến nước Ba-liên-phất, gặp lúc ngoại đạo hưng thịnh, Phật pháp lu mờ. Tổ đem hết khả năng chuyển hóa ngoại đạo trở về quy y Tam bảo, khiến xứ này Phật pháp hưng thịnh.

Khi già yếu, Tổ thấy ngài La-hầu-la-đa đã thông hiểu Phật pháp và cơ duyên truyền bá của Tổ sắp hết, nên mới gọi ngài đến truyền kệ phó pháp và dặn dò đừng để đoạn diệt:

Xưa đối người truyền pháp,

Vì nói lý giải thoát.

Nơi pháp thật không chứng,

Không chung cũng không thủy.

Từ xưa đến giờ chư tổ truyền pháp cho đệ tử, đều vì họ nói lý giải thoát, lý giải thoát thì không chứng không đắc. Tại sao? Vì có chứng đắc là có năng chứng sở chứng, là còn tương đối thì thấy có trước sau. Nếu không mắc kẹt trong năng chứng sở chứng, thì cũng không có trước sau.

Sau khi truyền pháp xong, Tổ ngồi nghiêm chỉnh thị tịch. La-hầu-la-đa và đồ chúng xây tháp cúng dường.

Ngài là vị Bồ-tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại thừa. Những tác phẩm ngài trước thuật nổi tiếng nhất là bộ Bách Luận và Đại Trượng Phu Luận. Bách Luận giải thích về kinh Bát-nhã. Đại Trượng Phu Luận nói về tư cách của người đại trượng phu. Hai bộ luận này đã được dịch ra tiếng Việt.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.